Thứ Năm, 19 tháng 6, 2014

4. Phụ Lục: Tâm – Cốt Lõi Bản Chất Thấy Biết Của Tâm Trí.


Share on facebook
CON ĐƯỜNG THÀNH TỰU A LA HÁN QUẢ
ARAHATTAMAGGA ARAHATTAPHALA
Tổng hợp các bài pháp thoại của Hòa Thượng Ãcariya Mahã Boowa
về hành trình tu tập của ngài

PHỤ LỤC
TÂM
Cốt Lõi Bản Chất Thấy Biết Của Tâm Trí
Những lời chú giải sau đây về bản chất của tâm được trích dẫn từ vô số các bài pháp thoại bởi
Hòa thượng Ãcariya Mahã Boowa.
QUAN TRỌNG NHẤT LÀ TÂM, cốt lõi bản chất thấy biết của tâm trí . Nó bao gồm sự tỉnh thức trong sáng và đơn thuần: Tâm đơn thuần biết. Hay biết thiện ác, kết quả của phê bình và xét đoán, đều là hoạt động của tâm. Các hoạt động đó có thể biến hiện như chánh niệm, vào lúc khác thì là tuệ giác. Nhưng chân tâm không hề biểu hiện bất kỳ hoạt động quy ước nào. Những hoạt động đó khởi lên trong tâm, thiện ác, hạnh phúc hoặc đau khổ, hoặc ca ngợi và khiển trách, tất cả đều là quy ước của ý thức đang lưu hành qua tâm. Vì nó biểu hiện các hoạt động và điều kiện của tâm, bởi chính bản chất của nó, không ngừng sinh diệt. Loại ý thức đó luôn thiếu vững chắc và không xác thực. Hiện tượng ý thức hay biết khi chúng sinh và diệt được gọi là thức (viññãõa). Thí dụ, thức hay biết và ghi nhận ấn tượng giác quan khi sáu trần, nhìn, ngữi, nếm, nghe, xúc và pháp tiếp xúc với lục căn, mắt, tai, mũi, lưỡi, ý, và thân. Khi mỗi căn tiếp xúc với mỗi trần thì thức đặc biệt đó nhận biết ngay giây phút mà mỗi sự tiếp xúc diễn ra. Thức (Viññãõa), do vậy, thức là quy ước của tâm. Ngũ uẩn, hoặc vọng niệm hoặc hình ảnh, cũng là điều kiện của tâm. Một khi tâm diễn đạt các điều kiện đó, chúng có xu hướng tăng nhanh, không chết giới hạn. Ngược lại, khi không có điều kiện khởi lên, chỉ có tánh thấy biết rõ rệt của tâm là hiển lộ.
Tuy vậy, cốt lõi thấy biết qua tâm trí của một người bình thường rất khác với cốt lõi thấy biết của một bậc Thánh A La Hán. Tánh thấy biết của người bình thường ô nhiễm từ bên trong. Các Bậc A La Hán (khïõãsava), đều đã đoạn trừ tất cả mọi ô nhiễm. Tánh thấy biết của các ngài là một sự tỉnh thức thuần khiết và trong sáng vô nhiễm. Tỉnh thức thuần khiết, rỗng không tất cả mọi lậu hoặc là sự tỉnh giác tối thắng, một phẩm chất thậm thâm vi diệu ban cho nguồn an lạc hoàn hảo, thích hợp với trạng thái tuyệt đối thanh tịnh của Bậc A La Hán. Nguồn hỷ lạc tối thượng đó luôn thường hằng. Không bao giờ thay đổi hoặc biến chuyển như hiện tượng quy ước của thế gian, luôn đè nặng bởi vô thường (anicca), khổ (dukkha), và vô ngã (anattã). Các đặc tính trần tục đó khó thể thấm nhập vào tâm của một người đã gột rửa nó cho đến tuyệt đối trong sạch.
Tâm hình thành chính nền tảng của cõi Ta Bà (Saysara). Nó là cốt lõi của bản thể lang thang hằng vô lượng kiếp. Nó là kẻ chủ mưu mọi chu kỳ của sự sống và là kẻ xúi giục chủ yếu của vòng sinh tử luân hồi, hằng lặp đi lặp lại theo định luật bất biến của nghiệp (kamma). Tâm điều khiển bởi nghiệp nên nó có bổn phận không ngừng xoay tròn theo chu kỳ qua sự sai khiến của nghiệp. Miễn là tâm vẫn còn dưới sự khống chế của nghiệp thì hiện tượng đó vẫn mãi tiếp diễn. Tâm của một bậc Thánh A La Hán là ngược lại, bởi vì tâm của ngài đã hoàn toàn siêu vượt trên phạm vi của nghiệp. Bởi vì ngài cũng siêu vượt trên tất cả mọi điều kiện liên kết, không một khía cạnh của thực tại quy ước tương đối nào có thể trở nên liên hệ với tâm của bậc Thánh A La Hán. Ở cấp độ của bậc Thánh A La Hán, tâm tuyệt đối không liên hệ với tất cả.
Một khi tâm hoàn toàn thanh tịnh, nó đơn thuần thấy biết theo bản tánh rõ rệt của nó. Chính ở đây tâm đạt đến sự tột bực, nó đạt đến sự hoàn hảo ở cấp độ tuyệt đối thanh tịnh. Ngay ở đây, sự chuyển dịch liên tu bất tận từ kiếp này đến kiếp kế tiếp chấm dứt. Ngay chỗ này, hành trình liên tục từ những cảnh giới tồn hữu cao hơn đến những cảnh giới thấp hơn và ngược trở lại, thông qua sự lặp đi lặp lại vòng quay luân hồi, sinh, già, bệnh, chết, tất cả đều hoàn toàn dứt bặt. Tại sao nó dứt bặt ở chỗ này? Bởi vì các nguyên tố ô nhiễm, ẩn dấu thường hay tỏa khắp tâm và khiến nó phải xoay vòng đã hoàn toàn loại trừ. Tất cả những gì còn lại là bản tâm thanh tịnh, sẽ không bao giờ còn kinh nghiệm sinh và tử nữa.
Tái sinh không bao giờ có thể tránh khỏi được. Tuy vậy, với tâm chưa đạt đến lãnh vực thanh tịnh đó. Ta có thể nỗ lực chối bỏ sự tái sinh đó theo sau cái chết hoặc là ta có thể ngoan cố duy trì thuyết đoạn kiến, chối bỏ tất cả mọi khả năng của sự sống sau cái chết, nhưng sự tin chắc như vậy không thể thay đổi được sự thật. Cốt lõi tánh thấy biết của ta không điều khiển bởi ức đoán, hoặc ảnh hưởng bởi khái niệm và quan điểm của con người. Nó trội lên trong bản thể của ta, song hành cùng với quyền uy tối thượng của nghiệp, hoàn toàn gạt qua một bên tất cả mọi suy xét ức đoán
Như kết quả, tất cả mọi chúng sanh đều buộc phải vận hành từ kiếp này qua kiếp khác, kinh nghiệm cả hai, tái sinh ở mức thô tế, như động vật trên bờ, biển và không khí và sự tái sinh thanh nhẹ hơn của ma quỉ, thần thánh và Phạm thiên. Mặc dù hiện tượng tái sinh sau này siêu trần đến mức vô hình qua mày trần mắt thịt, tâm không gặp mấy khó khăn tái sinh trong những cảnh giới này của họ. Chỉ đòi hỏi đúng nghiệp lực mà thôi. Nghiệp là yếu tố quyết định; Nó là quyền năng thúc đẩy tâm trên cuộc hành trình không ngừng nghỉ trong thế giới Ta Bà.
Tâm là một cái gì cực kỳ vi tế đến mức khó mà thấu hiểu cái gì thực sự hợp thành tâm. Chỉ khi nào tâm đạt đến trạng thái tĩnh lặng đến mức thực tánh của nó trở nên rỗng rang. Thậm chí các thiền nhân kinh nghiệm cố ý tìm hiểu tâm không thể nào thấy biết được bản chất của cho đến khi họ đạt đến trạng thái vắng lặng của định.
Mặc dù tâm trú xứ trong thân, chúng ta không bao giờ có thể dò ra dấu vết của nó. Nó vi tế đến mức như vậy. Bởi vì nó lan tỏa cùng khắp thân vật lý, chúng ta không thể nói được phần nào hoặc khía cạnh nào thật sự là chân tâm. Nó cực kỳ vi tế đến mức với sự hành trì thiền định mới có thể dò ra sự hiện diện và phân biệt nnosqua tất cả mọi khía cạnh khác liên hệ với thân. Thông qua hành thiền, chúng ta có thể tách rời được chúng, thấy biết rằng thân là một hiện tượng và tâm là một hiện tượng khác. Đây là một lãnh vực tách rời, lãnh vực mà tâm được kinh nghiệm trong định, nhưng kéo dài được bao nhiêu lâu, còn bị giới hạn qua thời gian thực tập thiền định.
Ở trình độ kế tiếp, tâm có thể hoàn toàn tự nó tách rời thân vật lý, nhưng tuy vậy nó không thể cắt đứt phần tập hợp tâm lý cá nhân: (thọ) vedanã, (tưởng) saññã, hành (sankhãra), và thức (viññãõa). Khi tâm đạt đến trình độ này, ta có thể dùng tuệ để tách rời thân và cuối cùng trở nên đoạn trừ được thân kiến, tin là ta chính là thân này, nhưng tuy vậy ta vẫn không thể nào tách rời các yếu tố tinh thần, thọ, tưởng, hành và thức. Qua cách sử dụng tuệ để khảo sát xa hơn, các yếu tố tinh thần này cũng có thể tách rời từ thaan. Sau đó, chúng ta có thể thấy tự thấy rõ ràng là…(sandiååhik)… rằng năm uẩn là những thực tại riêng rẽ với tâm. Đây là trình độ tách rời thứ ba.
Ở trình độ cuối cùng, sự chú ý của chúng ta hướng đến nguyên nhân gốc rễ của tất cả mọi ảo tưởng, sự ngu si cực kỳ vi tế tỏa khắp mà chúng ta gọi là vô minh (avijjã). Chúng ta biết danh tánh của vô minh, nhưng chúng ta không biết là chúng nằm ẩn trong tâm. Trên thực tế, nó tỏa khắp tâm như loại độc dược độc hại. Chúng ta tuy không thể thấy nó, nhưng nó ở đó. Ở giai đoạn này, nhất định chúng ta phải dựa trên sức mạnh siêu việt của chánh niệm của chúng ta, tuệ giác và sự kham nhẫn để loại trừ độc dược. Tự nhiên rằng, qua sự sử dụng quyền năng mạnh mẽ của chánh niệm và tuệ giác, thậm chí vô minh (avijjã) cũng có thể tách rời tâm.
Khi tất cả mọi thứ ô nhiễm tâm cuối cùng đều được loại trừ, chúng ta đạt đến giai đoạn tối hậu. Sự tách rời ở giai đoạn này là sự tan rã vĩnh viễn và hoàn toàn vốn không đòi hỏi nỗ lực xa hơn để duy trì. Đây là tự do thật sự cho tâm. Khi thân bị bệnh đau, chúng ta biết rõ ràng là chỉ các nguyên tố vật chất là bị ảnh hưởng mà thôi, nên chúng ta không bận tâm hoặc buồn khổ bởi các triệu chứng. Thông thường, sự khó chịu của thân gây ra sự khủng hoảng tinh thần. Nhưng một khi tâm đã thật sự giải thoát, ta có thể vẫn an lạc vô cùng thậm chí giữa cơn đau khốc liệt của thân. Thân và cơn đau được biết là hai hiện tượng riêng rẽ với tâm, nên tâm không tham dự trong sự khủng hoảng đó. Sau khi đã đoạn trừ chúng một cách rõ rệt, thân và cảm giác không bao giờ lần nữa có thể lẫn lộn với tâm. Đây là sự giải thoát tuyệt đối của tâm.
