Thứ Năm, 13 tháng 10, 2016

LIỀU THUỐC ĐẠO PHÁP  CHO NGƯỜI HÀNH THIỀN ĐAU ỐM 
(A good dose of Dhamma for Meditators when they are ill) 
Upasika Kee Nanayon | Hoang Phong chuyển ngữ




Bà Upasika Kee Nanayon
(1901-1978)
Lời giới thiệu của người dịch

Bà Upasika Kee Nanayon được dân Thái tôn kính như một trong những vị thiền sư lỗi lạc nhất của quê hương họ trong thế kỷ XX. Thế nhưng bà không bao giờ nhận mình là một ni sư và chữ Upasika là tiếng Pa-li và tiếng Phạn, chỉ có nghĩa là "Nữ cư sĩ". Là một phụ nữ bình dị, ít được học hành, ngày còn trẻ phải giúp cha trông coi một cửa hàng tạp hóa thế nhưng bà đã thành đạt và đã khiến chúng ta không khỏi kinh ngạc trước sự uyên bác của bà. Sau khi thân phụ qua đời thì bà giao cửa hàng cho người em gái, rồi sửa chữa một ngôi chùa bỏ hoang không xa nhà, dưới chân một ngọn đồi cây cối xanh tươì, hầu tiếp tục tu tập.
Những người quen biết với bà trước đây thường đến viếng chùa và nghe bà giảng. Họ rất thích cách thuyết giảng trực tiếp và rất sâu sắc của bà. Tiếng đồn vang xa để rồi ngày nay ngôi chùa khiêm tốn của bà đã trở thành một trung tâm luyện tập thiền định nổi tiếng, và đặc biệt hơn nữa là dành cho phụ nữ. Một số bài giảng của bà được thu băng và ngày nay đã được xuất bản. Sự sâu sắc, trong sáng và khúc triết trong các bài giảng, phản ảnh các kinh nghiệm thiền định cũng như sự hiểu biết thâm thúy của bà về sự vận hành của tâm thức khiến chúng ta không khỏi kính phục. 
Thật vậy bà bước vào tâm thức chúng ta không khác gì bước vào gian nhà của bà vậy.  Bà biết rành mạch từng gian phòng, cách bày biện, các vật trang trí, không thiếu sót một ngõ ngách nào, một góc kẹt kín đáo nào. Thế nhưng chủ đích các bài giảng của bà không phải là giúp chúng ta tìm hiểu gian nhà của mình mà là sửa chữa, dọn dẹp và quét tước sạch sẽ gian nhà ấy để biến nó trở thành một cõi Niết-bàn. Bài giảng dưới đây của bà được trích từ quyển "Pure and Simple"  do nhà sư người Mỹ Thanissaro Bhikkhu dịch từ tiếng Thái ra Anh ngữ. 
Phần I

