Vô Ưu
Chương I
Chim Thiên Nga Trúng Tên
Đạo cao một thước, Ma cao một trượng.
Có dịp ra Bắc, tôi ghé thăm nhà người bạn. Vào một buổi sáng, tôi chợt nghĩ đến việc đi viếng chùa.
Tôi hỏi:
- Bác trai! Chùa làng mình có ở gần đây không? Cháu có ý đi viếng cảnh chùa.
Bác trai đáp:
- Cháu muốn viếng chùa to hay chùa bé?
Dì chợt lên tiếng:
- Làng mình làm gì có chùa nào bé. Toàn là chùa to cả.
Bác trai như chợt nhớ ra:
- À, làng mình thật không còn ngôi chùa nào bé. Sư bây giờ giàu lắm!
Dì tiếp lời:
- Sư bây giờ không dùng xe máy đời cũ. Nhiều sư “đánh” cả xe con mà đi. Sư không cần tài xế, sư tự lái xe lấy,...
Dì quay sang nói với tôi:
- Cháu đi viếng chùa vào khoảng thời gian này không vui đâu. Cháu phải đi vào khoảng thời gian đầu tháng. Vui nhất là tháng giêng, tháng hai, tháng ba,… Nam thanh, nữ tú dập dìu. Người ta sắm sửa đồ cúng lễ rất trang hoàng. Nào là giấy tiền vàng mả, nhà lầu, xe hơi, máy bay, quần áo,… nhiều món to như thật vậy. Mọi người chỉ cúng bái, cầu nguyện, viếng cảnh chùa,… tập trung vào những ngày đầu tháng. Không biết ở quê cháu thì sao chứ ngoài này người ta quan niệm cúng vào những ngày đầu tháng các vong linh mới tiếp nhận đồ cúng lễ được. Thế nên trong vòng vài ngày, có nhiều chùa đốt đồ hàng mả lên đến số tiền tỷ,…
Bác trai lại lên tiếng:
- Thật là phí phạm! Người chết là hết rồi. Lấy tiền thật mua đồ giả, đốt đồ giả mất tiền là thật. Có ai đâu mà nhận. Toàn là trò mê tín dị đoan. Còn bày trò coi bói, đồng bóng, trạng, cầu an, giải hạn, cúng sao…
Thấy tôi nín lặng, bác trai hỏi:
- Lần trước, cháu ra đây cách nay là bao lâu?
Tôi:
- Dạ, khoảng hơn 10 năm. Thời gian trôi qua nhanh thật.
Bác trai:
- Cháu có nhớ cái mảnh vườn mà bác trồng nhãn, trồng táo không? Đó là mảnh vườn của chùa làng mà bác đã nhận làm. Cái mảnh vườn nằm cạnh ngôi chùa bé. Ngoài này, mỗi làng đều có một cái chùa riêng. Chùa thì khách thập phương, ai cũng có thể vào cúng viếng còn đình làng thì chỉ có người trong làng mới được vào. Ngay cả người trong làng muốn cúng lễ ở đình cũng phải xin phép mới được vào làm lễ,…
Tôi:
- Dạ, hơn 10 năm rồi cháu không còn nhớ rõ. Cháu chỉ nhớ có ra trẩy một ít quả táo mang về.
Bác trai:
- Bác đã trả mảnh vườn lại cho chùa rồi. Ngôi chùa đó, giờ to lắm. Đất chùa bây giờ rộng lắm. Nhà chùa không mua đất. Bác không hiểu họ vận động làm sao mà người ta cho chùa nhiều đất thế. Bác thấy bây giờ sư không làm gì mà tại làm sao sư giàu thế. Các sư nhiều tiền lắm!
Tôi:
- Tiền sư có là của khách thập phương cúng dường và tiền của sư đi cúng đám ma chay, hộ niệm,…
Dường như, bác trai không chú ý lời nói của tôi,
Bác trai:
- Bác thấy sư bây giờ không làm gì mà sao sư nhiều tiền thế. Ngày trước, chùa đâu có to. Bây giờ chùa nào cũng to, đất thì rộng. Ngày trước, sư ở chùa phải làm ruộng, trồng màu để sống. Còn bây giờ, sư không làm gì mà sao sư nhiều tiền thế.
Trong lòng tôi dậy lên một sự xót xa, …
Tôi:
- Hàng mả ở ngoài này đốt trong vài ngày lên đến tiền tỷ phải không, Bác?
Bác trai:
- Có mà hàng nhiều tỷ.
Tôi:
- Thật là …! Người chết rồi, thần thức thoát ra khỏi thân xác không còn tồn tại ở dạng vật chất như là đất, nước, gió, lửa. Thế nên bằng mắt ta không thể nhìn thấy, cũng không thể nắm bắt được. Thần thức người chết thể như hư không nhưng vì u mê vọng chấp có thân. Trong tâm ý mê mờ đó, người chết vẫn nghĩ mình còn thân, tự dối lừa mình trong tấm thân không thật có. Vẫn tham đắm việc uống ăn nhưng thật không có chỗ để uống ăn. Đây là những vong linh tồn tại trong kiếp ngạ quỷ. Những người đã khuất luân chuyển sang cõi Trời, Atula thì không cần cõi Người cung cấp đồ dùng. Vì bởi phước báu chúng sinh cõi Trời rất lớn, muốn gì có ngay thứ ấy. Quần áo, trang sức lộng lẫy, thức ăn thượng hạng,... Một số sống trong thiền định tiêu diêu, tự tại. Chúng sinh cõi Atula thì bận bịu trong việc trao chuốt sắc đẹp, ca hát, đánh đàn,… Phần lớn mãi lo đánh nhau. Thế nên, chúng sinh hai cõi này chẳng cần nhận những đồ hàng mả mà con người gửi lên. Đồ hàng mả ở cõi Người nếu gửi lên được chỉ làm bẩn cõi giới của họ. Còn những chúng sinh tồn tại trong cõi Địa ngục thì đang chịu muôn điều hành hạ làm sao có thời gian mà thọ hưởng việc uống ăn, đi ôtô, xe máy, ở nhà to đẹp,... Trải qua thời gian rất lâu, tâm trí vơi bớt hoảng loạn, họ sẽ luân chuyển sang những nẻo khác. Số đông luân chuyển sang kiếp Ngạ quỷ tiếp tục sống trong mê lầm. Việc đốt hàng mả không mang nhiều lợi ích cho chúng sinh trong cõi vô hình mà khiến cho những chúng sinh mê lầm thêm ngộ nhận. Họ sẽ chấp nhận sống kiếp không thân lang thang vất vưởng và chờ đợi những người thân gửi đồ giả xuống hưởng dụng. Chỉ khi con người không gửi đồ xuống cho họ. Họ sẽ thấy đói khát, rét lạnh đến chết đi sống lại nhiều lần. Cuối cùng, họ sẽ dần ý thức được họ không hề chết vì lẽ họ không còn cái gì để gọi là chết. Tất cả chỉ do tâm ý mê lầm mà có sự sống chết. Khi nhận ra điều đó thì tùy nghiệp duyên đời trước mà họ sẽ chuyển sang nẻo khác.
Bác trai nói:
- Làm gì có. Chết là hết. Bác đi từ bắc vào nam. Chùa chiền, miếu mạo, những nơi hoang vắng ít người đặt chân đến, bác cũng từng đến mà bác nào có thấy hồn ma bao giờ?
Dì lên tiếng:
- Tin thì mới gặp, không tin thì làm sao mà gặp được.
Tôi trình bày:
- Thật không phải chết là hết. Cháu đã từng được học trong môi trường giáo dục khoa học để tin rằng con người chết là hết. Cháu rất tin vào điều đó. Cho đến khi cháu có dịp gặp và trò chuyện với những người đã khuất. Lần gặp đầu cháu còn hoài nghi tính xác thực nhưng đến lần gặp thứ hai thì cháu không thể không tin. Bác và dì đừng vội nhận định vấn đề cháu nói là đúng hay sai. Mọi người chỉ dừng lại vấn đề ở góc đánh giá có lý hay không có lý. Nếu có lý thì mọi người nên tin. Hơn nữa, cháu dối lừa bác nào được lợi ích gì. Cháu cũng không chấp nhận việc mê tín dị đoan vì đó là điều không hợp lý.
Dì lại hỏi:
- Hôm giỗ bà nội, gia đình có thỉnh một cậu trạng để hỏi ngày mất của một người trong gia đình đã chết trẻ từ hồi chiến tranh loạn lạc để tiện việc cúng lễ. Hôm đó, hình như cháu cũng có mặt.
Tôi:
- Vâng, cháu thấy hơi lạ - Giỗ ngoài bắc làm khác trong miền nam. Cháu còn định hỏi “Đám giỗ mà mời ông đồng, bà bóng về làm gì?”. Nhưng cháu thấy không tiện nên thôi.
Dì nói:
- Cháu có tin không? Chứ dì không tin lắm! Đã mời ba cậu trạng về hỏi ngày mất của cùng một người lại có 3 ngày mất khác nhau. Tên tuổi cũng sai khác.
Tôi nói:
- Chuyện đồng bóng cháu không muốn đề cập nhưng dì đã hỏi thì cháu sẽ trình bày. Việc lên đồng có thật, có giả.
Tôi tiếp tục:
- Có một số người thích công việc nhàn hạ mà vẫn có tiền tiêu xài, họ đã làm việc lừa người dối quỷ thần. Chỉ vài ba lần rùng mình, thay đổi hành vi, cách nói, giọng nói và thêm vài hình thức khoa trương thì dễ dàng moi tiền thân chủ. Đây là hạng giả danh đồng bóng. Giả thì không thể cho ra được những lời thật. Hạng người này, nếu không tự biết dừng lại thì đời sau sẽ mê mờ trong nẻo tối. Bởi vì “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”.
Tôi tiếp lời:
- Hạng thật có nhiều dạng nhưng gồm hai hạng chính.
- Hạng thứ nhất: Đây là hạng người, nhiều tiền kiếp trước đó từng buông lung tánh ý, thần trí loạn động,... Một số là những cô cậu trạng giả danh luân chuyển thành,... Vì thế hiện kiếp người này tinh thần không được định tỉnh, lúc tỉnh lúc mê. Ngôi nhà xác thân của chính mình lại không thể làm chủ thường bị chúng sinh nẻo không thân đoạt nhà. Tâm ý nẻo không thân mượn nhà hạng người này lại cũng mê loạn. Thế nên họ cũng không thể cho lời nói thật.
- Hạng thứ hai: Hạng người này từng luyện qua pháp thuật, bùa chú,… được chúng sinh không thân ở nẻo giới cao phò trợ nên lời nói có phần thật hơn. Nhưng đây cũng không phải là chánh pháp. Không là chánh thì hiển nhiên là tà. Nếu mọi người muốn tin nhận thì phải xét xem vấn đề có lý hay không? Phàm việc gì cũng đừng rơi vào thái quá. Quá mức sẽ loạn, người sống loạn mà người đã khuất càng thêm mê mờ.
Bác trai lại nói:
- Khi nhận mảnh vườn làm, bác vẫn hay ngủ lại ở chùa. Có hôm bác nghe có tiếng người gọi tên bác. Bác trở mình lấy đèn tìm xem ai kêu nhưng không thấy ai cả. Những hôm khác, bác lại nghe gọi, bác đợi họ kêu 2, 3 tiếng. Tiếng kêu rất rõ nhưng bác không nhận ra được tiếng của ai. Bác đã có lúc từng nghĩ là người làng trêu bác nhưng lại nhớ ngày đó làng đâu có nhiều người, chùa lại cách xa làng. Bác lại lấy đèn tìm nhưng cũng chẳng thấy. Nếu có ma thì bác phải thấy chứ?
Tôi nói:
- Thần thức người đã khuất vốn không phải là dạng vật chất hữu hình. Thế nên con người muốn dùng đôi mắt thịt để nhìn thấy thì không có lẽ đó. Ngay khi bác trở mình thì bác đã đánh mất cơ hội để gặp họ. Bác hãy nhớ lại xem khi đó bác đã ngủ hẳn chưa?
Bác trai nói:
- Rõ ràng là bác chưa ngủ. Bác nghe tiếng gọi rõ mồn một mà. Nhưng bác đứng lên đi tìm thì không thấy gì cả.
Dì lên tiếng:
- Tại anh đứng lên, đi tìm nên không thể gặp họ.
Tôi tiếp lời:
- Thật vậy! Con người chỉ có thể tiếp xúc với cõi giới vô hình ở ranh giới mơ hồ giữa thức và ngủ hoặc ở ranh giới giữa sự sống và cái chết. Đây là trạng thái không dễ nghĩ bàn. Tuy nhiên, những người tinh thần không định tỉnh thì dễ bắt gặp người đã khuất hơn. Đôi khi, họ nói họ nhìn thấy những người mà ta không hề nhìn thấy bằng đôi mắt thịt. Có thể họ không nói dối nhưng thật ra họ đã mơ hồ không rõ biết ngay thời điểm họ nhìn thấy những người đã khuất thì họ đã lơ là mở cánh cửa ngôi nhà xác thân và thần thức họ đã “chân trong, chân ngoài” với ngôi nhà xác thân .
Bác trai nói:
- Có phải bác cứng nhắc, cố chấp quá không?
Tôi nói:
- Cháu không nói thế. Cháu chỉ nói “Phàm việc gì có lý thì cũng nên tin nhưng đừng rơi vào quá mức. Việc này không có hại chỉ có lợi thôi”.
Nhìn ra ngoài đường, trời tháng 09 oi bức.
Tôi chợt nghĩ:
- Phật giáo suy vi. Rồng thì vắng, rắn thì nhiều khiến người đời không thể không bài bác.
Dì lên tiếng:
- Trong nam sư ăn mặn hay ăn chay? Ngoài này có sư vẫn thường ăn mặn.
Tôi hỏi lại:
- Sư ăn mặn?
Dì tiếp lời:
- Có là gì. Sư đội tóc giả, lái “xế hộp”. Sư đi uống rượu, ăn thịt chó, sư đi hát karaoke,…
Những lời nói rất chướng tai đối với những Phật tử tín thành và gây mất niềm tin về Phật giáo đối với mọi người trong xã hội. Nhưng không có lửa thì làm sao có khói.
Nhìn thân Phật chảy máu, tôi thật sự xót xa. Tôi không xót xa cho Phật vì tôi rõ biết Pháp thân Như Lai là như như bất động. Dù cho máu Phật có chảy thành sông, trái đất có nổ tung thì Phật cũng chẳng thể diệt mất. Tôi chỉ xót xa cho những vị Tăng bảo lầm đường, lạc bước. Thân mang trọng trách giữ gìn Pháp bảo lại không giữ phạm hạnh, giới luật gây ngộ nhận cho người đời về đạo giải thoát. Đáng thương hơn là những vị Tăng bảo này đắm chìm trong dục lạc, khó mong thoát ra khỏi bể khổ luân hồi. Đây là kết quả của quá trình tu học trên lý, làu thông kinh điển. Biết đạo, hiểu đạo lại chấp lý Không, không lĩnh hội được kinh Phật lại bị kinh Phật chuyển. Không sống được với Đạo.
Người đời thường nói “Thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng”. Những điều tôi trình bày ở trên là đúng hay sai? Thiết nghĩ điều đó không là vấn đề thật sự quan trọng, cũng không là chướng ngại đối với những người học Phật chân chính vì lẽ “Cây ngay không sợ chết đứng”. Tôi cũng thật xót xa khi phải viết ra những điều “Trái tai gai mắt” đó. Tuy nhiên, tôi cũng hiểu rằng: Những người học Phật chân chính luôn bao dung, độ lượng và một khi người học Phật hành trì theo đúng chánh pháp thì họ sẽ rõ biết tôi đang làm một việc đúng đắn góp phần làm sáng rõ chánh pháp của Phật Thích Ca. Đứng ở một góc nhìn tổng thể, khách quan,... để chỉ ra những sai lạc, ngộ nhận tồn tại ở người học Phật là một việc làm góp phần hoằng dương chánh pháp. Trân trọng!
- Chim thiên nga lại trúng tên.
Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi.
Rời đất Hà Thành, tôi lại ghé miền Trung. Tôi đã trình bày ý định viết một quyển sách nói về những lầm lạc của Phật giáo đương đại với một Phật tử.
Người Phật tử nói:
- Cần gì phải ra đến miền Bắc mới thấy những điều trái tai gai mắt đó. Ở đây những sự việc đó xảy ra thường ngày. Thế nên, những cư sĩ tại gia đi chùa lễ Phật, gặp sư thì họ cũng chắp tay búp sen vái chào nhưng có mấy ai tin vào đạo hạnh của sư. Gia đình nào có người mất thì cũng mời sư và đạo tràng về cúng lễ, hộ niệm,… chỉ nhằm an lòng người sống, người chết thôi và cũng mất không ít tiền để làm những việc đó.
Người Phật tử nói thêm:
- Vừa rồi, cậu có đi viếng chùa gặp hôm chùa tổ chức giới đàn. Cậu gặp một Phật tử có thâm niên về Phật học. Người đó nói với cậu “Anh có thấy các Tăng sinh của chùa đẹp không?”. Cậu phải thừa nhận “Đúng là Tăng sinh người nào cũng cao ráo, đẹp trai, da dẻ trắng trẻo, hồng hào, tươi nhuận,…”. Người Phật tử kia tiếp lời “Để có được những Tăng sinh kia là bao nhiêu tiền của xã hội. Sau khi tốt nghiệp các Tăng sinh sẽ được phân bổ về các chùa. Có không ít Tăng sinh bị các cô, các bà “bắt ra” khỏi chùa, hoàn tục lập gia đình, sinh con đẻ cái. Thật đáng tiếc!”.
Những điều tôi được nghe ở mảnh đất miền Trung cũng không có gì mới lạ. Không chỉ riêng gì miền Bắc, miền Trung. Phật giáo miền Nam cũng có khác gì. Về hiện tượng biểu hiện thì có những sai khác nhưng về bản chất thì là như nhau - Phật giáo suy vi, mập mờ và hỗn độn. Sự hỗn độn không chỉ ở trong hàng ngũ Tăng đoàn mà cả ở những người cư sĩ tại gia. Phần lớn những người cư sĩ một khi vướng vào kiến chấp lấy giáo lý kinh điển Phật làm cái hiểu của họ thì họ mang giáo lý ra tranh luận hơn thua, hay dở giữa các tông giáo và cả những việc ở đời thường. Những lúc đuối lý thì họ cương quyết chống chế “Sắc tức thị không, không tức thị sắc”. Họ tự che mờ mắt rồi nhận đó là chân lý.
Thật đáng thương xót! Vì thực sự không sống được với sự thật nên khi gặp những cảnh trái ý nghịch lòng thì sẽ phơi bày ra sự tham lam, sân hận, si mê, hoài nghi và kiêu mạn. Thậm chí sự biểu hiện còn mãnh liệt hơn cả những người không có sự hiểu biết về đạo Phật. Đó là kết quả của quá trình gượng ép, đè nén chứ không phải là quá trình dùng trí tuệ bát nhã để thấy rõ thật tánh của vạn pháp nhằm hóa giải những u mê, lầm lạc, nghịch cảnh,…
Người ở đời và trong đạo một khi rơi vào kiến chấp “Ngũ thập tri thiên mệnh” - Con người đến năm mươi tuổi là sự hiểu biết đã tròn đầy, biết cả việc trời. Do vướng vào kiến chấp nên họ không nhận ra “Nếu chỉ biết việc trời thì chưa đủ điều kiện thể nhập vào cõi Phật”. Họ tự cho rằng việc họ làm là đúng, chuẩn xác nhất và khi gặp những người không đồng thuận sẽ dẫn đến tranh luận, chống trái. Từ đó sân hận, si mê nổi lên gây ra bao điều phiền muộn. Kết quả người tranh hơn lẫn kẻ chịu thiệt đều rơi vào khổ não, đánh mất an lạc.
Đến với đạo Phật là buông bỏ cái tôi. Bỏ cái tôi đi thì có cái gì gọi là ta biết, ta hiểu. Không có cái ta biết thì làm gì có sự tranh luận gây não hại, buồn khổ nhau.
Nếu bạn vẫn cố chấp giữ cái ta biết thì cứ hãy giữ lấy muộn phiền và đau khổ.
Đến khi đặt thân xuống dưới ba tấc đất thì bạn hãy xem lại cái ta biết, ta hiểu đó còn không?
Nếu bạn không học cách buông bỏ thì hiển nhiên cái tôi đó vẫn tồn tại tại tùy theo nghiệp quả mà trôi lăn trong 3 cõi. Nếu bạn vẫn chấp giữ những muộn phiền thì những nẻo giới kiếp sau cũng sẽ chứa đựng nhiều đau khổ.
Hiện trạng Phật giáo mập mờ, hỗn độn không phải chỉ biểu hiện ở một vài quốc gia mà là cả trên thế giới.
Cụ thể việc tranh chấp về ngôi đền giữa Thái Lan và Campuchia cho thấy Phật giáo chỉ còn là một “Cái bánh vẽ”. Cả hai quốc gia này đều có tín đồ Phật giáo đông đảo nhưng thật sự họ đã không sống được trong đạo nên mới xảy ra những tranh chấp không cần thiết.
Vì lẽ người sống trong đạo Phật là cho đi, là buông bỏ chứ không phải là tranh chấp, giành giật tài vật mang về bất kể mạng sống. Thêm nữa, Thái Lan liên tục xảy ra những bất ổn chính trị trong khoảng thời gian gần đây dẫn đến mất mát, đau khổ cho con người là trái với đạo Phật. Đạo Phật là bất tranh, bất bạo động.
Ngay tại Ấn Độ, đạo Phật cũng chỉ còn là những di tích văn hóa, những thắng cảnh du lịch. Đạo Phật hiện tại tựa như là một chiếc bình cổ quý giá có nắp đậy kín với hoa văn đẹp, trang nhã bên ngoài và dường như thiếu đi cái cốt lõi tinh túy ở bên trong. Nhân loại có thể không còn nhận biết hoặc đang hoài nghi giá trị của chiếc bình cổ. Nhân loại đã đặt ra những câu hỏi:
- Chiếc bình cổ kia có chứa đựng món hàng có giá trị nào không?
- Làm cách nào để mở nắp chiếc bình cổ quý giá?
- Và … nếu trống rỗng bên trong thì chúng ta dùng để chứa món hàng gì?
- Hay là nhân loại nên thừa nhận đây là một chiếc bình cổ quý giá?
...
Cuối cùng, nhân loại thừa nhận “Đây là chiếc bình cổ quý giá”.