CHIẾU RỌI VÀ SÁNG SUỐT MỘT CÁCH CHÂN THỰC, tâm luôn sẵn sàng tiếp xúc với vạn pháp ở mỗi tự tánh. Mặc dù tất cả mọi hiện tượng quy ước, không ngoại lệ, kiểm soát bởi ba định luật của Tam tướng Vô thường (anicca), Khổ (dukkha), và Vô ngã (anattã), bản tâm không bị lệ thuộc vào những định luật đó. Tâm bị điều kiện hoá bởi vô thường, khổ, và vô ngã chỉ bởi các hiện tượng bị lệ thuộc đang quay cuồng với chúng. Dù nó đang quay cuồng, song hành với hiện tượng quy ước, tâm không bao giờ tan rã hoặc bị phân hoại. Nó xoay vòng theo ảnh hưởng của những lực có quyền năng khiến nó phải xoay vòng, nhưng quyền năng thực tại của bản tâm thì siêu vượt trên sự tan rã. Siêu vượt trên sự phân hoại, nó cũng siêu vượt trên phạm vi của Vô thường, Khổ và Vô Ngã và quy luật của tạo hóa. Nhưng chúng ta vẫn không ý thức sự thật này bởi vì thực tại quy ước đang tự chúng liên hệ với tâm đã hoàn toàn bao trùm nó, khiến bản chất của tâm hoàn toàn thích ứng với chúng.
Sinh và tử luôn là điều kiện của tâm bị ảnh hưởng bởi lậu hoặc. Nhưng, khi chính lậu hoặc là gốc rễ vô minh của chúng ta, chúng ta không nhận biết sự thật này. Sinh và tử là phiền não khởi lên từ lậu hoặc. Vấn đề thật sự của chúng ta vấn đề nền tảng thật sự của chúng ta… cũng là nền tảng vấn đề của tâm… là chúng ta thiếu năng lực cần thiết sống với chân tánh của ta. Thay vì vậy, chúng ta luôn xem các hiện tượng dối trá là cốt lõi chúng ta thật sự là gì, thì hành xử của tâm không bao giờ hòa hợp với chân tánh của nó. Thay vì vậy, nó tự diễn đạt thông qua sự dối trá khôn khéo của lậu hoặc, vốn khiến nó cảm thấy căng thẳng lo âu và sợ hãi hầu như tất cả mọi thứ. Nó sợ sống, và sợ chết. Bất kỳ hiện tượng gì xảy ra… nhức mỏi một chút, đau đớn một chút… cũng khiến họ sợ hãi. Họ bị xao xuyến thậm chí với cả những khuấy động nhỏ. Kết quả là tâm mãi mãi tràn ngập với những nỗi lo âu và sợ hãi. Và mặc dù sợ hãi và lo âu không phải là thực chất của tâm, chúng vẫn gây ra sự e sợ ở đó.
Khi tâm được tẩy trừ cấu uế rồi thì nó tuyệt đối thanh tịnh và giải thoát tất cả mọi dính mắc, chỉ có vậy thì chúng ta mới thấy được tâm vô úy. Sau đó, không còn sợ hãi hoặc can đảm nữa, chỉ có chân tánh của tâm, tự nó hiện hữu một cách tự nhiên, vĩnh viễn độc lập với không gian và thời gian. Chỉ điều đó hiện ra… không gì khác. Đây là chân tâm. Thuật ngữ “chân tâm” chỉ hàm ý đến sự thanh tịnh tuyệt đối, hoặc “the sa-upãdisesa-nibbãna”, của một bậc Thánh A La Hán. Không gì khác có thể toàn triệt hơn và không có gì dấu giếm. Chính bản thân tôi cũng cảm thấy xấu hổ khi phải dùng thuật ngữ này qua những cách khác.
Thuật ngữ “tâm nguyên sơ” có nghĩa là là bản tánh nguyên thủy của tâm đang quay cuồng không ngừng nghỉ thông qua vòng quay tái sinh. Đức Phật nhấn mạnh điều này khi ngài dạy, “Tỳ kheo, thực chất của tâm nguyên sơ chiếu rọi và sáng suốt, nhưng nó bị ô nhiễm bởi dòng ố trược”.
Theo lẽ thì “tâm nguyên sơ” ám chỉ đến khởi nguyên của thực tại quy ước (sammuti), không phải là khởi nguyên của sự Thanh tịnh Tuyệt đối (parisuddhi). Khi ám chỉ đến tâm nguyên sơ, Đức Phật dạy, “Pabhassaramidaÿ cittaÿ bhikkhave.” Pabhassara có nghĩa là chiếu rọi. Nó khác nhau là thanh tịnh. Lời dạy của ngài tuyệt đối chính xác. Không thể nào biện luận được. Nếu Đức Phật coi ngang tâm nguyên sơ với tâm thanh tịnh, ta có thể lập tức phản đối, “Nếu căn nguyên của tâm là thanh tịnh thì tại sao nó lại khai sinh?”
Bậc Thánh A La Hán, bậc đã thanh lọc tâm, là người không bao giờ còn phải tái sinh trở lại. Nếu tâm của ngài căn bản là thanh tịnh, thì tại sao ngài phải cần thanh lọc nó? Đây là một sự phản đối hiển nhiên? Lý do gì phải cần thanh lọc nó? Bản tâm chiếu rọi, ngược lại, có thể thanh lọc bởi vì sự chiếu rọi của nó không gì khác hơn là cốt lõi chân tánh của vô minh (avijjã). Thiền nhân sẽ tự mình nhận thức sự thật này rõ ràng ngay khoảnh khắc tâm chuyển hoá sự chiếu rọi này đạt đến sự Giải thoát Tuyệt đối (vimutti). Sau đó thì sự chiếu rọi rực rỡ đó sẽ không còn hiện ra nơi tâm. Ở điểm này, ta nhận thức được Chân lý Tối thượng về tâm.
MỘT KHI TÂM ĐÃ TRỞ NÊN HOÀN TOÀN TRONG SẠCH thì nó luôn chói lọi và chiếu sáng. Khi ta trú xứ ở một nơi yên tịnh, bao trùm bởi sự vắng lặng tuyệt đối… như sự tĩnh mịch của đêm khuya… mặc dù tâm không “đồng quy” vào định, điểm tập trung tỉnh giác của nó thanh nhẹ cực kỳ đến mức bất khả tư nghì. Sự tỉnh thức vi tế này biến hiện như là sự chiếu rọi bao trùm tất cả mọi phương hướng quanh chúng ta. Chúng ta không ý thức đến nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, mặc dù sự thật rằng tâm chưa thể nhập đại định. Thay vì vậy, nó thật sự tự nó kinh nghiệm nền tảng vững chắc của nó, chính căn bản của tâm đã được thanh lọc đến mức chỉ có tánh thấy biết kỳ diệu, mê hoặc là hiện lên rõ ràng nhất.
Xem ra tồn tại độc lập với thân vật lý, tánh thấy biết cực kỳ thanh nhẹ này nổi bật một cách riêng biệt trong tâm. Do bản chất vi tế và rõ rệt của tâm ở giai đoạn này, tánh thấy biết của nó hoàn toàn chiếm ưu thế. Không hề có chút hình ảnh hoặc viễn tượng nào hiện lên. Nó là sự tỉnh thức tự nó nổi bật một cách riêng rẽ. Đây là một khía cạnh của tâm.
Một khía cạnh khác của tâm được thấy khi tâm hoàn toàn được thanh lọc và thể nhập định một cách vắng lặng, không tư duy hoặc tưởng tượng bất kỳ thứ gì. Dứt bặt tất cả mọi hoạt động, mọi vận hành, đơn thuần yên nghỉ trong phút chốc. Tất cả mọi tư duy và hình ảnh trong tâm hoàn toàn dừng lại. Kinh nghiệm này được gọi là, “Tâm thể nhập vào trạng thái hoàn toàn vắng lặng.” Sau đó, cốt lõi của tánh thấy biết của tâm là còn lại. Ngoại trừ với sự tỉnh thức cực kỳ thanh nhẹ này… một sự tỉnh thức xem ra bao trùm cả vũ trụ pháp giới… tuyệt đối không có gì khác xảy ra. Không giống như luồng ánh sáng, phạm vi bị giới hạn, chiếu gần hoặc xa tùy thuộc vào sức mạnh của ánh sáng, dòng chảy của tâm thì vô giới hạn, không “gần” hoặc “xa”. Thí dụ, tính chất ánh sáng của đèn điện thì dựa theo điện lực. Nếu điện lực cao thì nó chiếu xa, còn thấp thì chiếu gần. Nhưng dòng chảy của tâm thì rất khác. Khoảng cách không phải là một yếu tố. Chính xác là tâm vượt trên mọi điều kiện không gian và thời gian, cho phép nó bao trùm tất cả. Gần hoặc xa, khái niệm không được ứng dụng đến. Tất cả những gì hiển thị là sự tỉnh thức cực kỳ thanh nhẹ thấm nhiễm tất cả mọi thứ toàn cả vũ trụ pháp giới. Cả thế giới xem ra tràn ngập với phẩm chất thấy biết vi tế này, như là không có gì khác tồn tại, mặc dù mọi vật vẫn tồn tại trong thế giới này như chúng vẫn thường tồn tại. Dòng chảy bao trùm của tâm đã được tẩy uế tất cả mọi thứ khiến nó bị che mờ, đây là năng lực chân chánh của tâm. Bản tâm tuyệt đối thanh tịnh đó thậm chí khó mà có thể mô tả được. Khi có một hiện tượng gì thách đố cả định nghĩa, tôi không biết định rõ đặc điểm của nó là gì. Nó không thể diễn đạt cùng một cách mà mọi quy ước thông thường có thể, đơn giản bởi vì nó không phải là hiện tượng quy ước. Nó đơn thuần là phạm trù của những bậc đã chuyển hoá tất cả mọi khía cạnh của thực tại quy ước và từ đó tự mình nhận thức bản tánh phi quy ước đó. Với lý do này, ngôn ngữ không thể mô tả nó được .
TẠI SAO CHÚNG TA LẠI ĐỀ CẬP ĐẾN MỘT CÁI TÂM “QUY ƯỚC” và một bản tâm tuyệt đối thanh tịnh? Chúng có thật sự là hai tâm khác nhau hay không? Không hề là như vậy. Nó vẫn là cùng một tâm. Khi nó bị điều khiển bởi thực tại quy ước, thí dụ như lậu hoặc và phiền não, đó là một điều kiện của tâm. Nhưng khi chức năng tuệ tẩy uế nó thật sạch cho đến khi điều kiện này hoàn toàn tan rã, chân tâm, thực tánh Pháp, có thể chịu đựng thử thách sẽ không bị tan rã và biến mất cùng với nó. Chỉ có các điều kiện vô thường, khổ và vô ngã thấm nhiễm tâm thật sự biến mất.
Dù lậu hoặc có vi tế như thế nào đi nữa, tuy thế chúng vẫn bị điều kiện hoá bởi vô thường, khổ và vô ngã, và do vậy, chắc chắn là hiện tượng quy ước. Một khi các pháp này hoàn toàn tan rã, chân tâm, cái chuyển hoá thực tại quy ước trở nên rõ ràng đầy đủ. Đây là gọi là sự Tuyệt đối Thanh tịnh của tâm, hoặc là Tuyệt đối Giải thoát của tâm. Tất cả mọi điều kiện liên kết tiếp diễn trước đó của tâm bao giờ đã bị dứt đoạn mãi mãi. Hiện giờ hoàn toàn thanh tịnh, cốt lõi bản tánh thấy biết của tâm tự nó tồn tại đơn độc.