        Ốm đau thông thường được xem như là một thứ gì đó mà sớm muộn tất cả chúng ta đều sẽ không sao tránh khỏi. Thế nhưng cũng có một thứ "bệnh" không làm phương hại đến cuộc sống thường nhật nên người ta không hề xem nó là một thứ bệnh. Trên khắp thế giới mọi người đều xem thứ "bệnh" ấy đơn giản chỉ là một thể dạng tự nhiên nơi mỗi con người. Tuy nhiên nếu suy xét cẩn thận thì người ta sẽ nhận thấy cái thân xác được xem là "bình thường" đó thật ra là đang đau ốm bởi vì các thành phần vật chất và tâm thần tạo ra nó suy thoái trong từng giây phút một, thế nhưng không mấy ai nghĩ đến điều đó mà thôi.    
        Những người khỏe mạnh thì làm hết việc này đến việc nọ, suy nghĩ, lo lắng, thế nhưng toàn là những chuyện phù phiếm chẳng ích lợi gì cả. Những kẻ ốm đau thì may mắn hơn nhiều, tuy liệt giường nhưng chẳng phải làm gì, ngoài việc nghĩ đến các sự bực dọc và đau đớn của mình. Tâm thức họ không bị tràn ngập bởi đủ mọi thứ lo toan, cũng không suy nghĩ vẩn vơ hết chuyện này đến chuyện khác, mà duy nhất chỉ lo lắng vể những sự đau đớn của mình..., nhưng thật ra thì những sự đau đớn ấy cũng có thể loại bỏ được bất cứ lúc nào.       
        Các bạn không nhận thấy sự khác biệt giữa hai trường hợp trên đây hay sao? Trong những lúc mà các bạn bận rộn vì phải lo toan đủ mọi thứ thì một sự "trống không" cũng có thể xảy đến trong tâm thức, thế nhưng sự "trống không" ấy cũng chỉ là một trò giả tạo, không phải là "Tánh Không" đích thật (tình trạng bận rộn không cho phép mình nghĩ đến những chuyện khác quan trọng hơn và hữu ích hơn, chẳng hạn như các sự đau đớn và bệnh tật. Tình trạng "không nghĩ đến các chuyện ấy" có thể xem như một sự "trống không", tức không một chút ý thức nào về bản chất vô thường, khổ đau và cái chết của chính mình. Đấy cũng tương tự như một trò chơi ú tim, nấp phía các sự bận rộn hay chui vào một xó kẹt trong tâm thức mình để trốn né thực tại). Trái lại mỗi khi đau ốm nằm liệt giưòng, thì đấy cũng là một dịp giúp các bạn nghĩ đến vô thường, khổ đau và vô ngã (không có "cái tôi") là những gì đang hiện lên với mình, và đấy mới là những mối lo toan mang lại lợi ích thật sự. Các bạn phải luôn để tâm đến một điều duy nhất là không được xem những gì đang phải gánh chịu sự đau đớn là mình.  Đối với các hiện tượng thể xác và tâm thần (có thể hiểu là các cấu hợp hay ngũ uẩn tạo ra một cá thể) mà các bạn cảm nhận được, thì cũng chỉ nên xem chúng như là những hiện tượng thiên nhiên đang trôi đi và tiếp tục trôi đi. Chúng không phải là mình, không thuộc của mình. Các bạn không có một quyền lực nào đối với chúng cả. Hãy nhìn vào tất cả những gì đang khiến các bạn phải đảo điên để tự hỏi xem mình có một tí xíu quyền lực nào đối với chúng hay không? Hoàn toàn không. Các bạn nên hiểu rằng điều đó đúng với tất cả mọi người.    
        Dù thân xác đang bị bệnh gì thì điều đó cũng không quan trọng mấy. Đáng ngại hơn nhiều là căn bệnh ở bên trong tâm thức mình. Trong những lúc bình thường, chúng ta không bao giờ nghĩ đến đến các thứ bệnh trong tâm thức, chẳng hạn như thèm muốn, bám víu, đam mê... (kinh sách gọi là kilesa/klesa, là các thứ "xúc cảm hay các yếu tố bấn loạn trong tâm thức", hay các "độc tố tâm thần", kinh sách gốc Hán ngữ gọi là "phiền não"!?). Chúng ta chỉ biết lo sợ về những thứ bệnh tật trên thân xác, e sợ những gì thật kinh khiếp bất thần xảy ra trên cơ thể mình. Dù cố gắng cách mấy để ngăn ngừa chúng và lúc nào cũng cứ nơm nớp mong chúng đừng xảy đến, thế nhưng một lúc nào đó thì chúng ta cũng không sao né tránh được chúng. Thuốc men chữa trị bệnh tật trên thân xác cũng chỉ công hiệu tạm thời mà thôi. Những người từng sống trước đây, dù không bị những thứ bệnh tật ngặt nghèo, nhưng tất cả đều đã từ giã chúng ta. Tất cả đều phải bỏ lại thân xác mình.
        Khi nào biết thường xuyên suy tư theo chiều hướng đó thì các bạn sẽ nhận thấy được sự thật về vô thường, khổ đau và vô ngã đối với bản thân mình. Sau đó dần dần các bạn sẽ quán thấy dễ dàng hơn bản chất ảo giác của mọi sự vật, và buông bỏ chúng ngày càng dễ dàng hơn.
        Các bạn hãy cố gắng buông bỏ và cố nhìn xem: vậy thì ai đang đau đớn đó? Có phải là "mình" đang đau đớn, hay là sự đau đớn phải chăng cũng chỉ là một dhamma ? (dhamma trong trường hợp này có nghĩa là một hiện tượng/sự kiện/biến cố. Nên hiểu rằng chữ dhamma  tiếng Pa-li, tiếng Phạn là dharma, có nhiều nghĩa khác nhau, trong số này có hai nghĩa chính yếu nhất, trước hết là Đạo Pháp/Spiritual Path hay Giáo Huấn của Đức Phật/Buddhadharma, nghĩa thứ hai là "hiện tượng"/phenomenon.) Các bạn phải suy nghiệm thật sâu xa về điều này để nhận thấy rằng thật ra không có một "cái tôi" nào đang đau đớn cả. Căn bệnh (hay cơn đau) không phải là "của mình" mà là của cơ thể, một căn bệnh của thân xác. Cơ thể vật chất và các yếu tố tâm thần đương nhiên phải biến đổi và chịu những sự đau đớn gây ra bởi sự biến đổi đó, thế nhưng trong sự biến đổi và đau đớn ấy không hề có một "cái ngã" nào cả. Các bạn phải tập trung sự chú tâm hướng vào các cảm nhận đó, quan sát chúng, tìm hiểu chúng, hầu quán thấy chúng một cách thật minh bạch (sự đau đớn là của thân xác, là một hiện tượng/dhamma trên cơ thể; bên trong sự đau đớn đó không có "cái tôi" nào cả để cùng đau đớn với nó). Hãy biến sự nhận biết ấy trở nên hoàn toàn trong sáng, nó sẽ giải thoát các bạn khỏi mọi sự đau đớn và bấn loạn. Đấy là cách mà các bạn làm cho tất cả mọi thứ khổ đau phải chấm dứt. Đối với các cấu hợp (cá thể con người là một tổng thể gồm năm thành phần "cấu hợp", kinh sách gốc Hán ngữ gọi là "uẩn") thì chúng cứ tiếp tục hiện ra, già nua, bệnh tật và chết, và đấy là chuyện của chúng. Khi nào các nguyên nhân và điều kiện (cơ duyên) tạo ra chúng không còn hội đủ nữa thì chúng chui vào quan tài.
        Tuy nhiên cũng có một số người rất hãnh diện về sức khỏe của mình, lại bỗng nhiên lăn đùng ra chết. Trong các trường hợp đó tâm thức họ không kịp ý thức về những gì xảy đến với họ. Số phận của họ sẽ tệ hại hơn nhiều so với những người đau ốm nằm dài trên giường, bởi vì người lâm bệnh có cơ hội quan sát sự đau đớn của mình hầu phát huy được sự buông xả. Không nên sợ hãi sự đau đớn! Nếu nó xảy đến thì cứ mặc nó, không nên để cho tâm thức phải đau đớn cùng với nó, mà nên nghĩ như thế này: vậy thì tâm thức mình đã thực hiện được sự trống không về "cái tôi" và cái "của tôi" hay chưa? (xin mạn phép ghi chú thêm là đối với Phật giáo Tây Tạng/Kim Cuơng Thừa và Phật giáo Theravada, thì cảm tính hay sự cảm nhận sau cùng hiện lên trong tâm thức trước khi chết sẽ ảnh hưởng đến sự tái sinh, có nghĩa là sẽ hướng sự tái sinh của mình phù hợp với các cảm tính sau cùng đó. Thí dụ trong khi hấp hối mình biết buông xả, không bám víu bất cứ gì cả, mà chỉ chú tâm phát động lòng từ bi, mở rộng con tim mình..., thì các xúc cảm đó sẽ hướng sự tái sinh của mình vào những hoàn cảnh tốt đẹp. Trái lại các sự sợ hãi, tức giận, lo buồn, bám víu... trong lúc hấp hối sẽ hướng sự tái sinh của mình theo các chiều hướng bất thuận lợi hơn. Do đó trong khi đau ốm không nên để mình bị bấn loạn vì các cơn đau cùng những sự tiếc nuối và bám víu).
        Các bạn nên nhìn vào bên trong chính mình hầu quán thấy mọi sự thật minh bạch, chỉ cần như thế là đủ, không phải tìm hiểu bất cứ gì khác cả. Thuốc thang giúp mình khỏi bệnh hoặc bớt đau đớn là chuyện bình thường; nếu không thấy thuyên giảm thì cũng là chuyện bình thường. Quan trọng hơn cả là trái tim mình (tâm của mình) phải trống không về "cái tôi" và cái "của tôi" (thân xác không phải là tôi, những sự đau đớn là của thân xác không phải là của tôi, kể cả tâm thức cũng không phải là tôi hay của tôi); nếu làm được như thế thì sẽ chẳng có một sự đau đớn nào bên trong nó (tức là trong "trái tim" mình, "trái tim" ở đây có nghĩa là tâm thức và xúc cảm. Trong các ngôn ngữ Á Châu và theo "tâm lý học" Đông Phương thì "tâm thức" nằm trong tim, nói một cách khác là chữ "tâm" có hai nghĩa: tâm thức và trái tim). Đối với sự đau đớn của các cấu hợp thì cứ mặc nó (đau đớn là chuyện tự nhiên của các cấu hợp tạo ra một cá thể).
        Hãy xem đau ốm là một dịp may, được nằm trên giường chẳng phải làm gì cả. Đó là dịp giúp mình luyện tập thiền định về sự quán thấy sâu xa (vipassana) trong từng khoảnh khắc một (trong những lúc khỏe mạnh thì thường xuyên bị xao lãng vì công việc). Dù mình đang được điều trị ở bệnh viện hay nằm nhà thì điều đó không quan trọng cho lắm. Không nên để tâm lo lắng về việc mình được điều trị tại nơi này hay nơi nọ. Hãy trút bỏ ý nghĩ đó và giữ tâm trí trống không về mọi suy nghĩ và thắc mắc. Các bạn không cần phải dán lên tâm thức mình cái nhãn hiệu cho biết là mình đang ở đâu cả (một cách giúp mình buông bỏ sự sợ hãi, và bất toại nguyện vì lo sợ mình không được điều trị đúng mức).    
        Thật ra các cấu hợp không trú ngụ chung với "mình". Chúng hoàn toàn trống không về bất cứ một "cá thể con người" nào trú ngụ bên trong chúng. Chúng hoàn toàn trống không về bất cứ một "cái tôi" hay cái "của tôi" nào. Khi nào tâm thức đạt được thể dạng đó thì nó sẽ không còn cần đến bất cứ gì khác. Nó không đòi hỏi là phải được ở tại nơi này, phải đến nơi khác, hoặc bất cứ đâu. Đấy là sự chấm dứt tuyệt đối của khổ đau và mọi thứ căng thẳng. 
        Khi nào tâm thức không còn bị thâm nhập bởi các cảm nhận thích thú hay đau đớn thì nó sẽ được giải thoát, từ bên trong nó và bởi chính nó, phù hợp với bản chất [nguyên sinh] của chính nó. Tôi khuyên các bạn nên quán xét thật cẩn thận cung cách đó của tâm thức, tức là trong tình trạng trống không của nó, phù hợp với bản chất của chính nó, và cũng có nghĩa là nó không tạo ra cho nó một sự thèm muốn nào, không tìm kiếm một sự thích thú cũng không gạt bỏ một sự đau đớn nào.
        Khi nào tâm trí đã hoàn toàn trống không đúng với bản chất tự nhiên của nó, không còn một cảm tính chiếm hữu nào dấy lên, thì nó cũng sẽ gỡ bỏ được bất cứ nhãn hiệu nào (một dòng chữ nào) dán (viết) lên nó. Dù cho các tư duy có hiện lên thì nó cũng xem chúng hoàn toàn vô thực thể, có nghĩa là trống không về một "cái ngã".  Chúng chỉ là các sự cảm nhận hiện lên và tan biến (tư duy là đối tượng cảm nhận của tâm thức, tương tự như sự đau đớn là đối tượng cảm nhận của thân xác). Các sự cảm nhận lướt qua tâm thức mình và trôi đi, và chỉ có vậy (không thể nào ngăn chận tư duy hiện lên trên dòng luân lưu của tri thức được, thế nhưng không nên để cho chúng gây ra một tác động nào. Trong những lúc ngồi thiền, tư duy vẫn tiếp tục hiện lên, nhưng không nên để cho chúng dừng lại, cứ để chúng nhẹ nhàng trôi đi. Đến một lúc nào đó thì chúng sẽ thưa dần, yếu đi và tan biến hết).
        Tóm lại các bạn phải quan sát các hiện tượng hiện ra và tan biến, nói một cách khác là phải theo dõi sự biến động liên tục của các hiện tượng trong thực tại. Đấy là cách giúp tâm thức tìm thấy sự trống không một khi mà nó không còn gán cho các hiện tượng một ý nghĩa nào nữa, tức không dán một nhãn hiệu (hay viết một dòng chữ) nào lên các hiện tượng ấy mỗi khi chúng hiện lên. Sự "hiện ra và biến mất" đó cũng là đặc tính chung của các cấu hợp (ngũ uẩn tạo ra một cá thể), các bạn phải xem đấy là những gì thuộc bản chất tự nhiên của chúng thế nhưng không được để tâm thức dính líu vào đấy, không nên nắm bắt gì cả. Hiểu được điều đó sẽ mang lại cho các bạn thật nhiều lợi ích.
        Các bạn không thể nào ngăn chận được các sự thích thú và đau đớn xảy đến với mình, cũng không thể ngăn chận tâm thức mình không dán các nhãn hiệu lên mọi sự vật đưa đến mọi thứ tư duy, tuy nhiên các bạn cũng có thể chuyển sự diễn tiến đó theo một chiều hướng khác hơn. Nếu tâm thức dán một nhãn hiệu vào một cảm nhận nhằm nói lên: "Tôi đau", thì các bạn phải tìm hiểu xem cái nhãn hiệu ấy có đúng thật là như thế không, và sau khi đã "đọc" cái nhãn hiệu ấy cẩn thận thì nhất định các bạn sẽ khám phá ra là nó sai. Bởi vì nếu đúng thì cái nhãn hiệu ấy phải nói lên như sau: sự đau đớn ấy nào có phải là tôi đâu, nó hoàn toàn trống không (không có "cái tôi" nào bên trong nó cả). Hơn nữa dù có nghĩ rằng: "Tôi đang đau", thì sự suy nghĩ ấy cũng sai nốt. Các bạn phải hướng vào tư duy qua một góc nhìn khác hơn: có nghĩa là phải xem tư duy là một thứ gì đó vô thường, bất toại nguyện, không phải là thuộc của mình (các cảm nghĩ của mình không trường tồn, mà chỉ phản ảnh các sự bấn loạn luôn biến động trong tâm thức liên quan đến nghiệp của mình, chúng không hàm chứa một bản chất đích thật hay một thực thể nào cả).      
        Dù bất cứ những gì xảy đến với mình thì phải quán xét chúng tường tận và buông bỏ chúng. Các bạn phải thật cảnh giác không được bám víu vào các tư duy và cảm nhận của mình, tâm thức nhờ đó sẽ giữ được sự trống không của nó, phù hợp với bản chất của chính nó. Ngay cả trường hợp mà sự đau đớn trở nên quá gay gắt, hoặc tâm thức rơi vào một trạng thái tiêu cực (lo buồn, sợ hãi, bực tức, yếm thế...) thì các bạn cũng cứ tiếp tục nhìn vào bên trong chính mình, giữ sự tiếp xúc trực tiếp với sự cảm nhận của tâm thức về chính nó, như thế sẽ không có một tư duy nào hiện lên khuấy động mình nữa. Khi nào các bạn cảm nhận được sự trống không của tâm thức thì khi đó nếu có một sự bấn loạn hay một cảm tính bực dọc nào dấy lên khuấy động mình, thì các bạn cũng sẽ hiểu được ngay nguyên nhân làm phát sinh ra nó nhất thiết là một sự hiểu biết sai lầm, không phản ảnh một hiện thực tuyệt đối nào cả. Sự hiểu biết đúng đắn sẽ tức khắc loại bỏ các sự hiểu biết sai lầm.      
        Nếu muốn thường xuyên duy trì được nền tảng của sự hiểu biết đúng đắn như trên đây thì trước hết các bạn phải tập chủ động tâm thức mình, đồng thời tập trung chú tâm để suy tư và tìm hiểu về các hiện tượng đau đớn và khổ đau. Hãy cố duy trì sự chủ động đó cho đến khi nào tâm thức tự nó hòa nhập với sự trống không trong sáng bên trong trái tim (nội tâm) mình. Nếu các bạn thực hiện được điều đó đến chỗ tột cùng thì sự đình chỉ tối thượng của khổ đau cũng sẽ hiện ra tức khắc, đúng vào thời điểm mà tâm thức bắt đầu trở nên trống không.
        Thế nhưng nếu muốn thực hiện được như thế thì các bạn phải luyện tập kiên trì. Mỗi khi sự đau đớn phát hiện dù chịu đựng được hay quá gay gắt thì cũng không nên dán cho nó một nhãn hiệu nào cả. Đối với một sự cảm nhận mang tính cách thích thú cũng thế, cũng không nên xem đó là sự thích thú "của mình". Hãy để cho nó trôi qua, đấy là cách giúp cho tâm thức tìm thấy sự giải thoát trong từng khoảnh khắc một - có nghĩa là nó hoàn toàn trống không về bất cứ một sự nắm bắt hay bám víu nào vào "cái tôi". Các bạn phải luôn vận dụng tất cả sự tỉnh thức và năng lực của mình hướng vào việc thực hiện đó.
        Mỗi khi ốm đau, nằm dài ra đấy để tha hồ suy nghĩ về những nỗi khổ đau của mình, thì đấy là một dịp may giúp mình trông thấy được Con Đường, quán nhận được sự thật sâu xa của mọi sự vật (vô thường, khổ đau và không thật) để mà buông bỏ chúng. Đấy là cơ may của các bạn mà kẻ khác không có được. Nhiều người tất tả, chạy ngược chạy xuôi, xốc vác mọi việc, và dù có tự khoe là tâm trí mình luôn thảnh thơi đi nữa, thì cũng không thể may mắn hơn các bạn được. Một người liệt giường có nhiều cơ may phát huy qua từng hơi thở - ra và vào - một sự quán thấy sâu xa về mọi sự vật. Nếu luyện tập theo Giáo Huấn của Đức Phật thật chuyên cần cho đến khi nào đạt được sự hiểu biết minh bạch về bản chất sâu kín của mọi sự vật - tự chúng là như thế, bởi vì chúng cũng chỉ là như thế - thì đấy là cách cho thấy mình không lãng phí sự hiện hữu dưới thể dạng con người của mình.
        Mỗi khi đề cập đến bản chất đích thật của những gì bên ngoài thì có nghĩa là nói đến sự biến đổi của các hiện tượng trong thực tại, trong đó kể cả năm thứ cấu hợp (ngũ uẩn tạo ra một cá thể). Các bạn nên tìm cách khám phá ra phương cách vận hành của chúng, và một khi đã hiểu được bản chất của sự vận hành ấy thì các bạn tất sẽ phải tỉnh ngộ, không còn bám víu vào chúng và sẽ buông bỏ chúng (năm cấu hợp cũng chỉ là ảo giác, phù du, một sự kết hợp tạm thời nhờ vào cơ duyên mà có). Sau khi tâm thức đã đạt được thể dạng buông bỏ đó thì trong giai đoạn kế tiếp các bạn nên tìm hiểu nó thật cẩn thận xem nó trống không như thế nào và cứ tiếp tục suy tư sâu xa thêm nữa cho đến khi quán thấy được Tánh Không tối thượng. Thể dạng Tánh Không đó nằm ở một nơi sâu kín nhất bên trong bản thể đích thật của các bạn, nơi đó không còn hiện lên bất cứ một sự tạo tác tâm thần nào, không có gì hiện ra cũng chẳng có gì biến mất, không có một sự biến đổi nào nữa cả. 
        Khi nào quán thấy được bản chất của các thứ bên ngoài (trong đó kể cả năm thứ cấu hợp/ngũ uẩn) thật đúng đắn cho đến khi tất cả đều trở nên minh bạch, thì tâm thức sẽ buông bỏ, và tiếp tục buông bỏ. Và cũng tức khắc sau đó các bạn sẽ đương nhiên nhận thấy được một cách thật trong sáng bản thể sâu kín bên trong con người của các bạn - nơi đó hoàn toàn trống không, không cón sự xoay vần giữa sự sinh và cái chết, tuyệt đối không có gì được tạo tác (nên hiểu sự tái sinh và cái chết cũng là những gì hiện lên và biến mất trên dòng luân lưu của tri thức, tương tự như tư duy và xúc cảm xô đẩy nhau hiện ra và biến mất trên dòng tri thức đó. Dòng tri thức sau khi đã loại bỏ được những sự hiển hiện và biến đổi đó trên dòng luân lưu của nó sẽ trở nên tĩnh lặng và an bình). Đó là thể dạng trống không tuyệt đối của Tánh Không, không còn một nhãn hiệu nào, một dòng chữ nào nữa cả. Đấy cũng là những gì mà tôi ước mong các bạn sẽ tự khám phá thấy bên trong tâm thức mình một cách thật trong sáng.     
        Sự trống không bình thường của tâm thức cũng có thể mang lại đôi chút ích lợi (trong cuộc sống thường nhật - chẳng hạn trong những lúc tản bộ hay dạo chơi ở một nơi vắng vẻ - đôi khi chúng ta cũng tìm thấy một sự thảnh thơi, nhàn nhã, không lo lắng hoặc "quên hết" mọi chuyện. Đấy chỉ là cách tạm thời lẫn tránh những sự tấn công dồn dập của các yếu tố bấn loạn/kilesa trong tâm thức mình, nhưng tuyệt nhiên không phải là thể dạng trống không hay Tánh Không đích thật của tâm thức), sự trống không sâu xa ích lợi hơn thế nhiều. Tánh Không đích thật trống không đối với cả bản thể đích thật của tất cả những gì bên trong chính mình. Tánh Không đó mới thật sự đáng để chúng ta khám phá và tìm hiểu nó.
        Tánh Không ấy là một thứ gì đó mà các bạn phải tự mình nhận biết. Không có ngôn từ nào có thể diễn tả được để mà nói lên với các bạn hầu giúp các bạn hình dung ra nó, và các bạn chỉ có thể cảm nhận được nó khi nào các bạn đã thực hiện được nó mà thôi. Tuy nhiên tôi có thể cam đoan với các bạn rằng sớm muộn, vào một lúc nào đó thì nhất định các bạn cũng sẽ buông bỏ được tất cả mọi sự vật trong một thể dạng mà người ta gọi là "không còn một dấu vết nào lưu lại" (sự giác ngộ).
        Nếu các bạn kiên trì phát huy đều đặn sự quán thấy nội tâm như trên đây trong từng ngày và từng khoảnh khắc một, thì cái "khoảnh khắc mà tâm thức buông bỏ được tất cả không còn một dấu vết nào lưu lại" sẽ tự động hiện lên với mình. Tâm thức sẽ "nhận biết" được thể dạng đó của nó bởi chính nó và từ bên trong chính nó. Do đó các bạn không nên để tâm thức bị chi phối bởi các cảm nhận thích thú hay đau đớn. Các bạn hãy thường xuyên tập trung sự chú tâm vào sự lắng sâu của tâm thức bên trong nó và bởi chính nó. 
        Các bạn không nhận thấy những gì trên đây thật hết khác biệt so với những lúc trước đây khi các bạn còn sung sức và khỏe mạnh, chạy ngược chạy xuôi, lo toan hết chuyện này đến chuyện khác hay sao? Vì thế chẳng có gì tệ hại khi phải gánh chịu sự đau đớn. Sở dĩ tệ hại là vì mình quá dại dột dán các nhãn hiệu lên mọi sự vật để mà gán cho chúng một ý nghĩa nào đó. Thông thường khi trông thấy một kẻ nào đó ốm đau và chết thì lúc đó người ta mới thức tỉnh và nghĩ đến sự phù du của sự sống. Trong những lúc bình thường không mấy ai nghĩ đến cái bản chất ấy của chính mình, hoặc có nghĩ đến đi nữa thì cũng chỉ được một lát, sau đó thì quên ngay và lại đầu tắt mặt tối lao mình vào các chuyện lo toan khác. Họ không bao giờ biết để cho sự thật ấy thấm sâu vào con người mình để mà suy nghĩ về bản chất vô thường không bao giờ bỏ quên mình. Khi mà họ còn đủ sức để làm hết việc này đến việc khác, suy nghĩ hết chuyện này đến chuyện nọ, kể hết câu chuyện này bắt sang câu chuyện kia, thì đấy là cách khiến họ mất hết định hướng trong cuộc sống mà thôi.    