Có lẽ đạo Phật trở thành cái bình quý giá là vì đó là chiếc bình cổ và vì nhân loại không rõ biết Phật Thích Ca đã tạo ra chiếc bình kia nhằm chứa đựng vật gì ?
Thật vậy, sau nhiều cuộc vận động “Lợi mình, lợi người”, đạo Phật được công nhận là tài sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.
- Có phải thần thông của Phật Thích Ca thấp thỏi?
Phật Thích Ca ra đời, tầm đạo và hành đạo cả đời cũng không thể vượt ra khỏi Ấn Độ. Người không có đủ thần thông di chuyển từ nơi này sang nơi khác một cách nhanh chóng. Người phải dựa vào đôi bàn chân mà bước đi. Phước báu của Phật không đủ lớn nên nỗi mỗi ngày Người chỉ xin được một bữa ăn. Lắm lúc Phật phải chịu cảnh đói khát.
So với Phật, đệ tử Phật hiện nay thần thông rất cao thâm. Chỉ cần khoảng thời gian rất ngắn, họ sẽ di chuyển từ thành phố này sang thành phố khác, từ quốc gia này sang quốc gia khác. Thời tiết nóng bức, họ có thể dùng thần thông làm thời tiết trở nên mát mẻ. Trời lạnh giá họ sẽ làm cho không khí ấm áp, dễ chịu,… Phước báu của đệ tử Phật là vô lượng. Gần như không có điều gì mà thần thông của đệ tử Phật không thể tạo ra. Việc biến có thành không, biến không thành có dễ dàng như việc khảy móng tay vậy.
Chương II
Hiển Bày Chân Thật Pháp – Xé Nát Xưa Nay
- Đạo Phật sơ khai - Lộng giả thành chân.
Trong quá trình hành đạo và trao truyền chánh pháp Phật đã tùy thuận theo căn tánh, trình độ, hoàn cảnh sống,… của người cầu đạo mà có những thay đổi giáo lý khác nhau. Mục đích cuối cùng của việc thay đổi tùy thuận là nhằm đưa đạo lý về sự giác ngộ, giải thoát hoàn toàn đến với mọi thành phần, mọi tầng lớp xã hội loài người. Vì lẽ việc thay đổi tùy thuận theo tâm ý của loài người sẽ giúp đạo lý tỉnh thức lan truyền sâu rộng trong 3 cõi 6 đường.
Cốt lõi, gốc rễ của đạo lý tỉnh thức là sự giác ngộ, giải thoát hoàn toàn giúp con người thoát ra mọi khổ não, thoát ra 3 cõi 6 đường. Thể nhập Niết bàn. Niết bàn chỉ là giả lập, là phương tiện Phật đã dùng nhằm truyền trao chánh pháp - Con đường của sự giải thoát hoàn toàn.
Trên thực tế ngôn ngữ chỉ là giả lập, con người đã dùng ngôn ngữ giả lập để trao đổi thông tin cho nhau. Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc,… sẽ dùng những thứ ngôn ngữ khác nhau. Sự khác biệt về ngôn ngữ giữa các quốc gia, vùng miền chứng tỏ ngôn ngữ chỉ là giả lập, là phương tiện hỗ trợ việc giao tiếp. Tám vạn bốn ngàn pháp môn mà Phật thuyết cũng chỉ là phương tiện, là giả lập. Đó không phải là chân lý. Phật đã tùy thuận dùng ngôn ngữ giả lập thuyết ra những pháp môn giả lập tùy thuận nhằm hiển bày một con đường thoát khổ chân thật, thoát khỏi luân hồi. Phật đã “Lộng giả thành chân”.
Sau 49 ngày ngồi dưới cội bồ đề, Phật chứng ngộ quả vị chánh đẳng, chánh giác. Phật đạt được sự hiểu biết và giải thoát hoàn toàn, có được sự tự tại, vô ngại.
Nhìn chúng sinh nẻo Người điên đảo vướng vào sáu mươi hai luận chấp gồm:
Có mười tám luận chấp về quá khứ - bốn chủ thuyết thường trụ, bốn chủ thuyết vừa thường trụ vừa vô thường, bốn chủ thuyết về hữu biên và vô biên, bốn chủ thuyết ngụy biện và hai chủ thuyết về không có nhân quả. Có ba mươi chín luận chấp về tương lai - mười sáu chủ thuyết là còn tri giác sau khi chết, tám chủ thuyết không còn tri giác sau khi chết, tám chủ thuyết không phải còn cũng không phải không còn tri giác sau khi chết và bảy chủ thuyết về đoạn diệt. Có năm luận chấp về hiện tại là Niết bàn.
Khi vướng vào những luận chấp con người sẽ cố chấp, bảo thủ, tranh hơn, luận thắng cho chủ thuyết của mình. Để chứng tỏ chủ thuyết của tôn giáo mình là chân lý, con người sẽ đi đến hý luận nhằm lôi kéo tín đồ và số đông người đồng tình. Việc làm này khiến con người càng bị trói chặt trong cái lưới vô minh và hoài nghi. Đến khi vô thường gọi thì những chủ thuyết lầm lạc trên vẫn không giúp con người có được sự an lạc, giải thoát khỏi thân tâm.
Phật nhận biết chúng sinh nẻo Người tự lấy dây trói mình nên nỗi phiền não, đau khổ chồng chất. Số khác chấp nhận số phận hèn mọn, bạc nhược,… có ít nhiều niềm tin đối với Đấng quyền năng. Thế nên những con người này chỉ còn biết lễ lạy, cúng bái, cầu nguyện được Ơn trên ban ơn, thương xót,…
Nhưng thực tế, do tự lấy dây trói mình và không ngừng vùng vẫy nên những con người đó không thể thoát ra được những khổ não mà còn bị trói chặt hơn. Còn vai trò của những Đấng quyền năng chỉ dừng lại ở những tác động thụ động về mặt tinh thần. Họ thật sự không thể tạo ra của cải, vật chất giúp cho loài người. Họ cũng không khả năng tạo ra mưa thuận, gió hòa giúp con người thoát khỏi những thiên tai, dịch họa,…
Phật nhìn thấy rõ thật mọi việc đều tuân theo quy luật của nhân quả.
Mùa hè con người gieo nhân là hạt lúa thì mùa thu sẽ thu hoạch được những hạt lúa vàng. Mùa đông ươm mầm cỏ dại thì mùa xuân sẽ có một đồng cỏ. Không có việc gieo mầm cỏ dại mà lại thu được nhiều hạt lúa vàng,...
Trong mối quan hệ nhân duyên chằng chịt, con người khi gieo nhân hòa hợp, ấm êm và hiểu biết thì sẽ nhận quả tốt là sự hiếu thuận, thảo hiền,…
Ngược lại khi con người gieo nhân ngang tàng, bạo ngược, ích kỷ,… thì sẽ nhận lấy quả báo là sự lẻ loi, cô độc, mọi người xa lánh,…
Và Phật còn nhận rõ quy luật nhân quả không chỉ là sự biểu hiện ở hiện đời mà đó là kết quả của hằng sa số kiếp luân chuyển của tất cả các chúng sinh trong 3 cõi.
Có một điều khác biệt giữa chúng sinh nẻo Người và chúng sinh 5 nẻo còn lại. Đó là con người hoàn toàn có thể thay đổi số phận, nghiệp quả của tự thân bằng sự hiểu biết và nhẫn nhịn. Khi nhìn rõ vạn pháp, Phật biết rằng “Cơ duyên đã đến, Người cần phải cất lên tiếng gầm của con sư tử chúa để xóa tan những điên đảo, lầm lạc có trong các tà thuyết, kiến chấp của tri thức nhân loại thời xưa”.
Kinh Phạm Võng được Phật thuyết nhằm đập tan sáu mươi hai luận chấp sai lạc của các tôn giáo, chủ thuyết đương thời và xóa tan cả việc cầu nguyện, cúng bái và lễ lạy.
Kinh Thủ Lăng Nghiêm được Phật thuyết khi ngài Anan bị trúng mê dược của cô Ma Đăng Già suýt phạm vào sắc giới. Sở dĩ ngài Anan không thể thoát ra khỏi lưới tình của cô Ma Đăng Già là vì mặc dù là người học rộng biết nhiều nhưng ngài Anan đã bị cái thấy nghe hay biết trói buộc, không tự thực chứng. Kết quả ngài Anan mê mờ không nhận rõ bản tâm. Nhận cái thấy nghe hay biết dính mắc làm tâm, ngài Anan đã phạm sai lầm mà Phật nhận định là “Nhận giặc làm con”. Vì lẽ nếu cái thấy nghe hay biết phân biệt là tâm, vậy khi không vướng vào cái thấy nghe hay biết thì cái trạng thái dừng lặng đó là gì? Nếu ngài Anan đạt được sự thực chứng - chứng ngộ bản tâm - thì ngài hoàn toàn có khả năng hóa giải lưới tình của cô Ma Đăng Già. Không chỉ có vậy mà ngài Anan còn có thể giúp cô Ma Đăng Già quay về chánh pháp.
Phật thuyết kinh Thập Nhị Nhân Duyên và Duyên Sinh nhằm giúp con người trả lời câu hỏi về nguồn gốc của con người và vạn vật có trong vũ trụ, phá đi cái vọng chấp về cái tôi thường tại có trong mỗi chúng sinh.
Phật thuyết kinh Chăn Trâu nhằm giúp cho những người học Phật ở tầng lớp mà xã hội cho rằng thấp hèn như chăn trâu, hốt phân,… Sở dĩ Phật thuyết kinh chăn trâu là vì Người nhận thấy có sự tương quan giữa việc chăn trâu và việc tu học. Trình bày việc tu học thông qua hình ảnh chăn trâu sẽ khiến giáo lý gần gũi, dễ hành trì hơn.
Phật thuyết kinh Vô Lượng Thọ và Quán Vô Lượng Thọ khi rõ biết hoàng hậu Vi Đề Hi rơi vào tận cùng của sự tuyệt vọng. Phật đã nói về cõi A Di Đà tuyệt đẹp, không có khổ não bức hại nhằm vực dậy tinh thần rệu rã của hoàng hậu Vi Đề Hi. Khi đã sống được với bản tâm người học Phật sẽ tự nhận biết cõi A Di Đà và Niết bàn vốn không hai.
Mỗi bộ kinh Phật thuyết ra đều khởi nguồn từ những vấn đề gút mắc cần phải giải quyết của xã hội loài người thời Phật hành đạo.
Việc đi khất thực tuần tự từng nhà, ngày ăn một bữa cũng chính là một pháp môn của Phật.
Tại sao Phật chọn giải pháp đi khất thực để truyền trao giáo lý giác ngộ, giải thoát hoàn toàn sâu rộng vào quần chúng?
Vì Người rõ biết nếu cứ trói mình trong nỗi lo cơm áo thì sẽ không thể đưa giáo lý tỉnh thức, phương pháp thoát khỏi mọi khổ đau cho chúng sinh trong 3 cõi. Người ăn ngày một bữa vì Người biết tầng lớp tu sĩ không tạo ra của cải vật chất phục vụ cho nhân loại. Việc giữ thân để hành trì, tu tập sự giải thoát hoàn toàn là cần thiết nhưng không nên phụng dưỡng thân quá hậu, sẽ rơi vào lợi dưỡng dẫn đến tham đắm, si mê lạc lối vào 6 nẻo luân hồi.
Việc ngồi thiền cũng chính là pháp môn của Đức Phật, vì thông qua lời Phật thuyết chúng sinh trong 3 cõi chỉ nhận biết được việc thoát khổ, giải thoát nhưng không thật sự sống với điều đã lĩnh hội được. Việc dừng lặng sẽ giúp con người khai mở được trí tuệ và chuyển hóa những cái thấy nghe hay biết trở về với bản tâm. Từ đó không còn tham đắm, vướng mắc đạt được sự tự tại, an lạc ngay trong hiện kiếp. Khi sống được với chánh định thì sẽ tự nhận biết Niết bàn không phải ở quá khứ, tương lai hay hiện tại. Niết bàn cũng không ở trong, ở ngoài hay ở giữa mà Niết bàn chính là bản tâm thường tại của mọi chúng sinh.
Phật giáo sơ khai đã tùy thuận theo bối cảnh xã hội ở từng quốc gia mà có những sự thay đổi phù hợp. Việc thay đổi tùy thuận chỉ nhằm mục đích giúp giáo lý kinh điển của đạo Phật được truyền trao đến người học Phật. Người học Phật khi sống được với những điều Phật chỉ bày thì sẽ thoát khổ ngay trong hiện đời.
Nếu người học Phật tinh tấn hành trì đạt được chánh định thì sẽ tự biết đã đạt sự giải thoát hoàn toàn.
Sở dĩ Phật giáo có sự thay đổi tùy thuận là vì phần lớn con người thời đạo Phật sơ khai có trình độ hiểu biết chưa cao. Nếu không dùng sự tùy thuận làm phương tiện thì đạo lý tỉnh thức khó có thể thâm nhập vào cuộc sống, giúp con người thoát khổ.
Khi nhân duyên giáo hóa Phật giáo ở Ấn Độ không còn, Tổ Bồ Đề Đạt Ma đã vượt biên giới sang Trung Quốc với bi nguyện hoằng dương chánh pháp.
Tổ Đạt Ma đã gặp vua Lương Võ Đế và sớm nhận biết Phật giáo Trung Hoa cũng đã rơi vào thời mạt pháp. Tổ đã bỏ vào hang đá ngồi thiền định.
Về sau có vị sư Thần Quang sau khi tìm hiểu giáo lý nhà Phật vẫn không đạt được sự tỏ ngộ, đã tìm đến tham học. Tổ Đạt Ma chỉ lặng im. Sư Thần Quang đứng giữa trời tuyết lạnh hết ngày sang đêm một lòng cầu pháp.
Sơ Tổ Đạt Ma thương tưởng hỏi:
- Cầu pháp mà chỉ đến thế thôi sao?
Sư Thần Quang đã chặt một cánh tay dâng lên thể hiện tâm tha thiết cầu đạo.
Sơ Tổ nói:
- Tâm cầu pháp như vậy cũng khá.
Sư Thần Quang được Sơ Tổ nhận làm đệ tử ban cho pháp danh Huệ Khả.
Có một dịp, sư Huệ Khả mong cầu đắc pháp, lòng bấn loạn chẳng an.
Sư Huệ Khả nói:
- Bạch thầy, tâm con không an. Cầu thầy an tâm cho?
Sơ Tổ Đạt Ma đã nói:
- Đưa tâm đây, ta an tâm cho.
Sư Huệ Khả xoay lại tìm tâm nhưng không thể nhận biết được tâm ở đâu nên đã trả lời:
- Con tìm chẳng thấy.
Sơ Tổ Đạt Ma nói:
- Ta đã an tâm cho con.
Quả thật, căn cơ của sư Huệ Khả là không thật sự bén nhạy và do đã vướng vào giáo lý, kinh điển. Qua lời đốn ngộ của Sơ Tổ, sư Huệ Khả vẫn mờ mịt, chưa thể thấy tánh.
Hai câu nói “Đưa tâm đây, ta an cho” và “Ta đã an tâm cho con” khiến cho sư mịt mờ chẳng biết tâm ở đâu và Sơ Tổ đã an tâm giúp mình khi nào?
Vô hình chung đã “cột tâm” sư vào một chỗ. Sau thời gian dài “lắng tâm” sư Huệ Khả đã tỏ ngộ. Chính việc thiền định đã giúp sư Huệ Khả minh tâm kiến tánh.
Sư Huệ Khả đã trình sở đắc:
- Con đã dứt hết các duyên rồi.
Sơ Tổ Đạt Ma hỏi:
- Con không rơi vào đoạn diệt chứ?
Sư Huệ Khả đáp:
- Chẳng thành đoạn diệt.
Sơ Tổ Đạt Ma hỏi:
- Lấy gì chứng minh?
Sư Huệ Khả đáp:
- Rõ ràng thường biết. Nói không thể được.
Sơ Tổ Đạt Ma nói:
- Đây chính là bí quyết tâm truyền của tất cả các chư Phật. Con chớ nghi ngờ gì.
Đó là sự chân thật của pháp môn tâm truyền tâm mà Sơ Tổ Đạt Ma truyền trao cho Sư Huệ Khả. Sư Huệ Khả nhận được tâm ấn về sau làm Nhị Tổ ở Trung Hoa.
Pháp môn tâm truyền tâm cơ bản chính là dừng lặng việc lạm bàn giáo lý, sự hiểu biết và vướng mắc vào kinh Phật.
Sự dừng lặng sẽ giúp người học Phật chuyển hóa, lĩnh hội được kinh Phật và khi thật sống với những điều đã lĩnh hội thì trí tuệ sẽ được khai mở. Tùy thời người học Phật sẽ đạt được sự giải thoát hoàn toàn, đắc quả thánh.
Nói cách khác, pháp tâm truyền tâm là chuyển muôn niệm về thành một niệm. Hành trì miên mật, tùy thuận cho đến khi thuần thục thì dứt một niệm về vô niệm. Sau cùng người học Phật dứt vô niệm trở về lại muôn duyên.
Tuy nhiên, người học Phật đắc quả thánh sẽ đối diện muôn duyên nhưng không sinh một niệm. Thế nên mới có việc - Người chưa học Phật nhìn thấy núi sông là núi sông. Người học Phật nhìn thấy núi sông không phải là núi sông.
Người học Phật đạt quả giải thoát nhìn thấy núi sông là núi sông. Sự khác biệt của người chưa học Phật là nhìn núi sông nhận biết núi sông với tâm phân biệt dính mắc còn người học Phật đạt quả vị giải thoát thì nhìn núi sông nhận biết núi sông với tâm vắng lặng, tịch diệt. Họ và núi sông là không hai.
Lúc bấy giờ đạo Lão đang dần hình thành và phát triển mạnh ở Trung Hoa. Tư tưởng vô vi, giữ lòng hư tĩnh của các bậc đạo nhân tu tiên và pháp môn ngồi thiền của đạo Phật đã có sự ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Thực tế khi giữ lòng hư tĩnh, người hành thiền sẽ đạt những trạng thái lắng tâm và sự hiểu biết sẽ được nâng cao. Con người sẽ có thể kéo dài tuổi thọ. Thậm chí con người còn có thể xuất thần thức - Huyễn thân - ra khỏi cơ thể, rong chơi tiêu diêu, tự tại.
Những đạo nhân tu tiên đã xây dựng nên pháp song tu gồm tu tánh và tu mạng. Tu tánh nhằm minh tâm. Tu mạng nhằm kéo dài tuổi thọ. Đây là sự sai biệt giữa đạo Lão và đạo Phật.
Đạo Phật lấy sự giải thoát hoàn toàn, thoát khỏi luân hồi làm “Điểm đến”. Vì thế, người học Phật sau khi tham cứu giáo lý sẽ dùng xác thân giả tạm - thân huyễn hành trì nhằm đạt được sự tỏ ngộ giải thoát hoàn toàn, không thiết việc kéo dài tuổi thọ.
Còn đạo Lão lấy việc kéo dài tuổi thọ và việc tạo “Huyễn thân” rong chơi trong tam giới làm “Điểm đến” cho thấy người tu tiên còn chấp cái tôi vào “Huyễn thân” dù hành trì đạt đạo cũng khó thể rời khỏi tam giới.
Do có sự ảnh hưởng qua lại giữa đạo Phật và đạo Lão, người học Phật đời sau rơi vào kiến giải. Điều đáng tiếc vẫn thường tồn tại là “Người biết thời không nói, người nói thời không biết”. Pháp môn tâm truyền tâm được thừa nhận là riêng của thiền tông do Tổ Bồ Đề Đạt Ma sáng lập.
Về sau thiền tông còn phân định ra nhiều khái niệm thiền khác nhau điển hình là Như Lai thiền, Tổ Sư thiền ,… và có cả tối thượng thừa thiền. Điều này giống như là việc “Trên đầu lại gắn thêm đầu” “Trên mỏ lại gắn thêm mỏ”.
Do không thực chứng ngộ bản tâm người học Phật đời sau đã xem pháp môn tâm truyền tâm là tông chỉ thiền tông với yếu quyết:
Truyền riêng ngoài giáo
Không dùng lời nói
Chỉ thẳng tâm người
Thấy tánh thành Phật.
Câu chuyện truyền pháp của Sơ Tổ Đạt Ma cho Nhị Tổ Huệ Khả giúp bạn nhận ra pháp môn tâm truyền tâm không phải rời lời nói, ngôn ngữ cũng không phải là không rời ngôn ngữ, lời nói. Thật sự chỉ là tránh rơi vào hý luận, lạm bàn giáo lý, buông bỏ sự hiểu biết trên lý thuyết chuyển hóa những điều đã lĩnh hội về nguồn tâm, sống thật với bản tâm vắng lặng, không dính mắc. Pháp tâm truyền tâm cũng chỉ là phương tiện, là sự tùy thuận truyền pháp Phật của các vị Tổ.
Trong khi đó ở Tây Tạng, Phật giáo cũng rơi vào thời mạt pháp, người học Phật chỉ mãi lo tranh luận mà không đạt được sự tỏ ngộ.
- Một số người học Phật chán ngán bỏ vào những hang động của dãy Hymãlạpsơn chuyên tâm thiền định.
- Một số người học Phật khác lại dùng chú thuật, ấn quyết,… mong cầu mau chóng đạt sự giải thoát hoàn toàn.
Sự dừng lặng và chú thuật, ấn quyết,… giúp người học Phật tiếp cận được thế giới vô hình. Niềm tin tăng trưởng một số người học Phật tin sâu pháp Phật miên mật hành trì, đạt được những tỏ ngộ về con đường giải thoát.
Số người học Phật khác đuổi theo thần thông, bùa chú, ấn quyết,… lạc vào lối rẽ. Người biết không nói, người nói lại không biết.
Mật tông ra đời trong sự “nghẽn lối” về con đường giải thoát hoàn toàn. Những bậc chân sư cũng đã tùy thuận dùng chú thuật, ấn quyết,… nhằm tạo niềm tin sâu và cũng là “cột tâm” người học Phật vào một chỗ - Là phương tiện giúp người học Phật “lắng tâm”. Nhưng do việc không nói rõ dụng tâm dùng pháp của các bậc chân sư đã làm người học Phật ngày nay mê mờ sự chân ngụy.
Một số người học Phật lầm tưởng đã đuổi theo thần thông, bùa chú,… khó mong thoát khỏi luân hồi.
