THÀNH THẬT LUẬN
( Quyển 7 )
Ha-lê-bạt-ma tạo luận
Cưu-ma-la-thập dịch
Nguyên Hồng dịch tiếng Việt
Phẩm 94 : Bất tương ưng hành
Tâm bất tương ưng hành là : đắc, bất đắc, vô tưởng định, diệt
tận định, vô tưởng xứ, mạng căn, sinh, diệt, trụ, dị, lão, tử, danh
chúng, cú chúng, tự chúng và phàm phu pháp v.v....
Đắc là các pháp thành tựu, vì chúng sinh nên mới có đắc.
Chúng sinh thành tựu 5 ấm thân, đời hiện tại gọi là đắc.
Thành Thật Luận Trang 216 Tuệ Quang Foundation
Lại trong đời quá khứ nghiệp thiện bất thiện, quả báo chưa
chịu, chúng sinh đã thành tựu pháp nầy. Như trong kinh nói :
Người này thành tựu thiện pháp và cũng thành tựu bất thiện pháp.
Hỏi: Có người nói thành tựu nghiệp thân khẩu thiện bất
thiện đời quá khứ, như người xuất gia thành tựu giới luật nghi đời
quá khứ. Việc này vậy nào ?
Đáp : Đều đã thành tựu. Bởi vì sao ? Trong kinh nói : Nếu
người làm tội phúc tức là đã có 2 việc thường bám theo thân, như
bóng theo hình.
Lại trong kinh nói : Họa phúc không hư hoại, nghĩa là có thể
được quả . Nếu không thành tựu nghiệp tội phúc thì không nên
đắc quả, tức mất các hành nghiệp.
Hỏi : Luật nghi quá khứ không nên thành tựu. Bởi vì sao ? Vì
ông đã nói pháp quá khứ diệt, vị lai chưa có, hiện tại không có thể
thường có thiện tâm, thì làm sao thành tựu giới luật nghi được ư ?
Đáp : Người nầy thành tựu luật nghi hiện tại, không phải quá
khứ. Như bởi hiện ô nhiễm nên nhiễm. Như vậy lấy giới hiện tại
nên gọi là trì giới, chứ không lấy quá khứ. Nhưng vì trước đã thụ
mà không xả, nên gọi thành tựu quá khứ.
Hỏi : Có luận sư nói chúng sinh thành tựu tâm thiện bất thiện
trong đời vị lai. Việc ấy vậy nào ?
Đáp : Không thành tựu. Bởi vì sao ? Vì chưa tác nghiệp mà
đã được. Cho nên vị lai không thành tựu. Đó gọi là đắc, là không
riêng có tâm bất tương ưng pháp gọi là đắc. Trái với đó gọi là bất
đắc. Và cũng không riêng có pháp bất đắc.
Vô tưởng định là không có pháp nhất định. Bởi vì sao ? Vì
phàm phu không có thể diệt tâm và tâm số pháp. Điều này sẽ nói
sau. Tâm và tâm số pháp nầy vi tế khó giác sát biết được, nên gọi
là vô tưởng. Vô tưởng xứ cũng như vậy.
Diệt tận định là tâm diệt không còn hành nữa nên gọi là diệt
tận, không có pháp riêng, giống như Nê-hoàn.
Thành Thật Luận Trang 217 Tuệ Quang Foundation
Mạng căn là vì nghiệp nhân duyên nên 5 ấm nối nhau gọi là
mạng. Mạng nầy lấy nghiệp làm căn bản nên gọi là mạng căn.
Sinh là 5 ấm ở đời hiện tại gọi là sinh.
Xả bỏ đời hiện tại gọi là diệt.
Nối nhau nên trụ.
Trụ nầy biến đổi khác nên gọi là dị. Không phải riêng có
pháp gọi là sinh trụ diệt.