        Việc luyện tập thiền định về sự quán thấy sâu xa (vipassana) không phải chỉ cần theo một khóa ẩn cư trong vài tháng là đủ. Tu tập như thế không thể so sánh được với những gì các bạn đang làm (những người đến tu tập với bà Upasika Kee Nanayon trong ngôi chùa của bà), có nghĩa là phải luyện tập mỗi ngày, từ sáng đến chiều và cả ban đêm, chỉ trừ khi ngủ. Mỗi khi sự đau đớn vụt trở nên gay gắt thì đấy là lúc thuận lợi nhất để thiền định, bởi vì đó là dịp giúp mình ý thức được một cách thật minh bạch vô thường là gì, đau đớn là gì, khổ đau là gì và sự bất lực của mình trước tình trạng biến động của mọi sự vật là gì.
        Vậy các bạn phải tìm hiểu những thứ ấy ngay tại nơi này, trước mắt các bạn trong lúc này. Do đó các bạn không nên tránh né sự đau đớn. Hãy luyện tập thiền định về sự quán thấy sâu xa hầu nhận thấy bản chất đích thật của sự đau đớn cũng đơn giản chỉ là một dhamma (hiện tượng/pháp), và sau đó thì cứ để cho nó trôi qua, trôi qua và trôi qua. Nếu làm được như thế thì các bạn sẽ không bị nó đánh lừa mình. Đấy là con đường đưa đến sự giải thoát khỏi khổ đau. 
        Và đấy cũng là việc cần phải làm trước khi cái chết xảy đến với mình, các bạn phải luôn để tâm đến điều đó, không nên chờ cái chết gần kề thì mới luyện tập! Phải luyện tập thật đều đặn, luôn nhìn vào bên trong chính mình. Nếu căn bệnh thuyên giảm thì các bạn sẽ tự nhận biết từ bên trong chính mình, nếu gia tăng thì các bạn cũng sẽ nhận biết từ bên trong chính mình (căn bệnh ở đây là sự khổ đau của tâm thức, tu tập có thăng tiến hay không thì mình phải tự nhận biết lấy mình, người thầy không đoán được chuyện đó). Nếu phát huy được tầm nhìn hướng vào bên trong chính mình theo phương cách đó thì tâm thức sẽ vượt thoát sự đần độn và các sự quán thấy sai lầm của nó về mọi sự vật, nói một cách khác thì những sự thèm muốn và ô nhiễm (kilesa/các xúc cảm bấn loạn trong tâm thức) sẽ không còn gây tác hại cho tâm thức như trước đây nữa.    
        Đây là cơ hội giúp các bạn tu tập Dhamma (Dhamma trong trường hợp này là Đạo Pháp hay Giáo Huấn của Đức Phật, không có nghĩa là một hiện tượng), vậy các bạn nên dồn tất cả nghị lực và sự tỉnh giác vào việc đó. Hãy xem kiếp sống này là kiếp nhân sinh cuối cùng của mình. Không nên tái sinh trở lại, nếu không thì mọi sự lại cũng sẽ chẳng khác gì như hiện nay, các khó khăn cũ rích lại xảy đến với mình, và cứ thế chúng theo nhau xảy đến, không dừng lại được. Một khi sự sinh xảy ra thì tiếp theo đó sẽ có sự già nua, bệnh tật và cái chết. Tất cả đều phù hợp với sự ô nhiễm (kilesa/các sự bấn loạn) bên trong tâm thức các bạn, các bạn sẽ cảm nhận được hậu quả mang lại từ các hành động nối tiếp nhau của mình (hành động tức là nghiệp, càng hối hả hăng say, nghiệp càng xô đẩy nhau hiện lên và lưu lại các dấu vết trên dòng tri thức của mình), tốt cũng có, xấu cũng có. Nói chung đấy là chu kỳ xoay vần của khổ đau. Vậy tốt hơn hết là nên thoát khỏi sự sinh. Các bạn không nên để mình thèm khát, bởi vì bất cứ gì mà mình thèm khát đều là vô thường, khổ đau và vô thực thể.    
        Sự thèm khát (desire/ham muốn, bám víu) phát sinh từ các yếu tố bấn loạn trong tâm thức (trong bản tiếng Anh là "defilement and craving", trong bản tiếng Pháp bà Jeanne Schut dùng thẳng tiếng Pa-li là "kilesa" để chỉ định những sự bấn loạn này). Các bạn phải loại bỏ các thứ ấy ngay tại vị trí mà chúng hiện ra (vị trí ở đây có nghĩa là lục giác gồm: ngũ giác và tâm thức). Thèm khát cũng chỉ đơn giản là một sự ham muốn giác cảm, ham muốn dục tính, ham muốn được trở thành như thế này hay thế kia (phản ảnh sự thích thú) hoặc không trở thành(nói lên sự ghét bỏ) - tất cả sẽ khiến hạt giống của sự sinh nẩy mầm trong tim (tâm) mình. Vì thế các bạn phải tập trung tất cả sự chú tâm hướng thẳng vào bên trong chính mình, nhìn đúng vào những gì cần phải nhìn, hầu giúp mình hiểu rằng sự bám víu dù có thể đưa đến sự sinh qua một sự tiếp xúc giác cảm (tức mang lại cho mình các sự ham muốn, thích thú, ghét bỏ là các nhân tố trói buộc mình vào vòng luân hồi), thế nhưng ở cấp bậc tâm thức, tức là trên dòng tri thức, thì chỉ nên xem nó là một sự "hiểu biết" và cứ để cho sự "hiểu biết" ấy  tự buông bỏ chính nó (không nên chuyển nó trở thành tác ý hay hành động). Đấy là những gì mà các bạn phải luyện tập cho đến khi hoàn toàn thuần thục.
        Hãy thật tỉnh giác để ý thức sự hiểu biết trong tâm thức mình và buông bỏ "những gì hiểu biết". Thực hiện được như thế rất hữu ích, vì đấy là cách giúp mình không rơi vào cái bẫy của chúng, tức là không bám víu vào những gì mình hiểu biết hay các quan điểm của mình (cảm nhận được một sự hiểu biết trong tâm thức cũng tương tự như dán một nhãn hiệu hay viết một dòng chữ lên trên sự cảm nhận ấy của mình, nói một cách khác là tâm thức tự động diễn đạt sự cảm nhận ấy bằng cách gán cho nó một ý nghĩa. Ý nghĩa ấy trực tiếp liên hệ với nghiệp đang vận hành bên trong tâm thức, phản ảnh tình trạng vô minh trong tâm thức mình. Bà Upasika Kee Nanayon thường gọi sự hiểu biết - nhãn hiệu hay sự diễn đạt trong tâm thức - là cách mà "tâm thức tự nó giăng ra cái bẫy để đánh lừa nó". Vì thế phải "buông bỏ những gì hiểu biết và cả những gì mà nó hiểu biết", đấy là ý nghĩa của câu trên đây). Nếu những gì mình biết là đúng thì cũng cứ buông bỏ chúng, nếu là sai thì cũng buông bỏ chúng. Nguời ta gọi đấy là sự buông bỏ những gì "mình biết" nhằm không gây ra một sự vướng mắc nào(không bám víu vào bất cứ gì kể cả sự hiểu biết của mình). Làm được như thế sẽ giúp cho tâm thức không nắm bắt bất cứ gì hiện ra bên trong nó. Ngay khi vừa ý thức được một sự vật (một điều) nào đó thì tức khắc các bạn phải buông bỏ nó. Phải giữ cho tâm thức luôn trống không, trống không tất cả mọi thứ tạo tác tâm thần và tư duy, trống không mọi thứ ảo giác có thể thâm nhập vào bên trong nó. Tâm thức phải tức thời nhận biết xuyên qua chúng và buông bỏ chúng, phải thật tỉnh giác và buông bỏ ngay, không nên nắm bắt bất cứ gì cả. Duy nhất chỉ có sự trống không là còn sót lại trong tâm thức mình mà thôi...  
        Dần dần từng chút một các bạn sẽ nhận thấy kết quả mang lại từ việc luyện tập và sự quán thấy của mình, giúp mình buông bỏ tất cả, buông bỏ cả ý nghĩ cho rằng "mình" là người đang đau đớn, " mình" là người đang hấp hối. Đau đớn và hấp hối là chuyện của các cấu hợp (ngũ uẩn), giản dị chỉ có thế. Khi nào sự hiểu biết trên đây trở nên thật trong sáng và vững chắc - có nghĩa là mình có thể thốt lên: "Chuyện đó không dính líu gì đến tôi, chẳng có "cái tôi" nào trong đó cả" - thì khi đó chỉ còn lại một tâm thức trống không, hoàn toàn không có một nhãn hiệu (một dòng chữ) nào áp đặt lên nó để chỉ định nó. Đấy là bản chất của một tâm thức khi đã loại bỏ được mọi mầm mống hoang mang và lầm lẫn mà trước kia đã khiến nó tin vào hết thứ này đến thứ kia. Sở dĩ các mầm mống đó bị diệt trừ ấy là nhờ chúng ta biết quán xét chúng và buông bỏ chúng. Vậy chúng ta hãy phát huy sự tỉnh giác bên trong tâm thức và buông bỏ bất cứ gì hiện lên, và đến một lúc nào đó thì tâm thức sẽ trở nên trống không - trong sáng một cách tự nhiên, từ bên trong nó và bởi chính nó.
        Khi quay nhìn vào bên trong chính mình thì mình sẽ trông thấy tri thức hiện lên và biến mất, bởi vì bản chất của nó là như thế. Nó không thật sự hàm chứa một thực thể nào cả - đấy chỉ là những gì mà chúng ta nhận thấy khi nhìn vào các thể tính cơ bản của nó (vinnana-dhatu(vinnana-dhatu còn gọi là "thành phần tri thức", tức là thành phần thứ 18 trong số 18 thành phần "thể-xác-tâm-thần" tạo ra các điều kiện thích nghi mang lại sự nhận thức cho một cá thể. Mưới tám thành phần này gồm có: 1-thị giác, 2-đối tượng của thị giác, 3-tai, 4-đối tượng của thính giác..., 16-thành phần tâm thần, 17-đối tượng của tâm thần, và sau hết là 18-thành phần tri thức/vinnana-dhatu). Khi nào tri thức không tham gia vào sự vận hành chung của các thành phần thể-xác-và-tâm-thần khác (tức là các cấu hợp/ngũ uẩn tạo ra một cá thể) thì nó chỉ đơn giản ý thức về chính nó - tức là thể dạng tỉnh thức, tinh khiết và đơn sơ của nó. Do đó người ta còn gọi nó là "tâm thức tinh khiết và đơn sơ" hay "phẩm tính tinh khiết và đơn sơ của tri thức", bởi vì tự nó và bởi chính nó là như thế, và rồi nó cũng sẽ buông bỏ cả chính nó (nói một cách khác thì đấy là thể dạng "tri thức nguyên sinh" của một cá thể). Khi người ta khuyên các bạn hãy chú tâm để hiểu biết (ý thức) và buông bỏ sự hiểu biết (sự ý thức) ấy thì đấy có nghĩa là phải chú tâm để ý thức được tri thức cảm nhận mọi sự vật, và sau đó thì tự nó cũng sẽ buông bỏ cả chính nó (kể cả những gì mà nó cảm nhận được).
        Đối với "cấu hợp tri thức" (vinnana-khandha) thì đấy là một thể dạng tri thức gây ra đủ mọi thứ rắc rối (xin lưu ý thuật ngữ "cấu hợp tri thức"/vinnana-khandha khác hơn với "thành phần tri thức"/vinnana-dhatu nói đến trên đây.  Chữ dhatu/thành phần chỉ định một yếu tố mang tính cách đồng nhất và "đơn thuần" hơn, chẳng hạn như chữ này cũng được dùng để chỉ định 5 "thành phần" tạo ra thân xác một cá thể là: đất, nước, lửa, khí và không gian. Trong khi đó chữ khanda tiếng Pa-li, tiếng Phạn là skhanda, có nghĩa là một cấu hợp/uẩn. Vinnana-khandha là "cấu hợp tâm thân" hay tri thức - kinh sách gốc Hán ngữ gọi là "thức" - và cũng là cấu hợp thứ năm trong số năm thứ cấu hợp/ngũ uẩn tạo ra một cá thể. Nếu vinnana-khandha là một thể dạng cấu hợp thì đương nhiên nó phải là ô nhiễm, vô thường và khổ đau, tương tự như tất cả mọi hiện tượng cấu hợp khác). Các sự hoang mang và lẩm lẫn ngày càng chồng chất thêm bên trong thể loại tri thức này (tức là "cấu hợp tri thức" hay là "thức" theo kinh sách tiếng Hán, nói một cách nôm na là "tâm thần" hay "nội tâm" của mình) xui dục mình bám víu vào "cái tôi" của mình. Mặc dù thể loại tri thức này có khả năng buông bỏ được các sự đau đớn trên thân xác cũng như các hiện tượng khác liên quan đến thể xác và tâm thần nói chung (uẩn), nhưng lại luôn bám chặt vào cảm tính về một cái tôi. Do đó nếu tôi khuyên các bạn hãy ý thức về sự buông bỏ những gì mình ý thức được(hiểu biết được) thì đấy cũng có nghĩa là buông bỏ thể dạng tri thức này (nó chỉ là một thứ cấu hợp), và phải đẩy tối đa sự buông bỏ đó đến một mức độ mà nó không còn một dòng chữ hay một nhãn hiệu nào để dán lên chính nó. Đấy là cách khiến nó trở nên trống không. Một khi các bạn hiểu được điều này, hoặc nói một cách khác là các bạn uốn nắn được tim mình và tâm thức mình phù hợp với tầm nhìn đó, thì sẽ chẳng còn lại bất cứ một thứ gì cả. Các sự đau đớn, khổ đau, căng thẳng, cũng như các mối lo buồn sẽ không còn mang một ý nghĩa nào cả, không còn là tốt hay xấu, hoặc là bất cứ thứ gì. Tính cách nhị nguyên (tôi và kẻ khác, đối tượng và chủ thể, tốt và xấu, đúng và sai...) không còn gây ra một tác động nào đối với mình nữa. Nếu ý thức được điều đó - nhờ vào một tri thức không nắm bắt bất cứ một thứ gì - thì các bạn sẽ hoàn toàn tránh được mọi sự tạo tác tâm thần.
        Các hình thức nhị nguyên tạo dựng ra cái tốt cái xấu (sự nhị nguyên sẽ đưa đến sự phân biệt), thế nhưng chúng không hàm chứa một thực thể nào cả (các sự phân biệt không hàm chứa một giá trị tuyệt đối nào).Chúng hiện ra là như thế, chúng tan biến thì cũng chỉ là như thế, hết sức đơn giản và tự nhiên. Những gì trên đây cho chúng ta thấy tại sao các hình thức nhị nguyên lại uốn nắn sự vận hành của tâm thức theo một mô hình xoắn ốc, biến tâm thức - đúng hơn là tri thức - trở thành thành một sự xoay vần bất tận gồm các chu kỳ nối tiếp nhau. Khi nào các bạn ý thức được sự hiểu biết buông bỏ sự hiểu biết (tức buông bỏ chính nóthì bên trong tri thức các hình thức nhị nguyên không còn mang một ý nghĩa nào nữa. Trong thể dạng đó của tri thức sẽ không còn một sự nắm bắt bất cứ một nhãn hiệu nào hay một dòng chữ nào nhằm chủ đích chỉ định tính cách tốt hay xấu, thích thú hay đau đớn, đúng hay sai, hay bất cứ thứ gì khác. Các bạn chỉ cần tiếp tục buông bỏ và buông bỏ.    
        Đối với sự hiểu biết buông bỏ những gì mà nó hiểu biết thì sẽ khó có một từ nào có thể diễn tả được điều đó, không có "cái tôi" nào để mà "hiểu biết" cả, cũng chẳng có một "cái tôi" nào để mà "trông thấy"cả. Thế nhưng đấy lại là một sự hiểu biết thật sâu sắc, đòi hỏi một sự cố gắng nào đó để có thể nhận biết được điều ấy một cách minh bạch và đúng đắn. Các bạn phải tiếp tục quan sát với tất cả sự sáng suốt, một sự sáng suốt xuyên qua sự quán thấy của chính mình. Điều này vô cùng quan trọng bởi vì đó là một thứ duy nhất có thể mang lại sự Giác Ngộ cho các bạn. Sự hiểu biết của các bạn phải tinh tế, khéo léo, phải luôn duy trì được các phẩm tính đó, nếu không thì sự hiểu biết của các bạn về bản chất đích thật của mọi sự vật - thuộc lãnh vực bên ngoài cũng như bên trong nội tâm - sẽ không hoàn toàn trong sáng. Nó sẽ bị chận lại ở các cấp bậc sơ đẳng nhất của tánh không, và tiếp tục dán một nhãn hiệu lên mọi sự vật để mà bám víu vào chúng, và sau cùng sẽ khiến cho mọi sự trở nên rắc rối thêm mà thôi. Thể loại "tánh không" này không thể mang ra so sánh với Tánh Không đích thật trên đây: có nghĩa là những gì hiểu biết tự loại bỏ chính nó ngay từ bên trong thể dạng tri thức tinh khiết và đơn sơ của chính nó. Hãy cố gắng giữ cấp bậc tri thức trên đây thật vững chắc. Nếu bất chợt các bạn dánh mất nó thì phải quay lại để tìm nó  Các bạn sẽ nhận thấy rằng khi nào không nắm bắt một nhãn hiệu hay một ý nghĩa(một dòng chữ hay sự diễn đạt) nào, thì các tư duy nói lên cái tốt hay cái xấu (sự phân biệt) cũng sẽ dừng lại ngay. Chúng sẽ tan biến hết. Đức Phật dạy chúng ta hãy nhìn vào thế giới như là một sự trống không. Quả đúng thế, đấy là cách mà chúng ta phải nhìn vào thế giới này. 
        Tánh Không hiện ra khi tâm thức không gán cho mọi sự vật một ý nghĩa nào cả, không tạo tác cũng không bám víu. Đấy là cách mà nó trở nên trống không. Khi nào phát huy được sự cảm nhận đúng đắn về thể dạng trống không của tâm thức thì các bạn sẽ không còn bị lôi cuốn (quyến rũ, thu hút) bởi bất cứ gì nữa cả. Nếu chưa tập trung được sự chú tâm đúng theo phương cách đó thì các bạn cũng chỉ sẽ thực hiện được một thứ tánh không hời hợt mà thôi, và các bạn lại tiếp tục bị xao lãng bởi hết chuyện này đến chuyện khác, khiến tánh không ấy bị xao động. Thể loại tánh không đó chỉ đơn giản là một tình trạng hoang mang tâm thần. Tâm thức các bạn luôn bị bủa vây bởi các sự hoang mang đủ loại bởi vì các bạn không phân tích được mọi sự vật ở một cấp bậc thật sâu xa. Các bạn chỉ đùa cợt với khái niệm về tánh không mà thôi. Nếu muốn đạt được các cấp bậc sâu sắc của Tánh Không thì các bạn phải nhìn vào bên trong chính mình hầu phát huy một sự chú tâm thật bền vững để quán xét các sự vật, cho đến khi nào quán thấy được minh bạch bản chất đích thật của chúng xuyên qua các hiện tượng trong thực tại đang hiện ra và biến mất trước mắt mình. Tâm thức trong thể dạng đó sẽ không còn bị lôi cuốn bởi những gì đang xảy ra, không còn dán lên cho chúng một nhãn hiệu nào, cũng không nắm bắt một ý nghĩa nào nữa.      
        Nếu quán thấy đúng đắn được thể dạng Tánh Không đó thì sẽ không còn một khó khăn nào xảy ra, không còn một nhãn hiệu nào dán lên cái đống hỗn độn của các hiện tượng thể xác và tâm thần (các cấu hợp/ngũ uẩn tạo ra một cá thể) nữa. Khi xảy đến giây phút mà tất cả những thứ ấy phải tan rã hết (chết) thì chẳng có gì phải hoảng hốt, chẳng có gì phải lo buồn, bởi vì đấy là cách mà mọi sự vật ra đi một cách tự nhiên. Chỉ vì bám víu vào chúng mà chúng ta mang lại khổ đau cho mình mà thôi (dưới một góc nhìn khác thì sự bám víu đó là những gì phản ảnh "bản năng sợ chết" của chính mình).
        Dhamma (Đạo Pháp/Giáo Huấn của Đức Phật hay Sự Thật nêu lên qua những lời thuyết giảng của Đức Phật) đang ngụ tại nơi này, ở ngay bên trong thân xác và tâm thức mình. Chỉ vì chúng ta không trông thấy được nó, hoặc có thấy thì cũng chỉ là một cách thấy sai lầm, cho nên chúng ta nắm bắt nó để mà mang lại khổ đau cho mình (tu tập không đúng với Giáo Huấn của Đức Phật cũng là một hình thức bám víu, chẳng những không ích lợi gì mà còn mang thêm khổ đau cho mình mà thôi). Nếu chúng ta nhìn vào mọi sự vật với một sự chú tâm thật cao độ và một sự suy xét minh bạch thì không có gì có thể khiến chúng ta phải khổ đau cả. Tại sao lại phải sợ hãi trước sự đau đớn và cái chết? Và nếu cứ sợ hãi thì có lợi lộc gì đâu? Các hiện tượng thân xác và tâm thần bắt buộc phải tuân theo bản chất của chúng. Thế nhưng tại sao chúng ta lại phải lăn xả vào đấy để mà nắm bắt chúng và cho rằng các sự đau đớn và khổ đau của chúng là của mình? Nếu hiểu rằng sự nắm bắt đó sẽ khiến chúng ta khổ đau và tiếp tục khổ đau, qua từng hơi thở một, thì những gì mà chúng ta nên làm là buông bỏ tất cả, và chúng ta sẽ nhận thấy rằng sự giải thoát khỏi khổ đau nào có xa xôi gì đâu, mà nằm ngay trước mặt mình.   
        Vậy thì các bạn hãy cố gắng nhìn vào bên trong chính mình theo cách mà tôi đã giải thích trên đây hầu luôn giữ được sự tỉnh giác cho tâm thức mình, nhưng tuyệt nhiên không nên ghép thêm cho nó chữ "tâm thức" hay bất cứ thứ gì khác (bên trong sự trống không tuyệt đối tâm thức cũng sẽ tan biến. Tâm thức dưới thể dạng cấu hợp - vinnana-khandha -  chỉ là một phương tiện chuyển tải Tánh Không - cũng như tất cả tư duy và các xúc cảm bấn loạn khác. Sự thực hiện Tánh Không sẽ tự động loại bỏ tất cả, trong đó kể cả chính nó với tư cách là một "chủ thể" nhận biết các "đối tượng". Do đó không nên nghĩ rằng "tâm thức" mình đạt được "Tánh Không" mà nên để cho Tánh Không tỏa rộng bao trùm nó, khiến nó lu mờ, thu nhỏ và tự tan biến bên trong Tánh Không). Cứ để cho mọi sự vật được là như thế, đúng với chúng là như thế, tự chúng là như thế và bởi vì chúng cũng chỉ là như thế: tinh khiết và đơn sơ. Chỉ cần làm được như vậy là cũng đủ. Các bạn không cần tìm hiểu ý nghĩa hay khám phá ra bất cứ một nhãn hiệu nào để dán lên bất cứ thứ gì. Đấy chính là sự chấm dứt của khổ đau. Khi mọi sự tan biến vĩnh viễn thì cũng có nghĩa là chúng tan biến ngay từ cấp bậc bản thể (thể tính) cơ bản nhất của tri thức (elemental property of consciousness) một khi nó đã vượt thoát được mọi sự bấn loạn mang mầm mống đưa đến sự tái sinh. Đấy cũng là sự chấm dứt của tất cả, không còn sinh, tử, hay bất cứ gì khác (thực hiện được sự đình chỉ tuyệt đối tức là Niết-bàn ngay trong giây phút hiện tại này).   
        Thiền định là một thứ gì đó mà mình phải tự luyện tập cho mình (chư Phật và tất cả mọi người khác đều có thể giúp mình đủ mọi mặt, thế nhưng sự sáng suốt thì chỉ có mình mới mang lại được cho mình mà thôi). Một sự hiểu biết minh bạch và đúng đắn về mọi sự vật nhờ vào sự chú tâm và quán xét của mình chính là khí cụ giúp mình hành thiền. Nếu tâm thức được luyện tập và trở nên sắc bén nhờ vào sự chú tâm và quán xét thì chính đấy cũng là một cách giúp nó quán xét lấy chính nó, và nhờ đó tất cả các sự bấn loạn (kilesa) chẳng hạn như các thứ ô nhiễm, nắm bắt và bám víu, dần dần sẽ bị nhổ bỏ và quét sạch. Qua những gì từng luyện tập chẳng lẽ các bạn không nhận thấy mình đã đạt được một cấp bậc giải thoát đáng kể hay sao? (vậy người đọc cũng nên tự hỏi sau khi đọc đến đây thì mình có đạt được một chút giác ngộ nào hay không, hay đã quên những gì mà mình vừa đọc?). Tâm thức không phải lo lắng về một thứ gì cả, không cần phải tham gia vào bất cứ việc gì. Hãy buông bỏ tất cả những gì bên ngoài và cứ tiếp tục buông bỏ như thế cho đến khi nào tâm thức tự buông bỏ chính nó. Khi nào thực hiện được như thế thì không thể nào lại không trông thấy giá trị vô biên của Dhamma (Đạo Pháp hay Giáo Huấn hay "Sự Thật" nêu lên trong các lời giảng dạy của Đức Phật).  
        Tôi cầu mong các bạn luôn loại bỏ được khỏi tâm thức mình mọi sự bám víu và cảm tính về "cái tôi", hầu giúp tâm thức các bạn trở nên trong sáng hơn để nhìn Thấy Dhamma. Cầu mong sao các bạn thực hiện được điều đó trong từng khoảnh khắc một và bất cứ lúc nào trong cuộc sống của các bạn. Tất cả chỉ là như thế và cũng chỉ có thế.