Chúng ta không thể nói chỗ nào trong thân cốt lõi bản tánh thấy biết này của tâm tập trung. Trước đó, với tâm quy ước, nó hình thành một điểm nổi bật mà chúng ta có thể thấy rõ ràng và nhận biết. Thí dụ, trong định, chúng ta là nó tập trung ngay giữa ngực bởi vì phẩm chất thấy biết của sự tỉnh thức của chúng ta nổi bật rõ ràng ở đó. Ánh sáng chói lọi rực rỡ, vắng lặng hiển lộ một cách lồ lộ từ điểm đó. Chúng ta có thể tự mình thấy hiện tượng này. Tất cả mọi thiền nhân mà trình độ tịnh tĩnh đã đạt đến nền tảng vững chắc của định nhận thức là trung tâm của “cái biết” nổi bật rõ rệt trong phạm vi của trái tim. Họ sẽ không biện luận là nó tập trung trong bộ não, như người không có kinh nghiệm tu tập định luôn cho là như thế.
Nhưng khi cùng một tâm đó được thanh lọc cho đến khi hoàn toàn trong sạch, trung tâm đó biến mất. Ta không còn cho rằng tâm trú xứ trên hoặc dưới, hoặc nó trú xứ ở một điểm đặc biệt nào đó trong tâm. Hiện giờ nó là sự tỉnh thức thuần khiết, một phẩm chất thấy biết cực kỳ vi tế và thanh nhẹ đến mức chuyển hoá tất cả mọi ước định. Tuy thế, nói rằng nó “cực kỳ thanh nhẹ”, chúng ta có bổn phận dùng ngôn ngữ quy ước vốn không thể nào diễn đạt được chân lý, dĩ nhiên, khái niệm cực kỳ thanh nhẹ trong chính nó là một quy ước. Khi sự tỉnh thức thanh nhẹ không có một điểm nào hoặc một trung tâm nào, khó thể nào tìm ra vị trí rõ rệt của nó. Chỉ có cốt lõi thấy biết, tuyệt đối không có gì thấm nhiễm nó. Mặc dù tuy nó vẫn còn tồn tại giữa cùng ngũ uẩn hay thường lẫn lộn, nó không còn chia sẻ cùng những đặc tính với chúng. Nó khác nhau rất xa. Rồi thì sau đó chúng ta biết rõ là thân, ngũ uẩn và tâm là những thực tại khác biệt và riêng rẽ.
09/04/2013
Nhất Như

3. Arahattapatta: Bậc Thánh A La Hán Vì Sao Phải Rưng Lệ?




CON ĐƯỜNG THÀNH TỰU A LA HÁN QUẢ
ARAHATTAMAGGA ARAHATTAPHALA
Tổng hợp các bài pháp thoại của Hòa Thượng Ãcariya Mahã Boowa
về hành trình tu tập của ngài

PHẦN III
A LA HÁN
(Arahattapatta)
Bậc Thánh A La Hán vì sao phải rưng lệ?
Bài pháp thoại của Hòa thượng Ãcariya Mahã Boowa được giảng vào ngày 17, tháng 6, 2002, một tháng rưởi sau giáo huấn trước đó. 
Tôi chia sẻ với quí vị lời thành thật: Tôi không còn kinh nghiệm quá khứ, hiện tại hoặc tương lai, bởi vì tôi không còn một dấu vết của thực tại quy ước nào trong trái tim tôi. Tôi có thể quả quyết với quí vị là không có gì còn lại. Đây là quyền năng Dhamma của Phật để đoạn tận mọi phiền não. Dhamma vẫn trú xứ trong trái tim. Phiền não cũng trú xứ trong trái tim và là kẻ thù của nó. Chúng ta là người bị dính mắc ở tri giác, phải chịu đựng may mắn và bất hạnh vốn là hệ quả của sự xung đột này, vì chúng ta thuộc về tâm. Chỉ có tâm là thuộc về chúng ta.
Pháp hỗ trợ và duy trì chúng ta. Kẻ thù của chúng ta, phiền não đối nghịch chúng ta, luôn đánh đập chúng ta phải chịu phụ thuộc. Cả hai đồng khởi lên từ cùng một vị trí… tâm . Thông qua hành thiền, Pháp dần dần có đủ sức mạnh để áp đảo lậu hoặc… từ thô tế nhất vi tế nhất… và đủ rồi sau đó hoàn toàn đoạn lìa chúng từ trái tim. Đây là ý của chúng ta khi chúng ta bảo là toàn bộ sự đau khổ tạo tác bị hủy diệt. Sự hủy diệt của sự đau khổ đó đánh dấu nguồn Pháp Tối thượng. Và nó xảy ra chính xác khi ánh sáng của Pháp bị che dấu bởi bức màn dày đặc của lậu hoặc, cản trở ánh sáng của chiếu rọi trong tất cả mọi sự rực rỡ huy hoàng của nó.
Tôi nhớ lại kinh nghiệm trọng yếu đó với dòng nước mắt khi tôi giảng pháp mới đây. Tôi thấy biết kinh nghiệm này rõ ràng trong trái tim tôi từ khi nó diễn ra lần đầu tiên, nhưng chỉ gần đây, tình huống thay đổi thúc đẩy tôi chia sẻ nó một cách công khai. Thật sự quyền năng vô cùng là ảnh hưởng của Pháp khi nó tự diễn đạt nó. Nó khai mở trong tất cả mọi hướng, ảnh hưởng tất cả một cách mầu nhiệm thâm thúy vô cùng khi nó xúc chạm. Không chỉ nó ảnh hưởng hiện tượng tinh thần bằng cách đó, nó cũng ảnh hưởng đến hiện tượng vật lý, như nước mắt. Khi liên kết với Pháp, nước mắt tuôn chảy ra cùng một cường lực. Vấn đề là, tất cả mọi chúng sanh trong cõi vũ trụ pháp giới đơn thuần bị che mờ bởi lậu hoặc. Hãy trả lời cây này: Ai là người trong thế gian này đã mở huệ nhãn thấy được sự thật của Pháp? Chưa có ai. Cho nên, khi họ nghe là Ãcariya Mahã Boowa rưng lệ trước công chúng, họ tức thì thắc mắc không biết tại sao. Ông ta có vấn đề gì? Nếu ông ta thật sự chấm dứt tất cả mọi phiền não lậu hoặc và trở thành bậc thánh A La Hán, tại sao ông ta còn khóc lóc như vậy? Đó, quý vị có thấy không? Những người này hiểu lầm nước mắt của bậc A La Hán. Quý vị hiểu không?
Quý vị có nhận thức là tất cả mọi bộ phận trong cơ thể con người chỉ là khía cạnh của thực tại quy ước hay không? Chúng nối kết với tâm, vốn phải có trách nhiệm với chúng. Một khi tâm… kẻ chăm sóc chúng… sụp đổ, thì các thực tại quy ước này, vốn là kẻ thù của nó, sau đó bị đứt lìa thành từng mảnh. Sau đó thì bản tánh trong sáng của tâm chiếu rọi tới trước với tất cả rực rỡ mầu nhiệm của nó, theo sau nó là nguyên lý tự nhiên của nó. Đây là một mặt kinh nghiệm.
Một mặt khác là: Cùng khoảnh khắc đó, cường độ cảm thông và phản ứng vật lý xảy ra, khiến thân rúng động và run rẩy qua sự đáp ứng. Có phải sự rúng động đó có chủ yếu? Không, đây là hệ quả của quyền năng vô biên của Dhamma khi nó đối đầu với cú đấm chết người vào lậu hoặc và cưỡng bách chúng phải tách lìa tâm mãi mãi. Hiện tượng trọng yếu như vậy tạo ra sức va chạm khủng khiếp… toàn cả vũ trụ xem ra rúng động như bị địa chấn. Cảm giác đó là như vậy khi Dhamma và lậu hoặc cuối cùng tách rời, thế giới thực tại quy ước và thế giới Giải thoát Tuyệt đối cuối cùng tách lìa ra. Thực tánh Pháp (Dhamma) sau đó hiện ra với tất cả mọi bất khả tư nghì vi diệu của nó, cuối cùng hiển lộ trong trái tim đang kinh nghiệm nó.
Liên kết chặt chẽ với tâm, thân và tâm trí phản ứng với kinh nghiệm vô song và mầu nhiệm này. Chân tâm luôn có mặt, nhưng nó không bao giờ tự nó hiển lộ theo kiểu đó với thân và tâm hay biết. Hoàn toàn không hề hay biết tác động của diễn tiến xảy ra cực kỳ lớn lao. Tập hợp của thân và tâm là tất cả mọi thực tại quy ước, công cụ mà trái tim dùng cho những mục tiêu của nó. Khi tâm sụp đổ, bản tánh trong sáng nổi lên sau đó hoàn toàn không bị ảnh hưởng. Nhưng tập hợp của thân tâm, ngũ uẩn… hoàn toàn bị chi phối bởi quy luật của vô thường, khổ và vô ngã… thì bị ảnh hưởng mạnh mẽ. Phản chiếu bản chất thiếu vững chắc rõ rệt của nó, sự phản ứng xảy ra trong ngũ uẩn rồi sau đó đơn thuần biến mất. Tự tánh trong sáng của tâm không sinh không diệt. Ở điểm này là sự khác biệt giữa hai.
Kết quả, không thể nào so sánh trái tim thuần khiết của bậc Thánh A La Hán với đống phế thải mà chúng ta biết như là thân con người. Khi tự thân ta thấy được thực tại này rõ ràng, không cần thiết phải hỏi xa hơn. Trong một hiện tượng như vậy, ta sẽ đơn thuần chào và nói lời Lành thay! (Sadhu) với chính vị Phật, thậm chí dù ngài chỉ mới trước đó mà thôi. Khi Chân lý Vô tượng được tự chứng trong chính tâm ta, sẽ không cần xác minh của họ nữa. N’atthi seyyo va pãpiyo: Không có gì siêu việt hơn Pháp Vô thượng. Sự nhận thức này khởi lên trong tâm đồng nhất với bản tâm trong sáng của bậc Thánh A La Hán. Nó thuần khiết đến mức hoàn toàn siêu vượt trên định luật Tam tướng: Vô thường, Khổ và Vô ngã. Chúng không còn ứng dụng nữa.
Ngũ uẩn trở nên kích thích. Thí dụ, khi lệ tuôn tràn. Đôi dòng lệ có lẽ rơi ra với nhiều lý do khác nhau. Buồn cũng khiến phải chảy nước mắt, vui cũng như vậy. Khói cũng khiến lệ rơi, và củ hành và tỏi cũng vậy. Nếu thế thì tại sao còn ồn ào bởi những giọt lệ này? Huống chi, lệ chỉ là nước… nguyên tố nước. Cũng giống như các nguyên tố vật chất của đất, lửa và gió, nước hoàn toàn là một khía cạnh của thực tại quy ước. Xúc động một cách thâm sâu bởi bản tánh thanh tịnh của Pháp (Dhamma) bỗng nhiên hiển lộ, các nguyên tố vật chất bị khích động. Chính tự tánh thanh tịnh này, mặc dù hoàn toàn không bị ô nhiễm. Chúng bị kích thích bởi điều tốt và điều xấu, bởi lạc và khổ, buồn và vui. Chúng mãi mãi bị kích thích dù bằng cách này hay cách khác. Nhưng ngay khoảnh khắc đó, thực tánh thanh tịnh của Pháp (Dhamma) hốt nhiên hiển lộ khiến chúng bị khuấy động.
Ngũ Uẩn không phải là bậc Thánh A La Hán; bậc Thánh A La Hán không phải là Ngũ uẩn. Tuyệt đối và không ngược lại, Ngũ uẩn là thực tại quy ước. Qua sự tương phản, thực tánh thanh tịnh hoàn toàn giải thoát tất cả mọi dấu vết của thực tại quy ước… một trăm phần trăm. Cho nên cả hai không và không thể lẫn lộn nhau. Chúng không liên hệ lẫn nhau. Chúng chỉ thấy biết nhau theo địa vị của chúng. Ngũ uẩn, mang tính chất thực tại quy ước hoạt động như vậy. Bản tánh thanh tịnh, hốt nhiên hiển lộ theo sự hòa hợp của nó, có tính chất Giải thoát Vô thượng . Do đó, từ hằng thiên niên kỷ, ngũ uẩn của tất cả mọi chúng sanh qua bao nhiêu thế hệ luôn hoàn toàn phù hợp với tính chất của chúng như các thực tại quy ước.