Lại trong nghĩa sâu xa của Phật pháp, thì các duyên hòa hợp
là có pháp sinh. Cho nên không có pháp nào có thể sinh pháp
khác.
Lại nói nhãn, sắc v.v... làm nhân duyên cho nhãn thức. Trong
đó không nói có sinh, cho nên không sinh không có lỗi gì.
Lại nói sinh pháp v.v... đồng thời sinh. Nếu pháp đồng thời
sinh tức diệt. Trong đó sinh v.v... để làm gì ? Điều này cần suy
nghĩ.
Lại trong 12 nhân duyên Phật tự nói nghĩa sinh : Các chúng
sinh nơi nơi sinh, thụ các ấm là sinh. Cho nên trong đời hiện tại
trước tiên được các ấm gọi là sinh. Cũng nói 5 ấm lui mất gọi là
chết. Cũng nói các ấm suy hoại gọi là già, mà không riêng có
pháp già chết.
Danh chúng là do từ chữ sinh danh, tức tên gọi, như nói
người nào đó. Từ chữ thành nghĩa gọi là cú, tức là câu. Các chữ
gọi là chữ. Có người nói có các danh, cú, tự, là tâm bất tương ưng
hành. Điều này không đúng. Vì pháp nầy gồm trong pháp thuộc
về thanh.
Hỏi : Pháp phàm phu là tâm bất tương ưng hành. Việc này
vậy nào ?
Đáp : Pháp phàm phu không khác phàm phu. Nếu riêng có
pháp phàm phu, cũng phải chấp nhận riêng có pháp cái bình v.v....
Lại nữa số lượng, một khác, hợp ly, tốt xấu, v.v... pháp đều
phải có riêng. Trong kinh sách ngoại đạo nói cái bình khác, pháp
Thành Thật Luận Trang 218 Tuệ Quang Foundation
cái bình khác. Do pháp cái bình mới biết là sắc cái bình khác, sắc
của pháp khác. Điều này không đúng. Bởi vì sao ? Vì pháp là tự
thể. Nếu ông bảo pháp phàm phu khác, thì sắc không có tự thể,
phải đợi sắc pháp mới có. Điều này không đúng. Cho nên bởi ông
không nghĩ kỹ nên mới nói riêng có pháp phàm phu. Có các luận
sư học ngoại điển nên tạo luận A-tì-đàm nói riêng có pháp phàm
phu v.v.... Cũng có các luận sư khác nói riêng có pháp tính, chân
tế, nhân duyên v.v... các pháp vô vi. Cho nên phải suy nghĩ kỹ lý
nầy, đừng chỉ theo văn tự.
Xong nhóm khổ đế.
Phẩm 95 : Tướng của nghiệp
trong luận về nghiệp của nhóm tập đế
Luận giả nói : Đã nói xong về khổ đế, nay sẽ nói về tập đế.
Tập đế là các nghiệp và phiền não. Nghiệp nầy có 3 thứ :
thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp. Thân nghiệp là thân ra làm
gọi là thân nghiệp. Nghiệp này có 3 thứ : đoạt lấy sinh mạng
v.v... là bất thiện, đứng lên nghinh tiếp lễ bái v.v... là thiện, nhổ cỏ
v.v... là vô ký.
Hỏi : Nếu thân ra làm gọi là thân nghiệp, thì cái bình v.v...
các vật cũng phải có thân nghiệp, vì thân nó cũng có tác dụng vậy
?
Đáp : Cai bình v.v... là quả của thân nghiệp, chứ không phải
thân nghiệp, vì nhân quả khác.
Hỏi : Không nên có thân nghiệp. Bởi vì sao ? Vì thân khởi
động tác gọi thân nghiệp, mà pháp hữu vi diệt trong từng mỗi
niệm nên không phải có động tác.
Đáp : Điều này trong Phẩm niệm niệm diệt đã đáp, nghĩa là
pháp khi sinh ở các chỗ khác, làm tổn hại hoặc lợi ích cho người
khác, đó gọi là thân nghiệp.