Phật đã nói về cõi giới A Di Đà trong bối cảnh tinh thần hoàng hậu Vi Đề Hi hoàn toàn suy sụp. Bà Vi Đề Hi lúc bấy giờ như là người bị rơi xuống dòng nước chảy xiết, hoàn toàn muốn buông xuôi số phận. Phật đã tùy thuận lập ra cõi giới A Di Đà như là việc đưa người bị rơi vào dòng nước xoáy lên khỏi mặt nước trước khi người đó bị chết chìm. Phật rõ biết “Cần phải giữ lấy được thân mạng bà Vi Đề Hi, giúp người trấn tỉnh tinh thần rồi thì mới có thể giúp hoàng hậu đi trên con đường giải thoát hoàn toàn”.
Về sau, nhằm để có thể truyền trao pháp Phật đến với mọi người, các vị Tổ đã tùy thuận dùng pháp môn “Nhất tâm niệm Phật” giúp con người biết đến đạo giải thoát. Sau đó các vị minh sư sẽ tùy thuận truyền dạy giáo lý kinh điển nhằm giúp người học Phật giác ngộ, liễu thoát sinh tử.
Nhưng ngày nay người học Phật đã lầm lạc tìm đến Tịnh độ tông chỉ với niềm tin cõi giới A Di Đà là thật có. Việc học hỏi sự hiểu biết giác ngộ, hành trì chánh pháp nhằm đạt được sự giải thoát hoàn toàn bị xem nhẹ. Sự lầm lạc này sẽ dẫn người học Phật thọ hưởng phước báu nẻo Người, nẻo Trời ở kiếp sau. Đây không phải là chánh pháp. Bởi lẽ nếu mải mê hưởng phước báu người học Phật sẽ lui sụt chí Bồ đề. Thấu rõ bi nguyện muốn độ thoát chúng sinh nẻo Người ra khỏi 3 cõi 6 đường, thoát khỏi luân hồi tôi sẽ xóa đi những lầm lạc, ngộ nhận,… của người học Phật.
Tóm lại, Phật, các vị Tổ và những người học Phật đạt được sự giác ngộ giải thoát hoàn toàn đã dùng pháp Phật tùy thuận làm phương tiện, đã “Lộng giả thành chân” nhằm hiển bày sự thật về con đường giác ngộ giải thoát hoàn toàn.
- Phật Giáo đương đại - Lộng chân thành giả.
Phật giáo đương đại cũng tồn tại và phát triển trong sự tùy thuận nhưng với những bước đi lệch lạc.
Vì lẽ con người ngày nay đã có nhiều hiểu biết, người tu học thông qua giáo lý kinh điển rồi sinh hiểu và chấp lấy cái hiểu đó và cho rằng - Đó là chân lý.
Người học vướng vào sở tri chướng, bị cái thấy nghe hay biết của bản thân làm chướng ngại đường tu.
Nhưng thực tế, kinh Phật không phải là chân lý. Kinh Phật chỉ là phương tiện. Kinh Phật là ngón tay chỉ mặt trăng. Do vướng vào kiến chấp, người tu học đã ngộ nhận ngón tay là mặt trăng từ đó không nhìn thấy mặt trăng và mê lầm không nhận ra ngón tay chính là phương tiện mà Đức Phật đã dùng nhằm giúp chúng sinh trong 3 cõi nhận rõ mặt trăng - là sự giác ngộ, giải thoát hoàn toàn.
Nói cách khác, kinh Phật chỉ là chiếc bè giúp mọi chúng sinh sang bờ giải thoát nhưng con người đã nhầm lẫn khi mơ hồ nhìn thấy chiếc bè thì vội khởi nghĩ đã sang đến bờ bên kia. Số khác lại ôm ảo tưởng ngồi giữ chặt lấy chiếc bè. Như Lai gọi những chúng sinh mê mờ kia là “Thật đáng thương xót! Điên đảo thêm điên đảo”.
Như Lai sớm nhận ra nhân loại sẽ rơi vào việc chấp pháp. Trước khi nhập diệt, Người đã khẳng định lại một vấn đề “Bốn mươi chín năm ta chưa từng nói một lời” nhằm dứt trừ bệnh chấp pháp của chúng sinh nẻo Người.
Hiện nay, Phật giáo đã phát triển rộng khắp trên phạm vi thế giới nhưng lại đánh mất đi giá trị thực tiễn. Khi Phật tại thế, mọi người tìm đến tu học nhằm mục đích thoát ra khỏi bể khổ luân hồi. Ngày nay, có lẽ do thiếu chân sư chỉ dẫn nên con người đến với Phật giáo qua việc cúng bái, cầu nguyện, lễ lạy,… Con người chỉ chú tâm làm việc phước đức, gieo nhân tốt ở cõi Trời, cõi Người.
Chí hướng xuất trần, cứu khổ chúng sinh trong 3 cõi chỉ là những lời nói “đầu môi chót lưỡi”. Và có cả những người xuất gia cũng không còn tin vào con đường giác ngộ, giải thoát hoàn toàn.
Một số lượng không ít những người xuất gia đã không còn nhận ra giá trị của Tam tạng kinh của Đức Thế Tôn.
Số người học Phật khác thì nhận biết rằng “Chỉ cần học thuộc vài quyển kinh Phật thì lo gì không có “Cái ăn cái mặc””.
Họ đã đúng - Việc gìn giữ truyền trao Pháp bảo đã tạo cho ngôi thứ ba trong Tam bảo có được phước báu vô cùng lớn. Vì phước báu rất lớn khiến cho số đông Tăng bảo đã không còn nhớ được mục đích việc học Phật của bản thân, rơi vào lợi dưỡng. Thật đáng tiếc!
Trải qua thời gian lâu xa, sự tùy thuận của đạo Phật và sự không thực chứng của những người học Phật đã khiến nhân loại không nhận ra được sự chân thật của con đường giải thoát hoàn toàn và tính ứng dụng thực tiễn của đạo Phật.
Thêm vào đó, việc phạm giới và cả việc rơi vào lợi dưỡng, lợi danh,… của không ít vị Tăng bảo đã khiến nhân loại đang hoài nghi giáo lý, kinh điển của đạo Phật.
Từ sự hoài nghi giáo lý nhà Phật nhân loại đã hoài nghi cả chánh pháp dẫn đến việc bài bác đạo Phật.
Chủ nghĩa duy vật đã từng cố xóa bỏ chủ nghĩa duy tâm. Việc này đã góp phần làm mai một sự hiểu biết của tri thức nhân loại về thế giới tâm linh. Chánh pháp ẩn tàng trong kinh Phật vì thế cũng bị diễn giải sai lạc.
Đạo Phật từ lâu đã trở thành một cái bình cổ được trang trí hoa văn trang nhã, bóng bẩy,… bên ngoài với nắp đậy kín và dường như thiếu đi cái cốt lõi tinh túy ở bên trong?
Tri thức nhân loại cũng đã cố công dùng nhận thức, tư duy,… nhằm nhận biết bên trong chiếc bình cổ chứa đựng “vật gì” hay không?
Nhưng do dựa trên góc nhìn sai lệch và chủ quan,… nên đã không thể nhận rõ được bên trong đạo Phật có hay không có “vật gì”?
Ngày nay, sự bùng nổ dân số toàn cầu, lối sống thực dụng, ích kỷ, sự không hiểu biết về sự tồn tại của thế giới tâm linh một cách khoa học,… Nhân loại đang lầm lạc não hại nhau trong sự đau khổ, thù hận và chiến tranh. Điều này khiến cho trái đất đứng trước nguy cơ hoại diệt.
Chỉ có chánh pháp mới có thể bảo đảm sự tồn vong của nhân loại và trái đất.
Tôi rõ biết trong chiếc bình cổ có chứa đựng chánh pháp. Cách duy nhất để giúp nhân loại nhận ra chánh pháp là tôi sẽ mở cái nắp đậy kín của chiếc bình cổ quý giá nhằm giúp nhân loại nhìn rõ “vật” được chứa đựng ở bên trong - Chánh pháp.
Khi người học Phật tìm hiểu, tham cứu kinh điển Phật. Nhất là kinh Đại thừa. Nếu người tu học thiếu sự khách quan và sự hiểu biết thì sẽ hiểu sai ý kinh. Điều này sẽ khiến người học Phật sẽ tin nhận thần thông của Phật là cùng tột, khôn lường,… Phần lớn người học Phật tin rằng “Mỗi khi Phật thuyết pháp là có hằng hà sa Bồ tát, A la hán, chư thiên, long thần hộ pháp,… Đại diện cho chúng sinh trong 3 cõi 6 đường hội tụ về”...
Tôi không nói chúng sinh nẻo không thân là không có. Thậm chí tôi đang chứng thực những chúng sinh đó thật sự có tồn tại.
Nhưng trong trường hợp này, người học Phật đã dùng góc nhìn lệch lạc để nhìn nhận vấn đề. Trong khi những vị Tổ kết tập kinh điển dùng đại diện của chúng sinh trong 6 nẻo và cả những vị Bồ tát, A la hán nhằm chứng thực như là một phương tiện để khẳng định những điều trong kinh là lời nói đúng thật do Phật thuyết nhằm giúp người học Phật sơ cơ, ít hiểu biết thời xa xưa tin sâu, hành trì theo chánh pháp.
Ngày nay, sự hiểu biết nâng cao, những người theo chủ nghĩa duy vật và khoa học đã hoài nghi tính chân thật của thần thông, cõi giới vô hình nên không thể tin nhận kinh Phật.
Ngược lại, phần lớn người học Phật lầm lạc lại ngộ nhận thần thông, thiên nhãn, bùa chú,… là chánh pháp, dẫn đến lạc lối đường tu.
Hình ảnh Phật hạ sinh ở bên hông mẹ, vừa sinh ra đã bước bảy bước hiện ra bảy đóa sen cũng là do người đời sau thêu dệt. Đây là sự tùy thuận truyền đạo của những người học Phật chưa đạt được sự tỏ ngộ cao tột. Riêng câu nói “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn” chính thật là lời Phật nói sau ngày thành đạo.
Phật có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp cũng chỉ là do người đời sau dùng tâm phân biệt thần tượng hóa, thần thánh hóa Đức Phật.
Trong kinh Kim Cang, Phật đã dùng một câu nói cảnh tỉnh người học Phật. Câu nói “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng” được diễn dịch với hàm nghĩa “Bất kỳ vật gì có hình tướng đều không thật vì chúng sẽ hư hoại, chuyển dịch do tự tánh vô thường của vạn pháp”.
Về sau Phật giáo được truyền sang Trung Quốc, nhằm hoằng dương Phật pháp một số người học Phật đã chuyển nơi tu tập, hóa thân của những người đệ tử Phật từ Ấn Độ sang Trung Quốc.
Cụ thể, Phổ Hiền Bồ tát dời về Nga Mi Sơn thuộc tỉnh Tứ Xuyên, Văn Thù Sư Lợi Bồ tát hóa thân tại Ngũ Đài Sơn thuộc tỉnh Sơn Tây, Quan Thế Âm Bồ tát thị hiện ở Phổ Đà Sơn, nằm trên một đảo nhỏ gần Thượng Hải, thuộc tỉnh Triết Giang, Địa Tạng Vương Bồ tát hóa thân ở Cửu Hoa Sơn thuộc tỉnh An Huy,…
Người học Phật ngày nay ngộ nhận tâm Phật dẫn đến việc tham học kinh điển sai lạc. Lẽ ra người học Phật tham cứu, hành trì chuyển kinh Thủ lăng nghiêm về tự tâm.
Vì lẽ người học Phật mà lại không rõ biết - Tâm là gì? Tâm ở đâu? - thì làm sao mà hành trì, tu học thành bậc giác ngộ, giải thoát hoàn toàn.
Việc trì tụng kinh ở các chùa, các tự viện,… theo khuynh hướng “Lấy ngọn bỏ gốc” khiến người học Phật càng thêm mê mờ, lầm lạc,… không thể nhận biết chân ngụy.
Tịnh độ tông chú trọng đọc tụng Kinh A Di Đà, kinh Vu Lan, kinh Địa Tạng,… đã dẫn đến việc ngộ nhận cho người học Phật. Người học Phật tin rằng người đã khuất có thể vãng sinh tịnh độ khi được người sống cầu siêu, cầu vãng sinh,... Vậy thì người học Phật chỉ cần siêng năng cầu vãng sinh cho người chết và việc làm đó sẽ giúp cõi Tây Phương mở cánh cửa đón họ khi họ không còn.
Ngoài ra, nhằm để gieo duyên tốt người tu học sẽ không ngừng cầu nguyện, lễ lạy, cúng bái,… với rất nhiều nghi thức, đồ cúng lễ: Quần áo, nhà cửa, tiền bạc, ti vi, xe máy,… gửi cho người đã khuất sử dụng.
Khi khách quan nhận xét, tri thức nhân loại sẽ nhận thấy Phật giáo đã tùy thuận tiêm nhiễm lễ nghi của Nho giáo và tục lệ thờ cúng ông bà, tổ tiên của truyền thống văn hóa phương Đông.
Thực ra, Phật tùy thuận thuyết kinh Địa Tạng nhằm chỉ bày cho người học Phật biết sự tồn tại của nẻo Địa Ngục và những khổ não, hành hạ mà chúng sinh nẻo tối này phải thọ lãnh. Người học Phật sẽ kinh sợ muốn thoát ra khỏi những nẻo tối sẽ tinh tấn hành trì theo chánh pháp mà tỏ ngộ, đạt sự giải thoát hoàn toàn.
Lúc bấy giờ, ngài Mục Kiền Liên là người có đạo tâm, đã đạt ít nhiều sự tỏ ngộ. Vì sự khổ tâm của những người học Phật có người thân đã khuất từng sống với những hành vi xấu ác, bất thiện,… ngài Mục Kiền Liên đã cầu Phật chỉ bày cách giúp cho những người đã khuất tiêu giảm nghiệp xấu ác, sớm được siêu sinh.
Phật đã thuyết kinh Vu Lan nhằm trấn an những người sống, đồng thời hướng con người tìm về chánh pháp. Phật thuyết pháp chủ yếu là nhằm giúp chúng sinh nẻo Người thoát khổ, giải thoát hoàn toàn chứ không chỉ vì giúp chúng sinh nẻo không thân được siêu sinh.
Tuy nhiên, việc cầu siêu cho người đã khuất cũng có những hiệu quả nhất định. Điều quan trọng nhất giúp chúng sinh nẻo không thân sớm siêu sinh là phụ thuộc vào sự tín tâm, đạo hạnh của người trì tụng chứ không phải là ở mâm cao, cỗ đầy cũng như đồ tế lễ.
Do việc “Lấy ngọn bỏ gốc” và tiêm nhiễm những hủ tục, nghi lễ rườm rà,… Phật giáo đương đại đã khiến cho nhân loại ngộ nhận Phật giáo đã gieo rắc sự mê tín, dị đoan vào xã hội loài người.
Thiền tông tách pháp môn tâm truyền tâm, rời ngôn ngữ, lời nói, tạo tông giáo riêng. Chú trọng thiền tọa, thiền hành.
Mặt khác, do ảnh hưởng qua lại với đạo Lão khiến người học Phật thiếu hiểu biết đời sau ngộ nhận. Người học Phật là phải tạo “thánh thai” trong thân huyễn - huyễn thân, rồi xuất huyễn thân ra khỏi thân,…
Một số người học Phật khác lại xa rời giáo lý, chuyên tâm thiền định đạt được chút ít tỏ ngộ, đã vội nghĩ tưởng thông hiểu pháp Phật. Do chưa buông bỏ được cái tôi người học Phật đã vội nhập thế, tự lập tông giáo, khinh sư diệt Phật, gây thêm nhiều lầm lạc, ngộ nhận cho người đời sau.
Mật tông thì rơi vào bùa chú, ấn quyết,… Việc tiếp xúc với thế giới tâm linh, khiến người học Phật sơ cơ rơi vào đường rẽ thần thông, độ vong, thiên nhãn,… Việc này góp phần làm người học Phật đời sau xa rời chánh pháp. Việc cầu nguyện, cúng bái, lễ lạy,… bị lạm dụng thái quá khiến nhân loại không còn nhận ra chân giá trị Tam Tạng Kinh và chánh pháp.
Ở góc nhìn tổng thể, nhân loại hiện nay có rất nhiều truyền thống tín ngưỡng tâm linh, cũng có không ít người theo chủ nghĩa vô thần. Nếu việc cầu nguyện, cúng bái,… của người sống giúp những người đã khuất có tín ngưỡng tâm linh siêu sinh thì những người đã mất không có tín ngưỡng tâm linh sẽ không được luân hồi trở lại. Việc này đồng nghĩa với sự tịch diệt.
Phải chăng những người đã khuất đó được thể nhập Niết bàn tịch diệt?
Thêm nữa, đạo Thiên Chúa, Tin Lành,… không nhang đèn, không có tục lệ thờ cúng ông bà, tổ tiên và người thân thì những người thân đã mất của họ sẽ vĩnh viễn ở trên thiên đàng hoặc mãi mãi chịu hành hạ ở địa ngục hoặc chịu cảnh đói khát, không cơm ăn, áo mặc,...
Thật không có lý lẽ đó. Bất kỳ chúng sinh nào trong 6 đường đều phải siêu sinh, luân hồi chỉ có những người hành trì hòa cái tôi vào không đại thì mới đạt được sự thoát khỏi luân hồi.
Việc chia chẻ đạo Phật ra thành nhiều tông giáo, sự không thực chứng của những người học Phật đã khiến kinh Phật trở nên mập mờ, thật giả khó phân định.
Trong khi Phật và các vị Tổ dùng các phương tiện giả lập nhằm hiển bày chánh pháp chân thật - Lộng giả thành chân - thì người học Phật ngày nay lại nhận lấy những phương tiện giả lập làm thật và xa rời, quên bỏ chánh pháp - Lộng chân thành giả.
Việc không ít Tăng bảo rơi vào lợi dưỡng, lợi danh, tài vật,… và việc phạm những giới cấm của các vị Tăng bảo. Sự không rõ tâm Phật của người học Phật, đệ tử Phật đã gom góp tiền của, đất đai, … nhằm xây dựng chùa to, Phật lớn. Là nguyên nhân gây ra sự tranh giành địa vị, quyền lợi,… của các vị Tăng bảo ở các ngôi chùa.
Những việc “Trái tai, gai mắt” trên làm chướng ngại cho những người học Phật sơ cơ và cả những người tu học chân chính.
Cụ thể, giả như tôi chưa từng có sự hiểu biết về đạo Phật. Chẳng may tôi gặp một biến cố rất khổ đau. Những thiện tri thức đoái thương chỉ bày cho tôi biết về đạo Phật và khuyên tôi muốn thoát khổ thì hãy quy y Tam bảo. Tôi thật lòng muốn thoát khổ, vượt khỏi 6 đường.
Tôi sẽ xin về chùa phụng sự Tam bảo nhưng khi tôi tận mắt chứng kiến sự tranh danh, đoạt lợi và việc phạm giới của các vị Tăng bảo thì tôi sẽ có tâm trạng ra sao?
Mặc dù mới là người học Phật sơ cơ thì tôi vẫn phải nhận biết - Đó không phải là chánh pháp.
Niềm tin về đạo lý giải thoát của tôi lúc đó còn không?
Tôi trốn chạy khổ não ở đời, lánh vào đạo tìm con đường giải thoát mà lại bị cướp mất niềm tin. Sự hụt hẩng sẽ khiến tôi chơi vơi không thể sống ở đời và cả trong đạo. Có lẽ khi đó tôi thật sự rất đáng thương và tuyệt vọng.
Việc cầu nguyện, cúng bái, bùa chú,… sẽ khiến những người có sự hiểu biết nhất định về khoa học, chủ nghĩa duy vật hoài nghi giá trị của chánh pháp.
Ngược lại, số người theo chủ thuyết duy tâm nhưng có sự hiểu biết sai lạc lại tin nhận thần thông, pháp thuật huyễn hoặc,… là chánh pháp, sống nhờ việc độ vong, cầu siêu, cầu vãng sanh,… hoặc là tạo duyên chờ trông Phật Di Lặc hiện thân thọ ký Phật quả,...
Tại sao Phật Thích Ca và các vị Tổ lại thuyết pháp và truyền trao kinh Phật chứa đựng rất nhiều điều huyễn hoặc, thần thông biến hóa khôn lường,…?
Sự khác biệt bối cảnh xã hội giữa quá khứ và hiện tại: Tri thức của phần lớn người xưa là không sâu rộng. Người xưa tin nhận chú thuật, pháp lực,… của giáo chủ các tôn giáo khác, tin nhận thần thông của các Đấng quyền năng,… Nhưng thần thông chân chính và cao tột nhất lại là chánh định và sự hiểu biết.
Vì vậy Phật đã nhiếp phục những chủ thuyết, kiến chấp,… sai lầm của các tôn giáo khác nhằm chỉ bày chánh pháp.
Bùa chú, huyễn thuật,… của các tôn giáo khác không thể làm tổn hại Phật vì Phật có chánh định vững vàng.
Thực tế, bùa chú và thế giới vô hình không thể làm hại những người có định tâm vững vàng và đạt được sự giải thoát hoàn toàn. Thế nên, Phật đã dùng sự thật đó giả lập làm phương tiện giúp người xưa tin nhận, hành trì chánh pháp.
Hiện tại, tri thức của nhân loại đã được nâng cao. Bùa chú, thần thông, thế giới người đã khuất là những thứ huyễn hóa, không dễ nhìn thấy, nhận biết khi không có sự nghiên cứu, tìm hiểu chuyên sâu.
Thêm vào là sự sai lầm cơ bản, ngớ ngẩn của chủ nghĩa vô thần, việc bị ngôn ngữ đánh lừa và trói buộc, tri thức nhân loại đã hoài nghi bùa chú, huyễn thuật, kinh Phật, hoài nghi chánh pháp dẫn đến lầm lạc chất chồng, trói con người vào trong khổ đau, trong vòng luân hồi sinh tử.
Tất cả sự lầm lạc trên sẽ hủy hoại chánh pháp, vùi chôn đạo Phật. Tôi sẽ vì nhân loại chỉ ra những sự ngộ nhận, sai lầm,… đang tồn tại trong đạo Phật và tri thức nhân loại. Hy vọng nhân loại sẽ sớm nhận rõ chánh pháp và tin nhận con đường giác ngộ giải thoát hoàn toàn.
Chánh pháp không thuộc về đạo Phật. Từ lâu, tri thức nhân loại đã “cất giấu” chánh pháp vào đạo Phật. Về sau tri thức nhân loại lại ngộ nhận đạo Phật là chiếc bình cổ, chánh pháp được cất trong chiếc bình cổ. Ngày nay nhân loại đã không sống với chánh pháp gây não hại, đau khổ cho nhau. Người biết thời không nói, người nói thời không biết khiến cho tri thức nhân loại ngộ nhận, mê lầm.
Sống với tri thức, nhận thức sai lầm, nhân loại sẽ bị hủy diệt trong khổ đau, thù hận.