Khi đạt quả vị giải thoát, Đức Phật và các Bậc A La Hán sau đó không hủy diệt ngũ uẩn để ngăn chặn chúng hoạt động. Thí dụ, tràng cười lớn. Cười lớn là một chức năng tự nhiên của ngũ uẩn, cũng như rơi lệ mà thôi. Cả hai đơn giản chỉ là chức năng mà ngũ uẩn hoạt động theo tính chất đặc biệt của chúng. Miễn là thân tâm vẫn còn duy trì sức khoẻ lành mạnh, chúng có thể dùng bất cứ chức năng nào mà chúng chọn lựa. Thí dụ, chúng ta có thể dùng đất và biến nó thành những tòa cao ốc. Gạch, xi măng, đá, cát, sắt… Nếu chúng không lấy ra từ đất thì chúng từ đâu mà có? Miễn là chúng ta chúng ta sở hữu căn bản vật chất loại này thì chúng ta có thể xây dựng bất kỳ những gì mà chúng ta muốn.
Họ có vấn đề gì không? Họ có bị điên không? Đó là câu hỏi mà tôi muốn hỏi. Tôi bị phê bình bởi rơi nước mắt dưới danh nghĩa của Dhamma, nhưng có người nào thấy thực tánh thanh tịnh của Dhamma hay chưa? Bản thân tôi cũng chưa hề thấy nó trước đó, hoặc là tổ tiên cha mẹ của tôi thấy được Pháp Vô thượng trước đó, bởi vì họ chưa bao giờ tu tập bằng cách đó. Tôi là tu sĩ và tôi hành trì. Qua kết quả của sự tu tập của tôi, tôi gặt hái tri kiến và tuệ giác vững vàng qua từng giai đoạn, theo cách mà tôi đã mô tả cho quý vị nghe. Tôi tu tập theo kiểu đó và cuối cùng tôi đạt được sự thành tựu viên mãn đó, một sự thành tựu mà hiện giờ đang tự diễn đạt theo lối tự nhiên của riêng nó.
Quý vị có ai nỗ lực thấy Pháp Vô thượng chưa? Hoặc là tất cả quý vị đều hài lòng khi ngồi một cách mê mờ với đôi mắt của quý vị nhắm lại và miệng của quý vị há hốc, tạo ra các âm thanh loài vật với Thực tánh Pháp? Tại sao quý vị không sủa ngay đống rác quanh cổ của quý vị? Hãy suy nghĩ về điều đó! Đống rác rưởi đó là đống lửa lớn. Tham sân si và ảo tưởng sản sinh ra mớ rác rưởi khủng khiếp đó. Trái tim ai cũng bị ô nhiễm với nó. Tại sao quý vị không quán xét? Phê bình Thực tánh Pháp tối thượng để làm gì? Đức Phật siêu việt trước chúng ta. Nếu Ãcariya Mahã Boowa không thật với lời dạy của Đức Phật thì tất cả mọi bậc Thánh A La Hán đều cũng không thật. Nhưng, trên thực tế, các bậc Hòa thượng A La Hán luôn luôn đáng được kính trọng. Trừ khi nào mà rác rến lại trở thành phạm hạnh vậy? Cái gì đã cho nó quyền hạn khoác lác, phê bình tư thế này hoặc tư thế khác, chấp nhận hoặc không chấp nhận lối hành xử của một bậc Thánh A La Hán? Chỉ là một đống rác rưởi mà thôi! Quý vị hiểu không? Quý vị có nhận thức tâm của quý vị dày đặc loại rác rến và ô nhiễm này hay không? Quý vị tự hào với điều đó? Sự tự hào nguy hiểm đó sẽ lôi kéo quý vị xuống sâu hơn . Nếu quý vị không thấy được sự nguy hại sự tự hào ô nhiễm đó, quý vị sẽ xung đột với Pháp. Xung đột với pháp giống như con dao nỗ lực đâm vào đá. Chuyện gì xảy ra khi dao đâm vào đá? Chuyện gì xảy ra khi quí vị lái xe đâm vào núi? Ai bị tổn thương? Hãy suy nghĩ đi! Chậu rác đó sẽ bị thống khổ bởi tác động đó. Những bậc siêu việt đã chuyển hoá thế giới này. Tổn thất gì có thể xảy ra cho họ? Khi là Phật tử, quý vị nên chuyên tâm vào giới luật thông thường này: Đừng khiến rác rến của quí vị làm người khác bị nhơ bẩn theo và vì vậy chính quí vị sẽ bị hủy diệt qua quá trình. Không có lợi lạc gì được gặt hái từ đó cả. Sự siêu việt mà tôi đang đề cập: Từ đâu nó phát xuất? Tôi đã minh xác điều này với tất cả trong thời hiện tại của Thái lan đều thấy. Bây giờ tôi là kẻ hung ác nhất trong toàn bộ quốc gia, trong khi phần còn lại của tất cả là đỉnh cao siêu việt? Hãy thấy biết và tự xác định cho chính mình!
Nếu quý vị chối bỏ nguyên lý lý trí, vậy quý vị sẽ chấp nhận cái gì? Mọi người tầm cầu cái gì vào thời này? Tôi tầm cầu cho đến khi tôi gần chết, để chứng được Thực tánh Pháp Vô thượng mà bây giờ tôi đang dạy cho các đệ tử của tôi với một trái tim từ bi và thương xót. Tôi không khoác lác hoặc đang tự khoe khoang. Sự khoác lác như vậy phát xuất từ chỗ nào đây? Khoác lác, ngồi lê đôi mách một cách độc hại… tất cả những thứ rác rưởi này đều không cần thiết. Có gì có thể tăng thêm với Thực tánh Pháp hoàn hảo? Nếu nó đòi hỏi thêm một cái gì, thì làm sao nó có thể được gọi là “hoàn hảo”? Hãy nhớ kỷ điều này.
Phật tử Thái hành xử một cách vô minh. Một khi tôi nói một lời gì thì cả quốc gia lập tức sủa lên ổn ào. Thật là tội nghiệp! Tôi cảm thấy rất tội nghiệp cho quý vị. Chính xác đó là những gì mà Đức Phật cảm nhận được khi ngài thắc mắc tại sao thế gian lại quá u tối như vậy. Nước mắt đã tuôn trào ra trên khuôn mặt của ngài ngay giây phút đó… Nước mắt của lòng đại bi và nước mắt kinh ngạc trước Thực tánh Pháp thuần khiết. Thấy biết con người u mê như thế nào, Đức Phật cảm thấy thất vọng đến mức ngài không tha thiết giảng pháp cho chúng sinh: Tại sao chúng sinh lại không ý thức rác rến trong tâm họ ? Cũng như thời đại này. Khi mọi người nghe Pháp được dạy, họ phê bình vị thầy theo cách mang đến nguy hại cho hơn thay vì vui sướng khi nhận được những bài học vô giá mà chính họ có thể vật lộn để có thể tu tập đến mức mà họ có thể, có thể thích hợp với những người tôn kính thầy của họ. Tại sao họ không suy nghĩ đến những gì có thể nâng cao bản thể của họ để họ có thể thay đổi? Với lý do này, tôi nói với sự tin chắc là Phật tử Thái rất là ngu si. Ãcariya Mahã Boowa không bao giờ bị nhiễu loạn. Hãy để toàn thế gian đến và sủa nếu nó muốn. Tôi sẵn sàng nói ý của tôi mà không bị ảnh hưởng. Thực tánh Pháp vô nhiễm trước tất cả mọi ảnh hưởng trần tục. Những người bị ảnh hưởng bởi các hành xử xấu xa đó nhất định phải sống với cách hành xử xấu xa đó. Người bị ảnh hưởng bởi mất mát sẽ sống với sự mất mát; Người ảnh hưởng sự lợi lạc sẽ sống với lợi lạc. Khi hành xử đức hạnh ảnh hưởng một người, thì họ sẽ khiến hành xử đức hạnh đó là trú xứ của họ. Có thể nói là, họ sẽ tái sinh theo thiện pháp của họ. Ngược lại, khi làm gì sai ảnh hưởng đến ta thì ta sẽ sống với ngọn lửa nóng cháy trong tâm ta. Có phải đó là điều mà quý vị muốn?
Giáo pháp của Đức Phật luôn thịnh hành như khi ngài tuyên bố, “Kho nu hãso kim ãnando Niccaÿ pajjalite sati. Andhakãrena onaddhã Padïpaÿ na gavessatha. “ Khi thế gian này bị đắm chìm bởi ngọn lửa cháy cả ngày lẫn đêm, làm sao các vị có hoàn toàn u tối và vẫn có thể liên tục cười? Tại sao các vị không tầm cầu nơi ẩn trú để các vị có thể nương tựa?” Hãy nghe lời giáo huấn đó của Đức Phật!
Giáo pháp mà tôi dạy cùng là pháp như vậy… Sự điên khùng nào đã nắm bắt quý vị? Quý vị theo chân của những kẻ say sưa mà Đức Phật nghe được khi ngài tuyên bố, ám chỉ đến họ, không phải một nhóm người thánh thiện, “Kho nu hãso…”. Họ chỉ là những kẻ say sưa”. Đây là câu chuyện trong kinh: Đức Phật tương phản với một nhóm người say sưa. Hãy suy nghĩ sự khác biệt giữa họ. Tuy vậy, ngay cả sau khi Đức Phật quở trách họ, họ vẫn không ý thức lỗi lầm của họ.
Nước mắt mà tôi mới tuôn ra gần đây truyền đạt cùng một thông điệp giống như vậy. Làm sao quí vị có thể vẫn vô thức với lỗi lầm của quý vị? Thậm chí quý vị còn chậm chạp hơn cả những kẻ say sưa đó? Nếu quý vị muốn tránh sự suy tàn, quý vị phải tự hỏi chính mình câu hỏi này.
Hiện giờ tôi hết lòng nỗ lực để giúp đỡ xã hội. Trong tâm tôi, tôi không dũng cảm hoặc sợ hãi. Không có hiện tượng gì như lợi lạc hoặc mất mát. Thử thách của tôi là hỗ trợ quý vị hoàn toàn gặt hái được lòng từ bi và yêu thương. Tôi hy sinh tất cả mọi thứ để đạt được Pháp Vô thượng mà tôi đang dạy quý vị ngay bây giờ. Những hy sinh đó không phải là để đạt đến một cái gì bất thiện. Tôi gần như hy sinh cả cuộc đời trên công cuộc tầm cầu Pháp (Dhamma), vượt qua cửa tử trước khi tôi đạt đại ngộ. Nếu vậy thì tại sao không ai nhận nó? Có vấn đề gì với Thái Lan vào thời buổi này vậy? Đó là điều tôi muốn biết.
Con người càng cảm thấy họ quan trọng chừng nào thì họ càng kiêu ngạo và tự phụ hơn, cho đến khi tự bắt đầu suy nghĩ rằng họ còn thông thái hơn cả Đức Phật, bậc thầy Vô thượng. Có phải Thái Land vẫn chưa nhận thức là tình huống càng trở nên tệ hơn vào thời đại này? Dân tộc của nó càng trở nên ngu si hơn! Không ai chú ý đến Pháp nữa. Ai biết được, có lẽ không bao lâu không ai còn đến chùa nữa. Khi chứng kiến phản ứng của họ với lời dạy của tôi mới đây, họ nhạo báng tôi đủ trò với tất cả mọi lời khen chê và châm biếm. Chính xác xảy ra như vậy khi lậu hoặc đang đầy tràn năng lực. Khi họ thấy tôi rơi nước mắt vào ngày trước, họ chế giễu tôi với sự khinh bỉ nhưng tôi vẫn vô nhiễm. Hãy khiến tất cả mọi gia đình trong quốc gia này phê bình tôi, tôi sẽ không tranh cãi với một ai cả. Tôi sẽ dạy mọi người thuần túy trên lòng từ bi. Tại sao họ không thể chấp nhận điều này? Có phải người Thái thật sự quá vô minh?