Phần II
        Đạt được một sự hiểu biết căn bản về Tánh Không thật hết sức hữu ích để giúp mình nghe giảng Dhamma(Đạo Pháp) dễ dàng hơn. Điều này cũng tương tự như được uống một bát thuốc bổ. Mỗi khi đau ốm thì quả hết sức khó tránh khỏi các sự đau đớn làm cho mình xao động, thế nhưng nếu làm ngơ không chú ý đến chúng thì chúng cũng chỉ gây ra khó khăn cho thân xác, tâm thức không liên hệ gì với những thứ ấy. Trong lúc nghe giảng các bạn nên ý thức về điều đó: tâm thức phải buông bỏ mọi sự đau đớn thì mới nghe giảng được. Cứ phó mặc sự đau đớn cho thân xác thì tâm thức sẽ trống không.   
        Khi nào tâm thức đã quán thấy được một cách chân thật rằng tất cả những gì cấu hợp đều là vô thường thì tất nó sẽ buông bỏ mọi sự bám víu (thật ra khái niệm về vô thường là một trong những khái niệm dễ hiểu nhất trong giáo lý Phật giáo. Thí dụ nhìn vào chính mình thì sẽ nhận thấy ngay mình là một sự cấu hợp, gồm đầu mình, chân tay, ruột gan, máu mủ, tâm thần với đủ mọi thứ xúc cảm: yêu thương, ghét bỏ, sợ hãi, tức giận, bật cười một mình hay đau buồn và nước mắt ràn rụa..., cái tổng thể phức tạp ấy là một thể dạng "cấu hợp", do đó nó sẽ già, ốm đau và chết: đấy là bản chất vô thường của một cá thể con người, vậy không nên suốt ngày lo lắng cho nó. Chén đĩa trong bếp làm bằng đất sét, tráng men, vẽ hoa, được nung cho cứng là những thứ cấu hợp, sớm muộn chúng cũng sẽ nứt rạn, sứt mẻ hay vỡ tan, vì thế nếu con cái có lỡ tay đánh vỡ thì không nên chửi mắng hay nặng tay với chúng. Khi nào hiểu thật sâu xa rằng tất cả những gì chung quanh mình, trên thân xác mình và trong tâm thức mình đều là những thứ cấu hợp, có nghĩa là vô thường, không có một ngoại lệ nào cả, thì chúng ta sẽ tìm thấy sự nhẹ nhõm thật dễ dàng. Trái lại nếu bám víu vào những thứ trường tồn, bất biến và toàn năng thì chúng ta đều biết những gì đang xảy ra trên thế giới này!). Khó khăn nếu có là vì chúng ta không thật sự nhận biết được điều ấy hoặc không chịu suy nghĩ sâu xa. Một khi nhìn thấy được điều đó thì tức khắc tâm thức sẽ bừng sáng lên. Một sự hiểu biết minh bạch sẽ khiến cho tâm thức rạng rỡ. Vì thế các bạn phải luôn giữ sự chú tâm thật vững chắc. Dù không có nhiều hiểu biết trong lãnh vực này đi nữa thì cũng chỉ cần giữ tâm thức trong thể dạng thăng bằng ở cấp bậc sơ đẳng nhất của sự trung hòa và Tánh Không cũng được. Làm được như thế thì cũng đủ giúp mình không quá lo sợ những sự đau đớn trên thân xác và không quá quan tâm đến chúng. 
        Do đó các bạn chỉ nên duy trì việc nhận biết về sự đau đớn ở thể dạng khi nó vừa mới chớm hiện lên đơn giản như là một sự cảm nhận của thân xác. Sự đau đớn ấy là của thân xác, không nên để tâm thức phải đau đớn cùng với nó! Nếu cứ để tâm thức khổ đau vì những sự đau đớn của thân xác thì các bạn sẽ khiến cho tình trạng trầm trọng thêm mà thôi. Vì thế trước hết các bạn phải bảo vệ tâm thức, giúp nó biết buông bỏ mọi sự vật, và sau đó thì quay nhìn vào bên trong chính mình, hướng vào nơi sâu kín nhất của tri thức mình và an trú nơi đó. Các bạn không bắt buộc phải dính líu vào các thứ đau đớn bên ngoài. Kể cả trường hợp các bạn cắn răng chịu đựng thì biết đâu các bạn cũng sẽ không kham nổi. Tốt hơn hết là nên an trú trong thể dạng sâu kín nhất của tâm thức bên trong chính mình, đấy là cách giúp mình gạt bỏ tất cả mọi thứ sang một bên
        Sau đó nếu cơn đau giảm xuống thì hãy cố gắng quan sát nó. Giữ tâm thức trong trạng thái bình thường, trung hoà và bình thản, bằng cách phát động Tánh Không bên trong nó. Tâm thức tiếp tục quan sát cơn đau trong lúc nó giảm dần và tan biến. Ngược lại nếu cơn đau gia tăng và trở nên gay gắt thì hãy nhìn vào bên trong chính mình, bởi vì nếu chỉ biết cắn răng chịu đựng mà không đủ sức thì sự mong muốn (desire) sẽ chen vào, mong muốn tống khứ được cơn đau, hoặc mong muốn thay thế nó bằng sự an lành. Thế nhưng thật ra thì sự mong muốn đó chỉ là cách khiến cho mọi sự càng trở nên trầm trọng thêm, mang lại một sự bấn loạn khủng khiếp trong tâm thức mình.  
        Vậy đối với các khó khăn cấp bách thì phải đối phó như thế nào. Nếu sự đau đớn xảy đến bất thần và quá gay gắt thì các bạn phải tức khắc quay nhìn vào bên trong chính mình và tập trung sự chú tâm hướng thẳng vào tâm thức. Các bạn không nên lo lắng cho thân xác và các cơn đau đớn của nó. Mặc kệ chúng, hãy chú tâm thật mạnh vào nơi sâu kín nhất của tri thức. Tập trung tất cả sự chú tâm của mình vào đó cho đến khi nào quán thấy được thể dạng tinh khiết của tâm thức không tham dự vào sự đau đớn của thân xác, thì khi đó các bạn sẽ dừng lại ở thể dạng tâm thức thật trong sáng và bền vững đó. Khi sự chú tâm đã hướng được vào bên trong một cách vững chắc và trong sáng thì dù cho sự đau đớn trên thân xác có như thế nào thì đấy cũng chỉ là chuyện liên quan đến các hiện tượng tâm thần và thể xác, tâm thức không dính líu gì đến những thứ ấy. Nó đứng ra ngoài và buông bỏ tất cả (các hiện tượng tâm thần và thể xác ở đây có thể hiểu là các cấu hợp/ngũ uẩn tạo ra một cá thể, thể dạng tinh khiết của tâm thức vượt ra ngoài và lên trên các cấu hợp ấy).
        Khi nào các bạn đã thuần thục với phép luyện tập này thì khả năng hướng sự chú tâm vào bên trong chính mình mà mình đã luyện tập được sẽ giúp mình rất nhiều, bởi vì những gì quan trọng nhất trong cuộc sống không thuộc vào các bối cảnh bên ngoài, mà hoàn toàn nằm sâu bên trong tâm thức. Nếu hiểu được điều đó một cách đúng đắn thì chúng ta sẽ không còn hướng ra bên ngoài để nắm bắt cái này hay cái kia nữa. Chúng ta sẽ không còn nắm bắt bất cứ thứ gì nữa, bởi vì khi nào còn nắm bắt thì chúng ta sẽ còn tạo ra những khổ đau vô ích. Sự an vui của tâm thức cũng đơn giản chỉ là tình trạng mà nó không còn nắm bắt bất cứ gì cả, và cũng không thèm khát/mong muốn một thứ gì cả. Trong tình trạng đó tất cả những sự bất toại nguyện, tất cả mọi thứ khổ đau đều biến mất: nơi đó nằm bên trong tâm thức mình.  
        Trái lại, nếu các bạn không thật sự hiểu được mọi sự vật là gì thì tâm thức sẽ không sao buông bỏ chúng được. Nó sẽ hướng vào các sự vật bên ngoài để mà bám víu vào chúng với tất cả sức lực của nó, chẳng qua là vì nó tìm thấy hương vị trong những thứ ấy. Sớm muộn chắc chắn chúng sẽ mang lại khổ đau và bất toại nguyện, thế nhưng tiếc thay tâm thức đã bị mù quáng bởi những gì đã quyến rũ nó. 
        Chúng ta phải tập trung sự chú tâm để suy tư và quan sát hầu trông thấy những sự bấn loạn trong tâm thức, cũng như những sự hiểu biết và các quan điểm sai lầm che khuất nó và không cho chúng ta trông thấy được bản chất trống không và vắng lặng của chính nó. Hãy tập trung thật mạnh để quán xét các quan điểm của mình hầu nhận thấy chúng mang lại cho mình những sự bám víu phức tạp đến độ nào, các sự bám víu đó sẽ vùi lấp tâm thức khiến nó rơi vào một tình trạng bế tắc thật khủng khiếp. Các bạn trông thấy đó, các hiện tượng tâm thần - giác cảm, sự cảm nhận, sự hình thành của tư duy (tức năm thứ cấu hợp/ngũ uẩn) - chi phối tâm thức, ảnh hưởng đến cả các thể tính cơ bản của tri thức làm cho nó bị méo mó hẳn đi. 
        Những gì trên đây cho thấy thật hết sức quan trọng là phải khám phá ra cái gì là thể dạng hiểu biết buông bỏ được những gì mà nó hiểu biết - nói một cách khác là thể dạng hiểu biết gì nhận biết được các thể tính tinh khiết và đơn sơ của tri thức trước khi các hiện tượng tâm thần thâm nhập vào nó và chi phối nó, hay trước khi nó thoát ra khỏi chính nó để chi phối các hiện tượng tâm thần (đây là một trong các câu khá cô đọng và khúc triết nhất trong bài giảng của bà Upasika Kee Nanayon, do đó cũng xin mạn phép giải thích thêm như sau: "Tri thức nguyên sinh" là một thể dạng tâm thần trong sáng, tinh khiết, tĩnh lặng - có thể hiểu như là thăng bằng và" bất động" - vậy cái gì cảm nhận được các thể tính ấy của nó ngoài chính nó? Nếu muốn cảm nhận được chính nó trong thể dạng nguyên sinh ấy của chính nó thì nó phải buông bỏ "khả năng" nhận biết của nó và cả những gì mà khả năng ấy đã nhận biết được. Mặt khác thì nó cũng có thể thoát ra khỏi nó để ảnh hưởng đến các hiện tượng tâm thần bên ngoài nó - chẳng hạn như các sự hiểu biết và nhận thức - và đấy cũng là cách làm cho nó bị ô nhiễm và méo mó. Buông bỏ khả năng hiểu biết và cả những gì hiểu biết là cách giúp nó trở về với thể dạng nguyên sinh của chính nó). Đấy chính là điểm quan trọng cần phải chú ý - nhất là đối với sự tạo tác tư duy đưa đến các tác động ảnh hưởng đến tri thức (làm ô nhiễm và méo mó tri thức). Các tư duy đó phát sinh từ vô minh, có đúng thế hay không (vô minh đưa đến tư duy và tác ý)? Chỉ vì "thiếu hiểu biết" hay "hiểu biết sai lầm" mà chúng ta đã xác định lệch lạc mọi sự vật.
        Tôi mong rằng các bạn hãy cố gắng tìm hiểu về tình trạng vô minh đó, tức là sự thiếu-hiểu-biết đó. Khi nào ý thức được các đặc tính của sự thiếu hiểu biết ấy thì sẽ giúp các bạn nhận biết được các đặc tính của các hiện tượng tạo tác ra tư duy (các sự tạo tác tâm thần), để hiểu rằng chúng phát sinh và bị chi phối như thế nào bởi các nguyên nhân tạo ra chúng, và sau đó là để buông bỏ chúng. Điều này đòi hỏi các bạn phải có một sự nhận định tinh tế và sâu sắc, bởi vì điều này vô cùng tinh vi và sâu kín. Tuy nhiên và dầu sao đi nữa thì sự tỉnh giác và khả năng quán xét mà các bạn đạt được cho đến đây cũng thừa đủ giúp mình tiếp cận với vấn đề này. Nếu không thì cũng chẳng biết là có một phương pháp nào khác hơn có thể làm cho khổ đau phải chấm dứt, nói cách khác là giải thoát mình ra khỏi nó.     
        Các bạn có thể tiếp cận những điều trên đây qua một góc nhìn khác hơn: chẳng hạn như duy nhất chỉ tập trung vào một thể dạng tâm thức thường xuyên ở trong tình trạng trống không. Nếu có những mối quan tâm nào hiện lên thì chỉ cần ý thức về các đặc tính (như vô thường, bất toại nguyện, vô thực thể...) của chúng xuyên qua các sự cảm nhận đơn thuần, chẳng hạn như khi hình tướng tiếp xúc với mắt, âm thanh với tai, v.v., trước khi các sự diễn đạt như "thích thú" hay "khó chịu" có thể xảy ra. Nếu xem chúng chỉ là những sự cảm nhận đơn thuần thì chúng sẽ tự động tan biến sau đó, đấy là cách không gây ra khổ đau cho mình (nếu gán cho các sự cảm nhận một ý nghĩa nào đó, nói một cách khác là dán lên cho chúng một nhãn hiệu, thì tức khắc sự bám víu sẽ xảy ra và mang lại khổ đau cho mình. Cách dừng lại ở cấp bậc cảm nhận mang tính cách "cụ thể" hơn so với phương pháp buông bỏ hầu tạo ra thể dạng trống không trong tâm thức làm hiện lên thể dạng tri thức nguyên sinh tinh khiết và đơn sơ trên đây, do đó cũng tương đối dễ thực hiện hơn. Dầu sao thể dạng dừng lại ở cấp bậc cảm nhận và không diễn đạt bất cứ gì cũng không sâu xa và tuyệt đối bằng thể dạng trống không của tâm thức nhờ vào sự buông bỏ)
        Các bạn phải dồn tất cả sự chú tâm vào đúng lúc khi các sự tiếp xúc vừa mới xảy ra, chẳng hạn như khi hình tướng bắt đầu tiếp xúc với mắt. Nếu mình không chú ý đến các sự vật hiện lên qua sự tiếp xúc ấy thì chúng cũng sẽ không tạo ra cho mình các cảm tính như "tôi thích" hay "tôi không thích". Thế nhưng nếu các cảm nhận về các hình tướng, âm thanh, mùi, vị, hay các cảm giác đụng chạm khác gây ra một sự chú ý nào đó đối với mình, hoặc mình gán cho chúng một ý nghĩa nào đó, thì tức khắc sự bám víu (thích thú hay ghét bỏ) sẽ hiện ra.
        Nếu  các bạn nhìn vào mọi sự vật theo cách đó thì các bạn sẽ nhận thấy sự bám víu hết sức tinh tế, bởi vì chỉ cần gán ý nghĩa cho một sự vật nào đó thì ngay bên trong hành động đó cũng đã tàng ẩn một sự bám víu thật kín đáo. Nếu không suy xét một cách cẩn thận thì các bạn không sao nhận thấy được sự bám víu ấy; thế nhưng thật ra luôn có một sự bám víu, chỉ vì nó quá sức tinh tế nên khó nhận biết thế thôi. Khi nêu lên một ý nghĩa nào đó thì luôn có một sự bám víu đi kèm với nó. Nếu muốn nhận thấy điều này thì phải thật chú tâm và cảnh giác chẳng qua là vì chúng ta xem các sự tiếp xúc ở các cấp bậc mắt, tai... là những gì hoàn toàn bình thường, thế nhưng thật ra thì có rất nhiều chuyện xảy ra cùng một lúc với các sự tiếp xúc ấy - tương tự như một trò ảo thuật vậy (thí dụ chúng ta thấy một con "gà trống" và nói lên đây là một con "gà trống", thì sự bám víu là ở chỗ nào? Đấy là một con gà biết gáy ó o, không phải là một con gà mái. Nếu nói lên là một "con gà", tức không trống cũng không mái, thế nhưng vẫn có sự bám víu; tức có nghĩa đấy là một "con gà"  không phải là một "con vịt". Sự diễn đạt là một nhãn hiệu, một dòng chữ mà mình áp đặt cho một cảm nhận của tâm thức, nhãn hiệu hay dòng chữ đó phát sinh từ sự hiểu biết quy ước và vô minh dưới sự chi phối của nghiệp trong tâm thức mình. Khi nào có cảm nhận nhưng không có diễn đạt thì đấy là một cách mang lại sự trống không cho tâm thức ở một cấp bậc nào đó. Ở một cấp bậc sâu xa hơn nữa là tâm thức phải loại bỏ cả khả năng diễn đạt dưới tác động của nghiệp và xuyên qua sự hiểu biết mang tính cách quy ước của nó. Ở một cấp bậc sâu xa hơn là tâm thức chính nó cũng phải tự loại bỏ nó tức là loại bỏ thể dạng cấu hợp của nó, hầu dòng tri thức nguyên sinh, đơn sơ và tinh khiết có thể hiện lên) - điều này cho thấy chúng ta không ý thức được các đặc tính về những gì mà mình ý thức được qua từng cảm nhận riêng rẽ. Do đó chúng ta phải thật cảnh giác thì mới có thể nhận thấy sự kiện này (thí dụ trông thấy một người nào đó thì không phải chỉ trông thấy người ấy mà cả một lô các sự diễn đạt và xúc cảm cũng đồng loạt phát sinh đi kèm với sự trông thấy ấy, chẳng hạn như người ấy: mập, ốm, trẻ, già, đàn bà, đàn ông, xinh đẹp, xấu xí, dễ thương, đáng ghét, v.v. Chỉ cần trông thấy một cá thể con người thì tức thời một lô các sự diễn đạt trên đây sẽ dồn dập hiện lên ôm chầm lấy sự trông thấy ấy của mình. Tóm lại nếu muốn đi đến sự "không diễn đạt, không dán một nhãn hiệu, không viết lên một dòng chữ nào trong tâm thức mình thì không phải là dễ, do đó con đường luyện tập thiền định rất cam go, luôn đòi hỏi sự kiên nhẫn. Thế nhưng nếu kiên trì thì dần dần từng bước một, chúng ta cũng sẽ loại bỏ được các sự diễn đạt và xúc cảm bấn loạn đi kèm với những sự cảm nhận của mình qua tâm thức và ngũ giác, và trong từng ngày một, trong từng khoảnh khắc một, chúng ta cũng sẽ cảm thấy ít khổ đau hơn một chút, nhẹ nhàng hơn một chút). Nếu không thực hiện được cấp bậc tỉnh thức đó thì bất cứ gì hiện ra với mình luôn liên hệ với một sự bám víu. Các thứ ấy sẽ truyền vào tâm thức mình các thông điệp đưa đến các sự diễn đạt và biến chế đủ loại, mang lại mọi thứ khó khăn cho tâm thức, khiến nó rơi vào một tình trạng hoang mang cực độ (tức là tạo ra tình trạng "vô minh" cho tâm thức).
         Nếu muốn cho tầm nhìn của mình chỉ duy nhất hướng vào bên trong chính mình thì các bạn phải thật cảnh giác, bởi vì bên trong nội tâm mình các sự vật rất tinh tế, bén nhạy và khó nắm bắt. Có những lúc tâm thức có vẻ như trống không và trung hòa (bình thản, ít xao động) thì đấy là những lúc thuận tiện nhất giúp các bạn có thể quan sát nó chính xác hơn và cũng chủ động nó dễ dàng hơn, hầu nhận biết được các cảm nhận phát sinh từ các sự tiếp xúc giác cảm (xin nhắc lại là theo Phật giáo thì tâm thức cũng là một giác quan tương tự như năm giác quan khác trên cơ thể, và đối tượng của giác quan tâm thức là tư duy, xúc cảm, sự tưởng tượng, v.v.). Nếu các sự tiếp xúc ấy giữ nguyên được tính cách tinh khiết và đơn sơ của chúng (không diễn đạt gì cả) thì chúng sẽ biến mất nhanh chóng và tâm thức sẽ giữ được thể dạng trống không - trung hòa và trống vắng - của nó. Khi nào thực hiện được như thế thì các bạn sẽ nhận biết được thể dạng tâm thức mình sẽ trở nên như thế nào khi mà nó không còn bị chi phối bởi tác động của các thứ ô nhiễm, bám víu và nắm bắt. Các bạn có thể căn cứ vào thể dạng trống không đó như là một mẫu mực giúp mình so sánh với các thể dạng bấn loạn khác, và điều đó sẽ mang lại cho mình một sự toại nguyện sâu xa.   
        Sau cùng sự luyện tập sẽ giúp các bạn nhận biết được Tánh Không của tất cả mọi hình thức tiếp xúc giác cảm, đúng theo lời Phật dạy là hãy nhìn vào thế giới như là một sự trống không. Điều đó có nghĩa là chúng ta phải nhìn vào các giác cảm của mình xuyên qua các thể dạng mộc mạc và đơn sơ nhất của chúng, tức có nghĩa chúng chỉ đơn giản là các hiện tượng hiện lên và tan biến. Vì thế khi nào tri thức chỉ đơn giản tiếp nhận các giác cảm mang lại từ các sự tiếp xúc của các giác quan, nhưng không ghép thêm cho chúng bất cứ thứ gì, thì chúng ta sẽ quán thấy được bản chất đích thật của chúng. Sau khi đã thực hiện được điều đó thì giai đoạn kế tiếp trong quá trình luyện tập của mình sẽ không còn gặp phải một khó khăn nào nữa, bởi vì mình đã thực hiện được thể dạng trung hòa (thăng bằng, không bị khích động bởi các sự tiếp xúc giác cảm) trong giai đoạn khi mới khởi đầu luyện tập. Việc tiếp nhận các sự tiếp xúc giác cảm không còn là một sự khó khăn nữa, tâm thức không còn nắm bắt các sự vật, không còn cảm nhận các cảm tính mê thích hay ghét bỏ nữa. Tâm thức sẽ trở nên an bình, hoàn toàn ý thức được tất cả những gì chung quanh nó vào bất cứ lúc nào. Sau khi đã đạt được cấp bậc này thì các bạn sẽ nhận thấy một sự lợi ích vô cùng to lớn một khi mình không còn làm cho các sự vật trở nên rắc rối, không để cho chúng tạo ra các thứ khó khăn dưới sự chi phối của các thứ ô nhiễm, nắm bắt và bám víu (kilesa). Chỉ cần thực hiện được như thế cũng đủ để giải thoát mình khỏi rất nhiều phiền toái.
        Tiếp theo đó khi đã phát huy được một tầm nhìn sâu sắc hơn, giúp mình nhận thấy được bản chất của toàn thể mọi hiện tượng xuyên qua các sự tiếp xúc giác cảm của mình, thì các bạn cũng sẽ nhận thấy chúng nhất thiết chỉ là các giác cảm đơn thuần, tuyệt nhiên không hàm chứa bất cứ gì đáng để cho chúng ta bám víu. Dù cho thế giới có ngập tràn đủ mọi thứ chuyện, thế nhưng nếu chúng ta nhìn qua đôi mắt của sự chú tâm để mà suy xét thì nhất định chúng ta cũng sẽ thấy tất cả đều là Tánh Không. Đôi mắt trông thấy vô số hình tướng, đôi tai nghe thấy vô số âm thanh, thế nhưng tâm thức không hề gán cho chúng một ý nghĩa nào cả một khi mà nó đã nhận thấy mọi sự vật - tự nơi chúng và bởi chính chúng - không hề hàm chứa một mảy may ý nghĩa nào.     
        Duy nhất chỉ có một điều đáng quan tâm: ấy là tâm thức. Tất cả mọi vấn đề đều phát sinh từ tâm thức (xin mạn phép nhắc lại câu đầu tiên trong kinh Dhammapada: "Tâm thức làm phát sinh ra tất cả mọi hiện tượng"), chúng thoát ra bên ngoài để gán cho mọi sự vật một ý nghĩa, và tức thời tạo ra sự bám víu (thích thú, ghét bỏ..., đưa đến các xúc cảm bấn loạn) mang lại mọi sự căng thẳng và khổ đau. Do đó các bạn phải quán xét thật cẩn thận mọi sự vật cho đến khi nào trông thấy được bản thể sâu kín nhất của chúng - qua tất cả mọi khía cạnh, từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới - xuyên qua cả các đặc tính vô thường, khổ đau và vô thực thể của chúng. Hãy nhìn mọi sự vật đúng với chúng là như thế, bởi vì chúng là như thế, tự chúng là như thế, phù hợp với bản chất đích thật của chúng, tức là trước khi chúng ta gán cho chúng một ý nghĩa nào đó để mà bám víu vào chúng. Nếu làm được như thế thì các bạn sẽ không còn gặp phải khó khăn nào xảy đến với mình nữa. Tâm thức sẽ tự nó trở nên trống không, trong sáng và rạng ngời, chẳng cần phải làm gì thêm nữa cả.   
               Tóm lại, tâm thức thường bị những con vi khuẩn vô minh hoặc các thứ bám víu thâm nhập mang lại đủ mọi thứ khó khăn, do đó chúng ta không được phép chểnh mảng. Trước hết các bạn phải quan sát tất cả mọi sự vật xảy đến với mình và theo dõi xem sự bám víu vào những thứ ấy hiện ra như thế nào qua các sự tiếp xúc giác cảm (xin nhắc lại "bám víu" ở đây có nghĩa rất rộng. Có những sự "bám víu" dễ nhận thấy như các sự ham muốn, ghét bỏ hay bất cứ một xúc cảm bấn loạn nào, nhưng cũng có thể rất kín đáo, chẳng hạn như thí dụ về chuyện con gà trên đây: trông thấy con gà bèn thốt lên "con gà!!" cũng đã là một sự bám víu). Thí dụ, khi có một cảm nhận đau đớn xảy ra, nếu mình không dán lên cho nó một nhãn hiệu mang ý nghĩa đây là sự đau đớn "của mình", thì sự bám víu sẽ không tham gia quá đáng vào sự nhận biết ấy (nếu hiểu rằng sự đau đớn là của thân xác, không phải của mình, thì dường như sự đau đớn cũng bớt đi một chút!). Thế nhưng nếu mình gán cho nó cái ý nghĩa là "của mình", thì tức khắc sẽ phát sinh sự mong muốn loại bỏ sự đau đớn ấy hoặc tìm cách bù đắp nó bằng một sự thích thú. 
        Sự thèm khát (desire/mong muốn,bám víu) không bao giờ mang lại những gì đúng thật, hoặc phù hợp với sự mong muốn của mình. Sự thích thú tạo ra từ thèm khát không trường tồn. Chúng thu hút mình nhưng sẽ biến đổi ngay sau đó để trở thành một thứ gì khác hơn (sự bất toại nguyện). Sự đau đớn đánh lừa mình và sẽ chuyển sang một hình thức khác. Các sự biến đổi đó dồn dập tiếp nối nhau, chồng chất bên trong tâm thức và trở nên vô cùng phức tạp, tạo ra một tấm màn vô minh bao phủ tâm thức. Đó là cách mà tâm thức bị nhào nặn bởi đủ mọi thứ tác động, khiến nó rơi vào một tình trạng hoang mang, u mê, mất hết định hướng, lúc nào cũng nóng bỏng như một đống lửa than.
        Đủ mọi thứ chuyện được ủ kín bên dưới lớp tro của đống than đang âm ỉ trong tâm thức. Chính vì thế nên nguyên tắc "cái gì hiểu biết (ý thức) buông bỏ những gì mà nó hiểu biết (ý thức)" sẽ là một lợi khí vô song. Bất cứ gì xảy đến với mình thì lợi khí đó cũng đều giúp mình vượt thoát được. Nó giải quyết được tất cả. Nếu đánh mất nó thì phải tìm cách quay lại để tìm nó. Các bạn tất sẽ tự nhận thấy lợi khí đó hiệu nghiệm vô cùng trong việc bảo vệ và mang lại cho tâm thức mình sự trống không và thanh thản.    
        Có thể là các bạn cũng chỉ có thể khám phá được những sự hiểu biết trên đây từng tí một, qua những lúc mà tâm thức các bạn không bị xâm chiếm bởi quá nhiều tư duy, và giữ được trạng thái "bình thường", tức trống không và an bình (không nghĩ ngợi quá nhiều, không bị xao động). Trong những lúc ấy các bạn nên quán xét tâm thức mình thật cẩn thận, không nên phó mặc nó trong tình trạng thờ ơ như thế, nếu không thì nó có thể sẽ đánh mất sự thăng bằng ấy của nó. Nếu các bạn rơi vào tình trạng dửng dưng thiếu tỉnh thức đó thì mỗi khi có bất cứ một sự tiếp xúc giác cảm nào bất chợt xảy ra thì không sao tránh khỏi đưa đến sự nắm bắt và bám víu. Các bạn phải chú tâm quan sát các sự biến đổi và theo dõi phản ứng của tâm thức trong từng khoảnh khắc một. Mỗi khi sự chú tâm suy giảm thì tức khắc phải tìm cách tái lập sự chú tâm "bình thường" trước đó. Không sao tránh khỏi thỉnh thoảng sự chú tâm giảm xuống, chuyện này xảy ra đối với tất cả mọi người, bởi vì vô minh - độc tố mạnh nhất trong số các độc tố tâm thần - vẫn còn nguyên trong tâm thức mình.   
        Chính vì thế nên chúng ta phải cố gắng phát huy sự chú tâm, khả năng phân tích và sự tỉnh giác, giúp chúng ngày càng trở nên sáng suốt và minh mẫn hơn. Phải liên tục luyện tập tâm thức già dặn hơn về các khả năng chú tâm và quán xét. Khi nào tâm thức đủ cứng cỏi mang lại một sự hiểu biết thật tinh tế về mọi sự vật thì các bạn cũng sẽ loại bỏ được các yếu tố bấn loạn trong tâm thức đúng vào khoảnh khắc mà chúng vừa mới khởi sự hiện lên. Ngay vào lúc vừa chớm cảm nhận được một sự thu hút hay ghét bỏ nào thì tức khắc các bạn sẽ có thể vuợt lên trên chúng, không cần phải chờ đến lúc chúng tự tan biến. Điều này sẽ giúp cho mọi sự được dễ dàng hơn (so với những lúc khi sự nắm bắt và bám víu xảy ra rồi mới tìm cách loại bỏ chúng). Trái lại nếu cứ để chúng tiếp tục diễn tiến thì chúng sẽ gây ra các các tác động ảnh hưởng đến tâm thức khiến nó bị khích động, trở nên ô nhiễm và hoang mang, có thể đưa đến ngôn từ và hành động. Tình trạng đó sẽ khiến các bạn rơi vào một thể dạng bấn loạn tâm thần khủng khiếp, tương tự như rơi vào địa ngục ngay trong kiếp sống này.
        Việc luyện tập Dhamma (Đạo Pháp) cần đến sự khéo léo và và thận trọng bên trong tâm thức. Các yếu tố bấn loạn (kilesa) lúc nào cũng sẵn sàng tâng bốc mình, tìm đủ mọi cách khiến mình phải chiều theo ý chúng. Nếu không cảnh giác và thận trọng, không canh chừng tâm thức cẩn thận thì các yếu tố bấn loạn sẽ điều khiển mình - chúng có đủ mọi mánh khóe. Ngược lại nếu giữ tâm thức thật cảnh giác thì chúng sẽ sợ mình, rất e ngại trước sự chú tâm và quán xét của mình. Chúng sẽ bị tâm thức tỉnh giác của mình đánh bại.
        Các bạn thấy đó, với một tâm thức trống không, tỉnh thức, không bám víu thì các yếu tố bấn loạn sẽ thu mình bé xíu. Thế nhưng nếu sự chú tâm vừa mới giảm xuống một tí thì tức khắc các yếu tố bấn loạn(kilesa/phiền não) sẽ bùng lên ngay. Nếu các bạn đủ sức nhận biết được chúng ngay vào lúc chúng vừa chớm hiện lên thì chúng sẽ tan biến tức khắc. Khả năng nhận biết này rất hữu ích, bởi vì nếu cứ để cho các yếu tố bấn loạn tha hồ khuấy động mang lại mọi thứ khó khăn cho mình thì khi đó sẽ rất khó loại bỏ chúng. Vậy phải kiên trì và không nên bỏ cuộc.   
        Dầu bất cứ gì xảy đến với mình thì trước hết phải chấp nhận và chịu đựng nó - thế nhưng không phải chỉ biết đơn giản chịu đựng mà phải quán xét chúng, xem chúng là gì, biến đổi ra sao và tan biến như thế nào. Sở dĩ chúng ta phải chấp nhận và chịu đựng là để trông thấy sự lừa lọc của chúng, có nghĩa là theo dõi xem chúng hiện ra như thế nào, tồn tại và tự chúng tan biến ra sao (trông thấy được bản chất vô thường của chúng để không bám víu vào chúng và không để chúng gây ra tác động ảnh hưởng đến tâm thức mình). Trong khi chúng ta còn đang quán xét và mới khám phá ra được sự lừa lọc của chúng thì tức khắc chúng sẽ tan biến ngay, đấy có nghĩa là chúng ta đã đánh bại được chúng. Tâm thức sẽ tìm thấy được sự giải thoát và tự do, từ bên trong nó tất cả sẽ trở nên trống không.     
        Phép luyện tập nhìn xuyên qua các sự vật khi chúng vừa chớm hiện lên với mình cũng có thể xem như một cách dần dần mang lại cho mình từng tí giác ngộ mang tính cách đột khởi. Sự tỉnh thức từng chút một đó sẽ ngày càng trở nên rạng ngời, vững chắc và bao quát hơn. Vậy các bạn hãy cố gắng luyện tập hầu mở rộng thêm sự quán thấy sâu xa hiện lên với mình từng chút một trong những khoảnh khắc bất chợt ấy. Đến một lúc nào đó khi sự tỉnh thức trở nên hoàn hảo hơn thì tự nhiên các yếu tố bấn loạn (kilesa) sẽ vụt tan biến vĩnh viễn. Khi khoảnh khắc đó xảy đến với mình thì đấy là Nibbana (Niết-bàn), sau đó sẽ không còn xảy ra sự sinh nữa. Khi các bạn vẫn chưa đạt được thể dạng ấy thì các bạn nên tiếp tục trui rèn các khí cụ của mình - tức là sự chú tâm và quán xét của mình - thêm sắc bén. Nếu không đủ bén thì chúng sẽ không cắt được gì cả. Dầu sao thì với các khí cụ đó - dù là đang ở tình trạng nào - thì các bạn cũng cứ cắt, từng tí một, được đến đâu hay đến dấy.
        Tôi mong rằng các bạn cố gắng sử dụng tâm thức mình để quán xét và tìm hiểu những gì xảy ra bên trong nó, cho đến khi nào tất cả đều trở nên sáng tỏ. Khi đó các bạn sẽ buông bỏ được tất cả và hiểu rằng tuyệt nhiên chẳng có bất cứ một thứ gì bên trong năm thứ cấu hợp (ngũ uẩn) tạo ra mình cả, và cũng có nghĩa là các hiện tượng thể xác và tâm thần chẳng phải là "các bạn" mà cũng chẳng phải là "tôi". Các bạn nên tiếp tục buông bỏ và cũng chỉ cần có thế. Trong lúc đang được chữa trị, dù là ở nhà hay trong bệnh viện, thì các bạn cũng nên làm những gì cần phải làm để giúp cho căn bệnh thuyên giảm, thế nhưng đồng thời cũng phải hiểu rằng ngoài các việc ấy ra nhất định còn có một thứ gì khác nữa: đó là thể dạng hoàn toàn tỉnh giác thật đặc biệt của tâm thức có thể tự buông bỏ chính nó một cách thật đơn giản và trong sáng, khiến tất cả mọi vấn đề khó khăn (trong trường hợp này là bệnh tật và các yếu tố bấn loạn trong tâm thức) phải chấm dứt (chúng ta có thể làm cho căn bệnh thuyên giảm, nhưng cũng có thể làm cho nó - và cả những thứ khó khăn khác - phải chấm dứt vĩnh viễn bằng sự giác ngộ).     