Trái đất nổ tung, con người sẽ không còn nhưng chết không phải là hết. Sự sống luôn tồn tại cho dù nhân loại không nhìn thấy và nhận biết. Tôi đã cất công mở cái nắp của chiếc bình cổ hiển bày chánh pháp chân thật, gần gũi. Việc cần làm của nhân loại bây giờ là chọn lựa sống với chánh pháp, giải thoát hoàn toàn hay chọn lựa sống với khổ đau, thù hận và luân hồi trong 3 cõi 6 đường?
- Hiển bày sự chân thật con đường Phật Thích Ca đi.
Tóm lược lại con đường tìm đạo và hành đạo của Đức Phật Thích Ca:
Sau khi nhận biết vòng tròn sinh lão bệnh tử của một đời người và sự hiểu biết về luân hồi có trong bộ kinh Vệ Đà thuộc đạo Bà La Môn, thái tử Tất đạt đa nhận ra sự vô lý khi chúng sinh trong 3 cõi phải lăn lên, lộn xuống trong 6 đường chịu muôn điều khổ não.
Đấng quyền năng là ai?
Tại sao phải trói buộc con người trong cái vòng lẩn quẩn không có lối ra?
...
Người nhận định hẳn là phải có một con đường nào đó để con người thoát ra khỏi vòng quay luân hồi. Người học hỏi, tham cứu phần lớn giáo lý, kinh điển các tôn giáo khác nhưng vẫn không tìm thấy lối thoát. Người đã thật sự bất an.
Tại sao con người phải sống trong tám sự khổ - Sinh khổ, bệnh khổ, già khổ, chết khổ, khổ vì yêu thương nhau mà phải chia lìa, khổ vì ghét nhau mà phải sống chung cùng, khổ vì cầu mong mà không được, khổ vì ngũ ấm - sắc thọ tưởng hành thức xung đột, chống trái lẫn nhau trong thân tâm gây bệnh tật, phiền muộn và khổ đau?
Con người phải chăng chết là hết?
Sự bất an nung nấu mãnh liệt trong tâm thái tử Tất đạt đa. Người nghĩ Người cần phải tìm cho ra con đường giải thoát cho bản thân và cho nhân loại. Nhưng Người chưa thể đi tìm đạo vì nàng Da du đà la đang mang thai đứa con của chàng. Người nhận ra Người rất yêu thương vợ và cả đứa con còn nằm trong bụng. Người mơ hồ nhận ra chính tình yêu thương đã trói chân Người và có thể chính tình yêu thương đã trói con người vào luân hồi.
Ngày Da du đà la hạ sinh La hầu la, trái tim Người như muốn vỡ tung. Người thật sự cảm nhận được sự mong manh của một đời người. Người đã tự nghĩ “Cái chết có thể đến với con chàng, vợ chàng và ngay cả chàng bất cứ lúc nào”.
Sở dĩ Thái tử Tất đạt đa có những ý nghĩ “đáng sợ” như vậy bởi vì ngày xưa vì sinh chàng mà mẹ chàng đã phải chết.
Từ những hình ảnh, những suy nghĩ đó,… có một sự thôi thúc mãnh liệt Người hiểu rằng “Đã đến lúc Người phải ra đi”.
Sự rời bỏ hoàng cung ra đi cho thấy thái tử là một con người bình thường. Sự từ bỏ gia đình thể hiện sự ích kỷ của thái tử. Thái tử mong muốn được thoát ra khỏi quy luật sinh lão bệnh tử, thoát ra mọi khổ đau trong cuộc sống. Thái tử có niềm tin rằng “Người sẽ tìm ra con đường giải thoát hoàn toàn cho chính mình”.
Với niềm tin, định lực hùng mạnh, Người đã dũng mãnh xuất ly và tìm đến học hỏi những vị thầy danh tiếng.
Sau khi tham cứu giáo lý, Người hành trì thiền định tinh tấn và mau chóng đạt được trạng thái thiền vô sở hữu xứ và phi tưởng phi phi tưởng xứ. Người đạt được trạng thái an lạc, tự tại khi nhập thiền.
Trong quá trình hành trì, những trạng thái thiền định giúp Người biết rằng “Con người không phải chết là hết”.
Khi xả thiền, Người vẫn thấy tâm không an vì Người vẫn nghĩ, vẫn nhớ, vẫn lo lắng cho những người thân và Người vẫn chưa có giải pháp đối trị những phiền não đó. Người cũng nhận biết “Người sẽ không học được gì thêm ở những người thầy”.
Người quyết định ra đi, Người ra đi nhưng lại không biết là sẽ đi về đâu?
Người hoài nghi chính sự hiểu biết của tự thân vì điều đó không giúp Người thoát ra những khổ não.
Kết quả của sự hoài nghi đã khiến Người thực hành pháp tu khổ hạnh với ý nghĩ “Việc chối bỏ sự tồn tại của xác thân, giải thoát khỏi xác thân có thể sẽ giúp con người giải thoát khỏi tinh thần, tâm linh”.
Sự sai lầm về nhận thức khiến Người phải trả giá bằng xác thân gầy ốm, tàn hoại và suýt chết. Thoát chết sau khi thực hành pháp tu khổ hạnh giúp Người nhận định rõ vấn đề - Sẽ không có việc giải thoát hoàn toàn tâm ý bằng việc hủy hoại thân thể. Một tấm thân tàn hoại khó thể chứa đựng tâm trạng an lạc, tự tại.
Người từ bỏ việc tu khổ hạnh và Người nhớ đã không ít lần Người đạt được sự an lạc, tự tại. Đó là những lúc Người dừng lặng, buông bỏ mọi vướng bận,… Người nhận ra có một tia hy vọng. Dường như đây là cánh cửa của sự giải thoát. Người tìm đến cội bồ đề để thiền định.
Sau khi giữ tâm tĩnh lặng một thời gian dài lâu, tất cả những sự hiểu biết về cuộc sống, giáo lý kinh điển các tôn giáo, mục đích của việc rời bỏ gia đình,… lần lượt tái hiện trong tâm trí của thái tử.
Những câu hỏi lớn được đặt ra và nhanh chóng có câu trả lời hợp lý.
Đấng quyền năng là ai?
Có thật sự con người phải cầu nguyện họ thì mới có được đời sống ấm no, hạnh phúc?
Phải chăng con người là một món đồ chơi, là con rối của các Đấng quyền năng?
Việc buồn vui, được mất của con người là nguồn vui của Đấng quyền năng. Nếu điều đó là đúng thì Đấng quyền năng thật sự rất tầm thường.
Đấng quyền năng phán quyết tội phước của con người thì ai sẽ là người phán quyết những việc đúng sai của các Đấng quyền năng?
Nếu không có loài người thì ai sẽ lễ lạy, cúng bái, nguyện cầu,… các Đấng quyền năng?
Phải chăng con người không còn thì các Đấng quyền năng diệt mất?
Thật sự việc cầu nguyện có giúp ích được con người không?
Người rõ biết Người đã cầu nguyện các Đấng quyền năng với mong muốn được thoát khổ, tìm được con đường giải thoát hoàn toàn.
Nhưng thực tế những khổ đau vẫn đeo đuổi tâm trí Người, Người đã hóa giải chúng bằng những phương pháp đối trị, bằng niềm tin sẽ tìm ra được con đường giải thoát hoàn toàn.
Qua quá trình quán chiếu Người nhận ra các Đấng quyền năng không thể tạo ra loài người và vạn vật. Khi con người diệt mất thì cũng sẽ không còn ai thừa nhận sự tồn tại của các Đấng quyền năng. Điều này cho thấy sự tồn tại mối quan hệ nhân duyên chằng chịt giữa các sự vật hiện tượng là tiền đề cho thuyết duyên sinh. Niềm tin kiên định và sự hiểu biết giúp Người nhận ra “Người đã tìm được chiếc chìa khóa dùng để mở cánh cửa giải thoát”.
Người tiếp tục quán chiếu và nhận ra mọi sự vật hiện tượng đều do muôn duyên hợp và biến chuyển liên tục. Nền móng cho sự tồn tại của vạn vật là do bốn đại - đất nước gió lửa hợp thành.
Không có bất kỳ sự vật nào rời bốn đại mà có mặt được. Xác thân của chính Người cũng có từ bốn đại và sự luân chuyển bốn đại trong thân thể chưa bao giờ dừng nghỉ. Người thấy xác thân có trong đất nước gió lửa, có trong hoa sen, cây sứ, trong chiếc lá bồ đề và trong vạn vật. Không dừng lại, Người tiếp tục quán chiếu:
- Tại sao con người phải luân hồi trong sinh tử?
- Tại sao từ nền tảng đất nước gió lửa lại tạo ra vạn vật với muôn ngàn sai khác?
- Cái gì đã kết hợp bốn đại thành muôn vật và con người?
- Có phải cái thấy nghe hay biết đã kết hợp bốn đại?”...
Những câu hỏi trên làm tiền đề cho thuyết Thập nhị nhân duyên.
Qua công trình quán chiếu vĩ đại Người đã nhận rõ cái thấy nghe hay biết không hình không tướng đã tạo nên sự khác biệt giữa sự sống và xác chết, trạng thái dừng lặng của tâm và thể của Không đại là không khác nhau.
Cái thấy nghe hay biết chính là nguyên nhân hình thành nên cái tôi trong con người và mọi loài, là hạt nhân khiến mọi chúng sinh luân hồi trong 3 cõi.
Người nhận rõ được sự không hai của bản tâm và Không đại. Phật hòa vào Không đại và bốn đại để nhận biết tiền kiếp, hiện kiếp và hậu kiếp. Tất cả là một, một là tất cả. Ngay đó Người đạt được sự giải thoát hoàn toàn. Cùng với sự hiểu biết được khai mở cao tột Người thành Phật. Là người giác ngộ giải thoát hoàn toàn, thoát ra khỏi mọi khổ não.
Vì Phật không giam hãm bản tâm trong cái tôi nhỏ bé và tấm thân máu thịt nên Người thành Phật.
Còn sở dĩ con người vẫn là chúng sinh vì bởi vọng tưởng về cái tôi có trong tấm thân máu thịt, nhốt bản tâm vào cái tôi không thật nên chìm nổi trong luân hồi.
Con đường tìm đạo giải thoát của các vị Phật từ quá khứ, hiện tại và tương lai đều khởi nguồn từ ý định thoát ly, xa rời sự khổ.
Vì thế bất kỳ một vị Phật nào cũng đều phải trải qua cuộc sống của con người bình thường để nhận rõ sự khổ hiện diện ở mọi chúng sinh trong 3 cõi 6 đường. Từ đó vị Bồ tát mới dũng mãnh thoát ly, tinh tấn hành trì theo chánh pháp mà đạt được sự tỏ ngộ.
Muốn đạt được quả vị Phật đòi hỏi người tu học phải có sự hiểu biết sâu rộng và không vướng vào cái biết đó. Cả ba thời quá khứ, hiện tại và tương lai không bao giờ có sự xuất hiện hai vị Phật cùng một lúc. Bởi vì những bậc giác ngộ giải thoát hoàn toàn đã thoát khỏi sự ràng buộc của lợi danh, hơn thua, được mất,... Một khi đã có người tỏ ngộ về sự giác ngộ giải thoát hoàn toàn và đang rộng truyền chánh pháp thì người giác ngộ còn lại sẽ tùy thuận sống an lạc, tự tại giữa đời thường.
Những người đạt được sự giác ngộ, giải thoát hoàn toàn sẽ không bao giờ vì chứng tỏ sự hiểu biết cùng tột và danh vị giáo chủ, Thánh, Phật mà nhập thế thuyết pháp.
Chương III
Gương Vỡ Lại Lành
- Chánh đạo hay trái đạo?
Có không ít tín đồ đạo Phật sẽ bất bình khi tôi trình bày về Phật Thích Ca và kinh Phật theo khuynh hướng mộc mạc, gần gũi và chân thật. Với họ, Phật và kinh Phật là tôn quý, là bất khả xâm phạm. Vô hình chung tôi trở thành một kẻ phá đạo. Một số người học Phật khác lại cho rằng - Đối với những người học Phật làm việc sai trái, không đúng với chánh pháp thì sau này nghiệp quả họ sẽ phải tự nhận lấy. Tôi là người học Phật sơ cơ chưa phải là Tăng bảo thì không đủ điều kiện nói lên những sai phạm của những người xuất gia.
Thật ra, tôi cũng không muốn nói ra những lầm lạc của người học Phật nhưng tôi không lên tiếng thì nhân loại lại ngộ nhận chân giá trị của Tam tạng kinh, quên bỏ chánh pháp.
Mặt khác, tôi cũng nhận biết những người học Phật vì không rõ biết chánh pháp và thiếu chân sư chỉ dẫn nên nỗi lạc vào lối rẽ.
Khi rõ biết người khác lạc lối lẽ nào tôi không thể vì họ mà mở lời. Dường như họ đáng thương hơn là đáng trách. Bởi vì một trong muôn kiếp người họ có duyên may biết đến Phật pháp. Lẽ ra họ phải chuyển kinh Phật trở về bản tâm nhằm tự thân thoát khỏi luân hồi và giúp người khác thoát ra mọi khổ não. Chẳng may do thiếu sự hiểu biết sáng rõ người học Phật lại bị kinh Phật chuyển. Điều này khiến người học Phật sống chơi vơi giữa đời và đạo.
Do vội khoác lên người y áo cà sa họ đã không thể tùy tiện ăn thịt, uống rượu,…
Nhưng bản thân người học Phật lại không thể nhận biết con đường họ đang đi sẽ dẫn họ đi về đâu?
Bao nhiêu kiếp người nữa thì họ mới được giải thoát hoàn toàn?
Cuộc sống thì lại đầy dẫy những cám dỗ, lợi dưỡng, lợi danh,… Khi không rõ biết con đường chánh pháp việc người học Phật sa ngã là điều không dễ tránh khỏi và họ trở thành kẻ tội đồ của đạo Phật, là kẻ phạm giới, phá đạo. Thậm chí, cánh cửa vào địa ngục cũng rộng mở hơn đón họ quay về.
Phải chăng đây là điều đáng tiếc?
Một kết quả không mong muốn đối với những người học Phật.
Hơn nữa, tôi không nói thì cũng có người khác đưa ra những nhận định phiến diện, thiếu khách quan. Thậm chí sẽ có người đưa ra những nhận xét nhằm mục đích cá nhân. Cụ thể là họ có thể sẽ vì tín ngưỡng tâm linh của bản thân hoặc là vì vai trò, vị trí, lợi dưỡng, lợi danh,… mà tìm cách xóa bỏ và bài bác chánh pháp.
Với cách nhìn chủ quan, bảo thủ sẽ có người nghĩ rằng - Tôi đang là người phá hoại đạo Phật. Nhưng ở góc nhìn tổng thể, khách quan bạn sẽ nhận ra tôi đang nâng ngọn đuốc chánh pháp bằng sự chân thành và kính trọng.
Hơn 2500 năm trước Phật đã vì nhân loại bước những bước chân tự tại trên đường hành đạo và đã rộng truyền chánh pháp cứu khổ và giúp vô số chúng sinh trong 3 cõi 6 đường được giải thoát hoàn toàn.
Rồi hơn 2500 năm sau, chánh pháp vẫn được duy trì nhưng lại không đưa được những chúng sinh mê lầm qua đến bờ giải thoát. Tăng bảo không chứng ngộ được bản tâm rơi vào lợi dưỡng, lợi danh,… Người học Phật thì mê mờ lý sự. Chánh pháp vì thế mà trở nên xa lạ, đánh mất giá trị thực tiễn. Quả thật, nếu người học Phật đời sau đã thực sự chứng ngộ bản tâm thì chánh pháp đã không bị tách rời khỏi đời trở thành Phật giáo.
Dù vậy việc giáo lý kinh điển vẫn còn được lưu truyền cho thấy Tăng bảo đã có nhiều cố gắng trong việc lưu giữ và truyền trao Pháp bảo.
- Sự chân thật của chánh pháp.
Người học Phật ngày nay hiểu sai chánh pháp, không ít người lấy giới làm thầy, chối bỏ việc lập gia đình vì cho rằng gia đình trói buộc con người vào trong sinh tử. Gia đình là nhân tạo ra nghiệp quả luân hồi. Do phần lớn người học Phật có suy nghĩ như vậy cho nên đã từng có lúc tri thức nhân loại nhận định đạo Phật chủ trương đoạn diệt.
Thật ra không phải vậy! Người học Phật khi lĩnh hội và sống được trong chánh pháp thì nhìn thấy núi sông vẫn là núi sông. Điều đó đồng nghĩa với việc vạn pháp vẫn tồn tại. Chúng sinh 3 cõi 6 đường vẫn còn mãi chỉ có những người học Phật đạt sự liễu ngộ là không lẩn quẩn tham đắm, mê mờ trong luân hồi.
Tôi khẳng định lại “Sự sống luôn tồn tại trong vũ trụ khi còn sự hiện diện của đất, nước, gió, lửa và không đại”. Vì vậy chánh pháp luôn được người học Phật giữ gìn và trao truyền nhằm cứu khổ chúng sinh ở 6 đường và giúp những người chán ngán bể khổ luân hồi thoát ra 3 cõi.
Sẽ vĩnh viễn không có một Niết bàn tịch diệt hoàn toàn không có gì trong vũ trụ, sẽ mãi mãi không có việc tất cả chúng sinh trong tam giới đều cùng giác ngộ giải thoát hoàn toàn.
Cụ thể ngay khi Phật tại thế cũng chỉ có một số người học Phật được giải thoát hoàn toàn. Trong số đó có người xuất gia, người tại gia và cả chư thiên.
Nếu tất cả người học Phật đều cắt ái, ly gia thì hiển nhiên là chánh pháp sẽ rơi vào đoạn diệt. Điều này là không thật đúng. Sự thật là nếu mai này vì tham dục và si mê loài người sẽ hủy hoại, làm trái đất nổ tung thì chúng sinh ở dạng không thân, vô hình vẫn còn. Những chúng sinh này sẽ cố gắng gom góp lại hình hài nhưng quả thật là rất khó. Bởi lẽ khi trái đất nổ tung thì những dạng vật chất như đất nước gió lửa sẽ tan thành tro bụi, một số khác dưới áp suất cực lớn của vụ nổ sẽ bị nén lại thành những khối vật chất cực kỳ rắn chắc và bền vững.
Sẽ trải qua thời gian hàng ngàn tỷ năm và dưới tác động của nhiệt độ, ánh sáng, áp suất, từ trường,… tro bụi sẽ kết lại, những vật chất rắn chắc sẽ giản nở ra. Một hành tinh mới lại hình thành trên nền tảng vật chất là “xác chết” của trái đất.
Lại trải qua khoảng thời gian rất lâu xa, những chúng sinh vô hình trên sẽ gom góp tạo nên sự sống hữu hình có tâm ý. Sự sống hữu hình bắt đầu thành hình với những dạng sống sơ khai có cấu tạo đơn giản như là virus hoặc thấp hơn cả virus.
Sau đó chúng sẽ phát triển thành tế bào sống dạng đơn bào, đa bào,… và tiếp tục phát triển ngày một đa dạng, tiến hóa hơn. Lý giải cho quá trình tiến hóa chậm chạp này là vì sự phát triển, tiến hóa của sự sống giống như việc con người xây dựng một ngôi nhà to đẹp. Mặc dù ý tưởng xây dựng là hoàn hảo nhưng để tạo dựng được ngôi nhà thì con người phải có một nền đất, phải dùng đất nung gạch, luyện quặng thành sắt thép, xi măng, phải chế tác máy móc thiết bị,… và phải có những con người có hiểu biết về xây dựng. Rõ thật là hiện tại con người muốn xây dựng một ngôi nhà khang trang, tráng lệ là bao nhiêu phát minh, thành tựu, công sức,… và tri thức của nhân loại.
Quay lại vấn đề trước đó, sự sống sẽ tiếp tục phát triển cho đến khi sự hiểu biết của chủng loài sinh vật nào đó nâng cao, tâm phân biệt sẽ khiến chủng loài nhiều hiểu biết trên bức hại lẫn nhau và tìm diệt những chủng loài khác góp phần làm cho cuộc sống nảy sinh khổ đau, thù hận. Tham dục, si mê,… sẽ lại hủy hoại sự sống, hạnh phúc bình yên, giản đơn.
Khi đó, một trong số những chủng loài tiến hóa cao nhất sẽ lại đi tìm con đường thoát khổ, giải thoát. Cho đến khi một bậc giác ngộ, giải thoát hoàn toàn ra đời thì chánh pháp sẽ lại được trao truyền.
Con người đã hình thành và phát triển cách đây là bao nhiêu triệu năm?
Rõ thật là không phải chỉ cách đây hơn 2500 năm loài người mới xuất hiện, chiếm lĩnh xây dựng và phá hoại trái đất.
Đã có bao nhiêu nền văn minh cổ bị biến mất không rõ nguyên nhân?
Phần lớn những nền văn minh cổ đều bị tuyệt diệt ngay tại thời điểm phát triển đỉnh cao và huy hoàng nhất. Tất cả chỉ còn lại vài dấu tích.
Thật sự loài người đã phải trải qua rất nhiều lần gần như là tuyệt diệt mà nguyên nhân chỉ là do không có sự hiểu biết về nguồn gốc của sự sống, không sống theo chánh pháp.
Chính sự tham đắm, sân hận, si mê, hoài nghi và kiêu mạn đã trực tiếp hoặc gián tiếp hủy hoại loài người. Mỗi nền văn minh mất đi sẽ được thay bằng một nền văn minh khác dường như là có sự phát triển vượt bậc hơn nhưng tham đắm, si mê,… luôn tồn tại trong loài người.
Sự phát triển lầm lạc của khoa học, tham dục và sự hoài nghi chánh pháp hiện nay có thể sẽ biến trái đất thành bụi vũ trụ trong tương lai không xa.
Không giống như những lần con người gần như tuyệt diệt trước vì khi trái đất không còn con người sẽ phải mất một khoảng thời gian rất lâu xa để tìm lại một hình hài biến dạng.
Những điều tôi trình bày liệu có dùng tư duy, lí luận, nhận thức,… mà có được không?
Tất cả dường như vượt thời gian, không gian và đối đãi,…
Khoa học đã phát triển, nghiên cứu, tìm hiểu nguồn gốc của sự sống đã bao ngàn năm?
Kết quả là được gì?
Những thành công nhất định nhưng cũng chỉ là “múc nước tìm trăng”. Trăng thì tan mất và nước thì ngày càng cạn kiệt.
Tôi đang chứng minh sự thông minh xuất chúng của bản thân, chứng tỏ sự thực chứng?