Có phải Giáo pháp của Đức Phật hoàn toàn biến mất khỏi thế gian? Có phải Đức Phật và Giáo pháp của ngài không còn tối thắng nữa? Có phải tất cả mọi hành giả… người đã nhận thức Chân lý qua hành trình theo đuổi Giáo pháp của Đức Phật… được xem chỉ như là sự lường gạt có thiện ý và là kẻ thù của chúng sinh? Cái gì khiến Phật tử bệnh hoạn như vậy? Họ không thể là những con người thiện lành hay sao? Tại sao họ cư xử như một đàn chó?! Đây là thái độ mà tôi phải chấp nhận.
Nhưng tôi không sân hận với ai cả. Âm thanh mạnh mẽ của tôi phát xuất quyền năng của Giáo pháp. Giáo pháp bất khả tư nghì. Nó không sân hận hoặc ganh ghét một ai. Tuy vậy, Giáo pháp vẫn luôn tự diễn đạt với quyền năng mãnh liệt của nó. Cũng thanh tịnh vô nhiễm với lậu hoặc. Chúng có xu hướng tự diễn đạt một cách dữ dội với quyền năng chiếm hữu. Sự khác nhau là diễn đạt của lậu hoặc có thể gây ra sự tàn phá kinh khủng cho thế giới này trong khi sự diễn đạt quyền năng Giáo pháp thì như dòng nước mát dặp tắt lửa thế gian.
Quý vị có nghĩ là tôi nói qua sân hận hay không? Chỗ nào sân hận phát xuất? Sân hận phát xuất từ phiền não. Với người đã hoàn toàn đoạn tận tất cả mọi lậu hoặc, quí vị không thể khiến họ giận dữ được. Hãy thử nếu quí vị muốn. Đơn giản là không một chút sân hận nào còn lại trong trái tim họ. Ngay cả chỉ một chút sân hận nhỏ nhoi còn lại đi nữa, họ không thể được tôn là bậc Thánh A La Hán, đã đoạn tận tất cả mọi lậu hoặc. Tất cả mọi sân hận, tham lam, và ảo tưởng đều là lậu hoặc. Quý vị hiểu không? Hãy nghiên cứu vấn đề này kỷ lưỡng thì quý vị sẽ biết.
Thân là thực tại quy ước xuyên suốt và xuyên suốt. Miễn là nó còn tồn tại trực tiếp liên kết với bản chất thanh tịnh của tâm, chắc chắn là nó bị ảnh hưởng rồi. Đây là hiện tượng tự nhiên. Tôi sai lầm chỗ nào? Ai là gì có thể tự cho là họ đủ uy quyền để họ có thể đối lập với Giáo pháp của Đức Phật? Hãy tới trước đi. Hãy nghe quý vị khoác lác! Hãy nghe quý vị trả lời, “Ãcariya Mahã Boowa là một tu sĩ cực kỳ vô minh”. Tôi muốn nghe từ tất cả mọi kẻ khôn khéo. Hãy ra khỏi những lổ cầu tiêu của quý vị và hãy khoác lác và sự chứng Pháp của quý vị. Tôi thật sự muốn thấy có một cái gì chân chánh hiện ra, nhưng tôi không thấy gì cả. Dù tôi tìm kiếm ở nơi nào đi nữa. tôi chỉ thấy toàn là loại người lười biếng, đầy tham sân si và ảo tưởng. Đó là loại siêu việt gì vậy? Tuy vậy, họ vẫn tiếp tục tiến tới với sự khoác lác ngông cuồng của họ. Không có kết thúc cho sự điên cuồng của họ.

2. Arahattaphala: Rơi Lệ Trước Sự Diệu Kỳ Của Giáo Pháp.


CON ĐƯỜNG THÀNH TỰU A LA HÁN QUẢ
ARAHATTAMAGGA ARAHATTAPHALA
Tổng hợp các bài pháp thoại của Hòa Thượng Ãcariya Mahã Boowa
về hành trình tu tập của ngài

PHẦN II
A LA HÁN QUẢ
(ARAHATTAPHALA)
Rơi lệ trước sự diệu kỳ của giáo pháp
Bài pháp thoại của Hòa thượng Ãcariya Mahã Boowa được giảng vào lúc ngài đã 89 tuổi, vào ngày 2, tháng Năm, 2002.
Căn bản của sự chết chính xác ngay trong tâm, như sinh và tử cả hai đều hiện hữu trong nó. Chính tâm không bao giờ sinh không bao giờ diệt. Thay vì vậy, mọi ảnh hưởng của lậu hoặc thấm nhiễm và tỏa khắp tâm nắm giữ ta trong sự lặp đi lặp lại của vòng luân hồi sinh tử. Quý vị hiểu không? Hãy nhìn tâm. Nếu quí vị không thấy tính độc hại của tâm, quí vị sẽ không thấy tính độc hại của lậu hoặc. Ở giai đoạn tu tập cao hơn, chính sự mê hoặc chói lọi của tâm là mối nguy hại thật nên đừng nghĩ là tâm kỳ diệu và quí báu như thế nào, bởi vì sự nguy hiểm đang quẩn quanh ở đó. Nếu quí vị có thể thấy tâm từ góc độ này, quí vị sẽ thấy mối nguy hại đang chôn vùi trong nó. Quý vị hiểu ý của tôi chứ? Miễn là quý vị tiếp tục nắm giữ sự chói lọi của tâm và cực kỳ quý trọng nó, thì quí vị sẽ bị dính mắc và sẽ không lối thoát. Chỉ đơn giản như vậy. Đừng nói là tôi không cảnh báo quý vị. Khi đúng thời điểm, quý vị phải quét hết tất cả qua một bên cho đến khi không gì còn lại. Đừng bảo tồn gì cả. Bất kỳ cái gì quí vị không chạm đến… đó là Mối Hiểm Họa Tối Hậu nhất.
Đề cập đến vấn đề này khiến tôi nhớ lại thời gian tôi tu tập tại Wat Doi Dhammachedi. Vào một buổi sáng sớm, trước buổi ăn, lúc đó, tâm của tôi sở hữu một phẩm chất thậm thâm vi diệu vô cùng, thật ngoài sức tưởng tượng khi trong thấy nó. Tôi hoàn toàn kinh ngạc với chính mình. Tôi suy nghĩ, “Ôi chao! Tại sao tâm này chói lọi đến mức không ngờ được?” Tôi dừng lại ngay lộ trình thiền của mình và quán xét tính chất rực rỡ, kinh ngạc trước vẻ diệu kỳ của nó. Nhưng, trên thực tế, chính sự chói sáng rực rỡ mà tôi thấy là kỳ diệu biểu hiện một mối NGUY HIỂM TỐI HẬU. Quý vị có hiểu ý tôi không?
Chúng ta có xu hướng mê đắm bản tâm chói lọi này. Thực ra, tôi bị mê hoặc và đã bị nó gạt rồi. Quý vị thấy không? Khi không gì còn lại, ta tập trung trên điểm cuối cùng của sự chú tâm, vốn là trung tâm của vòng quay bất diệt của luân hồi sinh tử, thật sự biến hiện quy ước của sự vô minh nền tảng mà chúng ta gọi là avijjã. Điểm tập trung này là trạng thái cao tột nhất của avijjã, đỉnh tột bực của tâm trong thế giới Ta Bà (saÿsãra). Bởi vì không có gì còn lại ở giai đoạn đó, tôi đơn thuần ngưỡng mộ sự chói lọi vô lượng đó của vô minh (avijjã). Tuy vậy, sự chói lọi đó sở hữu một điểm chính. Nó có thể so sánh với tim đèn. Tâm đèn chiếu sáng rực rỡ và ánh sáng tỏa ra chiếu rọi khu vực chung quanh. Đó là sự quan tâm chính, cái nhân đó quá kỳ diệu khiến tôi phải kinh ngạc và sau đó khiến tôi phải thắc mắc, “Tại sao tâm lại chói lọi rực rỡ đến như vậy?” Xem ra nó đã hoàn toàn chuyển hoá thế giới trần tục (saysara). “Hãy nhìn kìa!” Thật là một quyền năng bất khả tư nghì mà tâm hiển lộ khi chúng ta đạt đến trạng thái cuối cùng của sự tu tập. Tuy vậy, tôi vẫn chưa nhận thức rằng tôi đã bị rơi vào sự dối trá của vô minh.
Sau đó, đột nhiên, một cách tự sinh tánh tự phát, cách ngôn của Pháp khởi lên, như là có ai đang nói trong tâm. Tôi không bao giờ có thể quên được. Nếu có một điểm hoặc trung tâm của người biết bất kỳ nơi nào thì đó là hạt nhân của sự sống. Giống như trung tâm chiếu rọi trên tim đèn. Hãy nhìn kìa! Nó cho biết chính xác những gì mà tôi cần được biết; Chính điểm đó là cốt lõi của sự sống. Nhưng ngay cả sau đó, tôi không thể nắm bắt được ý nghĩa. Tôi kinh ngạc. Một điểm trụ, một trung tâm… Trọng tâm của sự chiếu sáng.
Tôi bắt đầu khảo sát “điểm” đó sau khi Hòa thượng Ãcariya Mun thị tịch. Nếu có một điểm hoặc một trung tâm của người biết bất kỳ nơi nào thì đó là hạt nhân của sự sống. Nếu ngài vẫn còn tại thế, sự bối rối của tôi sẽ lập tức khêu gợi câu giải đáp từ ngài. Đó là trọng tâm của sự chói lọi! Và sau đó, điểm đó tức thì tan rã. Một khi tôi thấu hiểu được ý nghĩa của nó, tôi cũng biết được tính nguy hại của nó khiến nó biến mất. Tuy vậy, tôi vẫn cẩn thận bảo vệ và giữ gìn nó.
Sự Nguy Hiểm Tối Hậu, rồi thì nằm ngay đó. Điểm của sự Nguy Hiểm Cuối Cùng là cốt lõi của ánh sáng rực rỡ đã tạo ra cả thế giới thực tại quy ước.
Tôi sẽ luôn nhớ đến. Vào tháng Hai, pháp thân của Hòa thượng Ãcariya Mun đã được hỏa thiêu, và tôi đi vào núi. Nơi đó, tôi bị mắc cứng trên vấn đề này. Nó hoàn toàn khiến tôi phải kinh ngạc. Cuối cùng, tôi không gặt hái được lợi lạc gì từ lời pháp Dhamma khởi lên trong trái tim tôi. Thay vì là một ân huệ lớn lao cho tôi, nó trở thành một phần của cùng một ảo tưởng kinh khủng đó đã gây tai họa cho tôi. Tôi đã bối rối, “Nó ở đâu, điểm này?” Dĩ nhiên, chỉ điểm chiếu rọi đó, nhưng không bao giờ xảy ra với tôi là trung tâm của cái tâm chói lọi đó có thể sự NGUY HIỂM CUỐI CÙNG đó. Tuy vậy, tôi vẫn cho nó là MẶC HẠNH VÔ THƯỢNG. Đây là cách phiền não dối gạt chúng ta. Mặc dù tôi đã được cảnh báo đó là sự NGUY HIỂM CUỐI CÙNG, nó vẫn mê hoặc tôi, khiến tôi nhìn thấy nó như là một MẶC HẠNH VÔ THƯỢNG. Tôi sẽ không bao giờ quên được sự tiến thoái lưỡng nan đó đè nặng trên tôi như thế nào.
Cuối cùng to rời bỏ Wat Doi Dhammachedi và tìm đến Sr Chiang Mai tại Quận Ban Pheu. Tôi sống ở đó chừng ba tháng, sâu trong rừng trong hang động Pha Dak, trước khi trở về với sự huyền bí đó vẫn còn đè nặng trên tâm trí tôi. Sau đó, khi đang cư ngụ trên một đỉnh núi ớ đó, vấn đề cuối cùng được giải quyết.