Thứ Tư, 22 tháng 6, 2016

Căn bản của thiền Bankei

Tâm – theo Bankei mô tả, là một cơ cấu năng động, nghề của nó là phản chiếu, ghi lại và hồi tưởng những ấn tượng về thế giới bên ngoài; nó như một loại gương soi sống động luôn luôn vận hành, không bao giờ ở yên từ giây phút này sang giây phút kế. Trong cái tâm như gương sáng này, những ý tưởng và cảm giác cứ đến rồi đi, sinh, diệt rồi lại tái sinh tùy hoàn cảnh, tự bản chất chúng không tốt cũng không xấu. Nhưng khác với người an trú Bất sinh; người hay phản ứng phải chịu khổ vì thói bám víu ràng buộc. Người ấy không bao giờ tự nhiên thoải mái vì họ là một tên nô lệ cho những phản ứng của mình, không nhận ra được đấy chỉ là những cái bóng thoáng qua. Kết quả là người ấy luôn luôn bị treo, vướng vào những ý tưởng hay cảm xúc đặc biệt nào đó, làm trở ngại sự tuôn chảy tự nhiên của cái tâm bình thường.

Mọi sự sẽ vận hành suông sẻ, Bankei nhấn mạnh, nếu chúng ta làm ơn xê ra để cho mọi sự tự nhiên vận hành. Ngài chứng minh điều này bằng cách chỉ cho thính giả thấy rằng, ngay dù trong khi tập trung lắng tai nghe giảng, họ vẫn tự động ghi nhận được mọi sự khác ở xung quanh, như tiếng quạ kêu, chim sẻ chíp chíp, những màu sắc và mùi hương khác nhau, đủ hạng người đang ở trong phòng giảng. Không ai cố tình làm vậy, chuyện ấy chỉ xảy xa một cách tự nhiên. Bankei bảo, đó chính là cái cách mà Bất sinh vận hành.
Đối với Bankei, điều quan trọng là buông xả, phá vỡ cái khuôn ngã chấp và những thói quen xấu, những thành phần chính của si mê. Ngã chấp hay sự tập trung vào tự ngã, là căn để của cái tôi giả tạo. Chính ngã chấp khiến chúng ta phán đoán mọi sự trên một quan điểm ích kỷ hẹp hòi. Chất liệu nuôi dưỡng thái độ này là những thói quen xấu, những tì vết trong nhân cách, cũng như sự chấp ngã, vốn là hậu quả của hoàn cảnh.
Theo Bankei, chúng ta khi còn bé thường bắt chước những người lớn xung quanh mình, và dần dần tích tập một số thói xấu cuối cùng trở thành thâm căn cố đế tới nỗi ta lầm cho đó là bản ngã đích thực của mình. Tuy nhiên, khác với Phật tâm bất sinh ; thói xấu hay sự chấp ngã đều không phải bẩm sinh, được hấp thụ về sau, do ảnh hưởng bên ngoài. Mỗi khi bị si mê lầm lạc là chúng ta tạm thời bỏ rơi Tâm Phật mà ta đã có từ khởi thủy để đổi lấy những phản ứng mới học đòi này. Khi sự tình này xảy đến thì phát sinh đối đãi nhị nguyên, từ tính nhất thể nguyên ủy, ta sinh vào những cảnh huống khác nhau như ngạ quỷ (quỷ đói), a tu la (quỷ chiến đấu), súc sinh, địa ngục, đi từ loài này đến loài khác, bị vướng vào luân hồi bất tận. Cách duy nhất để ra khỏi ngõ bí này, theo Bankei là trở về theo con đường mà từ đó ta đã phát xuất, trở về cái Vô điều kiện, cái chưa từng được tạo tác – cái Bất sinh. Cái mà ta có được từ lúc mới sinh, ấy chính là cái Tâm Phật.
Tâm Phật là bất sinh và chiếu sáng một cách kỳ diệu, với cái bất sinh ấy thì mọi sự đều hoàn bị cả rồi. Hãy an trú trong Tâm Phật bất sinh. Đây là căn bản của thiền Bankei, cương yếu của ngài về Bất sinh. Ngài giải thích điều ấy nhiều lần bằng nhiều cách, vì theo ngài thì chân lý Bất sinh thực quá đơn giản, quá trực chỉ, ai cũng nắm được. Theo nghĩa ấy, thiền của Bankei quả là rất phổ thông. Cũng có nhiều thiền sư khác đã giảng dạy cho người thế tục, nhưng phần nhiều, thiền chính thống được xem là quá khó đối với người thường, nên giáo lý phổ thông của các thiền sư ấy không bao giờ nói đến thiền. Thay vì thế, họ chỉ nói về giáo lý chung chung, đề cao những việc công đức như lễ bái niệm Phật, và thảo luận về những khái niệm trong các kinh Phật.
Bankei hoàn toàn ngược lại. Ngài cho rằng cốt tủy của thiền hoàn toàn giản dị, trực tiếp, mà bất cứ ai có tâm hồn mở rộng cũng có thể hiểu khi được chỉ cho. Bankei nhấn mạnh, muốn dạy thiền, người ta phải đi ngay vào cốt lõi, lột hết những gì màu mè che đậy bên ngoài – những thuật ngữ khó hiểu, những danh từ ngoại lai lạ tai.
Đấy là lý do chính khiến Bankei phản đối sử dụng công án trong thiền. Theo ngài, toàn thể phương pháp thiền công án thật là gượng ép một cách thảm hại. Ngài thấy sự uyên bác là điều hoàn toàn không cần thiết để học thiền, lại còn là một sự vướng bận vô ích. Ngài loại bỏ công án vì cho đấy là một kỹ thuật giả tạo. Những công án nguyên ủy không phải là những mẫu mực mà là những sự thật xảy ra trong đời sống. Những thiền sư ngày trước chỉ đơn giản ứng phó với những tình huống đặc biệt mà họ gặp, tùy theo nhu cầu của những môn đệ đương thời. Bất cứ thiền sư nào cũng tùy cơ ứng biến như vậy cả.
Vậy thì, chỉ cần bảo họ nhìn vào những công án riêng của chính họ, cái cách mà tâm Bất sinh đang vận hành ngay tại đây và bây giờ, trong những hoàn cảnh sống hiện thực. Đây là điều mà Bankei gọi là lối dạy trực tiếp, đối lại với lối tham công án mà ngài gọi là tham cứu giấy lộn. Bankei bảo công án chỉ là một phương tiện, những bậc thầy nào còn dựa vào đó hay vào bất cứ kỹ thuật nào khác, thì cũng đều thực hành pháp thiền phương tiện. Tại sao cần phải dựa vào phương tiện khi ta có thể dùng ngay thứ thiệt? Bankei lập luận.
Theo nghĩa ấy, Bankei lại là một người theo truyền thống. Ngài quay về những thiền sư của thời hoàng kim – trước cả thời vinh quang của công. Bankei nhấn mạnh rằng giáo lý ngài cũng như của Lâm tế, và nhiều điểm tương đồng giữa những Bài giảng của ngài với Lâm tế ngữ lục cho ta thấy có lẽ bậc thầy Trung hoa đã có ảnh hưởng quan trọng trong pháp thiền Bankei. Nhưng nhìn chung, giáo lý của Bankei vẫn có gì rất thực độc nhất vô nhị.
Một điều mỉa mai, sở dĩ giáo lý ấy không thịnh hành cũng bởi chính những đức tính độc đáo của nó, những đức tính đặc biệt đã lôi cuốn những người đến học Bankei: đó là nó quá giống với cá tính ngài, không thỏa hiệp với bất cứ phương pháp hay kỹ thuật nào. Cuối cùng, pháp thiền Hakuin (Bạch Ẩn) khôi phục và hệ thống hóa thiền công án ở Nhật, đã quét sạch những tu viện thuộc tông Thiên thai và lại còn xâm nhập Long môn tự cùng các chùa khác thuộc hệ thống Bankei.
Hakuin cho rằng giáo lý Bất sinh của Bankei là phạm thánh và cực lực đả kích. Nhưng thế kỷ hai mươi lại bắt đầu chú ý đến thiền Bankei. Nhà học Phật D.T. Suzuki (1886-1975) là người tiên phong hiện đại đã đề cao giáo lý Bankei, hoan nghênh giáo lý này xem như một liều giải độc cho pháp tham công án quá khô khan, và xem Bankei như một trong ba thiền sư vĩ đại của Nhật bản, ngang hàng với Dogen và Hakuin (Đạo Nguyên và Bạch Ẩn). Suzuki cùng những học giả khác khởi sự sưu tập và ấn hành những ngữ lục và giáo lý của Bankei, mà phần lớn còn nằm rải rác bị bỏ quên trong các chùa ngoại ô – và hiện nay một lần nũa Bankei lại được nhiều người biết đến.
Tính lôi cuốn của Bankei cũng dễ hiểu. Mặc dù thế giới ngài sống khác xa với thế giới hiện đại, song vẫn có cái gì rất gần gũi với chúng ta trong nhiều điều ngài dạy. Cảm nghĩ về tự do giải thoát, tính nhân hậu của ngài, cách ngài đề cập những vấn đề tối hậu không tách rời với đời sống hàng ngày của con người, dường như hoàn toàn ăn nhịp với tinh thần thời đại. Và khi chúng ta đang lật xem những trang Bài giảng, thì Bankei dường như vẫn còn đấy, sống động một cách lạ lùng, và đang chiếu sáng một cách kỳ diệu.

***

Lắng nghe

Sư bảo chúng: Trong tất cả quý vị tại đây hôm nay, không một ai là người chưa giác ngộ. Mỗi người ở đây đều là một vị Phật. Bởi thế hãy lắng nghe cho kỹ. Cái mà tất cả quý vị thừa hưởng của cha mẹ lúc mới lọt lòng, chỉ là cái tâm Phật bất sinh. Không có cái bẫm sinh nào khác ở nơi quý vị. Cái tâm Phật mà quý vị có từ lúc mới sinh, thực sự là bất sinh và chiếu sáng một cách kỳ diệu. Hơn thế nữa, với cái bất sinh này mọi sự đều được thu xếp một cách toàn hảo. Bằng chứng về điều này là, trong lúc tất cả quý vị đang lắng nghe tôi nói, mà ngoài kia có tiếng quạ kêu, tiếng chim sẻ chíp chíp, tiếng gió xào xạc… mặc dù không cố tình phân biệt những âm thanh ấy, quý vị vẫn nhận ra và phân biệt được từng tiếng: tiếng chim quạ, tiếng chim sẻ, tiếng gió xao cành – quý vị nghe mà không lầm lẫn, đấy gọi là nghe với cái Bất sinh.
Với cái Bất sinh, tất cả mọi sự được thu xếp hoàn toàn ổn thỏa cũng y như vậy. Đấy là bằng chứng thực sự về cái Bất sinh. Hãy nhận ra một cách dứt khoát rằng cái không sinh và đang chiếu sáng kỳ diệu ấy đích thực là Tâm Phật. “An trú ngay trong Tâm Phật Bất Sinh ấy, thì từ đây cho đến mãi mãi quý vị là một đức Như Lai sống”.Vì khi đã nhận ra một cách rốt ráo thì từ nay trở đi quý vị sẽ luôn an trú trong Tâm Phật, nên trường phái của tôi mệnh danh là trường phái “Phật tâm”.
Thật vậy, trong khi đang lắng nghe tôi nói, quý vị vẫn không lầm lẫn tiếng chim sẻ với tiếng quạ kêu bên ngoài, không lầm lẫn tiếng chuông với tiếng trống, tiếng đàn ông với tiếng phụ nữ, tiếng người lớn với tiếng trẻ con – quý vị nhận ra và phân biệt rõ ràngtừng thứ tiếng quý vị nghe, không lẫn lộn chút nào. Đấy chính là cái diệu dụng linh động chiếu sáng của Bất sinh. Đó không là gì khác, mà chính là Phật tâm bất sinh đang chiếu sáng một cách kỳ diệu, là bằng cứ xác thực về bản chất chiếu sáng vi diệu của Tâm.
Mỗi người, khi dứt khoát nhận ra được cái bất sinh và chiếu sáng kỳ diệu ấy, an trú trong đó, thì từ nay cho đến mãi về sau là một vị Phật sống. Cả đến khái niệm Phật cũng chỉ là một tên gọi được đặt ra về sau, bởi thế, từ nơi Bất sinh mà nhìn, thì đó cũng chỉ là chuyện phụ thuộc, không có gì quan trọng. Con người của Bất sinh ở tận nguồn gốc của tất cả các vị Phật. Cái gì bất sinh thì đó là suối nguồn của tất cả mọi sự, là khởi điểm của mọi sự. Không có gì “nguyên sơ” hơn là cái Bất sinh, không có gì ở trước nó. Bởi thế nên khi quý vị trú trong Bất sinh là quý vị ở nơi ngọn nguồn của tất cả Phật, và bởi thế Bất sinh là một cái gì quý báu tuyệt trần. Ở đây không có vấn đề diệt, cho nên khi trú trong bất sinh thì cũng không cần gì nói đến bất diệt. Đấy là lý do tại sao tôi chỉ nói về Bất sinh mà không đề cập bất diệt. Cái gì không được tạo tác thì cũng không bị hủy hoại, bởi thế, khi nó đã bất sinh thì đương nhiên cũng bất diệt. Phải vậy không nào?
Dĩ nhiên, từ ngữ bất sinh bất diệt đã có rải rác trong kinh điển và ngữ lục từ xưa, nhưng chưa ai nói bằng chứng thực sự của cái Bất sinh. Ai cũng chỉ học từ ngữ bất sinh bất diệtrồi lặp đi lặp lại, nhưng đến việc nhận cho ra và thực sự đi thẳng vào trọng tâm vấn đề, thì không ai hiểu được Bất sinh là cái gì.

Giới luật

Một bậc thầy thuộc Luật tông đến hỏi: Ngài có tuân giữ giới luật không?
Sư trả lời: Từ khởi thủy, tất cả những gì mà người ta gọi là giới luật đều cốt dành cho những thầy tu tồi tệ phá giới. Với người an trú trong tâm Phật bất sinh thì không cần nói đến giới. Giới được dạy là để giúp chúng sinh, không để giúp Phật! Mọi người khi cha mẹ mới sinh chỉ có duy nhất cái Tâm Phật Bất sinh, bởi thế hãy an trú trong tâm bất sinh ấy. Khi an trú trong Bất sinh, thì bạn đã là một vị Phật sống ngay bây giờ rồi, và vị Phật ấy cố nhiên không vẽ vời những chuyện như thọ giới, bởi thế không có giới điều nào cho ông ta thọ. Bày đặt những chuyện như thọ giới thì không phải là ý nghĩa của Tâm Bất sinh. Khi ta an trú trong Bất sinh thì không cách gì phạm giới nổi. Từ nơi Bất sinh, giới luật cũng thành phụ thuộc nhảm nhí, trong chỗ Bất sinh, thực sự không có gì là giới luật.

Biết tâm người khác

Có người hỏi: Ai cũng nói ngài có tha tâm thông, có phải thế không?
Sư đáp: Trong trường phái của tôi, không có những chuyện phi thường. Và dù nếu có, chúng tôi cũng không sử dụng, vì tâm Phật vốn bất sinh. Khi nói với bạn, thì tôi làm việc với chính bản ngã của bạn, nên bạn tưởng là tôi có tha tâm thông. Nhưng tôi không có thần thông như thế. Tôi cũng giống như bạn mà thôi. Khi bạn trú trong Bất sinh, là bạn ở tận ngọn nguồn của tất cả thần thông diệu dụng của chư Phật, không cần tìm kiếm thần thông mà có thể xử lý mọi chuyện một cách êm thấm dễ dàng. Trong chính giáo lý về Bất sinh, bạn có thể dàn xếp mọi sự bằng cách làm việc với chính bản ngã của bạn, không cần đưa vào những vấn đề ngoại lai.
Có người hỏi: Tôi đã nỗ lực hết sức để tiến đừng lùi, nhưng dù làm gì đi nữa, khuynh hướng thụt lùi vẫn mạnh hơn, và có những lúc tôi lùi thực sự. Và càng cố tiến tới, thì tôi chỉ có thấy mình lại thụt lùi. Làm sao cho tôi khỏi thụt lùi?
Sư nói: Hãy an trú trong Tâm Bất sinh! Khi an trú, bạn không cần bận tâm về tiến hay thoái. Quả vậy, khi bạn an trú Bất sinh, thì nỗ lực tiến tới là lập tức đang lùi khỏi vị trí Bất sinh. Người của Bất sinh không can dự gì đến tiến hay lùi, mà vượt trên cả hai.