Thành Thật Luận Trang 219 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Nếu như vậy thì thân tức là thân nghiệp, vì sinh các chỗ
khác, nên không phải thân ra làm gọi là thân nghiệp ?
Đáp : Thân là công cụ tác nghiệp. Thân khi sinh ở các chỗ
khác nhóm họp tội phúc gọi là nghiệp. Cho nên thân không phải
nghiệp.
Hỏi : Nhóm tội phúc là không làm, còn thân làm là vậy nào
?
Đáp : Khi sinh thân ở các chỗ khác có các tạo tác gọi là thân
làm.
Hỏi : Thân này ra làm hoặc thiện hoặc bất thiện, mà thân
không vậy. Cho nên không phải thân làm ?
Đáp : Tùy tâm lực nên khi sinh thân ở chỗ khác có thể nhóm
nghiệp. Cho nên hoặc nhóm thiện, bất thiện, không những là thân,
mà khẩu nghiệp cũng vậy, chẳng những âm thanh ngôn ngữ cũng
lấy tâm lực, tùy âm thanh ngôn ngữ mà nhóm thiện ác gọi là khẩu
nghiệp. Ý nghiệp cũng vậy, nếu tâm quyết định : Ta giết chúng
sinh nầy. Bây giờ nhóm tội phúc cũng như vậy.
Hỏi : Như từ thân khẩu riêng có nghiệp, ý với ý nghiệp là tức
chính nó hay là khác ?
Đáp : Hai thứ : Hoặc ý tức là ý nghiệp. Hoặc do từ ý sinh
nghiệp. Như ý quyết định giết chúng sinh, đó là ý bất thiện, mà
cũng là ý nghiệp. Nghiệp nầy có thể nhóm tội thắng hơn nghiệp
thân khẩu. Nếu tâm chưa quyết định, thì ý này khác với nghiệp.
Hỏi : Đã biết tướng tạo tác là do từ tạo tác mà sinh. Nhóm
nghiệp khác, cái nào là tướng ?
Đáp : Đó tức là không tạo tác.
Hỏi : Chỉ thân khẩu là không tạo tác, ý không có không tạo
tác sao ?
Đáp : Không phải vậy. Bởi vì sao ? Vì trong đó không có
nhân duyên, nên chỉ nghiệp thân khẩu có không tạo tác, mà ý
không có không tạo tác.
Thành Thật Luận Trang 220 Tuệ Quang Foundation
Lại trong kinh nói có 2 thứ nghiệp là tư nghiệp và tư dĩ
nghiệp. Tư nghiệp, nghĩa là nghĩ tức là ý nghiệp. Tư dĩ nghiệp,
nghĩa là nghiệp do đã nghĩ rồi. Có 2 thứ là do nghĩ nhóm họp
nghiệp và nghiệp thân khẩu. Ý nghiệp là quan trọng nhất, sau sẽ
đề cập. Do trọng nghiệp nhóm họp gọi là không tạo tác, vì thường
nối nhau sinh, nên biết ý nghiệp cũng có trạng thái không tạo tác.
Phẩm 96 : Không tạo tác
Hỏi : Pháp nào gọi là không tạo tác ?
Đáp : Do tâm sinh tội phúc. Ngủ mê, ngất xỉu v.v..., những
khi ấy thường sinh đó gọi là không tạo tác. Như trong kinh nói :
Nếu trồng cây gây vườn rừng, đào giếng, bắt cầu v.v.... Người nầy
tạo phúc ngày đêm thường tăng trưởng.
Hỏi : Có người bảo tác nghiệp hiện có thể thấy. Như bố thí,
lễ bái, sát sinh hại mạng v.v... là phải có. Còn không tác nghiệp, vì
không thể thấy nên không có. Xin làm rõ nghĩa nầy.
Đáp : Nếu không có sự không tạo tác, thì không có pháp lìa
sát sinh v.v....