Dường như không đúng! Tôi là một gã điên. Vì tôi đang bán rẻ mạng sống của mình cho những quyển sách với nội dung mơ hồ, không rõ thật về con đường giác ngộ giải thoát hoàn toàn, thoát ra khổ não và tam giới.
Có lẽ cho đến lúc trái đất bị nổ tung trong hình tướng, xác thân này tôi đã tàn hoại. Nhưng dù cho vũ trụ nổ tung ngay khi tôi còn sống thì tôi cũng chẳng chút động tâm.
Chỉ vì bi nguyện của Đức Phật Thích Ca xót xa khi thấy chúng sinh trong 3 cõi khổ não đã tận tâm truyền trao chánh pháp, tôi không thể trơ mắt đứng nhìn, nhìn chánh pháp bị thất truyền nên góp chút ít đất nước gió lửa trả lại chánh pháp cho nhân loại.
Lại một câu hỏi đúng hay sai được đặt ra.
Thôi! Tôi sẽ giúp bạn đặt một câu hỏi khác mang tính tương đối:
- Vấn đề tôi trình bày ở trên là hợp lý hay không hợp lý?
Hơn nữa, có một sự thật - trong Tam tạng kinh không có bộ kinh nào Phật thuyết yêu cầu, ngăn cấm, người học Phật lập gia đình. Phật cũng không khuyên bảo người tu học thời Phật tại thế cắt ái, ly gia, từ bỏ tình yêu thương. Vì đó không phải là chánh pháp. Điều rõ thật là đệ tử Phật có người xuất gia và người cư sĩ tại gia. Nếu thật sự chỉ khi không lập gia đình thì con người mới có thể thoát khỏi luân hồi thì đệ tử Phật sẽ không có người tại gia.
Tuy nhiên, luyến ái gia đình là một trở ngại không nhỏ đối với người học Phật sơ cơ thiếu sự hiểu biết sáng rõ và khả năng quán chiếu, buông bỏ. Vì khi đó tình yêu thương của người học Phật sẽ bị trói vào cái của ta - Vợ của ta, chồng của ta, con của ta, nhà cửa, đất đai của ta,… và những cái gì của ta - Ta sẽ yêu quý giữ gìn. Còn những gì thuộc về người khác sẽ là của người ta, ta lại không trân quý, ganh ghét hoặc tham đắm,…
Vậy tại sao những đệ tử xuất gia của Phật lại không lập gia đình?
Bởi lẽ những người xuất gia là người tự chọn đời sống phạm hạnh, làm mô phạm cho chúng sinh trong 6 đường, làm thầy cả nẻo Trời, Người, Atula,… Vì thế họ phải tự dứt trừ luyến ái cá nhân vì chúng sinh trong 3 cõi tinh tấn hành trì nhằm có thể sớm liễu thoát sinh tử, hoằng dương chánh pháp, cứu độ chúng sinh 3 cõi.
Giới luật cũng không phải là chánh pháp mà chỉ là phương tiện, là trợ pháp nhằm giúp người tu học giảm trừ ham muốn, tham đắm,...
Ban đầu, người học Phật không phải thọ lãnh bất kỳ một giới luật phạm hạnh nào. Bởi lẽ phần lớn người tu học tìm đến đạo giải thoát đã tự ý thức được hành vi sống.
Về sau, số lượng người xuất gia đông đảo. Do tính bình đẳng, không phân biệt giai cấp, địa vị xã hội,… người học Phật dễ dàng được chấp nhận vào Tăng đoàn và tầng lớp tu sĩ lại được người Ấn Độ xưa trọng vọng, cả nể,... Có một bộ phận không nhỏ người tu học gia nhập vào Tăng đoàn nhằm tìm kiếm cái ăn, cái mặc, lợi dưỡng, lợi danh,…
Giới luật không ăn mặn, không uống rượu, không nói dối, không sát sinh,… được thiết lập trong bối cảnh một số Tăng sĩ tham đắm việc ăn uống, chỉ đến thọ trai, thuyết pháp ở những gia đình có thết đãi rượu thịt, đồ ăn, thức uống ngon lành, sang trọng. Điều này thường xảy ra đối với những Tăng sĩ chưa đạt được sự chứng ngộ bản tâm. Họ sẽ dối gạt mọi người đã đạt được sự thực chứng nhằm tranh giành sự nể trọng.
Việc ăn mặn sẽ khiến người học Phật tham đắm món ngon vật lạ, sơn hào hải vị. Việc “ăn quen, nhịn không quen” sẽ dẫn đến người học Phật tham đắm, tự mình sát sanh hoặc khiến người khác sát sanh nhằm thoả mãn nhu cầu ngon miệng của bản thân.
Việc uống rượu sa đà sẽ khiến người Tăng sĩ dễ mê mờ bản tâm, làm ra những việc sai trái không đúng với chánh pháp hoặc là sẽ diễn giải sai lệch những lời Phật thuyết,… gây nên lỗi lớn - Phá hoại chánh pháp.
Vì những việc làm sai trái trên sẽ gây sự ngộ nhận cho những người học đạo giải thoát sơ cơ và làm chướng ngại con đường giải thoát cho chính những người học Phật lầm lỗi, khiến người tu học nuôi lớn tâm phân biệt, bản ngã, rơi vào lợi dưỡng, lợi danh,...
Giới luật được ra đời khi người học Phật không hành trì, hiểu và sống đúng chánh pháp.
Thực tế là trước đó, người học Phật được phép sử dụng mọi thức ăn, không kể chay mặn mà người tại gia cúng dường trên bước đường khất thực. Khi mà chánh pháp chưa được rộng truyền thì bản thân những người cúng dường, bố thí sẽ không thể nhận biết người khất sĩ ăn chay hay ăn mặn và họ sẽ cho những người khất sĩ bất cứ loại thức ăn và cả lượng thức ăn thừa mà họ có.
Dâm giới được thiết chế trong bối cảnh người xuất gia không an phận đời sống phạm hạnh, phạm vào dâm giới khiến người tu học tại gia mất niềm tin với đạo giải thoát,... báng bổ chánh pháp.
Hiển nhiên là những người xuất gia cũng giống như người tại gia một khi tham đắm ngũ dục thì khó mong thoát ra khỏi tam giới.
Ngày nay, người học Phật lại trói thân vào giới luật vì cho rằng không ăn mặn là thể hiện lòng yêu thương. Lại chẳng quán chiếu để rõ biết bất kể là loại thức ăn chay tịnh hay thức ăn mặn thì cũng đều do chút đất nước gió lửa tạo thành.
Khi quán chiếu hạt cơm ta sẽ nhận ra trong hạt cơm có hạt lúa, có nước, có ánh sáng, có đất,… có bao nhiêu loài côn trùng giun dế chết qua mỗi đường cày?
Bao nhiêu con chuột bọ, sâu rầy,… bị thuốc chết để mang về cho con người những hạt lúa vàng?
Bản thân người học Phật ăn chay lại đi hái những bông hoa xinh đẹp đi cúng dường Phật.
Những bông hoa có sinh mạng không?
Lẽ ra những đóa hoa sẽ cho ra hạt - những mầm sống. Lẽ ra chúng sẽ tươi đẹp lâu hơn nhưng chúng sẽ mau chóng tàn héo vì được “cúng dường” Phật.
Sẽ có không ít người chống chế những loài thực vật, cây cỏ thì không có tâm ý như loài động vật. Vì lẽ đó khi hái những bông hoa không giết chết tâm từ bi.
Tôi sẽ chuyển vấn đề này sang hướng khác.
Khi thấy con hổ bắt con nai, thấy con mèo bắt chuột,… phải chăng bạn sẽ ngăn chặn lại?
Có thể sẽ có người làm điều đó nhưng người đó đã rơi vào đối đãi, họ đã làm sai. Ở một góc nhìn phiến diện, thiếu sáng rõ dường như người đó có tâm từ bi, biết yêu thương những loài nhỏ bé, yếu ớt,... Ở góc nhìn tổng thể, khách quan, họ đã làm không thật đúng và không lợi ích - họ đã giúp con nai, con chuột thoát chết nhưng lại xử tệ, xử ác với con hổ, con mèo,… làm chúng phải đói khát và chúng sẽ phải đi tìm con mồi “xấu số” khác. Nếu không tìm được thức ăn chúng sẽ phải chết.
Mặt khác, đối với những chủng loài ăn thịt sống, hiển nhiên là con người không thể khiến chúng ăn cỏ như trâu bò, ăn cơm gạo như người,…
Vì lẽ đó tình yêu thương từ bi không thể hiện ở vấn đề ăn chay hay mặn, sát sanh hay không sát sanh?
Một trận dịch sốt rét, sốt xuất huyết,… đang lan rộng người học Phật không thể vì hai chữ từ bi mà không phun thuốc diệt trừ muỗi. Vì khi đó người học Phật sẽ thấy con chết, cha chết, mẹ chết,… mọi người bị bệnh tật do dịch bệnh hoành hành.
Người học Phật cũng không thể không giết trừ một con chó điên dại chạy rong cắn người,… Đó không phải là tình yêu thương mà chính thật là tội ác.
Người học Phật giết những loài gây hại điều đó không có nghĩa là người học Phật giết chết tình yêu thương, tâm từ bi mà họ là người thực sự biết yêu thương đúng mực. Đó mới thật là chánh pháp mà Phật đã trao truyền.
Có một số người học Phật chấp trước cho rằng vạn nhất hay mọi việc xảy ra cho mỗi người đều do nghiệp quả như bóng theo hình mà người đó phải thọ lãnh. Là một người học Phật hiểu biết không nên xen vào nhân duyên nghiệp quả của người khác.
Thật là trong mộng nói lời mê! Mắt thấy con giết cha, chồng giết vợ,… lại không có một lời can ngăn khuyên giải rồi cho rằng theo pháp Phật mà hành trì nên không có lỗi thì quá nông nổi, cạn nghĩ. Bởi lẽ người học Phật đó đã tạo ra những điều ác sau:
- Một là giết chết sự hiểu biết, tâm từ bi của một con người.
- Hai là khiến cho một người mất mạng chỉ vì sự tham sân si của người khác và do sự “vô tâm” thiếu hiểu biết của người học Phật.
- Ba là khiến người phạm tội tạo nhân ác sống trong đau khổ dằn vặt trong lương tâm và lao tù, chết rơi vào 3 đường dữ,…
Hơn nữa, một người học Phật quyết định hành hương về đất Phật, một người học Phật khác sau một thời gian hành trì chánh pháp, khai mở sự hiểu biết, đạt sự giải thoát hoàn toàn.
Y kinh mà nói nghiệp quả người đó phải đi hành hương, phải đạt quả vị giải thoát có còn hợp lý không?
Người học Phật cần rõ biết - Khi không nhận biết và không sống hành trì theo chánh pháp thì là nghiệp quả nhưng khi tìm về chánh pháp và hành trì tùy thuận thì nghiệp quả đã trở thành sự chọn lựa - Chọn lựa hóa giải nghiệp quả bước trên đường chánh đạo làm một bậc chánh đẳng, chánh giác hay chọn lựa sẽ tiếp tục tạo tác nghiệp quả.
Sẽ lại có người học Phật hàng nhị thừa cho rằng tôi dùng tâm phân biệt để suy lường lý giải vì mọi thứ đều biến diệt tàn hoại rồi trở về không. Tôi chẳng nên lao tâm, khổ trí rồi rước vào thân tai họa.
Có lẽ vì thương xót cho “sự cạn nghĩ” của tôi họ đã nhận định - Việc tôi viết ra những quyển sách để nói rõ chánh pháp là việc không cần thiết vì chánh pháp đã được Phật hiển bày trong Tam tạng kinh.Điều này thể hiện người học Phật rơi vào kiến chấp lý không và tự mâu thuẫn với chính giáo lý kinh điển của Phật - Lĩnh hội chánh pháp không thật đúng.
Vì lẽ Phật đã nói “Bốn mươi chín năm ta chưa từng nói một lời” nhưng kinh Phật là chính do lời Phật thuyết.
Sao lại có chuyện điên đảo, trái ngược này?
Phật nói thời có nói nhưng lại không chấp giữ cho rằng đó là sự hiểu biết cùng tột và cũng không cố tạo lập ra những điều đã nói. Mọi lời điều tùy thuận khế hợp với bối cảnh, tình hình thực tại - Nói mà không để tâm dính mắc, nói mà không nói.
Về sau, Phật nhận biết người nói không dính mắc mà người nghe lại chấp giữ làm cái nghe, cái hiểu,… rồi đem ra lý giải, luận bàn hay dở, đúng sai, tốt xấu,… Nhưng do người tu học không thực sự chứng ngộ nên việc hý luận, lạm bàn chẳng mang lại lợi ích cho việc thoát khổ, giải thoát hoàn toàn mà khiến cho người học Phật rơi vào sân hận, si mê, hoài nghi, kiêu mạn,… Phật đã cảnh tỉnh bằng việc phá chấp pháp với câu “Bốn mươi chín năm ta chưa từng nói một lời”. Điều này thể hiện rõ ý “vật của ta” ta còn không chấp giữ. Người học Phật ôm lòng chấp giữ “vật của người khác” như báu vật để mà làm gì, chỉ thêm khổ não, dính mắc. Hãy chuyển hóa, sống thật với những gì lĩnh hội từ chánh pháp thì mới thoát ra khỏi khổ não, luân hồi.
Những người học Phật vướng vào bệnh chấp pháp giống như là người lính gác giữ cung điện, kho báu của nhà vua. Lao tâm, mất ăn, mất ngủ,… để canh giữ của báu của người khác. Trong khi đó, người chủ của kho báu lại tự tại, nhàn hạ,... Hoặc là họ giống như một người thu ngân, kế toán,… của một ngân hàng. Hàng ngày họ được đếm, kiểm tra, gìn giữ rất nhiều tiền bạc, tài sản,… nhưng phần lớn chúng đều là của người khác.
Đây là sự khác biệt giữa pháp thế gian và pháp xuất thế gian. Pháp thế gian.
Ví như bạn là một người thầy thuốc, bác sĩ dù hay giỏi đến mấy cũng chẳng thể tự mổ tim, gan, mắt, thận,… cho chính mình, vẫn phải đau khổ khi đối diện với cái chết, bệnh tật và khổ não. Riêng ở pháp xuất thế gian, Phật sau khi tự trị hết bệnh khổ não và vượt thoát luân hồi thì Người mới thật sự tùy bệnh cho thuốc cứu độ người khác một cách hiệu quả, hợp lý.
Thực tế, pháp xuất thế gian chẳng rời pháp thế gian mà đơn lẻ tồn tại.
Vậy nên chăng dẹp bỏ giáo lý, kinh điển?
Thật không có lý đó! Người thầy thuốc trị bệnh rắn cắn hay giỏi không phải chờ có người bị rắn cắn rồi mới đi tìm phương thuốc chữa trị. Những chủng loại thuốc cần thiết đều được dự trữ sẵn, khi có người bị rắn cắn thì tùy chủng loại rắn mà người thầy thuốc bốc những phương thuốc và cách điều trị khác nhau.
Sau cùng, bạn hãy chọn lựa con đường bạn đi.
Bạn tự cứu bản thân hay cứu người khác trước?
Tuy nhiên, Phật pháp cũng là tùy duyên. Khi chúng sinh chưa muốn thoát khỏi luân hồi, chưa mắc bệnh ngặt nghèo,… thì dù bạn cho họ một phương thuốc quý họ cũng chỉ xem như là “một món hàng” vô giá trị. Thậm chí họ sẽ tự nghĩ rằng “Không rõ bạn đang có ý đồ gì?”. Thế nên có lẽ “tự cứu” chính mình sẽ hợp lý hơn.
Việc “cứu độ” người khác, chúng sinh nẻo khác thì hãy tùy thuận, tùy duyên. Nếu người vì “tâm cầu pháp tha thiết” mà đến bạn chẳng nên tiếc lời. Nếu người khác vì “vấn nạn sự tỏ ngộ” mà đến thì cứ để họ đến rồi đi vì sự tỏ ngộ của bạn không đủ sức giải thoát những con người đó.
Bất kỳ ai muốn giải thoát khổ não, luân hồi đều dựa vào những bước chân của chính người đó.
Tôi đã biết vậy, sao lại “bày trò” viết sách?
Chánh pháp không chỉ là “của riêng” người học Phật. Tri thức nhân loại đã hoài nghi hoặc quên bỏ chánh pháp, lầm lạc hủy hoại lại sự sống.
Người học Phật không chứng ngộ bản tâm và với số lượng hạn chế khó mong cứu lấy chúng sinh trong 3 cõi, 6 đường.
Khoa học dựa vào tham dục và sự hiểu biết cạn cợt không thể đảm bảo sự tồn tại của hành tinh xanh. Nền văn minh hiện đại, chính trị tự do, giả tạm khi không nhìn nhận tường tận, rõ ràng lại sẽ là lỗi lớn.
Trong hai chữ văn minh hoa mỹ, hào nhoáng thật không có giá trị gì khi mà con người dùng sự hiểu biết, dùng khoa học kỹ thuật tiên tiến để chèn ép, bức hại qua việc hành hạ, trừng phạt nhau bằng những đòn roi, cực hình kinh khiếp.
Có phải những dụng cụ, phương tiện hành hình không ngừng được phát minh, sáng tạo dựa trên tiêu chí đẹp, lạ, tinh xảo, tàn khốc,… ?
Giá trị của những “món đồ” trên là hủy hoại cả tinh thần và thể xác con người. Ngoài ra, con người còn dùng bằng bom đạn, hóa chất,... và bằng cả trái tim máu lạnh cùng sự thực dụng ích kỷ, xấu xa,… nhằm xâm chiếm, não hại, bức ngặt,… lẫn nhau.
Thực tế, nếu chỉ có những người học Phật sống thật với chánh pháp cũng như có thêm những chuyên gia khoa học cảnh báo khủng hoảng khí hậu toàn cầu thì có giá trị gì?
Khi những ngành khoa học khác vẫn phát triển thiếu hiểu biết và lầm lạc. Nhân loại vẫn sống trong sự thực dụng, lầm lạc và ích kỷ,… Nhân loại sẽ lại dùng khoa học phát triển vũ khí hủy diệt, phát triển công nghiệp và sự mất cân bằng dân số do sự thiếu hiểu biết,…
Trái đất và sự sống sẽ đi về đâu?
Một con én chẳng thể làm nên mùa xuân, nhiều tay vỗ nên kêu. Vì lẽ đó chỉ có chánh pháp được làm sống lại chân thật và rộng truyền cho toàn nhân loại mới có thể là hy vọng, là “cứu cánh” cho sự tồn vong trái đất.
Tôi vì bi nguyện của Phật Thích Ca và sự đau khổ của chúng sinh trong 6 đường mà cố giúp nhân loại “Giữ được non xanh, lo gì mai này không có củi đốt”.
Phải chăng tôi đang sống với tâm phân biệt?
Bạn đừng rơi vào chấp không, cũng đừng để ngôn ngữ trói,... Người học Phật thật sự muốn đạt được sự giác ngộ giải thoát hoàn toàn thời không tự trói mình vào bất kỳ kiến chấp, chủ thuyết,… nào cả. Người học Phật chân chính là người sống với tâm không phân biệt. Nhưng sự không phân biệt đó chính thật là sự khéo hay phân biệt nhưng không tâm dính mắc - Nói mà không nói, làm mà không làm.
Tôi đã từng nói “Phật giáo làm điên đảo lòng người” cũng chính là vì lẽ đó. Nếu cứ chấp trước dùng ngôn ngữ luận bàn thì sẽ rơi vào hý luận, kiến chấp,...
Rất nhiều người học Phật đã trói mình trong ngôn ngữ, trong chủ thuyết, chấp có, chấp không,… tham đắm, sân hận, si mê, đau khổ tìm cách não hại, vấn nạn người khác. Nào hay tạo nhân khiến người học Phật lạc vào nẻo tối.
Thật là thật giả khó phân, mê mờ lý sự! Thế nên tôi sẽ nói một lời “Thà rằng bạn không biết chánh pháp. Còn nếu đã tìm về chánh pháp thì bạn phải hiểu đúng, biết đủ và sống thật với sự sáng rõ của chánh pháp. Đừng rơi vào lầm lạc, ngộ nhận, kiến chấp,… mà chìm sâu hơn trong bể khổ não, luân hồi”.
Nếu bạn có duyên may hiểu biết về chánh pháp thì hãy sống với những gì lĩnh hội trong chánh pháp, dần dần trí tuệ bạn sẽ khai mở, bạn tự đạt được sự tỏ ngộ giải thoát.
Rồi mai này bạn có tìm gặp tôi thì hãy vì trái tim, đôi mắt, lá gan, quả thận,… mà đến.
Bạn không nên vì pháp mà đến vì tôi “không có một pháp” có thể truyền.
Nếu muốn tìm hiểu chánh pháp thì bạn hãy tìm ở những vị Tăng bảo, trong Tam tạng kinh cũng như trong bộ sách “Sự hiểu biết làm thay đổi nhận thức, giá trị con người”.
Sau đó, bạn hãy tìm chánh pháp ngay chính trong bạn. Những điều tôi trình bày trong bộ sách không phải nhằm mục đích giúp bạn hiểu hay biết đến tôi mà thật sự đó chỉ là phương tiện giúp bạn hiểu rõ chính bạn.
Tam tạng kinh mà Phật cùng các vị Tổ đã cố công trao truyền và các vị Tổ đã “Lộng giả thành chân” khuyên người học Phật nên in ấn, bảo quản giữ gìn khi chúng còn giá trị thật nhưng một khi kinh Phật đã trở thành phế vật, thành những ngôn từ xáo rỗng, vô nghĩa, thành “một món hàng” để giúp một số ít người có “của ăn, của để” và dìm sâu những con người đó xuống tận cùng của nẻo tối thì có cần giữ lại nữa không?
Cũng như nếu bộ sách mà tôi viết không có chút ít giá trị ứng dụng thực tiễn thì bạn cũng đừng nên in ấn, trao truyền,… chỉ tốn tiền giấy mực vô ích.
Giới là phải giữ nhưng giữ trong sự hiểu biết. Giả như tôi không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không uống rượu, không ăn mặn,…
Vậy tôi có phải giữ giới không?
Nếu nói là không giữ giới thì không đúng vì tôi không có phạm giới. Nếu nói là phải giữ giới thì không hợp lý vì trước nay tôi vẫn sống như vậy. Vậy nên nói giữ giới là vì có phạm giới nên mới có giữ giới. Còn đã không phạm giới thì có gì để giữ.