Sống như Phật

Cái gì đã khiến một đám đông người như thế này đến đây khi trời vừa mới sáng, để lắng nghe tôi nói, cái ấy không gì khác hơn là Tâm Phật Bất sinh. Nếu không thấy có cái gì thật phi thường trong những lời tôi nói, thì quý vị đã không quày quả ra đi sớm như vậy để đến nơi đây. Vậy là, trong số quý vị đến tham dự buổi giảng hôm nay, những người tuổi ngũ tuần thì đã sống 50 năm không nhận ra Tâm Phật ngay trong mình, những người tuổi ba mươi đã sống 30 năm mà cho đến ngày hôm nay vẫn chưa nhận ra được sự thật ấy – tất cả quý vị đều trải qua những năm tháng của đời mình trong sự mờ mịt.
Nhưng tại giảng đường hôm nay khi quý vị đã hoàn toàn nắm vững rằng mỗi người trong đây đều có sẵn tâm Phật Bất sinh ngay trong mình, thì từ hôm nay trở đi quý vị sẽ sống trong cái Tâm Phật ấy mà thôi, và sẽ mãi mãi thành những vị Phật sống. Điều tôi đang nói với tất cả quý vị chỉ cốt là làm cho quý vị nhận ra rằng Tâm Phật Bất sinh đang chiếu sáng một cách kỳ diệu. Khi đã hoàn toàn nhận ra điều này, thì từ đây mãi mãi về sau, quý vị sẽ có một thân Phật không khác gì thân đức Phật Thích ca, và sẽ không bao giờ đọa lạc trở lại vào ba ác đạo. Tuy nhiên, trong khi nghe giảng như thế này quý vị dù có thể hiểu rõ Tâm Phật Bất sinh, mà khi trở về lại nhà, những điều quý vị trông thấy và nghe thấy sẽ khởi động cái tâm giận dữ nơi quý vị trở lại. Và khi ấy, dù chỉ nổi giận một chút xíu, quý vị cũng sẽ mang tội gấp triệu lần trước khi nghe tôi giảng về Tâm Phật Bất sinh. Khi ấy quý vị sẽ chuyển từ cái tâm Phật Bất sinh mà quý vị đã biết, thành ra những chúng sinh ở địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ, mãi mãi luân hồi.
Cái tâm Phật bất sinh đó là gì vậy? Trong khi tất cả quý vị đều tập trung thính giác nghe giảng như thế, mà bên ngoài có tiếng chó sủa, tiếng người hàng rong rao hàng, mặc dù không cố ý nghe, quý vị vẫn nghe được tất cả những thứ tiếng ấy: đó là nghe với cái Bất sinh, diệu dụng của Phật tâm. Ví như: Tâm Phật, vốn chưa từng sinh ra và đang chiếu sáng kỳ diệu, tâm ấy giống như một tấm gương sáng. Gương thì phản chiếu bất cứ gì xuất hiện trước nó. Nó không cố ý phản chiếu sự vật, nhưng bất cứ vật gì đến trước gương, thì màu sắc dáng hình của nó đều chắc chắn hiện ra. Cũng vậy, khi vật được dời đi, thì tấm gương cũng không cố ý không phản chiếu, nhưng khi vật đã bỏ đi thì bóng nó cũng không còn hiện trong gương. Cái tâm Phật Bất sinh cũng hệt như thế. Khi bạn cố ý nhìn và nghe điều gì, thì bạn sẽ nghe và thấy, đó là lẽ tự nhiên. Nhưng khi bạn thấy và nghe được những gì mà trước đấy bạn không dự định để thấy nghe, thì đó chính là nhờ cái diệu dụng linh hoạt của Tâm Phật mà mọi người ai cũng có. Đấy là ý nghĩa cái Tâm Phật Bất sinh. Khi tôi đã tìm cách giảng giải về cái Bất sinh sao cho tất cả quý vị đều hiểu được như thế, mà nếu có người vẫn chưa hiểu, thì dù vị ấy có nghe ngàn vạn lần cũng không ăn thua gì. Người nào dù chỉ nghe một bài giảng, đã nhận ra được Tâm Phật bẩm sinh nơi tất cả mọi người, thì người ấy từ đó trở đi trở thành Phật sống.
Lấy một ví dụ khác. Giả sử có người đi từ Takamatsu đến Marugame mà không biết đường, gặp một người biết rành đường lối chỉ bày cho. Sau khi nhớ kỹ những lời chỉ dẫn, người ấy theo đó mà đi và đến đích không khó khăn gì. Cũng thế, khi tất cả quý vị đã nắm được chính xác những gì tôi nói, thì từ đấy trở đi quý vị sẽ an trú trong tâm Phật bản nhiên. Ngược lại nếu không an trú được như thế, thì cũng như đã được người ta chỉ cho đường đến Marugame mà không theo, lại theo con đường dẫn tới nơi nào khác. Đó là lý do quý vị nên lắng nghe kỹ những gì tôi nói. Tôi không chắc có thể trở lại đây nói chuyện cùng quý vị nữa không. Cho dù quý vị đi nghe giảng nơi nào khác, cũng không chắc có người nào giải thích cho quý vị về cái Tâm Phật bất sinh mà chiếu sáng kỳ diệu này. Bởi vậy nếu chư vị thấy lời tôi nói có lý, thì hãy nên coi chừng ngăn chặn sự nổi lên đủ loại ý tưởng, để chấm dứt vòng luân hồi. Nếu không thành Phật ngay bây giờ thì trong mười ngàn kiếp quý vị cũng sẽ khỏi tái sinh lại trong cõi này, bởi thế hãy nỗ lực thực chứng một cách rốt ráo cái Tâm Phật Bất sinh, và chớ để bị mê lầm. Được như vậy thì ngay từ hôm nay, quý ông sẽ là những người nam an trú Tâm Phật, quý bà sẽ là những người nữ an trú Tâm Phật, tất cả đều hết si mê lầm lạc. Đó không gì khác hơn là Phật quả, là giác ngộ.
Tôi có thể nói cho quý vị vài điều về Tâm Phật nơi phụ nữ. Theo tôi hiểu, phụ nữ thường rất buồn khi nghe nói họ không thể thành Phật. Nhưng sự thực không phải vậy. Có gì khác nhau giữa nam và nữ? Thân nam là thân Phật, thân nữ cũng là thân Phật. Quý vị không nên nghi ngờ gì về điểm này. Khi quý vị đã hoàn toàn nắm được lý Bất sinh, thì trong Bất sinh, không có gì khác nhau giữa nam hay nữ. Mọi người đều là thân Phật.
Về phương diện hình thể, rõ ràng là nam nữ khác nhau, nhưng về phương diện Tâm Phật thì không có khác gì. Quý vị đừng bị tướng bề ngoài làm cho lầm lạc. Tâm Phật vẫn giống nhau, không có khác biệt nào giữa nam với nữ.
Tôi xin chứng minh với quý vị điều này. Trong giảng đường hôm nay có rất đông người tụ tập, nhưng khi nghe tiếng trống hay tiếng chuông ngoài kia, quý vị có nghĩ là phụ nữ lầm tiếng chuông là tiếng trống, tiếng trống là tiếng chuông chăng? Quý vị có thực nghĩ rằng có gì khác nhau trong cách đàn ông nghe với cách phụ nữ nghe những tiếng ấy? Tuyệt đối không khác chút nào. Lại nữa, thưa tất cả quý vị, đâu phải việc này chỉ đúng cho “nam giới và nữ giới” mà thôi. Trong giảng đường này, chúng ta có những người trẻ và người già, tăng và tục, đủ tất cả hạng người; nhưng nói đến sự nghe chuông trống, quý vị có thể nói được hay chăng, rằng người già nghe cách này, người trẻ nghe cách khác? Không có sự khác nhau trong cách tu sĩ nghe, cách cư sĩ nghe, cách đàn ông nghe, cách đàn bà nghe chăng? Điều ấy chứng tỏ tất cả mọi người đều sẵn có bẩm sinh một Tâm Phật đồng nhất. Vậy thì nói về nam và nữ chẳng qua chỉ là những danh từ, những cái bóng của tâm sản xuất ra. Trước khi những cái bóng ấy phát sinh, ở trong cảnh giới Bất sinh không có gì là nam hay nữ. Và vì sự tình là vậy, thì không có gì khác nhau giữa Tâm Phật nơi người nam và Tâm Phật nơi người nữ.
Giả sử trong lúc bạn đang an trú liên tục trong Bất sinh, trong Tâm Phật, quên hết những phân biệt nam nữ, nhưng đột nhiên bạn trông thấy hay nghe một việc gì rối rắm, chẳng hạn có người nào nói xấu bạn, hay những ý niệm tham dục bám víu khởi lên trong bạn mà bạn ràng buộc vào đó, thế là bạn đang chuyển tâm Phật thành ra ý nghĩ, chẳng hạn nghĩ “chỉ vì mình là một phụ nữ” hay đại loại như thế. Nếu không bị đánh lừa bởi hình tướng bên ngoài, hoàn toàn nắm lấy con đường duy nhất, cái Bất sinh, thì bạn sẽ thấy rằng không những nam hay nữ, mà chư Phật trong quá khứ hay vị lai cũng đều là một Tâm Phật đồng nhất ấy. Không lý do gì phụ nữ lại là một trường hợp đặc biệt, không thể chứng thành Phật quả.
Nếu sự thực có vài lý do khiến phụ nữ không thể thành Phật, mà tôi lại nói là họ có thể, để xí gạt tất cả quý vị, thì bảo đảm tôi sẽ phải đáp xuống địa ngục ngay lập tức. Chỉ vì mong thành Phật quả mà ngay từ tấm bé tôi đã phải chịu bao nhiêu gian khổ tu hành; không lẽ ngày nay tôi lại cố nói dối với quý vị để bị đọa xuống địa ngục? Những gì tôi nói với quý vị không phải là dối trá. Tôi muốn các vị phải nắm kỹ điều này, để từ nay trở đi, hãy an tâm mà sống những ngày tháng của các vị ở trong Tâm Phật Bất sinh…
Lại nữa, ngay cả nơi những người xấu ác, Tâm Phật vẫn không biến mất. Khi bạn lật ngược cái tâm xấu của họ, thì đấy là tâm Phật không gì khác. Tôi xin kể cho quý vị nghe một kẻ ác có tâm Phật là thế nào. Giả sử có hai người cùng đi với nhau từ đây đến Taka-matsu, một người thiện một người ác. Nhưng cả hai không ai để ý gì đến chuyện thiện ác mà cứ vừa đi vừa nói chuyện dọc đường. Hai bên đường hoặc trên đường có cái gì, thì mắt của người thiện cũng như người ác đều trông thấy như nhau. Nếu có con ngựa hay con bò xông tới trước mặt thì cả hai đều biết nhảy tránh, mặc dù không tính trước. Nếu có gặp hố nước, cả hai cùng nhảy qua, gặp sông thì cùng lội. Sở dĩ có phản ứng giống nhau như vây là vì người tốt lẫn người xấu đều cùng có một căn bảnchung là Tâm Phật Bất sinh.
Mỗi người trong đây cũng thế, từ trước đến nay, đã từng làm ác, bị ngốn ngấu bởi đủ loại bám víu và thèm khát, bị xâm chiếm bởi sân si, nên phải chịu luân hồi, chuyển đổi cái tâm Phật quý vị vốn có thành a tu la và quỷ đói. Nhưng sau khi nghe giải thích về tâm Phật Bất sinh rồi nếu quý vị hiểu rõ, thì chính cáitâm tham dục sân giận bám víu bấy lâu nơi quý vị lập tức sẽ chuyển thành Tâm Phật bất sinh, và quý vị sẽ không bao giờ mất tâm ấy, dù trải qua bao nhiêu kiếp. Khi quý vị an trú trong tâm Phật ấy, thì từ đây quý vị sẽ là những Phật sống. Nhưng đừng lầm; nếu bây giờ quý vị đánh mất tâm Phật ấy thì cả đến trăm ngàn kiếp sau quý vị cũng không thành Phật được. Hãy nên nhớ kỹ điều này.
Dù cho những thói tật thâm căn cố đế nơi quý vị sẽ khiến quý vị bám lấy những gì gặp phải, vọng tưởng chốc lát khởi lên, thì người có đức tin bền chắc sẽ không bám víu cũng không xua đuổi chúng – trong nháy mắt, người ấy sẽ dễ dàng quay trở về với Phật tính bất sinh. Ngay cả đối với chư Phật chư tổ, cũng không phải rằng các ngài hoàn toàn không có tư tưởng nào từ khởi thủy. Nhưng vì các ngài không bị vướng vào tư tưởng, và cũng như trẻ con, không có tưởng tương tục, nên cũng như thể là tư tưởng chưa từng sinh khởi. Chính vì vậy mà Phật, tổ giải thoát khỏi tư tưởng.
Khi tư tưởng không khởi lên, thì cái diệu dụng chiếu sáng linh hoạt của tâm Phật không hiện rõ, bởi thế sự sinh khởi những ý tưởng kỳ thực là diệu dụng của Phật tâmchiếu sáng. Nội cái việc tôi đang giải thích điều này và quý vị đang tiếp nhận đó cũng là do mọi người đều có được cái công năng chiếu sáng kỳ diệu của Tâm Phật bẩm sinh. Có phải điều ấy thật quý báu không? Vậy hãy nhớ kỹ điều này, nhận thức rõ rằng, gặp cảnh gì cũng dấy động tư tưởng thì chỉ chuốc lấy khổ đau. Bởi thế đừng chuyển cái Tâm Phật thành ra những tơ tưởng vốn không phải bẩm sinh nơi bạn, và hãy sống trọn ngày an trú trong Tâm Phật Bất sinh….
Chúng ta thường thấy, khi có người nào được ca tụng “Anh ta hay thật, giỏi thật!”, khi nghe vậy, một người khác sẽ tìm cách bôi nhọ cả đến những tài năng của người khác. Rõ ràng, đó là thói xấu của người kiêu ngạo. Có phải thái độ ấy thực sai lầm ghê gớm không? Chúng ta nên hoan hỉ khen ngợi người đáng khen, và khi nghe ai được hạnh phúc, hãy vui mừng như chính mình hạnh phúc. Sự thể đáng lẽ phải vậy. Người được như thế là người sáng suốt không để mờ tâm Phật. Nhưng nếu khi thấy hay nghe điều gì, mà bạn phản ứng với lòng kiêu căng hay cuồng tín, thì thế là bạn đã chuyển cái tâm Phật bẩm sinh nơi bạn thành một giống dân địa ngục…
Khi dẹp bỏ thói tức giận, tham lam, bám víu, chấp ngã, thì dù với kẻ tôi tớ, quý vị cũng không dữ dằn, mà bày tỏ lòng thương. Dù với tôi tớ, ta cũng không nên nghĩ họ không liên hệ gì đến mình. La mắng người khác xối xả, tức giận điên cuồng, đó là một lỗi lầm lớn. Từ trước đến nay, vì không hiểu nguyên tắc đằng sau sự việc, nên bạn tha hồ nổi nóng không cần suy nghĩ, tin rằng sự sân si tức giận là lẽ tự nhiên thường tình trong cõi người ta. Nhưng bây giờ, khi đã nghe về Tâm Phật bất sinh mà mỗi người đều sẵn có từ lúc mới sinh ra, thì từ đây về sau quý vị nên giữ gìn đừng làm hại cái tâm ấy.
Trên thế gian không có gì quý bằng Tâm Phật. Vì tất cả quý vị đều đang cố thực chứng Tâm Phật bất sinh, nên cần phải hiểu cho thấu đáo mới được. Tôi không bảo quý vị phải tu theo pháp này pháp nọ, phải giữ giới, phải tụng kinh, phải xem Ngữ lục của chư tổ, phải tọa thiền…Tâm Phật vốn đã sẵn nơi tất cả quý vị, không có cái chuyện tôi đem lại cho quý vị tâm Phật ấy. Khi lắng nghe bài giảng này, hãy nhận ra tâm Phật mà mỗi người đều có ngay trong chính mình, rồi từ nay về sau hãy an trú trong Tâm Phật bất sinh ấy. Một khi quý vị đã xác chứng được Tâm Phật mà mọi người bẩm sinh đều có, thì quý vị muốn đọc kinh cứ việc đọc kinh, muốn ngồi thiền cứ việc ngồi thiền, muốn giữ giới cứ việc thọ giới, muốn niệm Phật cứ việc niệm Phật, muốn trì chú cứ việc trì chú, hay cứ việc làm phận sự hàng ngày của quý vị – công việc sẽ là pháp chánh định của mỗi người. Tôi chỉ nói một điều duy nhất là: hãy nhận ra tâm Phật mà mỗi người quý vị bẩm thụ từ lúc cha mẹ mới sinh. Điều cốt yếu là nhận ra, và an trú trong tâm ấy với trọn vẹn niềm tin tưởng…
Sư dạy chúng: Như quý vị đều đã nghe tôi nói, mọi người bẩm sinh đều có tâm Phật, vậy quý vị chỉ cần làm mỗi một việc duy nhất là an trú trong cái tâm Bất sinh ấy. Thế nhưng, vì theo thói đời, quý vị đã vướng vào những tệ đoan và đã chuyển tâm Phật thành ra quỷ đói luôn bám víu thèm khát. Hãy nhớ kỹ điều này, để luôn trú trong tâm Phật bất sinh. Nhưng nếu vì mong mỏi nhận cho ra cái Bất sinh mà quý vị rán ngăn chặn những ý tưởng giận dữ thèm khát không cho chúng khởi lên, thì khi làm như vậy quý vị đã phân chia một cái tâm duy nhất ra làm hai. Cũng như thể là quý vị đuổi theo một cái gì đang trốn chạy. Khi ta còn cố ý ngăn tư tưởng khởi lên, thì cái ý ấy chống lại với những ý khác đang khởi lên liên tục, thế là không bao giờ có sự chấm dứt thật sự. Việc ấy cũng như thể là dùng máu để rửa máu, không bao giờ sạch được. Cũng vậy, mặc dù những tư tưởng giận dữ mà bạn ngăn chặn ấy có thể chấm dứt, nhưng cái tư tưởng sau dùng để ngăn chặn tư tưởng trước cứ tiếp tục không bao giờ dừng nghỉ. Bạn có thể hỏi, vậy phải làm sao? Nếu bỗng dưng ý tưởng giận dữ, hay thèm khát, hay bám víu… khởi lên nơi bạn một cách bất trị, ngoài ý muốn, thì đừng khai triển nó thêm, đừng để ý đến nó. Đừng bận tâm ngăn chặn hay không ngăn chặn, chỉ cần mặc kệ nó, thì nó không thể làm gì khác hơn là đi đến chấm dứt. Bạn không thể cãi với vách tường nếu bạn chỉ đứng một mình. Khi không có ai ở đấy để chiến đấu, thì mọi việc tự động đi đến chấm dứt.
Dù cho đủ mọi thứ tư tưởng tạp loạn thò mặt ra, thì cũng chỉ ló ra trong một chốc. Nếu bạn không bám víu một tư tưởng nào đặc biệt, như vui hay buồn, không nghĩ tới chuyện chấm dứt hay không chấm dứt nó, thì thế chính là an trú trong Tâm Bất sinh. Hãy giữ cho cái tâm duy nhất vẫn là cái tâm duy nhất. Nếu tâm bạn luôn luôn như vậy, thì dù cho điều tốt điều xấu gì khởi lên cũng tự động chấm dứt mà không cần bạn phải cố nghĩ hay không nghĩ. Cái mà bạn gọi là cơn giận hay niềm vui toàn là do bạn sản xuấtvới mãnh lực của tính chấp ngã, hậu quả của dục vọng ích kỷ. Khi vượt ngoài mọi ý tưởng bám víu thì những tư tưởng kia sẽ tự động tan biến. Sự biến mất ấy chính là cái Bất diệt. Và cái bất diệt chính là Tâm Phật bất sinh.
Tóm lại, điều chính yếu là luôn luôn nhớ đến Tâm Phật bất sinh, không hâm nấu những tư tưởng này nọ trên cái nền Bất sinh ấy, nghĩa là đừng bám lấy những gì bạn gặp phải và đổi cái tâm Phật thành ra những ý tưởng. Khi bạn không bị lay chuyển, thì không tư tưởng nào còn khởi lên dù tốt hay xấu và do đó cũng không cần gì phải diệt. Như thế có phải là bạn không tạo tác cũng không hủy diệt hay chăng? Đấy không gì khác hơn là cái Tâm Phật bất sinh bất diệt đó vậy. Hãy hiểu rõ điều này.

Tự tại trong sống chết

Khi bàn đến vấn đề tự tại với sống chết, người ta thường dễ hiểu lầm. Có những người công bố trước ngày giờ họ sẽ chết, rồi đến lúc ấy, không đau ốm gì họ lăn ra chết thực; hoặc đôi khi triển hạn qua ngày khác mới chết. Rất nhiều người xem đấy là tự tại trong việc sống chết. Tôi không phủ nhận điều đó. Nói về tự tại, thì những người ấy quả là tự tại kinh khủng! Nhưng những chuyện như thế chỉ là do năng lực khổ hạnh nơi họ, và thường họ chưa mở được con mắt tuệ (Tuệ nhãn hay Pháp nhãn của Bồ tát để thấy rõ thực chất mọi sự vật và để cứu độ hữu tình). Ngay trong số những người thường, ta cũng thấy những trường hợp biết trước cái chết như vậy, trong khi họ chưa mở khai đạo nhãn.
Con người của Bất sinh thì siêu việt cả sống chết. Bây giờ, có lẽ quý vị đang tự hỏi siêu việt sống chết là thế nào. Cái gì đã bất sinh thì bất diệt, và cái gì bất diệt thì không chết, nên gọi là siêu việt sinh tử. Vậy một người tự tại trước sống chết theo tôi, là một con người khi chết không bận tâm về chuyện sống chết. Hơn nữa, vấn đề sống chết vẫn xảy ra hàng ngày với chúng ta, không phải đợi đến lúc ta chạm mặt với cái chết thực sự mới gọi là chết. Một người tự tại trong sinh tử là người không bao giờ bận tâm đến sống chết, vì biết khi còn được sống thì cứ sống, khi đến thời chết thì cứ chết, dù chết ngay bây giờ cũng được, cái chuyện lúc nào chết không quan trọng lắm. Người như thế cũng là người đã rốt ráo thực chứng cái Tâm Phật bất sinh chiếu sáng kỳ diệu. Cứ nói và suy nghĩ về những chuyện vặt vãnh như bạn sẽ chết vào giờ ngày nào, quả thực là tâm lý hẹp hòi, phải vậy không?
Rồi lại có ý nghĩ cho rằng “sinh tử là niết bàn”, đây cũng lại là một cái gì vẫn còn ràng buộc với sinh tử. Ai cũng biết cảnh giới của sinh tử không khác gì cảnh giới của niết bàn. Cái lý do người ta phải nói lên như vậy là vì họ không thực chứng cái Tâm Phật mà mọi người bẩm sinh đã có và hiện tại đang giải quyết mọi sự với Bất sinh. Bị bao phủ, gói kín trong danh tự chữ nghĩa, họ cứ lang thang tìm khắp nơi cái sinh tử và niết bàn ở bên ngoài, đổi cái Tâm Phật bất sinh của họ để lấy những khái niệm về sống chết và niết bàn, khiến họ tối ngày cứ lẩn quẩn trong lĩnh vực sinh tử không có giây phút nào bình yên. Nghĩ thật đáng thương xót.
Vì Tâm Phật đang dàn xếp mọi sự một cách hoàn toàn ổn thỏa với cái Bất sinh, nên nó không cần biết đến sinh tử hay niết bàn. Từ vị trí Bất sinh, thì sinh tử và niết bàn cũng chỉ là một mớ tư duy trống rỗng. Nên ngay cả một người mới hôm nào vẫn ngụp lặn trong sinh diệt, mà hôm nay nhận ra mình đã lầm, từ đó không còn đổi cái Tâm Phật bất sinh thành ra ba độc (tham sân si) hay vướng vào sinh tử niết bàn nữa, thì người ấy cũng sẽ an trú trong Tâm Phật bất sinh. Khi ấy, lúc các yếu tố làm nên thân xác của mình đã đến thời tan rã, họ cứ để cho nó tan rã, và chết không chút lưu luyến. Đây là một con người mà đối với họ sinh tử là niết bàn chân thật, một con người tự tại trước sống chết.

Bản lai diện mục


Cái được gọi là bản lai diện mục cũng không khác gì Tâm Phật bất sinh. Cái mà bạn thừa hưởng của cha mẹ từ lúc mới sinh chỉ là Tâm Phật, không gì khác. Đây là từ ngữ mà một bậc thầy ngày xưa đã đặt ra cốt làm cho người học nhận ra rằng Tâm Phật bất sinh chính là mặt mũi nguyên ủy của mình, hay bản lai diện mục. Ngay danh từ cha hay mẹ cũng là những gì đặt cho cái đã sinh ra. Con người thực chứng được Tâm Phật thì ở tận ngọn nguồn của cha và mẹ, đó là lý do ta nói đến một cái “hiện hữu trước cả khi cha và mẹ ra đời”. Cái đó không gì khác hơn là cái Bất sinh; bởi thế Tâm Phật cũng chính là Bản lai diện mục của bạn…

Nước và băng


Vì cái Tâm Phật mỗi người sinh ra đã có, vốn không do tạo tác mà thành, nên nó không chứa đựng một chút mê lầm nào. Bởi thế, người nào bảo “tôi mê lầm, vì tôi là một con người không được giác ngộ” là một người con hết sức bất hiếu vì đã phỉ báng cha mẹ mình. Về cái Tâm Phật mà mỗi người có sẵn từ lúc cha mẹ mới sinh, thì chư Phật quá khứ và những con người hiện tại đều có cùng bản chất, không gì khác nhau. Việc ấy cũng như nước ở đại dương: Giữa mùa đông, nước đông lại thành băng giá nên có những hình thù khác nhau như vuông tròn, nhưng khi băng tan, thì tất cả chỉ là một thứ nước biển.
Khi bạn ngộ được bản chất bất sinh của Tâm Phật, thì đó chính là nước như xưa nay nó vẫn là, và bạn có thể tha hồ thọc tay vào đó. (Nghĩa là, khi cái tâm trở về nguyên trạng của nó – như băng trở lại thành nước – thì nó trở nên lưu nhuận, trong suốt, không gì ngăn bít dòng chảy tự do của nó)

Chấm dứt tư tưởng

Vì trong Tâm Phật bất sinh chiếu sáng kỳ diệu ấy vốn không có một chút thiên kiếnnào, nên nó tha hồ thích ứng, mỗi khi gặp cảnh là những tư tưởng lại ló ra. Nếu bạn không quan tâm đến chúng thì không sao cả; nhưng nếu bạn vướng vào chúng và tiếp tục triển khai, những ý tưởng ấy thì bạn không thể dừng lại. Khi ấy bạn làm mờ cái công năng chiếu diệu của tâm Phật và tạo nên si mê lầm lạc. Trái lại, vì từ khởi thủy, Tâm Phật vẫn chiếu sáng kỳ diệu, sẵn sàng soi sáng và phân biệt mọi thứ, nên khi bạn căm ghét những ý tưởng si mê đã khởi lên ấy, và cố ngăn chặn chúng, thì bạn bị vướng vào công việc ngăn chặn, tạo ra mâu thuẫn giữa người ngăn chặn và cái bị ngăn chặn (năng – sở). Nếu bạn cố dùng ý tưởng để ngăn ý tưởng, thì sẽ không bao giờ đi đến cùng tận. Việc ấy cũng như dùng máu rửa máu, dù bạn tẩy được lớp máu trước, vẫn còn lại lớp máu sau.

Gương sáng

Vì tâm Phật vốn bất sinh và chiếu sáng kỳ diệu, nên nó ngàn vạn lần sáng hơn một tấm gương, không có cái gì mà tâm ấy không nhận ra và không phân biệt được. Với một mặt gương, hình thể của vật nào vừa đi qua trước mặt thì liền có bóng hiện ra. Gương không có ý định nhận vào hay bỏ ra vật gì, cũng không định phản chiếu hay không phản chiếu một cái bóng nào. Đấy là công năng của gương sáng. Vì không có ví dụ nào tốt hơn nên chúng ta đành phải mượn tấm gương để ví với diệu dụng chiếu sáng của Tâm Phật, kỳ thực Tâm Phật còn ngàn vạn lần kỳ diệu hơn thế nữa.
Với công năng chiếu sáng kỳ diệu của tâm Phật, mọi đối tượng xuất hiện trước mắt bạn đều được nhận ra và phân biệt rành rẽ, bạn không cần phải làm bất cứ gì. Bởi thế mặc dù không cố ý, bạn vẫn nhận ra trăm ngàn ấn tượng khác nhau qua hình sắc hoặc âm thanh. Đấy là những vật thể có hình dáng. Nhưng ngay cả những thứ vô hình, như những gì xảy ra trong tâm người, cũng được phản chiếu rõ ràng. Dù bạn gặp nhiều gương mặt khác nhau đủ loại, những tư tưởng thiện hay ác của họ đều được phản chiếu nhờ tâm Phật chiếu sáng kỳ diệu. Ví dụ trong chúng hội đang nghe pháp tại đây, nếu có người ho lên, thì mặc dù bạn không cố ý lắng nghe, mà vừa khi có tiếng ho, bạn có thể phân biệt ngay tiếng ho ấy là của đàn ông hay đàn bà, già hay trẻ. Hoặc lấy ví dụ một người bạn đã hai mươi năm không gặp, nay tình cờ gặp lại trên đường, tự nhiên những biến cố thuộc hai mươi năm trước tuôn dậy rõ ràng trong ý thức. Việc này thật khác xa công năng của tấm gương!
Cái sự bạn nhận ra và phân biệt được ngay lập tức, một cách tự nhiên bất cứ gì bạn thấy và nghe, chính là công năng linh hoạt của tâm Phật mà bạn có được một cách bẩm sinh từ lúc mới lọt lòng, cái tâm Phật bất sinh và chiếu sáng kỳ diệu.
Một ví dụ khác về công năng bẩm sinh của tâm Phật là: khi bạn đang ngồi yên bỗng có ai dí vào tay một đóm lửa thì bạn giật mình, và tự động rụt tay lại. Điều này cũng chứng tỏ cái tâm Phật chiếu sáng kỳ diệu vốn bất sinh và dàn xếp một cách toàn hảo mọi sự.
Ngược lại, khi bạn nghĩ “vừa rồi là một đóm lửa” rồi nhận ra “lửa nóng” và tức giận kẻ nào đã đốt bạn, thì chính bạn đã rơi vào lãnh vực của kinh nghiệm phụ thuộc sau khi sự kiện đã xảy ra.