Khi khoảnh khắc quyết định đã đến, vấn đề thời gian và nơi chốn không còn quan hệ nữa. Chúng đơn thuần không can thiệp. tất cả đều biến mất dưới ánh sáng lộng lẫy huy hoàng chói lọi của tâm. Tôi đã đạt đến giai đoạn mà không có gì còn lại cho tôi khảo sát nữa. Tôi đã buông xả tất cả rồi… chỉ có ánh sáng chiếu rọi đó là còn lại. Ngoại trừ trọng tâm của ánh sáng rực rỡ của tâm, cả vũ trụ pháp giới chắc chắn là buông xả. Quí vị có hiểu ý của tôi không? Rằng điểm đó tức là sự NGUY HIỂM CUỐI CÙNG hay không?
Ở giai đoạn đó, Đại Chánh niệm và Đại Trí Tuệ đồng quy ở trọng tâm của tâm, tập trung mọi năng lực của toàn bộ sự khảo sát trên điểm này. Tôi đạt đến giai đoạn chỗ mà tôi thắc mắc là tại sao một tâm lại có quá nhiều khía cạnh. Tôi có thể nhấn mạnh một cách rõ ràng rằng mỗi một khía cạnh của tâm đều được biết, và mỗi khía cạnh được biết chắc chắn là thay đổi. Một khi nó được nắm bắt rồi thì nó thay đổi. Một khía cạnh là tốt, còn khía cạnh kia là xấu. Sự khảo sát tập trung trên điểm đó, phân tích tất cả và nỗ lực thấu hiểu, “Tại sao một tâm như vậy lại sở hữu quá nhiều khía cạnh khác nhau? Như là nó không hợp nhất. “ Dù là khía cạnh nào của tâm dưới sự khảo sát, tất cả mọi mặt của tâm có thể thay đổi thấu suốt rõ ràng tùy theo tính chất vi tế thâm thúy của trình độ tu hành nơi mà Đại Chánh Niệm và Đại Trí Tuệ cùng làm việc với nhau. Tổng hợp lại, hai năng lực này có thể theo đuổi tất cả mọi sự thay đổi của tâm mặc dù vi tế như thế nào đi nữa. Sát na này nó rực chiếu, sát na tiếp tới nó bị lu mờ. “Tại sao tâm này sở hữu quá nhiều mặt? Sự thay đổi đến từ bên trong. Thấy không? Tôi bắt đầu có thể theo đuổi được nó. Khoảnh khắc này là lạc (sukha), khoảnh khắc tới là khổ (dukkha)”.
Trong cảnh giới của thực tại quy ước, các duyên rõ ràng là một phần chính yếu của tâm. Không còn gì để khảo sát nữa, Đại Chánh niệm và Đại Trí tuệ tập trung trực tiếp trên điểm mà sự thay đổi xảy ra. Giây phút này ở đó là lạc, giây phút tới nó là khổ. Giây phút này nó rực rỡ chiếu sáng, giây phút tới nó hơi tối tăm. Nhưng quý vị phải hiểu sự thay đổi từ lạc đến khổ hoặc từ sự chiếu rọi rực rỡ đến tối tăm, vi tế đến mức khó mà nhận rõ được. Tuy nhiên, Đại Chánh niệm lúc nào cũng truy sát nó ở tất cả mọi thời. “Tại sao tâm có quá nhiều thay đổi?” Ngay điểm gay go đó, chánh niệm buông bỏ tất cả mọi thứ khác và quay sự chú ý của nó ngay kẻ khả nghi trọng yếu này. Mỗi một khía cạnh của sự khảo sát đồng quy về tâm vào tất cả đều tương quan lẫn nhau. Ở cấp độ tột bực nhất, Đại Chánh niệm và Đại Trí tuệ cực kỳ vi tế đến mức chúng tỏa khắp và xuyên thấu tất cả không ngược lại. Đại Chánh niệm và Đại Trí tuệ ở điểm tột bực này khác với chánh niệm và trí tuệ tự động thường được ứng dụng để đạt đến giai đoạn cuối cùng. Chánh niệm và trí tuệ tự động cùng làm việc mà không cần phải thúc đẩy. Chúng khảo sát tất cả các pháp trong những giai đoạn tiếp theo, chặt đứt chúng thành từng mảnh, từng phần một. Ở điểm tột bực này, Đại Chánh niệm và Đại Trí tuệ đồng làm việc với nhau mà không cần thúc đẩy, nhưng chúng đồng thời tỏa khắp tất cả.
Ngay lúc đó, chúng quán xét điểm trọng tâm của tâm. Tất cả mọi pháp khác được xem xét là loại trừ. Ở đó chỉ còn lại một điểm nhỏ nhoi của “tánh biết” này. Nó trở nên hiển nhiên là cả lạc lẫn khổ được phát hành từ nguồn cội đó. Tính chiếu rọi và tối tăm… Sự khác nhau khởi lên cùng một nguồn gốc. Tại sao chỉ có một tâm mà sở hữu vô số đặc tính?
Sau đó, tức thì, Pháp giải đáp hoài nghi đó. Tức thì… chỉ như vậy! Kinh nghiệm này được gọi là “Pháp khởi lên qua tâm trí.” Phiền não phát khởi trong tâm là những năng lực ràng buộc chúng ta. Pháp (Dhamma) khởi lên qua tâm trí khai phóng chúng ta khỏi tất cả mọi ràng buộc. Pháp đột ngột khởi lên một cách không ngờ được, mặc dù nó là âm thanh nội tại. Dù nó tối tăm hoặc sáng chói, lạc hay khổ, tất cả mọi nhị nguyên đó là ngã (anattã). Nơi đó! Tối hậu, vô ngã đã đoạn lìa tất cả tức thì, tuệ kiến xác quyết cuối cùng có thể sanh khởi như bất kỳ Tam Pháp Ấn (ti-lakkhaõa), tùy thuộc vào cá tánh và khí chất của thiền nhân. Nhưng theo cá nhân tôi thì nó là vô ngã (anattã). Ý nghĩa khá rõ ràng. Buông xả tất cả. Tất cả đều là anattã.
Đột nhiên, trong sự thấu suốt tất cả mọi khía cạnh khác nhau đó, tính tối tăm, tính chiếu rọi, lạc và khổ… tất cả đều vô ngã, tâm tuyệt đối tĩnh lặng. Cuối cùng kết luận tất cả đều là vô ngã, nó không còn chỗ để chuyển động, nó yên nghỉ… thụ động, vắng lặng, trong trình độ của Dhamma. Nó không còn hứng thú ngã hoặc vô ngã nữa, không còn hứng thú lạc hay khổ, sáng chói hoặc tối tăm. Tâm ngự ở trung tâm, trung lập và tĩnh mịch. Nhưng nó tịch động với Đại Chánh niệm và Đại Trí tuệ, không tịch động một cách trống rỗng, không kẻ hở. Nói theo định nghĩa thế gian, nó không chú ý, nhưng trong thực tế, nó hoàn toàn ý thức. Tâm đơn thuần trong trạng thái bất động, vắng lặng.
Rồi thì, từ trạng thái thụ động, trung lập đó của tâm, hạt nhân của sự sống… cốt lõi của người biết … bỗng nhiên tách rời và rơi rụng. Cuối cùng giảm thiểu thành vô ngã, tính chiếu sáng và tối tăm đó và tất cả mọi pháp khác hốt nhiên tách lìa ra từng mảnh và bị hủy diệt tất cả và tức thì.
Trong khoảnh khắc đó, khi vô minh lật ngữa và rơi xuống từ tâm, bầu trời xem ra như sụp đổ, toàn vũ trụ vạn pháp rúng động. Sự thật, chính là vô minh, nguyên nhân khiến ta phải lang thang không ngừng trong cõi Ta bà. Do vậy, khi vô minh lìa khỏi tâm và tan biến, xem ra như cả vũ trụ rơi rụng và biến mất cùng với nó. Đất trời cùng sụp đổ tức thì. Quý vị hiểu không? Không ai phán quyết ngay giây phút quyết liệt đó. Nguyên lý tự nhiên tự nó khởi lên và tự nó phán quyết. Phát xuất từ trạng thái trung dung của tâm, tất cả mọi diễn tiến xảy ra một cách đột ngột. Trong một sát na toàn cả vũ trụ vạn hữu xem ra lật ngược lại và biến mất. Mầu nhiệm vô cùng! Ôi chao! Thật sự và thật sự kỳ diệu! Quá phi phàm để có thể thốt nên thành lời. Bản chất của Pháp (Dhamma) thật là bất khả tư nghì mà tôi đang giảng thuyết bây giờ.
Những dòng lệ tuôn trào khi tôi kinh nghiệm được nó. Hãy nhìn con người tôi ngay hiện tại! Ngay cả đôi dòng lệ của tôi tuôn chảy khi tưởng nhớ đến sự kiện đó. Đôi dòng lệ này là tạo tác của ngũ uẩn. Xin làm ơn hiểu là chúng không hiện hữu trong trạng thái thuần khiết đang hiển lộ trong khoảnh khắc đó. Trạng thái tự nhiên đó xảy ra một cách đột ngột, trong tất cả sự lộng lẫy bất khả tư nghì của nó. Tôi muốn tất cả quý vị người đang quá tự mãn hãy nhận thức rằng Pháp của Đức Phật thật sự như là. Ôi chao! Quá kỳ diệu! Quá thậm thâm vi diệu! Ôi chao! Đôi dòng lệ tuôn trào trên khuôn mặt tôi! Hoàn toàn bất ngờ, tôi thốt lên, “ Đức Phật đã chứng ngộ như thế hay sao? Có phải Thực tánh Pháp là như vậy?” Nó là một hiện tượng mà tôi chưa bao giờ có thể nhận thức hoặc tưởng tượng được. Nó đơn thuần khởi lên, không dự đoán được, tức thì. Ồ! Huy hoàng đến mức bất khả thuyết! Hãy nhìn tôi! Ngay cả bây giờ tôi cũng đang rơi lụy khi tôi nhớ đến nó vi diệu làm sao. Ký ức đó vẫn còn tươi mát trong tâm trí tôi. Nó vẫn tồn tại với tôi ngay từ lúc đó.
Toàn châu thân tôi rúng động ngay khoảnh khắc đó. Thật khó có thể giải thích được. Tất cả đều diễn ra ngay trong một sát na. Bầu trời như sụp đổ xuống và thế gian hoàn toàn biến mất. Ngay lúc đó, tôi không ngừng lặp đi lặp lại, “Cái gì? Đức Phật đã đạt đạo như vậy hay sao?” Nhưng thật sự không cần thiết hỏi như vậy bởi vì chính tôi đang trực diện Chân lý. “Chân Pháp là như thế? Có phải Chân Tăng là như thế?” Tất cả Tam Bảo đều đồng hợp, thể nhập vào Dhama bất khả tư nghì và Vô thượng… cái mà tôi gọi là nguyên tố Dhamma. “Cái gì? Làm sao Phật, Pháp và tăng trở thành một và là một?” Tôi không bao giờ tưởng tượng được là điều đó có thể.
“Phật là Phật. Pháp là Pháp. Tăng là Tăng.” Kinh nghiệm này đã gây ấn tượng trong tâm tôi khi tôi vừa đủ lớn để thấu hiểu những vấn đề như vậy . Nhưng ở giây phút đó khi Pháp Vô thượng khởi lên trong tất cả sự huy hoàng vi diệu của nó, tất cả đều là một và cùng một bản chất… thực tánh Pháp (Dhmma) kỳ diệu. Một khi nó khởi lên trong tất cả sự mầu nhiệm của nó, vạn pháp ẩn tàng trong mờ mịt tối tăm, vạn pháp mà tôi chưa bao giờ biết trước đó, hốt nhiên hiển lộ và chiếu rọi rực rỡ. Tôi không đang thêu dệt ảo tưởng để lừa gạt mọi người. Ngay cả bây giờ, dòng vận hành của Dhamma bất khả tư nghì đó vẫn khiến tôi kinh ngạc. Trong tất cả sự bao trùm của nó, hào quang chiếu rực soi sáng toàn cả vũ trụ pháp giới, hiển lộ tất cả. Không có gì ẩn tàng hoặc che dấu.