Giới là nhằm ngăn ngừa sự tham đắm uống ăn, rượu ngon, gái đẹp, người tình,… của người học Phật dẫn đến sự u mê làm mờ mịt bản tâm, lầm lạc đường tu.
Sự khác biệt về việc giữ giới giữa người tại gia và người xuất gia:
- Người tại gia giữ giới tùy thuận nhưng cũng đừng vì sự tùy thuận mà rơi vào u mê, tham đắm.
- Người xuất gia cần giữ giới chân chính, nghiêm mật. Vì lẽ bạn đã chọn con đường làm thầy của Trời, Người, Atula, Ngạ quỷ, Địa ngục,… Thế nên việc giữ giới của bạn sẽ được “Ở trên trông xuống, người bên trông vào”.
Người xuất gia không khéo giữ giới lại chấp lý không sẽ không khó rơi vào đọa lạc vì khi không tỏ ngộ bản tâm mọi thứ đối với một vị Tăng bảo cũng đều là thật. Bạn hãy nên hiểu biết tự chọn lấy con đường bạn đi.
Chánh pháp hiện nay đã được rộng truyền nhưng lại bị hoài nghi giá trị và tính chân thật. Việc cần làm của người hoằng pháp ngày nay là phá nghi.
Vì thế dù là bạn ở vai trò tại gia hay xuất gia đều cần phải có sự tỏ ngộ thật sự nhằm giúp người học Phật nhận ra những sai lệch, biết rõ chánh pháp.
Nếu bạn chưa tỏ ngộ cùng tột và không có sự trợ pháp của y áo cà sa thì sẽ dễ rơi vào hý luận, vấn nạn, lạm bàn,… Dù cho bạn có đạt được sự tự tại, giải thoát nhưng lại gây não hại người thì lại không phải là chánh pháp.
Việc dùng pháp tiếp người phải tùy thuộc căn cơ người học Phật cũng như việc dùng thuốc phải tùy bệnh mà dùng liều lượng, chủng loại thuốc và thời gian điều trị sẽ khác nhau.
Bạn hãy tùy tâm cầu pháp của người học Phật mà chỉ bày.
Khi họ chỉ một lòng cầu phước báu Trời, Người, không mong cầu giải thoát hoàn toàn thì bạn hãy kiệm lời nói về chánh pháp.
Dường như tôi đã cố chỉ ra những sai trái, lầm lạc, ngộ nhận,... ở tất cả các tôn giáo - Phật giáo, Thiên chúa, Hồi giáo, Lão giáo,… Ở các tông giáo - thiền tông, mật tông, tịnh độ tông,...
Tôi đã làm việc đó với mục đích gì?
Thật ra tôi chỉ hiển bày lại chánh pháp chân thật nhằm để phá vọng tâm điên đảo - tâm hoài nghi, tâm kiêu mạn, tâm phân biệt,… dựa trên nền tảng người học Phật chân chính cầu sự hiểu biết về giá trị của chánh pháp.
Việc về sau là do ở tự thân của mỗi người. Mỗi người phải dùng sự hiểu biết sáng rõ để quán sát căn cơ, trình độ, vị trí, hoàn cảnh,… của bản thân mà chọn con đường đi.
Nếu người học Phật chỉ vì vừa tìm về chánh pháp, chưa nhận rõ chân giả đã tự cho rằng nên tinh tấn hành trì bỏ vợ trẻ, con thơ, gia cảnh bần hàn, cơ khổ,... Trốn tránh trách nhiệm rồi đổ lỗi vạn pháp đồng tánh không hoặc nhận định - đó là nghiệp quả của người ở lại là giết chết tâm từ bi, khó mong được giải thoát vì bản ngã không mất, sự ích kỷ chẳng hề vơi.
Tuy nhiên, nếu người thân đã không còn đón nhận, xua đuổi, từ bỏ,… thì bạn cũng không cưỡng cầu, gây não hại lẫn nhau. Còn duyên thời thì ở, hết duyên thời thì đi.
Là đường thẳng hay lối rẽ?
Là đốn ngộ hay tiệm tu?
Là chánh pháp hay tà pháp?
...
Mỗi mỗi đều do tự tâm của mỗi người mà biến hiện.
Hơn 2500 năm trước, Phật Thích Ca khai mở lại con đường chánh pháp. Nhìn bước đường Phật đã đi người đời sau ngộ nhận con đường chánh pháp là phải đi ngược lại quy luật sống của con người, là con đường cắt ái, ly gia,…
Nào hay việc Phật không về lại gia đình là vì sự khổ não của chúng sinh trong 6 đường nên Người đã phải dấn thân, tận lực trao truyền chánh pháp.
Sự ngộ nhận này đã khiến tri thức nhân loại lầm lạc nghĩ tưởng con đường chánh pháp làm con người rơi vào đoạn diệt.
Rồi hơn 2500 năm sau tôi hiện bày lại con đường chánh pháp cơ hồ ngược với con đường cắt ái, ly gia,… Phật đã từng bước - Hình thức mà nhân loại ngộ nhận là chánh pháp.
Có thể bạn sẽ lại ngộ nhận tôi là kẻ phá đạo, phá hoại chánh pháp. Nào hay tôi đang hiển bày lại rõ chánh pháp chân thật của Phật Thích Ca.
Chánh pháp chân thật là cứu khổ giải thoát con người ra khỏi tham đắm, si mê, sân hận, hoài nghi, kiêu mạn và thoát khỏi luân hồi.
Đó không là giới, không là luật, không là kinh, không là luận.
Đơn giản chánh pháp chỉ là những phương cách thoát khổ cho chúng sinh 3 cõi 6 đường và sự giải thoát hoàn toàn.
Vấn đề tôi trình bày có hợp lý không?
Tôi lại mượn bài kệ vô tướng của Lục tổ Huệ Năng. Bài kệ này Lục tổ cũng vì việc người học Phật chấp hình tướng xuất gia, chấp pháp môn tu, chấp việc cắt ái, ly gia,… đã một phen cảnh tỉnh người đời sau. Người Tăng, kẻ tục nếu theo bài kệ hành trì miên mật, lo gì không đạt được thánh quả.
Tâm bình đẳng chẳng nhọc trì giới
Hạnh ngay thẳng đâu cần tu thiền
Báo ân là nuôi dưỡng mẹ cha
Nhân nghĩa thì già trẻ thương nhau
Khiêm nhường thì sang hèn hòa thuận
Nhẫn nhục thì việc ác chẳng sanh
Nếu công phu miên mật mãi mãi
Kẻ ngu độn cũng phải kiến tánh
Thuốc đắng hay trừ được bệnh khổ
Lời trái tai ắt hẳn là lời nói thật
Tự sửa quấy sẽ sanh trí huệ
Giấu lỗi thì trong tâm chẳng lành
Hàng ngày thường lợi ích chúng sinh
Thành đạo chẳng do bố thí tiền
Bồ đề chỉ nơi tâm ngộ
Đâu cần hướng ngoài để cầu huyền
Nghe xong hãy theo đây mà tu hành
Tịnh độ đã ở ngay trước mắt.
Khi bộ sách tôi viết được rộng truyền, có thể sẽ có người thương cảm cho “một trái tim dường như biết yêu người”.
Vạn nhất khi tôi trả lại cho một ai đó mạng sống, điều đó có thể khiến lòng người phẫn nộ, buồn khổ, tiếc thương,…
Hãy dừng lại! Tôi đến vì bi nguyện của Phật, vì việc cứu khổ con người và muôn loài. Tôi đến để lau khô những giọt nước mắt, giúp bạn được giải thoát hoàn toàn. Tôi không đến để tạo ra những giọt nước mắt trên khuôn mặt mọi người, cũng không tạo ra sự đổ vỡ, ly loạn,…
Bạn cũng đừng vì sự thương tưởng, nuối tiếc cho một “người không quen biết” mà không trao truyền, hộ trì chánh pháp.
Ở góc nhìn cởi mở, khách quan việc trong xác thân này tôi không còn nào có khác gì một hạt sương tan, một cơn gió thoảng, một dòng nước trôi, một chiếc lá rơi hay một cái ly vỡ,… và thật sự là dù muốn hay không thì điều đó cũng sẽ xảy ra.
Ở góc nhìn pháp thế gian việc đánh đổi một mạng sống nhỏ nhoi để trao trả chánh pháp về cho nhân loại, đảm bảo cho sự sống tồn tại trên trái đất lâu bền hơn, làm vơi bớt khổ đau, thù hận giữa người với người, muôn loài và muôn vật,… là một cuộc trao đổi “rất hời”. Chỉ khi bộ sách chỉ chứa đựng sự hoang tưởng, điên loạn, vụng về,… thì bạn hãy ném bỏ đi.
Nhưng có một sự thật “Giấy chẳng gói được lửa”, thế nên bạn hãy là lửa. Hãy cùng tôi đốt cháy những ngộ nhận, mê lầm của tri thức nhân loại, đốt cháy cả những tham sân si, hoài nghi và kiêu mạn,… Cùng đốt lên ngọn đuốc chánh pháp sáng rực bằng ngọn lửa hiểu biết và tình yêu thương chân thật của con người.
Phụ Lục
Hỏi Đáp Cùng Người Học Phật
- Luận bàn về việc sát sinh ở Đạo Phật.
Người bạn nói:
Trước tiên, tôi là một người yêu thích tìm hiểu, nghiên cứu trao đổi về các vấn đề liên quan đến Phật giáo và các tôn giáo khác.
Hiện tôi có một vài vấn đề cảm thấy băn khoăn. Cụ thể là tôi thấy có sự mâu thuẫn giữa khoa học (Học thuyết tiến hóa của Darwin) và thuyết từ bi không sát sinh, hại vật ở giới luật của đạo Phật.
Tôi mong mỏi mọi người cùng bàn giải nhằm tháo gỡ gút mắc này và qua đó tôi cũng được học hỏi thêm nhiều lợi ích về đạo pháp.
Theo thuyết tiến hóa Darwin thì sinh vật này khắc chế sinh vật nọ hay nói cách khác là loài này sẽ sử dụng loài khác làm thức ăn như cây cỏ là thức ăn của động vật ăn cỏ, động vật ăn cỏ lại là nguồn thức ăn của động vật ăn thịt, động vật ăn thịt nhỏ thì lại bị các loại động vật ăn thịt lớn hơn dùng làm thức ăn và các loài sau khi chết, xác thân được phân hủy bởi các loài vi sinh vật tiêu thụ,… Đồng nghĩa với việc cuộc sống, sự tiến hóa của tự nhiên là một chuỗi thức ăn, loài này tiêu diệt loài kia, nhưng lại bị loài khác mạnh hơn tiêu diệt ,… Tự nhiên biểu hiện là một chuỗi đấu tranh sinh tồn, sự tiến hóa, thích nghi hàng triệu năm của các loài sinh vật trên Trái Đất này...
Vậy trong giới luật nhà Phật không cho phép sát sinh, cũng như khuyên răn các đệ tử không ăn mặn,…
Nếu như vậy con người đã bỏ qua sự cân bằng của tự nhiên, việc không ăn thịt, cá,… thì một ngày nào đó, chúng sẽ sinh sản, gia tăng quá mức và không có loài nào khác tiêu diệt nó, … như thế có phải sẽ khiến môi trường tự nhiên mất đi sự cân bằng, ổn định?
Ví dụ như loài cầu gai (là 1 loài động vật sống ở biển), chúng dùng san hô làm thức ăn, sự phát triển quá mức của cầu gai làm cho môi trường ở khu vực ấy mất cân đối, ổn định, ảnh hưởng nghiêm trọng đến các loài sinh vật khác và để bảo vệ những sinh vật khác cũng như môi trường tự nhiên, con người tiến hành tiêu diệt cầu gai.
Như vậy có phải con người phạm vào tội sát sinh, hại vật không?
Và còn rất nhiều trường hợp khác nữa... Tôi thật sự bối rối, nghĩ chưa thông....
Mọi người vào bàn luận nhé. Xin cám ơn!
Trả Lời:
Chào bạn! Cám ơn bạn! Câu hỏi bạn không phải là câu hỏi chuẩn mực nhưng lại rất hay và cần thiết. Tôi nghĩ mọi người cần phải có những câu hỏi tương tự để xác thực lại sự chuẩn mực của các tôn giáo.
Chúng ta không thể chỉ sống bằng niềm tin và hy vọng, chúng ta cần phải có sự hiểu biết để không bị rơi vào cực đoan, mê tín.
Với câu hỏi của bạn tôi có một ít kiến giải không rõ là có ổn không?
Nếu có điều gì không phải nhờ mọi người chỉ điểm thêm.
Tại sao Phật lại chế ra giới luật cấm sát sinh?
Có lẽ bạn hãy cùng tôi leo lên cỗ máy thời gian quay về thời điểm hơn 2500 năm để trả lời câu hỏi này. Khi đó câu hỏi trên lại không thực sự chuẩn nữa rồi. Câu hỏi được sửa lại là "Khi đạo Phật mới ra đời đệ tử Phật ăn chay hay ăn mặn?", "Vì sao đệ tử Phật lại phải ăn chay?"…
Thực tế là ban đầu khi đạo Phật ra đời thì đệ tử Phật có thể tạm nói là "Chay mặn đều dùng được.". Vì lẽ khi giáo lý nhà Phật chưa rộng truyền thì Đệ tử Phật và cả Phật đều đi khất thực để có cái ăn. Nói cho cùng tận thì việc khất thực chính thật là việc đi xin ăn. Hiển nhiên là đi xin ăn thì ai cho gì ăn nấy chứ sao có thể đòi hỏi.
Bạn có đồng ý không?
Dù rằng con người chưa biết đến giáo lý nhà Phật nhưng vì lòng từ bi, thương yêu đồng loại, những người trong thôn làng, xóm ấp, thành thị,… sẽ cho những vị khất sĩ chút ít đồ ăn, thức uống. Khi đó, họ sẽ cho những vị khất sĩ bất cứ loại thức ăn nào mà họ có. Vì lẽ họ không rõ biết loại thức ăn mà các vị khất sĩ thọ dụng thì làm sao có thể chuẩn bị riêng thức ăn chay tịnh cho người xuất gia.
Về sau, giáo lý của Phật quả thật là có làm cho con người dứt trừ đau khổ, tham đắm, hận thù,... Thế nên, giới khất sĩ được xã hội chấp thuận, thừa nhận và việc cúng dường cho các vị khất sĩ được lan truyền rộng khắp.
Lúc bấy giờ, có không ít người lười lao động đã xin xuất gia, khoát y áo để được cái ăn cái mặc dễ dàng. Dù rằng xuất gia nhưng họ vẫn thích ăn ngon mặc đẹp. Mà món ngon thì đa phần là món mặn, đã là món mặn thì buộc phải sát sinh.
Sự tham đắm món ăn đã tạo điều tiếng không tốt cho giáo đoàn khất sĩ. Trong khi đạo Phật là đạo từ bi, yêu thương người và muôn loài. Thấy việc cần làm Phật đã thiết lập ra giới luật cấm sát sinh để nuôi dưỡng tình thương yêu từ bi ở con người. Về sau, việc hạn chế ăn mặn được áp dụng cho người xuất gia.
…
Mở rộng:
Buddha dịch là Phật hay Phật đà có nghĩa là người giác ngộ tột cùng hoặc là người sống tỉnh thức hoàn toàn.
Giác có nghĩa là biết, ngộ có nghĩa là hiểu rõ thế nên giác ngộ chính là sự hiểu biết sáng rõ và khi sống thật với sự hiểu biết rõ ràng thì con người sẽ trở nên tỉnh thức. Cụ thể là khi Phật hiểu rõ con người chỉ là một dạng chúng sinh trôi lăn trong 3 cõi 6 đường, Phật đã sống tỉnh thức, sáng suốt để thoát ra khỏi việc thay khuôn, đổi mặt trong 3 cõi do việc tham đắm, si mê, sân hận,...
Thế nên giáo lý Phật truyền dạy cho nhân loại là dứt trừ tham lam, sân hận, si mê, hoài nghi và kiêu mạn. Hành lục độ ba la mật là bố thí, trì giới, nhẫn nhịn, tinh tấn, thiền định, trí tuệ nhằm đạt được sự giải thoát khỏi luân hồi.
Muốn thoát khỏi luân hồi thì con người biết yêu thương đúng mực, muốn yêu thương đúng mực thì phải có hiểu biết. Khi hiểu biết rõ ràng, tận cùng thì sẽ buông bỏ. Sự thật là dù cho ăn ngon, mặc đẹp, giàu sang đến mấy thì con người cũng sẽ chết mà không mang theo được gì.
Thế nên phải trân quý sự sống, sống hạnh phúc. Không gây đau khổ cho người chính là không tạo nhân gây khổ cho mình.
Vì thế hạn chế sát sinh, hại vật, hại người,… chính là trợ pháp giúp con người sinh khởi lòng từ bi, sống yêu thương đúng mực có hiểu biết.
Rất mong được mọi người góp ý kiến thêm, chỗ nào tôi trình bày không đúng nhờ mọi người chỉ thẳng, nói rõ.
Cám ơn!
Người bạn nói:
Cám ơn bạn nhiều! Nhưng bạn vẫn chưa làm cho tôi hoàn toàn hiểu rõ về việc sát sinh và nên hay không nên làm việc đó.
Trả lời:
Câu hỏi của bạn thoạt nghe có vẻ là một câu hỏi đơn giản nhưng thật ra để trả lời câu hỏi đó chuẩn mực thật không dễ chút nào. Bởi vì có những việc khi đặt vào bối cảnh này thì đúng nhưng ở trong hoàn cảnh khác thì lại sai.
Ví dụ như tôi trả lời khẳng định chắc chắn là không được sát sinh dù bất cứ lý do gì vì sát sinh là tội ác, là nhân để con người phải "mang lông, đội vảy" ở những kiếp sau. Dù rằng bạn không tin hoàn toàn về điều đó nhưng ít nhiều gì bạn cũng hạn chế việc "sát sinh, hại mạng". Đây cũng là một điều tốt nuôi dưỡng tình thương yêu muôn loài trong bạn cùng mọi người và loài vật nhờ vậy cũng vơi bớt đau đớn.
Nhưng nếu bạn hoặc một ai đó tin tuyệt đối vào câu trả lời của tôi, người đó không sát sinh hoàn toàn vì sợ phải mang trên mình “lông thú, vảy cá”. Cho đến một ngày đi dạo chơi trên biển, hoặc trong rừng mà lạc lối chưa tìm được đường về. Thức ăn dự trữ đã không còn. Đến khi bụng đói, miệng khát nhìn quanh thì chỉ có sò ốc, cua còng biển, cá ở suối,...
Nếu chấp chặt việc sát sinh là đền mạng, người đó chấp nhận chết đói chứ không sát sinh thì đã là làm sai với lời Phật dạy "Thân người khó được vì thế khi được thân người thì hãy biết giữ gìn để hành trì tu tập vì chỉ có chúng sinh nẻo Người mới hội đủ điều kiện tu tập, rèn luyện thoát khỏi luân hồi ở 6 đường.
Nếu tôi trả lời sát sinh, hại vật là chuyện bình thường vì lẽ con người phải ăn mới sống được, "có thực mới vực được đạo". Một ai đó tin lời tôi tham đắm món ngon, vật lạ. Lạm sát muôn loài, làm tăng trưởng tham đắm, sân hận, si mê,... Tụt giảm lòng từ bi, tình thương yêu thì việc "thay hình, đổi dạng" sẽ khó tránh khỏi.
Trước đây, tôi từng hỏi một câu tương tự như câu bạn đã hỏi. Tôi sẽ kể cho bạn nghe 1 câu chuyện có thật trong cuộc đời tôi.
Cách đây hơn 2 năm, cuộc sống của tôi có vài biến cố khiến tôi rất chán ngán sống ở đời, tôi đã xin về chùa những mong được sớm cắt tóc, xuất gia. Thực tế là khi tìm hiểu giáo lý nhà Phật tôi cảm nhận "Tại sao phải tham lam, si mê,... tranh giành mọi phần hơn, cái lợi về mình, chết rồi có mang theo được đâu?". Mục đích của việc về chùa là tôi muốn tránh việc tranh giành, hơn thua, được mất,... Tôi không tin vào chuyện có ma quỷ. Thậm chí là ngay khi bé, tôi đã học theo cách nói của người lớn, tôi từng nói "Nếu ai thấy ma cứ gọi tôi, hoặc bắt ma bỏ vào hủ cho tôi nhìn thấy thì tôi mới tin nhận”. Chùa tôi ở có khá nhiều muỗi, những lúc tôi ngồi thiền hoặc xem kinh sách bị chúng đốt suốt. Khi đó, tôi còn sợ phải giết muỗi nên hỏi thầy "Có nên giết muỗi không?". Thầy nói "Có giết thì giết nhưng đừng cố ý đuổi giết, tránh được thì tránh.".
Quả thật câu trả lời này khiến tôi rối trí thêm.
…
Về đường lối tu học, tôi lại không giống với thầy. Trong khi thầy tôi coi trọng đọc kinh, trì chú, niệm Phật,... thì tôi lại tìm hiểu giáo lý kinh điển và chú trọng ngồi thiền. Tôi thật không tin có ma quỷ.
Cho đến khi đối mặt với những vong hồn, uổng tử ở ngay trong chùa. Lúc bấy giờ tôi mới tin thế giới vô hình là thật có, ít nhiều tin vào việc luân hồi ở con người trong 3 cõi, 6 đường.
Kết hợp với những hiểu biết về cuộc sống, kinh Phật và việc thiền định cho đến một ngày sự hiểu biết được khai mở tôi nhìn rõ hơn về giáo lý kinh điển nhà Phật, con đường Phật đã đi,... Do khác pháp môn tu, tôi xin thầy rời chùa.
Quay lại vấn đề của bạn.
Tôi sẽ hỏi lại bạn một câu hỏi "Bạn có tin vào sự luân hồi không?". Tôi hỏi bạn câu hỏi này vì có sự liên quan mật thiết với câu hỏi của bạn. Bạn có thể tìm hiểu thêm về luân hồi 3 cõi, 6 đường trong phần "Chánh pháp thất truyền của Phật Thích Ca". Bạn sẽ chẳng tìm thấy những điều tôi trình bày ở bất kỳ quyển kinh sách nào vì đó là những phần tôi tỏ ngộ.
Nếu bạn nhận thấy đúng, chuẩn mực thì tin còn bằng thấy không ổn thì đừng tin nhận và chỉ cho tôi những chỗ không ổn đó. Cám ơn bạn!
Nói thêm về việc sát sinh nên hay không?
Vấn đề lại nằm ở chỗ là tham đắm hay không tham đắm. Nếu rơi vào hoàn cảnh ngặt nghèo, việc sinh tồn trói buộc thì con người phải sát sinh để tồn tại. Cố gắng đừng tạo ra sự ưa thích hay thói quen,...