Không có gì gọi là giác ngộ

Một vị tăng từ Sendai 
đến bảo: Tôi nhớ đâu đó có một thành ngữ rằng: “Tâm bị lụy vì hình hài.” Tôi mong sống hợp với tâm nguyên thủy vào mọi thời, nhưng làm sao tu tập để được như thế? Xin Ngài chỉ giáo cho.
Sư dạy: Trong tông phái tôi, không có hình thức chỉ giáo nào đặc biệt về pháp tu, cũng không có phương pháp đặc biệt nào. Vì người ta không nhận ra rằng ngay trong chính mình đã sẵn đủ cái tâm Phật mà họ có từ thuở sơ sinh, nên họ mất hết tự do giải thoát và nói về chuyện muốn sống hợp với tâm nguyên thủy. Khi bạn ngộ được rằng tâm Phật bạn có từ cha mẹ sinh, vốn bất sinh và chiếu sáng kỳ diệu, thì tay chân bạn vận hành thoải mái, và đấy là công năng của tâm Phật chiếu sáng vốn bất sinh. Bằng chứng là, vì muốn nghe Bankei, bạn đã từ Sendai lặn lội đến đây qua một đoạn đường dài. Nhưng khi bạn dừng chỗ này chỗ kia dọc đường để nghỉ, thì không phải lúc nào bạn cũng nghĩ đến Bankei. Ban ngày, bạn ngắm phong cảnh trên đường, và nếu có người cùng đi, bạn nói chuyện với họ. Mặc dù trong lúc đi, bạn không nghĩ gì về cuộc gặp gỡ với tôi, cuối cùng bạn vẫn đến chỗ tôi. Đây là ý nghĩa về tâm Phật vốn bất sinh và dàn xếp mọi sự một cách êm đẹp.
Lại nữa, ở Sendai bạn thấy những con cò màu trắng và những con quạ màu đen không cần ai nhuộm. Ở đây cũng vậy, mặc dù không cố ý phân biệt, vừa khi thấy chúng xuất hiện, bạn biết ngay con trắng là cò và con đen là quạ. Không cần dấy lên ý tưởng nào, tất cả điều đó được dàn xếp một cách trơn tru phải thế không?
Khi ấy vị tăng hỏi: Tôi thấy không thể nào kiểm soát tất cả những sân si dục vọng trong tôi. Tôi phải làm sao, xin Ngài chỉ giáo.
Sư trả lời: Cái ý tưởng muốn kiểm soát của bạn chính là một vọng tưởng, đổi tâm Phật thành ra vọng tưởng. Vọng tưởng vốn không có thực chất khi nó sinh khởi. Sự thật chúng chỉ là những cái bóng, những sự việc bạn đã thấy và nghe khi gặp cơ hội lại trồi lên.
Vị tăng lại hỏi: Giác ngộ là gì?
Sư trả lời: Không có điều gì gọi là giác ngộ, đấy hoàn toàn là một đeo đuổi vô ích. Hãy nhận ra một cách rốt ráo rằng tâm Phật mà bạn có từ cha mẹ vốn bất sinh và chiếu sáng kỳ diệu – đó chính là giác ngộ. Không nhận ra điều này là si mê. Vì tâm Phật nguyên ủy vốn bất sinh, nên nó vận hành không có những ý tưởng về si mê hay mong cầu giác ngộ. Vừa khi có ước muốn giác ngộ là bạn đã rời khỏi vị trí của Bất sinh và đi ngược lại với nó. Vì tâm Phật là bất sinh, nó tuyệt nhiên không có tư tưởng gì cả. Tư tưởng là nguồn gốc của vô minh. Khi hết tư tưởng thì vô minh cũng diệt. Và khi bạn đã hết vô minh thì không cần gì nói đến mong muốn đạt giác ngộ, phải vậy không?

An trú trong tâm Phật


Một vị tăng hỏi: Con thường đọc kinh và tọa thiền, vì con cảm thấy những việc này có công đức. Bây giờ con có nên dẹp hết vì vô ích chăng?
Sư trả lời: Tọa thiền và xem kinh là việc tốt. Tọa thiền là việc mà tất cả tu sĩ muốn uống nước từ nguồn Thích Ca đều phải thực hành không được coi khinh. Mặc dù tất cả những pháp này thay đổi tùy hoàn cảnh khác nhau và tùy cách dạy của mỗi bậc thầy, song tất cả đều liên hệ đến việc bạn phải tự mình thực chứng cái tâm Phật bất sinh. Khi bạn không lầm tiếng chuông với tiếng trống, tiếng chim sẻ với tiếng chim quạ, tất cả những âm thanh nghe qua, bạn đều nhận ra và phân biệt từng thứ một, không sót tiếng nào. Đấy chính là cái tâm Phật chiếu sáng kỳ diệu đang lắng nghe. Những gì nói trong Lâm tế ngữ lục và những gì tôi nói chỉ là một thứ không có gì khác nhau. Vấn đề duy nhất là bạn có đức tin hay không. Nếu bạn không thể an trú trong tâm Phật bất sinh mà khuấy động lên đủ thứ tư tưởng như nuối tiếc quá khứ, lo lắng về tương lai, thì chính là bạn đang xoay vần biến hóa trong sinh tử mà không tự biết. Bạn đã đổi tâm Phật thành ra những tư tưởng phù du, không bao giờ có một giây phút an ổn.
Bây giờ bạn có thể tọa thiền đọc kinh, nhưng hãy an trú trong tâm Phật mà bạn có, và thực chứng cái bất sinh. Nếu bạn tọa thiền hay đọc kinh, với mục đích hay hy vọng tích lũy công đức, thì thế là bạn đổi tâm Phật lấy công đức, đổi tâm Phật lấy tọa thiền và tụng kinh! Thế đấy, nên điều bạn cần làm là nhận ra với niềm tin tưởng sâu xa rằng, mọi sự tự nó được nhận chân và được phân biệt mà không cần bạn phải để tâm suy nghĩ. Tất cả là vì tâm Phật chiếu sáng kỳ diệu vốn bất sinh, và thu xếp mọi sự một cách trôi chảy.

Khi tư tưởng khởi lên

Một chú tiểu hỏi: Khi con tọa thiền, tư tưởng lại khởi lên. Con phải làm sao?
Sư dạy: Phân biệt được và nhận ra được từng ý nghĩ khởi lên, đấy chính là công năng linh hoạt của tâm Phật. Vì tâm Phật vốn bất sinh mà cũng chiếu sáng kỳ diệu nữa, nên bất cứ gì được lưu giữ trong tâm con bây giờ trồi lên. Trong tâm Phật không có một tư tưởng hay một vật gì, bởi thế khi con không để mình vương vấn với chúng, tức là đã phù hợp với tâm Phật bất sinh. Đừng lo cố xua đuổi chúng hay ngăn chặn chúng.

Tâm Phật sống động


Sư bảo đại chúng: Với một người thực chứng tâm Phật một cách rốt ráo vào mọi lúc, thì khi vị ấy đi ngủ, cũng đi ngủ với tâm Phật; khi dậy là dậy với tâm Phật; khi ở là ở với tâm Phật; khi đi là đi với tâm Phật; khi ngồi là ngồi với tâm Phật; khi đứng là đứng với tâm Phật; khi nói là nói với tâm Phật; khi im lặng là im lặng với tâm Phật; khi ăn cơm là ăn với tâm Phật; khi uống trà là uống với tâm Phật; khi mặc áo là mặc áo với tâm Phật. Vào mọi lúc, vị ấy an trú liên tục trong tâm Phật, không có lúc nào là vị ấy không ở trong tâm Phật. Vị ấy hành xử ung dung tùy theo hoàn cảnh, cứ để mọi sự theo cách tự nhiên của chúng. Chỉ cốt là không làm những điều ác mà chỉ làm những việc lành.
Nhưng nếu bạn tự hào về những việc lành của mình, bám víu vào đó và ghét cái xấu, thì thế là đi ngược với tâm Phật. Tâm Phật không thiện cũng không ác, mà vận hành vượt ngoài cả thiện ác. Đó không phải là tâm Phật sống động hay sao? Khi bạn đã ngộ được điều này không còn một chút nghi ngờ nào cả, thì ngay lúc ấy bạn sẽ mở được con mắt thấy suốt tâm người. Bởi thế mà tông phái của tôi được mệnh danh là tông Mắt Sáng.

Đàn áp cũng là mê muội


Một vị Tăng hỏi: Con nhận thấy không thể nào đàn áp tất cả phiền não vọng tưởng của con. Con phải làm sao?
Sư đáp: Cố mà đàn áp vọng tưởng thì cũng là mê muội. Vọng tưởng nguyên ủy vốn không hiện hữu, mà chỉ do chính bạn tạo ra vì phân biệt.
Một vị Tăng từ Sendai đến hỏi: Làm thế nào con có thể thực chứng cái tâm bản nhiên?
Sư đáp: Ngoài con người đang hỏi tôi lúc này ra, thì không có tâm bản nhiên nào. Cái tâm bản nhiên ấy siêu việt tư duy mà phân biệt rõ ràng mọi sự. Bằng cớ điều này là, nếu tôi hỏi bạn điều gì liên hệ đến nơi bạn ở, có phải là bạn trả lời vanh vách không cần suy nghĩ hay không.

Buông xả

Một cư sĩ nói: Vài năm về trước, tôi hỏi Ngài phải làm sao để ngăn vọng tưởng sinh khởi, và Ngài đã dạy tôi cứ để mặc chúng sinh diệt tùy ý. Tôi vẫn làm theo lời khuyên của Ngài, nhưng tôi lại thấy thật khó mà cứ để cho những vọng tưởng cứ khởi và diệt như vậy.
Sư bảo: Lý do bạn gặp khó khăn là vì bạn tưởng rằng có một phương pháp đặc biệt nào để phó mặc cho ý tưởng cứ khởi và diệt.

Như bạn vốn là

Sư bảo đại chúng: Tất cả quý vị nên nhận ra cái tâm Phật vận hành sống động này! Từ nhiều trăm năm nay người học Phật đã hiểu lầm giáo lý Thiền, cố đạt giác ngộ bằng cách tọa thiền hoặc cố tìm cho ra “con người thấy và nghe”, tất cả điều này là một sai lầm lớn. Tọa thiền chỉ là một tên khác của tâm bản lai, nó có nghĩa là ngồi an tịnh với một cái tâm an tịnh. Khi ngồi thiền bạn chỉ cần ngồi như bạn vẫn ngồi; khi bạn thiền hành, thì bạn cứ tản bộ như bạn vẫn đi. Dù cho miệng của bạn rộng lớn đủ để nuốt trọng cả trời đất, cũng không thể nào diễn tả Phật Pháp bằng lời. Những người nói về Phật Pháp, phần đông chỉ làm cho người ta lòa mắt.
Trong cái “tâm” mà bạn thừa hưởng của Cha Mẹ từ lúc mới sinh, không có một chút mê lầm nào cả. Bởi thế, khi bạn quả quyết rằng “tôi mê mờ vì tôi là một người sinh ra đã ngu dốt” thì thế là bạn đổ lỗi cho cha mẹ mình một cách bất công. Chư Phật trong quá khứ với con người trong hiện tại đều có đồng một tâm Phật duy nhất ấy, không có khác gì nhau. Tôi sẽ lấy một ví dụ cho bạn hiểu: khi nước biển múc lên đổ vào những bình chứa khác nhau, và gặp thời tiết nước đông lại, thì tùy theo những bình chứa lớn nhỏ vuông tròn khác nhau mà nước đông thành đá sẽ có những hình dạng khác nhau; nhưng khi băng tan thì tất cả nước trở lại đồng là nước của biển cả. Vì không biết tâm Phật vận hành sống động như thế, nên bạn nghĩ bạn sẽ thành Phật nhờ tích lũy quả báo tu hành và giác ngộ. Bị rơi vào mê lầm, đi từ bóng tối vào trong bóng tối, thật là bi đát phải không? Tôi không giảng dạy về Phật giáo, nhưng khi nói chuyện tôi chỉ xử lý những ý tưởng sai lầm nơi các bạn.

Không một dấu vết

Một khách tăng hỏi: Con tu hành với mục đích là đạt giác ngộ. Ngài nghĩ sao về vấn đề này?
Sư dạy: Giác ngộ chỉ có khi có si mê. Nhưng mọi người đều có bản chất giác ngộ, nên một chút mê lầm cũng không hiện hữu. Thế thì bạn cần phải đạt đến cái gì?
Vị Tăng nói: Điều ấy tôi nghe thật điên rồ. Chính nhờ đạt giác ngộ mà tất cả thánh hiền xưa kể từ sơ tổ Bồ đề đạt ma, đã hoàn toàn chứng đắc về Pháp.
Sư bảo: Như Lai cứu độ hữu tình bằng cách “điên rồ” như thế đấy, không đến không đi, mà vẫn như tính bạn bẩm sinh, không để cho tâm trở nên mờ mịt – đấy chính là ý nghĩa của Như Lai. Và đấy cũng là đường lối chư Tổ trong quá khứ.

Bịt mắt

Một vị khách tăng hỏi : Tọa thiền có công đức gì không?
Sư nói: Tọa thiền là điều không nên coi thường, cũng không nên xem thường việc tụng kinh, lễ bái. Tổ Đức Sơn dùng gậy, Thiên Thai dùng tiếng hét, Đạt ma diện bích – Tất cả đều là những phương tiện của các bậc thầy, những phương pháp đối phó với những tình huống đặc biệt và đáp ứng những nhu cầu của từng cá nhân trong cuộc. Ngay từ đầu đã không có những quy luật cố định. Nếu bạn xem những phương tiện tạm thời ấy như những lời dạy bất di dịch, thì cũng như bạn tự bịt mắt mình. Chỉ cần vững tin vào lời tôi nói, giữ tâm hồn nhiên như lúc mới sinh không có những phân biệt phù phiếm, hệt như khi mọi vật phản chiếu trong gương, thì khi đó không có gì trên đời mà bạn không thâm nhập thông suốt. Đừng nghi ngờ!

Mọi sự đều được dàn xếp trơn tru


Một vị tăng từ Tamba đến hỏi: ước nguyện chân thành của con trong dịp này là chứng được giác ngộ và trở thành một con người toàn hảo về mọi mặt. Xin Ngài chỉ giáo cho con.
Sư nói: Bạn đã lặn lội từ xa đến và có những ước nguyện đáng khen, nhưng chúng toàn là vọng tưởng. Trong cái tâm nguyên ủy, không có vọng tưởng cũng không có ước nguyện. Trong cái công năng chiếu sáng kỳ diệu nội tâm, không hề có một ước nguyện nào cả, thế mà mọi sự vẫn được dàn xếp trơn tru. Ngay cả cái việc muốn thành Phật liền bây giờ cũng là một điều giả tạo. Chỉ cần nhận thức rằng mình đang tạo những ước nguyện, rồi cứ sống tự nhiên, đừng vướng mắc bất cứ sự gì, thì bản lai diện mục của bạn sẽ được hiển lộ.

Đi đâu

Một cư sĩ hỏi: Khi thành Phật rồi, ta sẽ đi đâu?
Sư trả lời: Nếu bạn thành Phật, không có nơi nào để đi cả. Khi đó bạn ở khắp cả tam thiên đại thiên thế giới. Chỉ khi bạn trở thành loại chúng sinh nào khác thì mới có nhiều chỗ khác nhau để đi.

Trái banh bằng vàng


Có lần Sư bảo : Không giống như những bậc thầy khác ở khắp nơi, trong giáo lý tôi, tôi không lập ra một mục tiêu đặc biệt nào như chứng đắc giác ngộ hay tham cứu công án. Tôi cũng không dựa vào lời Phật và tổ. Tôi chỉ thẳng vào sự việc, nên không có gì để bám lấy, và cũng vì vậy không có người nào sẵn sàng chấp nhận những gì tôi giảng dạy. Trước hết, những người thông minh và đa văn thì bị chướng ngại bởi chính sự thông minh tính toán của họ, nên họ không thể chấp nhận lời tôi. Ngược lại, có rất nhiều phụ nữ ngu dốt không biết đọc biết viết, lại không có tài năng đặc biệt nào, và cũng không thể đẩy họ lên làm thiền sư. Nhưng họ có được thực chứng và không vướng vào tri thức.
Sư lại thêm : Mặc dù vậy, dù không có ai chấp nhận hoàn toàn, giáo lý tôi giống như một trái banh bằng vàng bị đập vỡ ra nhiều mảnh tung tóe khắp nơi, để cho ai được một mảnh thì sẽ có được một mảnh giác ngộ, ai được hai mảnh thì sẽ có được hai mảnh giác ngộ…, từng mảnh nhỏ, nhưng không ai là không lợi lạc tùy theo chỗ chứng đắc của mình.

Nghi lớn

Một vị Tăng hỏi: Người xưa tuyên bố nghi lớn ngộ lớn (đại nghi đại ngộ). Tại sao Ngài không sử dụng cái nghi lớn của các bậc Thầy xưa?
Sư đáp: Về ý nghĩa của nghi lớn là như sau: ngày xưa khi Nam Nhạc Hoài Nhượng đến thăm Lục tổ, tổ hỏi, vật gì đến đó? Nam Nhạc hoàn toàn bối rối, thắc mắc về vấn đề này đến 8 năm, và cuối cùng đã trả lời: nói là một vật thì không trúng. Đây mới thực sự là đại nghi đại ngộ. Ví dụ khi một vị tăng mất chiếc y ca sa độc nhất, ông ta đi tìm khắp nơi không lúc nào không nghĩ đến nó – đấy là nghi thực sự! Người ngày ngày cứ khơi lên hoài nghi chỉ vì họ bảo những bậc thầy ngày xưa cũng làm như vậy; bởi thế họ chỉ phát sinh được một thứ hoài nghi bắt chước. Vì sự hoài nghi này không chân thật, nên họ sẽ không có ngày nào ngộ. Việc ấy cũng như thể là họ đi tìm khắp nơi tưởng mình mất một cái gì mà thực sự chưa từng bị mất.

Khác nhau trời vực

Vào một dịp khác, Sư bảo: Về cái chân lý mà tôi đã tìm ra năm tôi 26 tuổi khi nhập thất trong làng Nonaka – chân lý mà tôi đã tìm đến thiền sư Dosha để được ấn chứng – cái thấy lúc ấy với bây giờ không có chút gì khác nhau. Tuy nhiên, nói về sự thâm nhập Phật pháp với pháp nhãn hoàn toàn trong sáng và giải thoát tuyệt đối, thì từ ngày tôi gặp Dosha đến nay thực khác nhau một trời một vực. Tất cả quý vị hãy tin rằng điều này có thể xảy ra, và hãy đợi đến cái ngày quý vị hoàn toàn chứng được pháp nhãn.
Có người hỏi: Có phải pháp nhãn hoàn toàn trong sáng cần phải có thời gian mới chứng được? Người ta chứng pháp nhãn ngay lập tức có được không?
Sư trả lời: Đương nhiên là cần một số lượng thời gian. Khi đã phát sinh con mắt Pháp trong suốt không chút tì vết (pháp nhãn ly trần vô cấu) là bạn đã chứng ngộ một cách toàn vẹn. Và việc chứng ngộ của bạn tùy thuộc vào sự tu tập một cách nghiêm túc và nhất tâm.

Hãy coi chừng nơi bạn đi

Khi tôi (tức Sonin đệ tử thừa kế của Bankei) mới gặp Sư lần đầu, tôi thọ giáo với Ngài nhưng vì không có được sự thấu hiểu sâu xa, tôi đã nói: Những gì thầy dạy là cảnh giới của bậc thầy. Nhưng với một kẻ như con chưa từng chứng ngộ, con nghĩ rằng thật khó mà với tới cảnh giới bậc thầy.
Sư đã bảo tôi: Nếu ông muốn chân lý, ông phải làm như tôi nói. Những người học đạo trước hết phải cẩn thận xem chừng mình đang đi ở đâu. Ví dụ, nếu một người muốn đi Edo và được người ta chỉ cho phải đi về phía đông. Nếu anh ta đi đúng hướng thì cứ mỗi dặm đường là tiến gần đến đích một dặm; nhưng nếu anh ta lầm đi sang phía tây, thì càng đi nhanh càng xa với mục tiêu của mình. Có lần tôi hỏi Sư: Trong việc học đạo, có cần đọc kinh Phật và ngữ lục của các vị tổ không?
Sư trả lời: Cũng còn tùy. Nếu ông đọc kinh điển và ngữ lục mà ông hoàn toàn lệ thuộc vào những nguyên tắc trong đó, tức là ông tự bịt mắt mình lại. Ngược lại, khi ông đủ trình độ để bất chấp nguyên tắc mà đọc những thứ ấy, thì ông sẽ tìm ra bằng cứ cho sự chứng ngộ của mình.
Một lần tôi hỏi Sư: Con luôn luôn bị khổ vì những thói quen xấu. Con có thể chấm dứt chúng bằng cách luôn luôn đề phòng hay không?
Sư hỏi: Nếu ông nhận ra rằng từ khởi thủy, không có thói quen xấu, thì có gì để chấm dứt?
Tôi trả lời: Con công nhận rằng khởi thủy không có thói quen xấu, con không nghi ngờ gì về điều ấy. Nhưng thỉnh thoảng những thói quen xấu của con lại xuất hiện, và khi con đề phòng chúng thì chúng không xuất hiện. Bởi thế mặc dù con hoàn toàn công nhận sự thật là, từ đầu thói xấu không hiện hữu, nhưng riêng về chuyện tu hành hằng ngày của con, thì có phải tốt nhất nên đề phòng?
Sư nói: Đó không phải là chân thật công nhận.
Bây giờ từ khi khắc cốt ghi tâm những lời dạy từ bi của bậc thầy, tôi đã thực chứng một cách rốt ráo thực tướng của chân lý. Vào một dịp khác tôi hỏi: Từ lúc mới sinh, con đã bị những cơn đau thắt ghê gớm trong bụng, mỗi lần như vậy con phải hoàn toàn nhịn ăn trong nhiều ngày, bị nhức đầu kinh khủng và cảm thấy đau đớn tới độ muốn đưa tay lên mà sửa cái gối cũng không thể được. Bình thường khi đang khỏe thì con hết sức dũng mãnh tinh tấn, sẵn sàng vì Pháp mà hy sinh mạng sống và tay chân. Nhưng vào những lúc cơn đau vừa nổi lên, là con hoàn toàn bất lực. Khi cơn đau đến tột đỉnh thì con yếu hơn bao giờ cả. Dường như là tinh thần dũng mãnh thường lệ của con bị ngọn gió bệnh làm cho điêu đứng. Con vô cùng buồn khổ vì chuyện này.
Sư hỏi: Một khi ông lành mạnh trở lại thì thế nào? Tôi trả lời: Khi con mạnh trở lại thì mọi sự lại trở lại như thường.
Sư bảo: Thế thì tốt. Từ đấy về sau vào mọi lúc, tôi luôn luôn giống như bây giờ, vượt ngoài phân biệt, hoàn toàn tự do thoải mái, không một chút gắng gượng.
Một lần tôi hỏi Sư: Con đã theo thầy khá lâu, và được may mắn hầu cận bên thầy trong nhiều năm làm thị giả. Về những điều cốt yếu trong giáo lý thầy, con không có một chút hoài nghi nào cả. Tuy nhiên điều con nhận thấy tuyệt vời khi gần Ngài là: Con càng vào sâu, thầy càng trở nên rắn chắc, con càng ngước lên cao mà nhìn, thì thầy càng bay cao hơn. Bởi thế con vô cùng thán phục. Thầy đáp ứng những nhu cầu của người học một cách lưu loát vô giới hạn đến nỗi trải qua bao nhiêu ngày tháng cũng không ai địch nổi. Làm sao chúng con cũng có thể đạt đến sự toàn hảo ấy?
Sư bảo: Những thiền sinh thường trong 10 điều có thể nắm được 7, 8 điều, nhưng không thể vượt qua được 2 hay 3 điều còn lại. Tôi nói: Có cách nào để vượt qua không?
Sư đáp: Không cách nào để vượt qua. Tôi hỏi: Lỗi nằm ở đâu?
Sư im lặng một lúc rồi trả lời: Nói cho cùng, thì chính là vì lòng khát khao đạt đến chân lý còn yếu.