Sau đó thì tất cả mọi kết quả của thiện và ác và sự hiện hữu của cõi thiên và địa ngục đập vào ta với một năng lực không thể bác bỏ được của pháp hiển lộ. Tôi ước gì nó có thể đập vào tất cả những người còn đang hoài nghi với một năng lực như vậy. Tất cả quý vị đã cho phép lậu hoặc dối gạt quý vị để quý vị tin là không có sự việc như là mọi hệ quả của ác, không có các hệ quả như là thiện, không có hệ quả như là Thiên giới và địa ngục. Chúng hiện hữu từ hằng vô lượng kiếp và chúng đang tỏa khắp. Quí vị chỉ chưa nhận thức chúng mà thôi. Các pháp đều luôn có mặt. Chúng không ngừng gây hại cho những kẻ ngu si vô minh trong sự sống của họ và bị sự dối trá của lậu hoặc che phủ đến nỗi họ không bao giờ thấy được tia chớp của Chân lý.
CÓ GÌ CÓ THỂ NÓNG CHÁY hơn ngọn lửa địa ngục? Theo tính quy ước thì năm ngọn lửa bừng cháy của địa ngục tương ứng với chúng. Năm trọng tội là: Giết cha giết mẹ, sát hại bậc A La Hán, tổn hại pháp thân của một vị Phật và hoạt động tích cực phân ly tăng đoàn. Và tất cả đều trở nên rõ ràng hiển nhiên ngay khoảnh khắc đại ngộ đó. Sau đó thì không cần phải hỏi là Thiên giới địa ngục ở đâu nữa. Đức Phật không nói dối. Những hiện tượng này cũng rõ ràng như vậy với Đức Phật, và ngài đã mô tả chúng như ngài đã thấy chúng.
À! Pháp Vô thượng lạ lùng và mầu nhiệm siêu vượt trên đức tin. Nó bao trùm hoàn toàn tất cả trong tâm trí. Khi chứng cớ quá rõ rệt, không cần phải truy cứu xa hơn phải không?? Sự thấu suốt tỏ tường này hoàn toàn hài hoà với tâm trí, nên không cần thiết để đặt câu hỏi nữa.
Sau này, tôi quay sự chú ý của tôi để khảo sát các kiếp quá khứ của tôi. Thật là kinh khủng khi tư duy biết bao nhiêu lần tôi đã sinh ra và chết đi. Biết bao nhiêu lần tôi tái sinh trong cõi địa ngục và biết bao nhiêu lần trên các cõi Phạm thiên, chỉ để rồi lại tiếp tục rơi xuống cõi địa ngục lần nữa. Có vẻ như là tâm leo lên rồi rớt xuống một số chuỗi cầu thang. Nhưng tâm tự chính nó thì không bao giờ chết cả. Quý vị hiểu không? Tâm không bao giờ chết. Nghiệp quả chôn vùi trong tâm. Thiện quả hướng tâm lên các tầng Thiên giới và các cảnh giới Phạm thiên. Sau đó, khi mà thiện quả cạn kiệt, ác quả nằm sâu sẽ trỗi dậy và lôi kéo tâm xuống các cảnh địa ngục, như là tâm leo lên thang và xuống nhiều bậc thang. Quý vị hiểu không? Đây là lộ trình như vậy, nên hãy tỉnh giác và chú ý.
Hôm nay tôi đã chia sẻ tất cả… đến mức đôi dòng lệ phải rưng rơi để tất cả các vị có thể thấy được. Có phải đây là sự điên loạn hay là mặc hạnh? Hãy suy nghĩ về nó. Hãy lắng nghe Pháp bảo một cách cẩn thận mà tôi đang giảng dạy cho thế gian. Tôi có thể nói một cách rõ ràng là: Tâm không dũng cảm và nó vô úy. Nó hoàn toàn siêu vượt trên mọi cảm xúc như vậy. Cho nên, tôi quay sự chú ý của tôi khảo sát những kiếp quá khứ của tôi. Chao ôi! Tử thi của một cá nhân có thể trải ra cùng khắp Thái Lan thì sẽ không còn một chỗ trống nào nữa. Chỉ một cá nhân mà thôi! Tưởng tượng bao nhiêu thời gian dành cho sinh và tử. Quá nhiều, hằng vô lượng kiếp và hằng vô lượng kiếp để có thể đếm được. Tư duy của tôi cũng trải rộng đến hằng hà sa số xác chết của mỗi một con người trên thế gian này. Mỗi và một tâm của mỗi chúng sinh chính xác cùng một lịch sử sinh và tử lặp đi lặp lại. Mỗi một chúng sinh đều bình đẳng trong hiện tượng này. Ngược lại thời gian vô tận, mỗi một kiếp quá khứ của một chúng sinh dày đặc với hằng hà sa số xác chết. Đó là một quanh cảnh khó mà chịu đựng nỗi.
Cuối cùng, tôi cảm thấy kinh tởm khi tôi quán sát những kiếp quá khứ của tôi. Chao ôi! Đã tái sinh hằng hà sa số kiếp, tôi vẫn vật lộn không ngừng, để lạ được tái sinh và tái sinh lại. Nếu Dhamma không cuối cùng phán quyết thì tôi sẽ vẫn tiếp tục như vậy trong vô hạn. Tôi khảo sát bằng cách đó, quán xét bản chất của thế gian và tôi càng làm như vậy thì lại càng khó mà chịu đựng được. Tôi thấy tình trạng như vậy khắp nơi. Mỗi một chúng sinh trong toàn cõi vũ trụ pháp giới đều bị dính mắc cùng trong một vòng quay kinh khủng đó. Trong hiện tượng này, tất cả mọi chúng sinh đều bình đẳng.
Sau đó, một cảm giác thất vọng khởi lên không kịp cảnh báo trong tâm tôi. Tôi suy nghĩ, “Làm sao tôi có thể giảng giáo pháp (Dhamma) này đến mọi người? Giảng dạy để làm gì? Vì Chánh pháp là như vậy, làm sao có thể biểu hiện để tất cả mọi chúng sinh sẽ có thể nhận biết và thấu hiểu được? Tốt nhất tôi nên sống hết cuộc đời tôi và sau đó thì đơn thuần lãng quên?” Quý vị thấy không? Tôi cảm thấy chán nãn, không hứng thú để giảng dạy. Như là, khi tìm được lộ trình giải thoát, tôi hài lòng giải thoát một mình. Tôi có thể thấy tôi không gặt hái được lợi lạc gì khi giảng dạy Dhamma cho mọi người. Tôi đã cân nhắc vấn đề như thế nào trước đó. Nhưng vẫn chưa xong. Diễn ra một cách tánh tự phát trong trái tim tôi, sự phản chiếu của tôi trên vấn đề này tiếp tục phát triển trong nhiều giai đoạn.
Nhìn trạng thái của thế gian, tôi cảm thấy thất vọng. Tôi thấy mọi người chìm đắm hoàn toàn trong bóng tối qua sự tuyệt vọng. Bị che mù nên họ không xứng đáng. Đức Phật gọi những người như vậy là người mặc dầu đã gặp Phật Pháp và đã hết sức cố gắng học hỏi và thực hành Giáo Pháp nhưng không thể thành đạt Thánh Đạo và Thánh Quả trong kiếp sống hiện tiền. (Padaparama). Nhìn cao hơn qua cấp độ, tôi thấy có nhiều loại người như người cần phài được dắt dẫn, được chở đi v.v... hàm ý là người cần phải được dạy dỗ, là người không thể thành đạt Đạo và Quả sau khi nghe bài kinh vắn tắt và rành mạch (Neyya) và người thấu hiểu sau khi được nghe giải thích cặn kẽ, là người không có khả năng thành đạt Đạo và quả tức khắc sau khi chỉ nghe suông một lời dạy vắn tắt và rành mạch nhưng, nếu được giải thích dông dài và cặn kẽ thì sẽ chứng ngộ Đạo Quả (Vipacitaññý). Người thuộc phân loại trong Neyya có thể được dạy dỗ trên lộ trình của Dhamma. Có lúc họ tiến triển, có lúc họ bị sa sút. Những cá thể Neyya có khả năng thấu hiểu lời dạy rõ ràng và có thể tu tập. Nhưng nếu không nhiệt tâm, họ sẽ mất hết khả năng. Nhưng nếu họ nhiệt tâm trong sự tu tập của họ, họ có thể tiến triển rất nhanh. Tùy thuộc vào mức độ cam kết Neyya có thể rơi vào hai lộ trình đó.
Những cá thể luôn luôn tiến triển hướng đến mục tiêu. Họ không bao giờ sa sút cả. Tuy vậy, sự tiến triển của họ chậm hơn Ugghaåitaññý, những cá thể người mà tuệ giác sắc bén đến mức họ luôn hoàn toàn chuẩn bị để quyết tâm đạt đạo quả tức khắc. Dù họ là loài vật, họ cũng sẵn sàng chờ đợi ngay cổng chuồng, khi cổng chuồng mở ra, chúng lập tức chạy ra ngay. Ugghaåitaññý có khả năng thấu hiểu tức khắc để có thể cho phép họ siêu vượt trên tuệ kiến trong một sát na.
Tất cả mọi chúng sinh chắc chắn là nằm trong bốn phân loại này. Khi tôi khảo sát bản chất thế gian, nó riêng rẽ một cách tự nhiên theo sự hòa hợp của nó thành bốn phân loại này. Tôi có thể thấy được những cá thể siêu vượt hơn tồn tại trong hằng hà sa số của nhân loại mà tôi cảm thấy chán nản không muốn giảng dạy chánh pháp. Ugghaåitaññý: Họ chuẩn bị sẵn sàng để vượt qua tức thì. Theo từng cấp độ thấp hơn, có Vipacitaññý, người có thể tiến triển thật nhanh hướng đến mục tiêu. Sau đó là Neyya, người muốn được nằm xuống và dễ dàng thách đố sự ham muốn của họ để có thể tinh tấn trên đạo lộ. Quý vị có hiểu ý của tôi không? Hai lực lượng đối lập này đang ganh đua ưu thế trong trái tim của họ. Và cuối cùng là Padaparama: Người chỉ có hình tướng con người mà thôi. Họ không gặt hái được lợi lạc gì cả để có thể cải thiện tương lai của họ. Cái chết của người như vậy là cái chết chẳng chút khác biệt gì. Chỉ có một con đường có thể cho họ mà thôi… đi xuống. Và họ sẽ rơi xuống và rơi xuống xa hơn sau mỗi cái chết kế tiếp. Lộ trình đi lên bị ngăn chặn, bởi vì họ chẳng gặt hái được gì để mang theo với họ. Họ chỉ có thể đi xuống mà thôi. Hãy nhớ kỷ điều này! Lời dạy này phát xuất tự tận đáy tâm tôi. Quý vị nghĩ là tôi đang tự thổi phồng và cố ý nói lời giả dối hay sao?