Bởi lẽ, tôi sẽ nói thêm về việc luân chuyển từ con người sang loài vật.
Có một kiếp nọ, tôi làm một người bán hàng thịt, tôi chuyên giết heo hàng ngày để lấy thịt bán. Thói quen đi mua, bắt, giết heo được lưu giữ lại trong tiềm thức. Cuối đời, tôi chết đi. Ban đầu, tâm ý tôi vẫn lẩn quẩn ở quanh nhà. Về sau, tôi nhớ đến nghề mua bán, giết heo. Tôi lần đến quầy thịt, lò mổ và cả những trại nuôi heo. Trong rất nhiều lần thơ thẩn ở những trại heo quen cũ. Có vài bào thai heo tượng hình và tôi đã chuyển thân thành chú heo con.
Tin hay không là tùy ở cảm nhận của mỗi người. Nhưng tôi cũng nhắc bạn nhớ rằng "Con người không thể chỉ sống bằng niềm tin và hy vọng. Mỗi người đều có sự hiểu biết, thế nên bạn hãy sử dụng sự hiểu biết của mình thật hợp lý và có giá trị. Trân trọng!".
Những điều gì đúng hợp lý, logic,... thì tin nhận. Đừng rơi vào cuồng tín, mê tín, cực đoan.
Người bạn hỏi:
Tôi vẫn có điều chưa rõ. Có phải Phật giáo nói ma quỷ, vong hồn ..... là những tâm ma từ nơi bản thân sinh ra? (theo Diệu Pháp Liên Hoa Kinh). Tôi tin là có sự luân hồi, cũng như có sự tồn tại của các vị Chuyển Luân Thánh Vương,...
Trả lời:
Hôm nay dạo lại bài “Luận bàn về sát sinh của Phật giáo" mới hay người bạn có câu hỏi mới. Tôi thử trả lời xem xem.
Bạn nói tin vào luân hồi thì ổn rồi vì luân hồi là thật có còn Chuyển luân thánh vương thì cũng chỉ là một dạng chúng sinh luân chuyển trong 6 nẻo luân hồi.
Trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa nói “Ma quỷ, vong hồn là tâm ma do tự bản thân mình sinh ra à? Có chuẩn không?”.
Nếu bạn nhớ chuẩn thì có lẽ người dịch bộ kinh đó "thiếu chuẩn" rồi. Vì lẽ ma gồm nhiều dạng nhưng tựu trung lại thì thực sự chỉ có hai loại ma. Đó là Tâm ma và Thiên ma.
Trong đó, tâm ma là ma lưu xuất từ bên trong do tự bản thân mỗi người tạo ra gồm những vọng tưởng có thể là những vong hồn, ma quỷ, những cảnh ghê rợn,... Nhưng chúng không thật chỉ do tâm ý tạo ra, do tâm người đó thiếu định tỉnh, sáng suốt có lẽ vì tạo nhiều nghiệp nhân xấu ác như giết người, hại mạng,...
Thiên ma thì có nguồn gốc bên ngoài gồm những chướng duyên nghịch cảnh, ma quỷ và vong hồn uổng tử,... Khi con người chưa có định tâm vững hoặc thiếu chánh định chúng sẽ lưu xuất làm não loạn con người.
Tuy nhiên, nếu người bị thiên ma quấy phá nhận biết là đang bị thiên ma não hại thì hãy nên gia cố thêm tín tâm, chánh định. Khi đó, thiên ma sẽ bị diệt hoặc là rời đi, không còn dám quấy phá người học Phật, người học Phật giữ vững chánh định sẽ tiến tu lên ở bậc cao hơn.
Nếu dũng mãnh, tinh tấn và phát khởi trí tuệ giác ngộ thì người đó đạt được 1 trong 4 quả vị Thánh, đạt bậc bất thối chuyển, dự vào dòng Thánh.
- Vấn đề chưa thông… Phật A Di Đà sẽ độ sinh ở những đâu khi Phật Di Lặc hạ sinh?
Người học Phật nói:
Như các Phật tử, ai cũng biết, sắp đến ngày Phật Thích Ca nhập diệt và Bồ tát Di Lặc sẽ là vị Như Lai tiếp theo, độ trì cho những người thành tâm tu đạo.
Do vậy, tôi có một vấn đề thắc mắc chưa thông. Sau đây, tôi xin nêu rõ:
- Thời Phật Thích Ca còn là Như Lai, độ trì chúng sinh 6 nẻo, người học Phật thường nói câu "Nam mô bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật", câu này được dùng khi người dương thế gặp, nói chuyện, chào nhau.
- Lúc ấy, Phật A Di Đà là người độ trì cho những người ở quá khứ, đã mất không còn tại thế, ta thường thấy hình của Phật A Di Đà ở nơi có đám tang và nghe tụng kinh A Di Đà, kinh cầu siêu... và ở những nơi đó tôi thường được nghe câu: "Nam mô A Di Đà Phật".
Vậy khi Phật Thích Ca nhập diệt, Bồ Tát Di Lặc sẽ là Phật - Như Lai hiện kiếp thì Phật Thích Ca sẽ lui về độ trì cho những người đã khuất như Phật A Di Đà đã từng làm? Và nếu như vậy, Phật A Di Đà sẽ độ trì cho các chúng sinh nào?
Và ta có thể vẫn dùng câu "Nam mô bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật" trong các trường hợp bình thường như lúc này hay không? (Ở các chùa, khi có thông báo đến các tăng ni và Phật tử thường mở đầu bằng câu nói này).
Kính mong các quý Phật tử cùng các đạo hữu thông tuệ giúp tôi hiểu rõ các vấn đề này hơn.
Trả lời:
Chào bạn! Tôi sẽ trả lời câu hỏi của bạn một cách thẳng tắt, chân thật và có phần kinh động 3 cõi, 6 đường.
Bạn tin cũng được không tin cũng chẳng sao vì về cơ bản những điều tôi trình bày cũng không hại gì ai và cho dù là chân sư, thánh tăng xuất thế cũng không dám nói tôi nói lời sai quấy, hư vọng.
Có một sự thật là ngoài Phật Thích Ca ra chẳng có một vị Phật hay vị Bồ tát nào khác cả.
Theo kinh điển thì có rất nhiều vị Phật như Phật A Di Đà, Phật Dược Sư Lưu ly Quang, Phật Bảo Tích, Phật Nguyệt Quang, Phật Di Lặc, Phật A Súc,… và vô số hà sa vị Bồ tát. Trong đó nổi danh nhất là Bồ tát Quan Thế Âm, Bồ tát Địa Tạng Vương,...
Nếu bạn từng đọc qua đoạn kinh niệm hồng danh Phật thì có đến hơn 100 vị. Trong đó có cả Đấu Chiến Thắng Phật. Nói khác hơn đó là Tôn Ngộ Không, một ông Phật mà Ngô Thừa Ân đã cấp chứng chỉ hành nghề Phật. Vậy mà bảy vị Phật thời quá khứ lại không được nhắc tới.
Tôi muốn nói với bạn điều gì?
Có rất nhiều điều được thêm thắc vào kinh điển - giáo lý nhà Phật là do người đời sau. Nhất là những điều liên quan đến lễ nghi, trì tụng. Đáng tiếc là những việc thêm thắc này làm lu mờ, làm xấu kinh điển của Phật Thích Ca. Đó là sản phẩm của người học Phật rơi vào lợi dưỡng, lợi danh không đạt đến mức giác ngộ, giải thoát hoàn toàn. Kết quả của việc làm đó là khiến người học Phật rối trí, làm loạn chánh pháp.
Quay lại vấn đề của bạn đề cập, bạn dựa vào đâu mà cho rằng khi Phật Thích Ca tại thế thì Phật A Di Đà là Phật quá khứ trở về làm Phật sự trợ pháp cho Phật Thích Ca?
Thực ra theo lời Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết thì Phật Thích Ca và Phật A Di Đà ra đời cùng thời chỉ là làm Phật sự ở khác cõi mà thôi. Phật Thích Ca ở cõi Ta Bà, cõi mà tôi và bạn đang ở đây.
Cõi Ta Bà là cõi được mệnh danh là nơi ở của những chúng sinh cang cường, khó độ, khó giáo hóa,… Bởi lẽ cõi này có không ít chúng sinh tự phụ sự thông minh, học rộng, biết nhiều nên lời Phật nói thì không chịu nghe, nghe thì lại không tin nhận, không làm theo nên nỗi chìm đắm trôi lăn, trong 3 cõi, 6 đường.
Còn Phật A Di Đà là Phật ở cõi Tây Phương Cực Lạc cách cõi Ta Bà vượt quá 8 vạn bốn ngàn a tăng kỳ kiếp về phía tây, nói ra với khoảng cách đó thì cho dù ngồi vào phi thuyền không gian đi với tốc độ ánh sáng thì mãn muôn kiếp cũng không đến được. Thế mà chỉ cần có người đọc niệm kinh vãng sanh thì người chết sẽ có thể đến được Tây phương.
Đối với vấn đề này nếu bạn tin thì cứ tin chứ riêng tôi thì không thể tin nhận (Có lẽ tôi là chúng sinh can cường, khó độ nên tôi đành chọn một ghế ở địa ngục vậy).
Thật ra, thời Phật tại thế chẳng có ai chào nhau bằng câu Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật cả. Đó là sự thật 100% vì lẽ đặt trường hợp tôi và bạn sống cùng thời Phật Thích Ca. Không lẽ ở trước mặt Phật Thích Ca tôi lại chào bạn “Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật” thì có lý nào Phật Thích Ca lặng im, không nói. Còn lên tiếng ơi thì một ngày Như Lai phải ơi bao nhiêu lần vì đệ tử Phật gặp nhau, chào nhau mà lại gọi tên Phật.
Thế nên, đây không chỉ là chỗ hỏi sai của bạn mà là sai sót của phần lớn người học Phật ngày nay.
Điều này với việc người học Phật ngày nay gặp nhau khởi câu Phật hiệu “Nam Mô A Di Đà Phật” có gì khác biệt không?
Không lẽ Phật A Di Đà cứ phải ơi suốt ngày. Tôi thật không rõ biết thời điểm nào xuất hiện câu Phật hiệu này nhưng chắc chắn rằng sẽ xuất hiện sau thời Phật Thích Ca tại thế rất lâu xa.
Cho đến khi người học Phật chia tông, rẽ giáo, tạo lập ra nhiều tông giáo riêng. Cụ thể là khi người học Phật lập ra tông Tịnh độ thì họ mới tạo câu Phật hiệu "Nam Mô A Di Đà" nhằm tạo ra sự khác biệt và cũng là để nhắc nhở người học Phật nhớ nghĩ về con đường giác ngộ, giải thoát hoàn toàn, thoát khỏi luân hồi. Nhưng đến nay thì dường như người học Phật đã không còn nhận rõ đâu là chánh pháp, đâu là trợ pháp. Mọi việc điên đảo, chân giả khó phân định,…
Khi Phật Di Lặc xuất thế thì Phật Thích Ca sẽ làm gì?
Sẽ không có Phật Di Lặc hạ sinh vì khi liễu ngộ chánh pháp Phật Thích Ca thì mỗi người đều sẽ phát tâm bồ tát, sống hành trì và khuyên người sống theo chánh pháp thì mỗi một người sống theo chánh pháp sẽ là một hóa thân của Phật Di Lặc. Đó chính là Phật Di Lặc thiên bá ức hóa thân.
Không có bất kỳ một người học Phật chân chính nào khi lĩnh hội sống được với chánh pháp mà dám tuyên bố "Ta là Phật Di Lặc hạ sinh".
Nếu có người dám làm điều đó thì chính là tà ma ngoại đạo không phải là Chân Phật.
Tôi dù bất tài cũng tìm đến để gặp và “vấn nạn” gã mạo nhận thấp hèn kia đôi câu. Câu thứ nhất tôi sẽ hỏi:
- Hắn có thực chứng pháp vô sanh chưa?
Nếu hắn trả lời chưa thì hắn chẳng thể làm Phật Di Lặc được.
Còn bằng hắn trả lời có thì tôi hỏi thêm một câu nữa:
- Nếu đã chứng pháp vô sanh thì tại sao lại có Phật Di Lặc hạ sinh?
Hẳn là kẻ mạo nhận sẽ không còn lời nào để trình bày.
Bạn biết tại sao Thái tử Tất đạt đa thành Phật không?
Vì Thái tử chứng được pháp vô sanh không sinh, không diệt. Đã là vô sanh thì làm sao có sự diệt mất để mà có Phật hiện tại, quá khứ, tương lai.
Tất cả những gì Phật thuyết chỉ nhằm giúp nhân loại tin nhận 3 cõi, 6 đường là thật có và con người là một chúng sinh nhào lên, lộn xuống trong các nẻo luân hồi. Muốn thoát khỏi luân hồi thì con người phải sống theo chánh pháp, học hỏi sự hiểu biết để phá tan cái bản ngã - cái tôi mà mỗi con người đang chấp giữ. Buông bỏ cái tôi mê lầm đó con người sẽ được giải thoát hoàn toàn. Thật sự là sau một thời gian tìm hiểu, học hỏi, lĩnh hội những lời Phật thuyết thì tôi dám khẳng định "Điều đó là sự thật, là lời nói đúng thật của Như Lai. Còn Tam tạng kinh điển chỉ là phương tiện, là những chỉ dẫn cho con người nhận biết rõ điều đó".
Tôi thật thấy tiếc cho rất nhiều vị Tăng bảo lầm lạc đường tu, diễn giải kinh điển sai lạc khiến người học Phật rối trí và khiến nhân loại hiểu sai về bổn nguyện của Phật Thích Ca.
Cám ơn câu hỏi của bạn! Dẫu là một câu hỏi sai nhưng cũng là một câu đáng hỏi!
Tôi nghĩ người học, tìm hiểu kinh Phật nên hỏi những điều mình không rõ biết, dù là hỏi sai thì cũng sẽ có người góp ý, trả lời để sự hiểu biết nơi bản thân thông suốt, hoàn thiện hơn.
Nếu người trả lời đúng thì tin nhận, biết thêm còn không đúng thì bỏ qua, hoặc là tránh vấp những lỗi sai của người thì cũng học được điều hay.
Chúc bạn và mọi người an lạc, hạnh phúc, thương yêu hòa hợp!
- Phải chăng là Câu hỏi về Tiền Kiếp và Hậu Kiếp?
Người học Phật nói:
Theo triết lý nhà Phật, bất cứ hành động, ý niệm nào cũng có thể phát sinh nhân quả, tạo nghiệp,... Nghiệp có thể hiển hiện trong đời này, kiếp này, hoặc trong đời trước kiếp trước, hoặc nữa là đời kiếp sau và nhiều tiền, hậu kiếp khác.
Tôi thì thắc mắc, chưa thông lắm về Tiền kiếp và Hậu kiếp.
Ví dụ như dân số thế giới loài người là 8 tỷ, giả sử cùng theo Phật giáo, và giả sử phần lớn trong 8 tỷ người này đều gieo nghiệp ác, nên kiếp sau của họ, có thể họ thành con vật này, con vật khác (chứ không còn là con người nữa), vậy thì sang kiếp sau, sẽ vẫn có những người là người, họ phát triển ngành chăn nuôi, nuôi heo, bò, gà......và tất nhiên với quy mô toàn cầu. Ắt hẳn là số lượng động vật này sẽ nhiều hơn 8 tỷ người của kiếp vừa rồi rất, rất nhiều.
Nên thắc mắc đầu tiên của tôi là về mặt số lượng thì tôi thấy không có sự cân bằng. Suy cho cùng, nếu cộng tất cả loài người trên toàn thế giới, trong hơn 4 thiên niên kỷ lịch sử nền văn minh vừa qua thì số lượng vẫn chẳng đáng kể so với các loài động vật đang sống trên trái đất ngay thời điểm hiện tại.
Vậy con người sau khi chết đi, đầu thai ở những đâu mà tại sao lại tạo ra loài vật nhiều đến như vậy?
Trong khi vẫn có một số lượng không nhỏ chúng sinh nẻo Người phải chịu khổ hình nơi địa ngục và lang thang, đói lạnh ở kiếp Ngạ quỷ, là một trong những nguyên nhân làm tụt giảm chúng sinh hữu hình.
Mong các anh, các chị có thắc mắc hay có góc nhìn khác cùng vào góp ý. Tôi xin cảm ơn mọi sự đóng góp về mọi mặt, về mọi khía cạnh, các nhân sinh quan của mọi người.
Trả lời:
Bạn lại hỏi một câu hỏi khá cắc cớ!
Cắc cớ đến mức tôi không rõ được bạn hỏi về vấn đề Tiền kiếp - Hậu kiếp hay Nhân quả, Nghiệp quả hay là sự cân bằng về số lượng của chúng sinh trong 3 cõi, 6 đường?
Dường như câu hỏi liên quan đến số lượng đúng không?
Câu hỏi của bạn dường như không chuẩn ngay khi đặt vấn đề. Vấn đề bạn đặt ra cứ như là chỉ có chúng sinh nẻo người chịu sự chi phối của quy luật luân hồi, của nhân quả nghiệp báo mà thôi vậy.
Thực tế là 6 nẻo trong 3 cõi đều chịu sự chi phối của luân hồi.
Bạn có thể nhận biết có bao nhiêu chúng sinh trong nẻo trời, nẻo Atula, người, súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục không?
8 tỷ chúng sinh ở nẻo người có là gì so với chúng sinh ở nẻo súc sinh - có rất nhiều chủng loài. Thậm chí có những loài thấp sanh như vi sinh vật, vi rus, vi khuẩn,... Loài thấp sinh và heo, bò, gà vịt, khỉ vượn, muôn thú,... khi đủ duyên thì hoàn toàn có thể luân chuyển sang nẻo người. Vì thế câu hỏi của bạn đã không thể trở thành một câu hỏi đúng rồi.
Lại nói thêm con người hay chúng sinh ở nẻo súc sinh đều gồm hai phần:
- Phần xác thịt (phần vật chất) - là phần hữu hình.
Khi con người còn sống thì các tế bào trong cơ thể luôn luôn có sự sinh ra, chết đi, tái tạo,... Khi con người già yếu thì số tế bào hình thành sẽ ít hơn số tế bào mất đi. Đó là dấu hiệu của cơ thể lão hóa, bệnh tật, già rồi chết. Xét về thành phần vật chất thì tế bào chính là các chất hữu cơ và xen lẫn trong thành phần hữu cơ luôn có các khoảng không chứa không khí. Đó là xét theo khoa học hiện đại. Thời Phật và cả ngay hiện tại chúng ta vẫn có thể xét vật chất tạo nên cơ thể gồm có 4 phần gồm đất, nước, gió, lửa.
Thật vậy, bây giờ ta hãy xét xác thân người khi chết, mục rữa, thối nát, hư hoại thành phần tế bào, vật chất hữu cơ sẽ đi về đâu?
Phần hữu cơ có trong cơ thịt, tim gan, nội tạng, mắt, mũi,... phải chăng sẽ tan vào trong đất?
Phần chất lỏng như nước tiểu, máu, mồ hôi, các loại chất dịch lỏng có trong cơ thể phải chăng trả về nước?
Hơi thở phải chăng trả về cho gió?
Hơi ấm, con người khi còn sống có hơi ấm, có nhiệt lượng nhưng khi chết thì xác chết lạnh tanh, phải chăng hơi ấm đã trả về nhiệt có trong tự nhiên?
Phải chăng đó chính là yếu tố lửa có trong cơ thể con người?
- Phần tâm (phần không vật chất) - là phần vô hình. Dù là phần vô hình nhưng phần tâm lại quyết định con người đó sống hay chết.
Nếu con người thiếu phần tâm thì chắc chắn rằng đó chỉ là một xác chết vô hồn. Khi có tâm, xác chết vô hồn lạnh lẽo đó được gọi là người sống. Phần tâm không hình dạng, không thể nắm bắt lại chính là phần nắm giữ cảm giác, suy nghĩ, nhận thức, tư duy, ý thức của con người.
Tôi dám tin chắc một điều rằng “ Không riêng gì bạn, hầu như tất cả nhân loại đều không thể làm chủ hoàn toàn cảm giác, nhận thức, ý thức, tư duy, suy nghĩ của chính bản thân mỗi người”. Gần như không ai rõ biết tâm của chính mình. Tâm là gì? Tâm ở đâu?
Hoàn toàn mờ mịt. Vì thế ngay khi sống mỗi người đều không thể làm chủ hoàn toàn tâm của mình. Do vậy, khi con người chết đi thì sẽ lại càng khó điều khiển, chi phối tâm ý hơn. Chính vì vậy khi chết đi con người đã theo tâm ý, theo nghiệp nhân quả thiện ác mà "lăn lên, lộn xuống" trong 3 cõi, 6 đường.
Bạn hãy cẩn thận. Đừng vội cho rằng chết là hết mà trôi lăn trong sinh tử 3 cõi, 6 đường. Vì lẽ:
- Khi chết, phần thân xác tan vào đất nước gió lửa,...
- Khi chết, phần tâm vô hình đi về đâu?
Với Phật và những người tu đạt được sự giải thoát hoàn toàn, không còn vướng bận, dính mắc,... sẽ chết là hết vì tâm họ rỗng rang hòa vào không đại, hư không, thể nhập Niết Bàn tịch diệt.
Còn với những chúng sinh ở 3 cõi, 6 đường do còn dính mắc, còn tâm phân biệt mà theo tâm ý trôi nổi trong 3 cõi. Bạn đừng vội cho rằng khi đó sẽ cố không để dính mắc, phân biệt thì sẽ dễ dàng thoát khỏi luân hồi. Bởi vì ngay cả khi sống bạn vẫn còn chưa làm chủ được tâm ý, chưa dứt trừ được những thói quen, những tật xấu,... thì đó chính là nhân khiến chúng sinh nẻo người rơi vào những đường dữ.
Bạn có dễ dàng từ bỏ thói quen hút thuốc lá, có dễ dàng từ bỏ việc say rượu bia, có dễ dàng bỏ qua tiếng réo gọi của những cô gái bán dâm bên đường khi chếnh choáng men say,...
Nếu biết nhân duyên nghiệp quả luân hồi thì bạn hãy nên dùng sự hiểu biết, tư duy, nhận thức chân chính để sống tốt. Hầu có được nẻo tốt lần về khi vô thường gọi.
Còn bằng chán ngán luân hồi thì hãy rèn luyện giữ tâm thanh tĩnh, dừng lặng. Từng bước dứt trừ tâm phân biệt, tâm dính mắc,... Trân trọng!