Đối xử với kẻ hư

Khi Sư nhập thất ở chùa Jizoji, vị tăng tri sự ở chùa Long môn phái tăng sĩ Tenkyu đến vấn an Ngài và trình bày: Tại chùa Long môn có một số tăng bê trễ phận sự, hành vi thô tháo, xáo trộn quy củ thiền môn. Chúng con nghĩ nên gởi họ đi đến các chùa khác họa may họ có thay đổi. Kính mong được tôn ý của Ngài.
Khi Tenkyu nói xong, Sư triệu tập Shùin, Sokako và Shonin. Ngài nhắc lại cho họ nghe những lời Tenkyu vừa nói, và bảo: Một thiền viện được lập ra cốt là để quy tụ những bọn xấu xa như bọn ấy, chinh phục chúng bằng sự tiếp xúc thân mật để làm chúng trở thành người tốt. Thế mà các ông hoàn toàn thiếu từ bi, các ông muốn tẩy những bọn tội phạm đi nơi khác để cho chúng đi gây rối chỗ khác! Một người như thế có xứng đáng làm trụ trì một thiền viện không? Khi một người không có tâm từ bi quảng đại mà làm trụ trì chùa tôi, đó là bắt đầu thời suy tàn của giáo lý tôi dạy.
Sau lần quở trách nghiêm khắc ấy, tất cả mọi người gồm trụ trì, chức sự trong chùa cũng như các thị giả không ai còn dám phàn nàn gì với Sư về hành vi các tu sĩ.

Không quy luật

Vào một kỳ đại kiết thất ở chùa Long môn, có trên mười ngàn người tham dự. Mọi người bảo: “Trong kỳ hội này, chắc người ta sẽ phải lập ra những quy luật sách tấn mọi người khiến cho toàn thể phải sợ run!” Nhưng sau đó chẳng có một bản quy luật nào được đặt ra, mà mọi người vẫn an tịnh.
Thỉnh thoảng Sư thăng pháp tòa bảo đại chúng: “Cái bất sinh có từ khởi thủy – tất cả mọi người hãy bảo đảm là quý vị không làm nó ẩn mất trong quý vị! Cái bất sinh ấy giống như một quả bóng lớn bằng lửa: động vào nó bạn sẽ bị đốt cháy. Tôi có thể nói với quý vị về nó ngay bây giờ, nhưng nói không hết lời; tôi có thể sử dụng nó, nhưng dùng không bao giờ hết. Với tôi, muốn sách tấn người khác mà la lối um sùm khiến cho họ sợ hãi phải tuân hành, thì chỉ là một sự lừa dối vô ích. Không bao giờ nên làm vậy.” Khi những người trong chúng hội nghe điều này, tất cả hoài nghi của họ điều tiêu tan.


Như ông bây giờ

Khi Sư ở chùa Nyoroshi, Ngài dạy chúng: Tất cả các ông quả thật may mắn đã gặp được bậc thầy! Không cần phải đi mòn dép cỏ, phí sức theo đuổi hoa đốm giữa hư không, hay dấn mình vào những khổ hạnh đau đớn, các ông vẫn có thể đi thẳng vào chánh giáo. Thật là may mắn! Đừng phí thì giờ! Một vị tăng hiện diện nói: Duy chỉ có điều này. Ví dụ một người muốn qua sông để ra khỏi thành phố, mà nếu không dùng một con thuyền, cũng không đi một bước nào, thì anh ta sẽ không bao giờ đạt đến đâu cả.
Sư nói: Cũng như ông đang ở đây lúc này, phải không? Không có cái sự đi đến đâu hay không đi đến đâu. Đây là ý nghĩa đốn giáo. Bạn do dự thì nó tuột mất; chần chờ thì nó càng ngày càng xa.

Phương pháp tự nhiên của Bankei

Trong một kỳ kiết thất, có trên một ngàn ba trăm người tham dự, chưa kể tăng và tục từ ngoài đến chùa hàng ngày để nghe pháp. Những ngưòi tham dự chia nhau ở trong các phòng, nơi thì tọa thiền, nơi thì đọc tụng. Không cần lập ra quy luật, mỗi người theo đuổi hoạt động của mình một cách tự nhiên, tu tập một cách tinh cần và lặng lẽ đến nỗi dường như không có ai ở trong phòng.
Ngày nay, các thiền viện khắp nơi quy tụ năm ba trăm tu sĩ, đặt ra thời gian biểu cho đến từng phút, hạn chế khu vực lui tới, gần như trói tay chân người ta không khác gì ở tù. Nếu có ai phạm dù một lỗi nhỏ cũng bị đánh và ném ra khỏi chùa không bao giờ tha thứ. Sự rình rập và độc ác còn tồi tệ hơn những viên chức nhà nước! Mỗi khi xong các kỳ thất, có nhiều người ngã bệnh, nhiều người khác hoàn toàn suy kiệt. Thế là những mầm non chưa ra đã bị nổ tung, khiến cho cha mẹ và thầy đâm chán.
Đấy là hành động của những người tự xưng chuyên môn dạy thiền ngày nay. Than ôi! Những ông thầy theo phong trào ấy không thể vượt trên đám đông tầm thường, thật đáng thương. Người xưa dựng ra tấm ngăn là cái chết, mở ra cái hố để chôn sống những người học đạo thiền (1). Tất cả những điều này ngày xưa được làm là nhắm một mục tiêu đặc biệt, nhưng ngày nay người ta bắt chước một cách mù quáng, với hy vọng sai lầm là sẽ phát sinh cùng một hậu quả.

Thứ Hai, 13 tháng 6, 2016

BA LẦN CẢNH CÁO KHI SẮP NHẬP NIẾT BÀN CỦA PHẬT THÍCH CA

BA LẦN CẢNH CÁO KHI SẮP NHẬP NIẾT BÀN CỦA PHẬT THÍCH CA PHẬT sắp nhập niết bàn, khai thị lần cuối cùng có ba lần cảnh cáo. Lúc bây giờ Đức Thế Tôn từ sơ thiền đến nhị thiền, tam thiền cho đến nhập diệt tận định, rồi từ diệt tận định trở ngược lại, cho đến sơ thiền. Thuận nghịch như vậy ra vào chín bậc thiền định xong, nói với đại chúng rằng: “Ta dùng bát nhã thâm sâu, quán khắp tất cả lục đạo trong tam giới, căn bản tánh lìa, cuối cùng tịch diệt, đồng với tướng hư không, vô danh vô thức, tình chấp đoạn diệt, vốn là bình đẳng, chẳng cao chẳng thấp, chẳng thấy chẳng nghe, chẳng tri chẳng giác, chẳng thể trói buộc, chẳng thể giải thoát, vô chúng sanh, vô thọ mạng, chẳng sanh chẳng khởi, chẳng tận chẳng diệt, phi thế gian phi phi thế gian, Niết Bàn sanh tử đều bất khả đắc, nhị tế (trước, sau) bình đẳng, các pháp bằng nhau việc làm đồng như chẳng làm, cứu cánh yên tịnh. Từ pháp vô trụ, hành theo pháp tánh, dứt tất cả tướng, chẳng có một vật, pháp tướng như thế đều bất khả đắc. Những kẻ biết được gọi là người xuất thế gian, việc này chẳng biết gọi là sanh tử bắt đầu, các người cần phải đoạn dứt vô minh, diệt sự bắt đầu của sanh tử”. Lần thứ nhì, cũng từ Sơ thiền cho đến Diệt tận định, rồi từ Diệt tận định trở ngược lại cho đến Sơ thiền. Thuận nghịch ra vào chín bậc thiền định xong, lại nói với đại chúng rằng: “Ta dùng Ma Ha Bát Nhã quán khắp hữu tình vô tình trong tam giới, tất cả người và pháp đều là cứu cánh, chẳng có kẻ trói buộc, chẳng có người giải thoát, vô trụ vô y (chẳng nơi nương tựa) chẳng thể nhiếp trì, chẳng vào tam giới, vốn là thanh tịnh, chẳng cáu bẩn, chẳng phiền não, bằng với hư không, bất bình đẳng, phi bất bình đẳng, tất cả tư tưởng động niệm trong tâm đều ngưng nghỉ, pháp tướng như thế gọi là đại Niết Bàn, chơn thật thấy được pháp này gọi là giải thoát, phàm phu chẳng thấy gọi là vô minh”. Nói xong nhập Siêu thiền lần thứ ba, từ Sơ thiền cho đến Diệt tận định, rồi từ Diệt tận định trở ngược lại cho đến Sơ thiền, lại nói với đại chúng rằng: “Ta dùng Phật nhãn quán khắp tất cả các pháp trong tam giới, thực tế của vô minh tánh vốn giải thoát, tìm khắp mười phương đều chẳng thể được. Vì căn bản của vô minh chẳng có, nên nhánh lá của vô minh đều sẵn giải thoát, vì vô mình giải thoát nên lão tử đều được giải thoát. Do nhân duyên này nay ta an trụ nơi Thường Tịch Diệt Quang (ánh sáng thường tịch diệt) gọi là đại Niết Bàn”. Lời cảnh cáo kể trên đều do lòng đại bi bất khả tư nghì của Phật, thuận nghịch nhập siêu thiền rồi nói ra. Kẻ gặp được sự dạy bảo này, nên lấy xương mình làm bút, lột da mình làm giấy, chích máu mình làm mực, viết ra để cạnh mình, chẳng nên giậy phút tạm quên, chẳng nên sát na mất sự chiếu soi. Theo ba lần cảnh cáo cuối cùng của Phật, quán tất cả pháp trong tam giới, nói bản tánh vô minh vốn là giải thoát, cho nên khắp mười phương trong pháp giới, hoặc hữu tình, hoặc vô tình, hoặc hữu tánh, hoặc vô tánh, núi sông, đất đai, cỏ cây, người, vật … Chẳng trong tam giới, chẳng ngoài tam giới, chẳng theo sanh tử, chẳng trụ Niết Bàn, đều đồng nhất tâm của chơn như diệu tánh. Nếu tín giải như vậy thì đốn ngộ được nhất thừa, chẳng còn lời bí mật nào hơn ý chỉ này! Hỏi: Theo tục đế thì thánh phàm khác nhau, phàm phu vọng chấp thấy nghe, ngoài tâm kiến lập các pháp, bậc Thánh đã liễu ngộ nhất tâm, lại sao lại đồng thấy nghe như phàm phu? Đáp: Bậc Thánh dù có thấy nghe, nhưng chẳng có chấp trước, luôn luôn diễn đạt vạn vật chẳng thật, đồng như huyễn hóa.  Như Kinh Đại Niết Bàn, Bồ Tát Ca Diếp bạch Phật rằng: Thế Tôn, nếu phiền não từ điên đảo tưởng sanh ra, thì tất cả các bậc Thánh đều thật có điên đảo tưởng, mà tại sao chẳng có phiền não, vậy nghĩa này là thế nào? Phật hỏi: Tại sao nói bậc Thánh có điên đảo tưởng? Ngài Ca Diếp nói: Thế Tôn, tất cả bậc Thánh thấy trâu cũng gọi là trâu, thấy ngựa cũng gọi là ngựa, thấy nam nữ, lớn nhỏ, nhà cửa, xe cộ và khứ lai đều cũng vậy, thế là điên đảo tưởng rồi! Phật nói: Phàm phu có hai thứ tưởng, một là thế lưu bố tưởng (thế gian phổ biến lưu hành), hai là trước tưởng (tư tưởng chấp thật). Bậc thánh chỉ có thể lưu bố tưởng, chẳng có trước tưởng. Phàm phu vì sự cảm giác sai lầm, nơi thế lưu bố mà sanh ra trước tưởng, bậc Thánh vì hay chiếu soi thật tướng; nơi thế lưu bố chẳng sanh trước tưởng, nên phàm phu gọi là điên đảo tưởng; bậc Thánh dù biết nhưng chẳng gọi là điên đảo tưởng. Lại cảnh vốn tự không, đâu cần phải phá hoại sắc tướng rồi mới là không! Vì chơn tâm của bậc Thánh thường tự chiếu, chẳng nhờ nhân duyên mới sanh khởi, phàm phu thì chấp trước tri kiến, có năng có sở. Nên Triệu Luận nói: “Hễ có sở tri thì có sở bất tri, chơn tâm của bậc Thánh vô tri nên vô sở bất tri, cái tri của bất tri mới được gọi là Nhất thiết tri”. Vậy Kinh nói: “chơn tâm của bậc thánh vô tri, vô sở bất tri là đáng tin lắm. Cho nên bậc thánh nơi tâm trống rỗng mà sự chiếu soi chẳng thiếu sót, suốt ngày tri mà chưa từng tri là vậy. Cũng như nước trong thì thấy bóng, đâu có sanh tâm năng sở, cảnh và tâm đều không, chẳng có cái tư tưởng giác tri”. Trong kinh Lăng Già, Phật nói với Bồ Tát Đại Huệ rằng: “Cảnh thế gian như bóng tượng trong gương, và cảnh giới chiêm bao, nhưng chẳng phải trước mắt của bậc thánh không có cảnh thế gian. Phàm phu vì tư tưởng mê lầm nên đuổi theo cảnh chấp thật, gọi là vô minh điên đảo, chẳng phải minh trí. Bậc Thánh thấy cảnh đồng như phàm phu, mà chẳng có tâm niệm chấp trước, nên chẳng gọi là điên đảo”. Giải thích rằng: Như thí dụ kể trên tỏ rõ cảnh chỉ có một, mà sự thấy có khác. Bậc Thánh chẳng phải không thấy cảnh thế gian, mà khi thấy đồng như thấy mặt trăng trong nước và bóng tượng trong gương vậy. Hỏi: Sự thấy của phàm phu có năng thấy sở thấy, nên tâm và cảnh rõ ràng, vậy thì so với sự thấy của bậc Thánh làm sao phân biệt? Đáp: Sự thấy của bậc Thánh thì Có và Không đồng thời chiếu soi, trong ngoài chẳng trụ, như tiếng dội trong hang, bóng hiện trong gương mà chẳng khởi tâm tác ý, sáng tỏ nhiệm mầu, tịch mà thường chiếu, nên nói là thường ở trong chánh niệm, cũng gọi là chánh tri. Kỳ thật, chẳng phải hữu niệm hữu tri, cũng chẳng phải vô niệm vô tri. Nếu chỉ vô niệm thì tịch mà mất sự chiếu soi, nếu chỉ có chiếu soi thì chiếu mà mất sự thường tịch, cả hai đều chẳng chánh. Chánh là ở chỗ Tịch và Chiếu đi song song với nhau. Trong HOÀN NGUYÊN TẬP nói: “Tự tánh khởi chiếu, chiếu soi tất cả, liễu liễu tri mà vô sở tri, liễu liễu kiến mà vô năng kiến, trong ngoài sáng tỏ, cùng khắp pháp giới, cũng gọi là vô chướng ngại, nhãn của Phật TỲ LÔ GIÁ NA, tràn khắp mười phương chiếu soi tất cả quốc độ Phật” tức là nghĩa này vậy. Lại nói: Tâm hay làm Phật, hay làm chúng sanh, hay làm thiên đàng, hay làm địa ngục, hễ tâm có sai biệt thì muôn ngàn cảnh giới sanh khởi, hễ tâm bình đẳng thì pháp giới trống rỗng yên tịnh. Tâm phàm thì tam độc nổi lên, tâm thánh thì lục thông tự tại, tâm không thì nhất đạo trong sạnh, tâm hữu thì muôn cảnh tung hoành, như tiếng  vang trong hang, lời hùng dội tiếng mạnh, như gương soi tướng, hình lõm hiện bóng co, thế thì biết vạn hạnh do tâm, tất cả tại ta. Bên trong hư thì bên ngoài chẳng thật, bên ngoài tế thì bên trong chẳng thô, thiện nhân tất gặp thiện duyên, ác hạnh khó tránh ác cảnh, sự vui của thiên đàng, sự khổ của địa ngục đều là tự tâm làm ra, chẳng phải người khác lãnh thọ, chẳng do trời sanh, chẳng do đất mọc, chỉ tại nhất niệm ban đầu của mình, nên có sự thăng trầm như thế. Muốn được bên ngoài an hòa thì bên trong cần phải bình tĩnh, tâm không thì cảnh tịch, niệm khởi thì pháp sanh, nước đục thì làn sóng đen tối, nước trong thì bóng trăng sáng tỏ. Sự cần thiết của người tu hành đều chẳng ra ngoài những việc kể trên, gọi là cửa ải của chúng diệu, cũng là quê nhà của vạn linh, căn bản của thâm trầm và nguồn gốc của họa phước. Chỉ cần tự tâm luôn luôn được chánh niệm, đâu thể nghi ngờ cảnh giới bên ngoài! Cho nên, hễ lìa được tội hạnh, phước hạnh, bất động hạnh của chúng sanh, thì chẳng có quả báo khổ vui của tam giới, hễ lìa được kiến văn giác tri của chúng sanh thì đâu có cảnh giới của ngũ uẩn, lục căn, lục trần và lục thức! Nên biết, mê ngộ do thức, nhiễm tịnh do tâm, ấy cũng là mục tiêu của tiền triết hậu học, chỉ thị của muôn ngàn Kinh Luận vậy. Trong kinh Lăng Già có bài kệ rằng: “Tâm niệm như nắm đất, làm ra như chén bát (chén bát dụ cho chúng sanh, nắm đất dụ cho tự tâm), mỗi thứ dụ khác nhau, tất cả do tâm tạo”. Nếu nhất niệm chẳng sanh thì các duyên tự dứt, nên nói: “Nhất niệm tâm chẳng sanh thì các duyên tự dứt, nên nói: “Nhất niệm tâm chẳng sanh, vạn pháp không sai”. Hiện nay, hoặc tham sanh sợ chết; hoặc lo sống lo già; hoặc bỏ vọng bỏ thân, tùy theo tư tưởng mà tạo tác, nghiệp quả xoay chuyển mãi không dừng. Nếu liễu đạt sanh tử vô sanh, vọng tức vô vọng, một niệm tâm tịch, vạn lự (tất cả tâm và pháp) đều tiêu. Vậy thì biết hễ tâm ngộ là xong, chẳng còn pháp nào hơn nữa. 

Thứ Năm, 9 tháng 6, 2016

BÀI HỌC ĐẮT GIÁ TỪ CÂU CHUYỆN CHÓ NGAO TÂY TẠNG THÁCH ĐẤU CHÓ GIÀ TRỤI LÔNG

Những người có bản lĩnh thật sự, họ luôn luôn bảo trì một trạng thái bình tĩnh ôn hòa, giống như ông lão và “con chó già” của ông, chỉ là điềm đạm ung dung mà tồn tại.

Có một anh chàng dắt theo một con chó ngao Tây Tạng trị giá cả bạc triệu ra ngoài đi dạo. Anh ta hễ gặp ai cũng đều đem con chó ra khoe, lại còn huyênh hoang mà nói rằng: “Người không có bốn năm trăm cân sức lực thì không thể kéo nổi chú chó của tôi”.

Lúc này, anh chàng nhìn thấy một ông già bị hói đầu bên đường cùng với một con chó gần như đã rụng hết lông đang ngồi bên cạnh.

Con chó ngao Tây Tạng của anh ta hướng về phía con chó đó kêu sủa ầm ĩ, nhưng con chó già kia không thèm để ý đến nó.

Chàng trai cảm thấy không vui. Nói rằng: “Ông lão này! Con chó của ông lớn thế kia, là giống chó gì vậy? Hãy để hai con chó của chúng ta đấu với nhau thử xem? Nếu chó của ông thua hãy đưa cho tôi 500 đồng, còn nếu chó ngao Tây Tạng của tôi thua thì tôi sẽ đưa cho ông 2000 đồng”.

Ông lão nói: “Tôi đang lo lắng về thức ăn tháng sau của anh bạn già này đây! Nếu được thì hãy đánh cược lớn hơn một chút? Nếu chó của tôi thua, tôi sẽ đưa cho anh 5 vạn, còn nếu chó của anh thua thì anh hãy đưa cho tôi 3 vạn”.

Anh chàng cười lớn: “Con chó này của tôi là giống chó ngao Tây Tạng thuần chủng. Sau này, ông đừng có nói là tôi đã không nói cho ông biết trước. Được thôi!”.

Hai con chó giao tranh chưa được hai phút, chó ngao Tây Tạng kia đã bại trận, cũng không còn dám kêu sủa gì nữa.

Anh chàng thua mất 3 vạn đồng, vô cùng sầu não: “Ông này, con chó đó của ông là chó gì thế? Sao lại dũng mãnh thế kia?”

Ông lão vừa đếm tiền vừa nói: “Đến bây giờ tôi cũng không biết nó là chó gì nữa, trước khi chưa rụng lông thì gọi là sư tử!”.

Anh chàng nghe xong thì cười không được mà khóc cũng không xong!!!

Bất cứ lúc nào thì cũng đừng có khoe khoang, hãy giữ khiêm tốn! Khiêm tốn! Khiêm tốn hơn nữa!

Bạn khoe khoang cái gì, điều ấy nói rõ bạn đang thiếu nó

Bạn đã là sư tử rồi, thì đâu cần phải chứng minh làm gì nữa? Đâu cần phải khoe khoang làm gì nữa?

Con người sống ở trên đời, không phải là để so đo với người khác. Bản thân hãy sống sao cho có ý nghĩa nhất, và làm ra những cống hiến vĩ đại nhất.

(ST)