Khi so sánh trái tim của bậc đã tuyệt đối thanh tịnh, thế gian là một cái thùng chứa rác khổng lồ, dung chứa nhiều thứ rác rưởi khác nhau. Từ cấp độ cao nhất, Ugghaåitaññý, đến cấp độ thấp nhất và thông thường nhất, Dadaparama, tất cả các cấp độ khác đều cùng tập trung ở một chỗ chứa lớn. Cả thế gian của thực tại quy ước này là một nơi dung chứa đủ thứ ô nhiễm lẫn lộn thiện và ác. Quý vị hiểu không? Qua sự quán xét của tôi, tôi sàng sẩy đống rác khổng lồ này và khám phá bốn cấp độ chúng sinh,
Từ sự quán xét đó, một nhận thức khởi lên, đối đầu với sự chán nản khiến tôi phải do dự dạy dỗ mọi người pháp lộ. Một cảm hứng bỗng nhiên khởi lên trong tâm, “Nếu Dhamma tối thắng như vậy, quá siêu việt đến mức không ai có thể không ai có thể thấu hiểu được nó, thì tôi là bản thể thiêng liêng gì? Còn tôi thì sao? Tôi đã đạt đến nhận thức Pháp bảo như thế nào? Lý do gì? Cái gì đã mang đến nhận thức này? Khi tôi cân nhắc nguyên nhân, mọi tư tưởng của tôi tập trung trên hành trình tu tập đã đưa tôi đến sự giải thoát. Cùng một Đạo lộ mà Đức Phật đã dạy qua: Bố thí (Dãna), Giới (Sïla), Thiền (Bãvanã). Đây là con đường đã hướng tôi đến điểm đó. Không còn cách nào để đạt đến nó. Duyệt lại sự tu tập trước kia của tôi, tôi thừa nhận là cùng một lộ trình đã hướng mọi người khác đến giải thoát. Có lẽ hiếm hoi chỉ một vài người, nhưng chắc chắn là có một vài người có thể thành tựu được. Tôi không thể chối bỏ điều đó. Với ý thức là điều này sẽ đem lại lợi lạc ít nhất một vài người khuyến khích tôi bắt đầu giảng dạy Giáo pháp cho người xứng đáng được dạy.
Sau đó, các tu sĩ bắt đầu tụ tập quanh tôi trong rừng và nói nơi tôi sống, và tôi dạy họ phải kiên quyết trong sự tu tập của họ. Dần dần, từng bước một, lời pháp của tôi bắt đầu thịnh hành, cho đến hiện thời nó kéo dài và trãi rộng ra. Bây giờ, người ở Thái Lan và cùng khắp thế gian đến để nghe Đạo sư Mahã Boowa thuyết pháp. Có người du hành đến nơi này để nghe tôi trực tiếp. Có người nghe qua máy thu âm pháp thoại của tôi được phát thanh suốt quốc gia Thái lan trên đài ra dio và mạng lưới toàn cầu.
Tôi có thể quả quyết với quí vị là Giáo pháp mà tôi đang giảng dạy không xa rời với các nguyên lý của Chân lý mà tự thân tôi đã chứng ngộ. Các vị hiểu tôi nói không? Đức Phật giảng dạy cùng một thông điệp mà tôi đang truyền đạt đến các vị. Khi thốt lên những lời này, tôi muốn kêu lên, Lành thay (Sadhu)!
Mặc dù tôi chỉ là một con chuột nếu so sánh với Đức Phật, sự chứng thực của giác ngộ nằm ngay ở đây trong trái tim tôi. Tất cả nghĩa gì mà tôi hoàn toàn nhận thức nằm trong tự thân của tôi đồng quy với lời dạy của Đức Phật. Không có bất kỳ những gì mà tôi chứng ngộ mâu thuẫn với Đức Phật. Lời pháp mà tôi khai thị nơi đây dựa trên cùng một nguyên lý sự thật mà tôi đã từ lâu toàn tâm tri nhận. Vì lý do đó tại sao tôi dạy dỗ mọi người với sự hăng hái như vậy khi tôi tỏ bầy giáo pháp cho cả quốc gia Thái Lan.
Nói theo tính quy ước, tôi thuyết pháp một cách táo bạo như là tôi là một anh hùng đã chiến thắng. Nhưng Pháp tối thắng (Dhamma) trong trái tim tôi không táo bạo hoặc đầy sợ hãi. Không được không mất, không thắng không bại. Cuối cùng, lời dạy của tôi phát xuất từ lòng từ bi thuần khiết vô nhiễm. Thí dụ, nếu tôi thấy đàn chó cắn lộn nhau, tôi sẽ kéo chúng ra và ngăn chặn chúng không cho chúng cắn lộn lẫn nhau. Tôi không hứng thú ai thắng ai thua. Chỉ có đàn chó đó mới lo đến điều đó mà thôi. Chúng đang cắn lộn nhau nên chúng bị đau đớn. Tôi chỉ đơn giản nắm chúng và tách rời chúng ra để chúng không còn cắn lộn nhau nữa. Đó là thực tánh Pháp. Dhamma nỗ lực tách rời những người luôn luôn tranh cãi nhau, tranh đấu với nhau ai đúng ai sai.
Điều này giống nhau với lời dạy của tôi vào thời hiện tại của Thái lan. Sự so sánh này là đúng đắn. Hãy để Pháp tự nó giảng thuyết. Vào lúc này, tôi làm việc rất tích cực với thế gian. Không ai tích cực hơn Ãcariya Mahã Boowa. Ý của tôi là tôi luôn tìm cách tách rời đàn chó của thế giới này để chúng không còn cắn lộn nhau nữa.
Và thời đại này, cả Phật tử và tu sĩ hành xử như những con chó vậy, xô đẩy nhau để tới trước và sủa rộn ràng khi họ tranh đấu nhau vì danh lợi. Cho nên, tôi dạy họ Chánh pháp vốn cũng tương đương với sự tách rời và đem lại bình yên giữa những con chó đang cắn lộn nhau.
Dhamma đại diện cho Chân lý. Nếu chúng ta từ bỏ tất cả mọi huyễn giả và chỉ nắm bắt những gì là thật thì cả hai loại người trong xã hội chúng ta, Phật tử và tu sĩ hộ trì giáo phái của Đức Phật sẽ sống trong sự an lạc. Nhưng trừ khi tất cả mọi con chó… thiện và ác… đang cắn lộn nhau trong hiện thời, cả quốc gia đều bị khủng hoảng. Giáo huấn của Đức Phật (Buddhasãsana) xem tâm địa chúng sinh là một trường sân khấu. Cả võ đài này bây giờ bị chia cắt và đang đuổi nhau tán loạn bởi vì những con chó này đang lập thành một trường tranh đấu trong một khu vực thiêng liêng nhất của tất cả dân tộc Thái lan… Giáo huấn của Đức Phật… (the Buddhasãsana).
Cho nên, tôi khuyên tất cả nên chấm dứt và ngừng lại bởi vì không gặt hái được lợi lộc gì khi họ đánh nhau như chó vậy. Trên thực tế, không có người chiến thắng, chỉ có kẻ thất bại mà thôi. Cả hai bên, người thắng kẻ thua đều cùng thương tổn như nhau. Cho nên, hãy rời nhau, lùi lại và hãy chấp nhận lý trí như nguyên lý hướng dẫn cho quý vị. Qua cách đó, Thái lan, dân chúng của nó và thế giới Ta bà này sẽ được an lành hạnh phúc. Không có hiểm họa nào sẽ xảy ra cho quốc gia này.
Kẻ nhe răng của họ ra và khoác lác rằng họ là kẻ vô địch vì sự công bằng, không ngược lại, cũng đã bị thất bại nặng nề. Không ai đúng cả, bởi vì tranh biện luôn sai. Chỉ như hai kẻ đô vật đấm đá nhau trên vỏ đài, cả người thắng lẫn người thua đều bị bầm dập tơi tả. Ai có thể tự hào như thế được?
Không có gì có thể khoác lác cả. Tranh luận trưởng dưỡng lòng hận thù và sự ganh ghét trong cả hai phái. Nó trở thành trận chiến khái niệm và quan điểm, một thử thách để đánh bóng chính mình bị hạ cấp xuống thành một trận võ mồm khi mà không ai chịu nghe lý lẽ. Những con chó như vậy đã khiến toàn cả Thái land trở thành chiến trường của họ và nếu họ tiếp tục, chắc chắn quốc gia này sẽ suy tàn đổ nát.
Tôi muốn tất cả mọi người trong tất cả mọi đảng phái hãy suy nghĩ lời tôi nó. Hết lòng thành khẩn, tôi chỉ đành rơi lụy trong sự mong muốn được hiển lộ Giáo pháp đến dân tộc Thái cho họ được nghe. Nếu quý vị chấm dứt tất cả mọi tranh cãi thì sẽ không có sự bất hạnh xảy ra. Chúng ta đang trao đổi theo định nghĩa thế gian về chiến thắng, thì người nào đúng sẽ thắng vì nguyên nhân thiện lành, còn những người thừa nhận là họ sai, chấp nhận tất cả cùng một nguyên nhân thiện lành đó cũng là kẻ chiến thắng. Sau đó rồi thì cả hai đảng phái sẽ đoàn kết và sống trong sự hòa hợp toàn hảo . Nhưng còn người đang cắn lộn nhau và không chịu thua, thì không bao giờ có người thắng người thua giữa họ… chỉ có những đảng phái nhuốm đầy máu đổ cả hai phía mà thôi. Có thể chấp nhận được không? Tôi không muốn thấy hiện tượng đó xảy ra. Thái Lan là một quốc gia Phật Giáo. Tôi không muốn nghe là các Phật tử đầy đức tin đang thách đố nhau như chó và máu của họ đổ đầy tất cả mọi thiền viện thiêng liêng trên đất nước của chúng ta. Cho nên, hãy làm ơn chấm dứt tất cả mọi thứ điên khùng đó.
Cuối cùng, tôn giáo của địa ngục và Thiên giới, cảnh giới Phạm thiên và Niết Bàn sẽ xác minh ai là đúng và ai là sai, ai thiện ai ác. Cho nên, đừng phạm lỗi lầm và tin là mình là trên hết sẽ khiến quý vị rơi vào địa ngục thâm sâu nhất. Đừng biểu lộ khái niệm thiện lành xa rời giáo huấn của Đức Phật. Đất nước của Dhamma là Thiên giới và Niết Bàn, vốn là lãnh thổ của tất cả mọi cá nhân đức hạnh. Những quan kiến lầm lạc như vậy chỉ lôi kéo quí vị xuống trình độ của những con chó đang cắn lộn và hung hăng với nhau, và đưa đến sự sự đổ nát tàn hại không thể đếm được trong sự náo động của họ. Những trao đổi như vậy chỉ mang đến những trận chiến đẫm máu mà thôi. Hãy nhớ kỷ điều này!
Hôm nay tôi đã giải thích tất cả đến mức tột cùng. Đã 53 năm từ ngày tôi chứng Pháp Vô thượng. Hôm nay tôi mô tả kinh nghiệm đó vì muốn mang đến lợi lạc cho quý vị. Đừng bao giờ cản trở. Đừng bao giờ tuyệt vọng, Dhamma luôn luôn lành mạnh và đúng. Nó tự truyền đạt nó một cách toàn hảo, thích hợp với mọi tình huống xảy ra. Thí dụ, ngày hôm nay nó tự diễn đạt với năng lực như vậy đến mức nước mắt của Ãcariya Mahã Boowa cũng phải rơi để mọi người có thể đều nhìn thấy. Đây là thiên hướng vi diệu của Dhamma và cùng một Dhamma mà tôi dạy dỗ mọi người. Tôi không bao giờ dạy Dhamma theo tính cách tình cờ. Tôi luôn dạy với lòng hăng hái.
Như tôi đã giải thích rất nhiều lần, tôi luôn sẵn sàng hy sinh cuộc đời mình vì Dhamma. Không ai có thể tin được bao nhiêu nỗ lực mà tôi dành cho sự tu tập. Khi những người khác không thành tựu như tôi đã, họ không thể tưởng tượng được nỗ lực phi thường mà tôi đã dành cho sự chứng đạt Pháp Tối thượng. Nhưng tôi đã gắng sức với nỗ lực như vậy và đây là những kết quả. Nó biểu hiện quyền năng tinh tấn bất thoả hiệp khi được ứng dụng cho Dhamma. Càng quyết tâm chừng nào thì càng tốt chừng nấy. Sau đó thì ta có thể chết trong chiến thắng, nhưng không bị đánh bại một cách thảm thương.
Hãy nhớ kỷ rõ ràng điều này.