- Vấn đề về Ông Thiện, Ông Ác chắn giữ trước cổng chùa.
Người học Phật nói:
Nhân tiện, mọi người cho tôi hỏi, 2 ông Thiện - Ác (là 2 ông thần giữ cửa của chùa) theo tôi hiểu thì 2 ông ấy thuộc hàng Atula, chẳng biết đúng không?
Nhưng Theo Diệu Pháp Liên Hoa Kinh dịch giải thì Atula có phước báu ngang trời, nhưng đức không bằng, mà về nhân dạng thì hợp với 2 ông ấy. Cửa chùa là nơi thanh tịnh, vậy 2 ông ấy gác cổng, cầm vũ khí trên tay là có ý nghĩa gì?
Trả lời:
Cám ơn câu hỏi của bạn!
Vấn đề bạn đặt ra là 2 ông Thiện - Ác có phải là Atula không?
Có phải Atula có phước báo ngang trời nhưng đức thì không bằng?
Về cơ bản 2 ông Thiện - Ác chính thật là chúng sinh nẻo Atula, 2 ông Thiện - Ác tồn tại bằng định lực mà nẻo Atula là nơi hội tụ những chúng sinh sống bằng định lực.
Trong nẻo Atula có cả những người tu tập hàng nhị thừa, là chúng sinh nương vào pháp Phật tu hành. Do còn chấp pháp nên chúng sinh này dù đã tập định nhưng chưa phá bỏ được bản ngã. Kết quả là khi chấm dứt thân mạng thì thần thức rời khỏi thân xác vật chất, tâm ý của hạng chúng sinh này giữ định là một khối không an lạc, tự tại.
Đối với chúng sinh nẻo Atula dạng này mà nói phước báo ngang bằng nẻo trời và đức kém hơn thì đã không chuẩn vì sự thật sẽ trái ngược lại.
Trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa nói chúng sinh ở nẻo Atula có phước báo ngang với nẻo trời và đức thì kém hơn chỉ mang tính ước lệ, dựa vào số lượng mà thôi.
Ở phần chánh pháp thất truyền của Phật Thích Ca - nẻo Atula, tôi có đề cập đến vấn đề chúng sinh nẻo Atula có sự phân bố rộng khắp trong 6 nẻo luân hồi. Do đó không hẳn về đức nẻo Atula luôn thua kém nẻo trời. Vấn đề này chỉ mang tính tương đối.
Cửa chùa thanh tịnh, tại sao lại phải thờ hai ông thần giữ cửa với khuôn mặt đáng sợ, lăm lăm cầm vũ khí trên tay?
Bạn vẫn biết là có một ông giữ cửa - Thiện và một ông giữ cửa - Ác. Vì thế nên ông Thiện sẽ là người mời khách, niềm nở chào đón mọi người vào chùa cùng học hỏi chánh pháp, hộ trì tam bảo. Còn ông Ác sẽ là người bảo vệ giữ cho chùa thanh tịnh, bảo vệ người học Phật, ngăn chặn, trừng phạt những người phá hoại chánh pháp, tà ma ngoại đạo,...
Tại sao ở phần lớn ngôi chùa ở Việt Nam đều có 2 ông Thiện Ác?
Lý do là khi Phật Thích Ca còn tại thế. Giáo pháp của Người đã độ thoát chúng sinh ở nẻo Trời, Atula, người thoát khổ giải thoát hoàn toàn. Vì "Đức trọng, quỷ thần kinh" và qua lời Phật thuyết thì Thiên Ma Ba Tuần (nếu tôi nhớ không nhầm thì Thiên ma Ba Tuần chính là người đứng đầu nẻo Atula) đã tự phát nguyện về sau nếu bất kỳ thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nhận lãnh, hành trì theo chánh pháp thì Thiên Ma cùng đồ chúng sẽ theo bảo vệ, hộ trì người đó. Đó là nguyên nhân dẫn đến người học Phật ngày nay kính tin và thờ phụng 2 ông Thiện - Ác ở cửa chùa.
Thật ra, nếu một người sống thiện lương, không tham lam, sân hận, si mê, hoài nghi, kiêu mạn.
Tùy thuận hành trì bố thí, trì giới, nhẫn nhịn, tinh tấn, thiền định, trí tuệ thì người đó có cần chúng sinh nẻo Atula hộ trì, bảo vệ không?
Có ai lại có ý nghĩ, có tâm ý giết hại con người toàn thiện, toàn bích đó?
Khi Phật vừa thành đạo thì làm gì có đền chùa, miếu mạo,... Về sau, các vị vua Ba Tư Nặc, Tần Bà Sa, Tịnh Phạn, Ông Cấp Cô Độc, Thái tử Kỳ Đà,... Nhận thấy sự vi diệu của giáo pháp của Phật Thích Ca nên mới cúng dường đất đai để xây dựng nên các giảng đường để Phật và môn đệ tá túc rộng truyền chánh pháp ở các nước. Sau khi Phật nhập diệt vài trăm năm vẫn chưa có lấy được một pho tượng Phật thì ...
Thế nên, việc thờ phượng các pho tượng Phật, các môn đệ, bồ tát, la hán, cả 2 ông Thiện - Ác,... là do người học Phật đời sau tiêm nhiễm tục lệ thờ cúng ông bà tổ tiên và ảnh hưởng các tôn giáo khác tạo dựng nên. Đó chỉ là trợ duyên, trợ pháp. Không phải là chánh pháp chân truyền.
Tuy nhiên, việc làm trên đã thành lệ không thể "một sớm, một chiều" mà dứt bỏ được.
Cụ thể, nếu bây giờ mà đến những ngôi chùa cổ đập phá, dẹp bỏ 2 ông Thiện - Ác. Nếu mà người dẹp bỏ 2 ông Thiện - Ác, "Đạo không cao, đức không trọng" thì e rằng "mệt mỏi" với chúng sinh nẻo vô hình. Nếu người dỡ bỏ, đạo lực thâm trầm thì chỉ e những chú tiểu, thậm chí cả sư trụ trì bị "vạ lây". Nhưng nếu gặp người có đủ đạo lực khuyên giải thì vấn đề dỡ bỏ hai ông Thiện - Ác cũng bình thường thôi.
- Nói về vấn đề nghi lễ, hủ tục thờ cúng, trì tụng, đốt giấy tiền, vàng mã,… ở tang lễ, việc vãng sinh tịnh độ của người chết khi được hộ niệm Phật hiệu A Di Đà,…
Người học Phật nói:
Trong việc mua bán có những ngành nghề mà người mua không thể mặc cả, trả giá như là việc mua thuốc trị bệnh, mua vàng, vay tiền ngân hàng, mua hàng trong siêu thị, mua quan tài, “mua đường đi” cho người chết,… Nay tôi muốn đề cập đến vấn đề “mua đường đi” cho người chết. Nhằm làm được việc “mua đường đi” cho người chết thì gia đình, quyến thuộc người chết tốn không ít tiền của để mua giấy tiền vàng mả, nhang đèn, các vật thờ cúng,…
Nhất là phải mời các sư thầy hộ niệm, trì kinh với mong mỏi người chết sớm được siêu sinh. Việc mời sư thầy cũng không thật dễ dàng, không ít sư thầy chỉ đến hộ niệm những nhà giàu có hoặc chỉ đến “tiễn đưa” người chết khi đặt ra một số tiền và được gia đình có người chết chấp thuận.
Tôi muốn hỏi quý đạo hữu việc mua đường cho người chết có giúp người chết tìm được nẻo tốt ở đời sau không?
Tại sao giá thành của việc hộ niệm không hề nhỏ và lại có sự khác biệt giữa giàu nghèo?
Có phải số tiền cúng càng nhiều thì thần thức người chết càng dễ siêu thoát ở những nẻo tốt không?
Lấy gì làm bằng chứng chứng thực khi được hộ niệm người chết sẽ vãng sinh nơi Tây phương?
Có định mức quy ước giá tiền cúng hộ niệm không?
Thần thức người chết đi bằng phương tiện gì để siêu sinh mà giá thành của một lượt đi không hề nhỏ?
Đôi khi giá thành của việc trì kinh hộ niệm lại trở thành “gánh nặng” cho người sống, tôi muốn hỏi:
Việc hộ niệm có thật sự chuẩn mực và có ý nghĩa thiết thực giúp thần thức người chết nhận biết rạch ròi lối đi trong luân hồi?
Sở dĩ tôi hỏi những câu hỏi trên là vì tôi cảm nhận có điều gì đó không thật đúng, chỉ mong mọi người góp ý giúp tôi sáng rõ mối hoài nghi trong lòng. Cảm ơn!
Trả lời:
Như tôi đã trình bày, thần thức của người chết khi thoát ra khỏi thân xác không còn tồn tại ở dạng vật chất như là đất, nước, gió, lửa. Thế nên bằng mắt ta không thể nhìn thấy, cũng không thể nắm bắt được. Thần thức người chết thể như hư không nhưng vì u mê vọng chấp có thân.
Trong tâm ý mê mờ đó, người chết vẫn nghĩ mình còn thân, tự dối lừa mình trong tấm thân không thật có. Vẫn tham đắm việc uống ăn nhưng thật không có chỗ để uống ăn. Đây là những vong linh tồn tại trong kiếp ngạ quỷ.
Những người đã khuất luân chuyển sang cõi Trời, Atula thì không cần cõi Người cung cấp đồ dùng. Vì bởi phước báu chúng sinh cõi Trời rất lớn, muốn gì có ngay thứ ấy. Quần áo, trang sức lộng lẫy, thức ăn thượng hạng,... Một số sống trong thiền định tiêu diêu, tự tại. Chúng sinh cõi Atula thì bận bịu trong việc trao chuốt sắc đẹp, ca hát, đánh đàn,… Phần lớn mãi lo đánh nhau. Thế nên chúng sinh hai cõi này chẳng cần nhận những đồ hàng mả mà con người gửi lên. Đồ hàng mả ở cõi Người nếu gửi lên được chỉ làm bẩn cõi giới của họ.
Còn những chúng sinh tồn tại trong cõi Địa ngục thì đang chịu muôn điều hành hạ làm sao có thời gian mà thọ hưởng việc uống ăn, đi ôtô, xe máy, ở nhà to đẹp,... Trải qua thời gian rất lâu, tâm trí vơi bớt hoảng loạn, họ sẽ luân chuyển sang những nẻo khác. Số đông luân chuyển sang kiếp Ngạ quỷ tiếp tục sống trong mê lầm
Việc đốt hàng mả không mang nhiều lợi ích cho chúng sinh trong cõi vô hình mà khiến cho những chúng sinh mê lầm thêm ngộ nhận. Họ sẽ chấp nhận sống kiếp không thân lang thang, vất vưởng và chờ đợi những người thân gửi đồ giả xuống hưởng dụng.
Chỉ khi con người không gửi đồ xuống cho họ. Họ sẽ thấy đói khát, rét lạnh đến chết đi sống lại nhiều lần. Cuối cùng, họ sẽ dần ý thức được họ không hề chết vì lẽ họ không còn cái gì để gọi là chết. Tất cả chỉ do tâm ý mê lầm mà có sự sống chết. Khi nhận ra điều đó thì tùy nghiệp duyên đời trước mà họ sẽ chuyển sang nẻo khác.
Thế nên, giấy tiền vàng mả, nhang đèn, các vật thờ cúng,… chỉ là những thứ khiến thần thức của người chết thêm mê mờ, lầm lạc lối đi.
Lẽ ra, việc ma chay, cúng giỗ,… cho người chết chỉ nên dừng lại ở việc gắn kết nghĩa tình bà con láng giềng, hàng xóm.
Nếu việc cúng giỗ chỉ nhằm vào việc tổ chức cho dòng tộc, anh em, cô bác,… lâu ngày gặp gỡ, trao đổi động viên con cháu, giúp đỡ lẫn nhau về cuộc sống, về tinh thần,… thì thật đẹp, đáng quý. Đó là những nét đẹp của văn hóa truyền thống dân tộc, tình làng nghĩa xóm, bà con, láng giềng, dòng họ.
Những năm gần đây, việc khôi phục các lễ hội truyền thống nhằm thu hút đầu tư du lịch. Vì thế các lễ hội cổ truyền dân gian được tổ chức với quy mô lớn, hao tốn nhiều kinh phí ngân sách,…
Nếu những nhà quản lý không có tầm nhìn sáng rõ, hiểu biết thì sẽ có hàng tỷ đồng được đầu tư cho nhang đèn, giấy tiền vàng mả và chúng được đốt cháy trong một ngày. Nhưng ngay bên cạnh đó lại có rất nhiều người ăn xin, khốn khổ lăn lóc và xa xa hơn thì vẫn có rất nhiều mảnh đời bất hạnh sống trong cơ cực, đói nghèo. Những người già neo đơn, những trại trẻ mồ côi, những nạn nhân của chất độc màu da cam,… Nếu có được số tiền hàng tỷ đó hẳn là họ sẽ có đời sống tốt hơn.
Còn về việc sư thầy trì kinh hộ niệm có giá trị gì không?
Hơn 2500 năm trước, Phật Thích Ca thuyết kinh Vu lan nhằm mục đích làm an lòng người sống có người thân đã khuất từng sống với những hành vi xấu ác.
Trước đó, khi Phật nói về luật nhân quả, kinh Địa tạng,… thì những người còn sống nghĩ nhớ, thương tưởng đến người thân đã mất nên tâm trí bất an, đau khổ. Vì người sống Phật Thích Ca xót thương thuyết kinh Vu lan nhằm giúp những chúng sinh trong nẻo Địa ngục, Ngạ quỷ siêu sinh ở những nẻo tốt hơn. Việc này thật sự chỉ nhằm mục đích an lòng người sống là chủ yếu. Tuy nhiên, những chúng sinh nẻo tối vẫn có thể siêu sinh lên nẻo tốt nhờ vào giới đàn lúc bấy giờ có đến hàng trăm vị Tăng đắc 1 trong 4 quả vị Thánh và cả oai lực của Phật Thích Ca.
Hẳn là chi phí cho việc lập giới đàn là không cao bởi lẽ các vị Tăng bảo chỉ ngày ăn 1 bữa và thức ăn là những món đạm bạc, chay tịnh. Một dụng tâm khác của Phật Thích Ca là khi mọi người tập trung đông đủ thì Người và những vị Tăng đắc quả tùy thuận chỉ bày mọi người sống tùy thuận theo chánh pháp, dứt trừ những đau khổ trong lòng và biết đến một con đường giải thoát hoàn toàn thoát khỏi luân hồi.
Ngày nay, việc trì kinh hộ niệm cho người chết cũng khởi nguồn từ việc an lòng người sống và do người sống không sáng rõ chánh pháp của Phật thích Ca. Đôi khi, người sống làm việc đó nhằm để mua lấy tiếng “chí hiếu, thảo hiền”.
Việc hộ niệm với người chết có lợi ích gì không?
Đối với những người chết khi sống có tìm hiểu về Phật pháp mà chưa có sự thông suốt, sáng rõ thì ít nhiều cũng có giá trị. Ngay khoảng giao thời giữa sống chết thì họ có sự an tâm và điềm tỉnh. Điều này rất quan trọng, giúp cho thần thức người chết giúp họ tỉnh táo chọn nẻo tốt mà thọ sinh nhưng điều quan trọng hơn là khi người này còn sống họ phải sống thiện lương, không gây ra việc xấu ác nghiêm trọng.
Đối với những người học Phật đã sáng rõ chánh pháp, thật sống nơi chánh định thì người học Phật đó khi chết sẽ không cần người hộ niệm, họ tự rõ biết lối đi.
Còn đối với những người chưa từng tìm hiểu Phật pháp, có đời sống tham lam, ích kỷ, cố chấp, bảo thủ, thường “chửi cha, mắng mẹ”, hành vi xấu ác, ti tiện, làm khổ người thân, … thì việc hộ niệm khó mong có kết quả. Nhất là thời điểm trước khi mất mà người đó không tỏ ngộ, nhận biết lầm lỗi, chấp nhận “quay đầu”…
Một điều quan trọng khác ở những người gần bước vào cõi chết là niềm tin và định lực. Thế nên, nếu người gần chết mà rõ biết về vị sư thầy hộ niệm cho bản thân thì người đó sẽ nhằm vào đạo hạnh của vị sư thấy. Vì thế đạo hạnh của vị thầy là rất quan trọng.
Tuy nhiên, phần nhiều quyết định lối đi trong 6 nẻo là ở tâm ý của người chết.
Về phần các vị sư thầy chuẩn mực thì ở một mức độ nào đó họ vẫn nghĩ rằng “việc hộ niệm” là đúng với chánh pháp nên họ sẽ làm rất thành tâm. Bên cạnh đó, không ít vị thầy làm việc đó chỉ nhằm vào cơm áo gạo tiền còn thần thức người chết đi đường nào thì tùy duyên vậy.
Thần thức người chết đi bằng phương tiện gì mà giá thành mỗi chuyến đi lại cao thấp khác nhau?
Điều này tôi không rõ nơi mấy vị thầy tụng dùng phương tiện gì để đưa đi.
Riêng tôi rõ biết phương tiện mà thần thức người chết đi dựa vào tâm ý của chính tự thân thế nên phí vận chuyển là bằng 0 đồng.
Thần thức người chết sẽ đi về đâu?
Điều này tùy thuộc vào tâm ý của người chết và những việc xấu tốt mà người đó khi còn sống đã làm.
Trong đó, không chỉ là những việc làm ở hiện kiếp mà thần thức người chết còn chịu sự tác động của những tạo tác từ những kiếp lâu xa. Tuy nhiên, đời sống của hiện kiếp sẽ chiếm phần quyết định chính cho lối đi của người đã khuất.
Nếu bạn hỏi những vị sư thầy “Thần thức sẽ về đâu trong 6 nẻo?” thì hẳn là sẽ không có vị thầy tụng nào cho bạn câu trả lời đúng mực và sáng rõ. Nếu có câu trả lời thì cũng chỉ là những câu nói chung chung, vô thưởng, vô phạt,…
Cho dù những vị sư thầy hộ niệm vãng sinh rất thành tâm thì họ cũng chỉ có thể giúp người sống an tâm chứ không thể vạch ra lối đi sáng rõ cho người chết.
Tại sao lại như vậy?
Tại vì tôi rõ biết các vị thầy này không thật sáng rõ lối đi trong 3 cõi, 6 đường và con đường giải thoát khỏi luân hồi cũng như đường về cõi giới A Di Đà. Đã không rõ biết đường đi thì sao có thể chỉ đường cho thần thức người chết rành rẽ lối đi ở các con đường cho được. Vấn đề này giống như là việc:
Có người hỏi bạn nước Pháp nằm ở đâu?
Làm sao để đến được nước Pháp?
Nếu bạn chưa từng đặt chân đến Pháp cộng với một ít kiến thức thì bạn chỉ có thể nói “Nước Pháp ở phương Tây còn đường đi thì thật sự là tôi không rõ”.
Thêm nữa, ở những năm chiến tranh tàn khốc, ác liệt, người chết như rạ, thây ma đầy đường,... Lấy đâu ra sư thầy, đạo tràng hộ niệm, trì chú “tiễn đưa” vậy không lẽ người chết không tìm được lối đi trong 6 nẻo.
Rõ thật lễ nghi, hủ tục, hình thức,... là do nơi con người "lừa mình, dối người" tạo ra, do "phú quý sinh lễ nghĩa",... Những việc làm thành lệ khiến thần thức người chết thêm rối loạn, mê mờ, và tạo ra "gánh nặng" vật chất cho người sống.
Cũng lại như vậy, những người đã khuất ở các tín ngưỡng Công giáo, Tin lành,... không nhang đèn, vàng mả, không cúng thất, không rườm rà lễ nghi,...
Có lẽ nào thần thức người chết theo các tín ngưỡng đó không có lối đi sau khi chết?
Đừng làm việc "lừa mình, dối người", tự che mắt mình rồi cho rằng là chân lý, là chánh pháp của Phật Thích Ca thì khó mong thoát khổ, có đời sống an lạc, hạnh phúc thật sự.
…
Đôi lời mạo muội, kính mong mọi người góp ý, chỉ dẫn thêm. Cám ơn!
Mục Lục
Chương I: Chim Thiên Nga Trúng Tên
- Đạo cao một thước, ma cao một trượng
- Chim thiên nga lại trúng tên
III. Có phải thần thông của Phật Thích Ca thấp thỏi?
Chương II: Hiển Bày Chân Thật Pháp - Xé Nát Xưa Nay
- Đạo Phật sơ khai - Lộng giả thành chân
- Phật giáo đương đại - Lộng chân thành giả
III. Hiển bày sự chân thật con đường Phật Thích Ca đi
Chương III: Gương Vỡ Lại Lành
- Chánh đạo hay trái đạo?
- Sự chân thật của chánh pháp.
Phụ Lục: Hỏi Đáp Cùng Người Học Phật
- Luận bàn về việc sát sinh ở đạo Phật
- Vấn đề chưa thông… Phật A Di Đà sẽ độ sinh ở những đâu khi Phật Di Lặc hạ sinh?
- Phải chăng là Câu hỏi về Tiền Kiếp và Hậu Kiếp?
- Vấn đề về Ông Thiện, Ông Ác chắn giữ trước cổng chùa
- Nói về vấn đề nghi lễ, hủ tục thờ cúng, trì tụng, đốt giấy tiền, vàng mã,… ở tang lễ, việc vãng sinh tịnh độ của người chết khi được hộ niệm Phật hiệu A Di Đà,…
Gót phong trần rời phố đông vui
Nơi am vắng nghe tiếng lòng phẳng lặng
Lao xao kiếp người xuôi ngược
Vô thường thôi bạc mái đầu xanh
Vu vơ gạn lời kinh, tiếng kệ
Sinh tử, khổ đau,… lại vô thường?
Minh tâm, kiến tánh, dừng điên đảo
Giải thoát riêng ta, có gì vui?
Đốt cháy am tranh, ném chuông đồng
Ra đời cười ngạo với nhân gian
Trò chơi sinh tử vờn trên sóng
Gió cuốn … luân hồi,
Mặc … dửng dưng …
Một thời xuôi ngược không đi đến
Vào đời bưng bát,
Lại ăn xin …
Việc trình bày nội dung quyển sách ở phần Xé Nát Xưa Nay chỉ nhằm mục đích tỏ bày sự sáng rõ nơi chánh pháp của Phật Thích Ca. Nhằm khẳng định lại giá trị của Tam Tạng Kinh là việc cứu khổ, giúp con người giải thoát hoàn toàn chứ không là việc rơi vào lợi dưỡng, lợi danh, tham đắm và việc phá hoại chánh pháp ở những người học Phật lầm đường. Trân trọng!