Hỏi : Lìa là không làm, không làm thì không có pháp. Như
người khi không nói, thì không có pháp không nói sinh. Như khi
không thấy sắc cũng không có pháp không thấy
Đáp : Nhân lìa sát sinh v.v... được sinh lên trời. Nếu không
có pháp làm sao làm nhân ?
Hỏi : Không vì lìa nên sinh trời, mà vì thiện tâm vậy ?
Đáp : Không phải. Trong kinh nói : Người tinh tiến tùy theo
sống lâu được phúc nhiều. Vì tùy theo phúc nhiều nên được
hưởng vui cõi trời lâu dài. Nếu chỉ có thiện tâm làm sao có thể có
nhiều phúc ? Vì người ấy không thể thường có thiện tâm.
Lại nói trồng cây v.v..., phúc ngày đêm tăng trưởng.
Lại nói trì giới kiên cố. Nếu không có không tạo tác, làm sao
nói phúc thường tăng trưởng và trì giới kiên cố ?
Thành Thật Luận Trang 221 Tuệ Quang Foundation
Lại chẳng phải làm tức là sát sinh, làm tuần tự pháp sát sinh
mới sinh, rồi sau bị tội sát sinh. Như người sai bảo giết, tùy lúc sai
bảo, người sai bảo bị tội sát sinh. Cho nên biết có cái gọi là không
tạo tác.
Lại ý không có giới luật nghi. Bởi vì sao ? Vì người tâm ở
trong tâm bất thiện, vô ký, hoặc vô tâm, cũng gọi là trì giới. Cho
nên biết, lúc bấy giờ có cái không tạo tác. Bất thiện luật nghi cũng
như vậy.
Hỏi : Đã biết có pháp không tạo tác không phải tâm. Vậy nó
là sắc, hay là tâm bất tương ưng hành ?
Đáp : Đó là thuộc về hành ấm. Bởi vì sao ? Vì tướng tác khởi
là hành, không tạo tác là tướng tác khởi. Sắc là tướng não hoại,
không phải tướng tác khởi.
Hỏi: Trong kinh nói 6 thứ tư duy là hành ấm, mà không nói
tâm bất tương ưng hành ?
Đáp : Điều này trước đã nói rõ, nghĩa là có tâm không tương
ưng với tội phúc.
Hỏi : Nếu cái không tạo tác tác là sắc tướng thì có lỗi gì ?
Đáp : Năm pháp sắc thanh hương vị xúc, vì không phải tính
tội phúc, nên không lấy sắc tính cho là không tạo tác.
Lại Phật nói sắc là tướng não hoại. Trong cái không tạo tác
nầy không thể tìm được tướng não hoại, cho nên không phải sắc
tính.
Hỏi : Không tạo tác là tính của thân khẩu nghiệp; thân khẩu
nghiệp tức là sắc ?
Đáp : Không tạo tác chỉ gọi là thân khẩu nghiệp, mà thật
không phải thân khẩu làm ra, vì bởi thân khẩu mà ý nghiệp mới
sinh, cho nên mới nói thân khẩu ý nghiệp tính.
Lại hoặc chỉ do ý sinh cái không tạo tác, thì cái không tạo tác
nầy làm sao gọi sắc tính được ?
Thành Thật Luận Trang 222 Tuệ Quang Foundation
Lại trong cõi Vô sắc cũng có cái không tạo tác. Trong Vô sắc
thì làm sao có sắc ?
Hỏi : Làm những gì có thể sinh cái không tạo tác ?
Đáp : Do thiện bất thiện tác nghiệp có thể sinh cái không tạo
tác, chứ không phải vô ký, vì sức nó yếu.
Hỏi: Từ khi làm thì gian bao lâu sinh cái không tạo tác ?
Đáp : Từ đệ nhị tâm sinh. Tùy tâm thiện ác mạnh thì có thể
trụ lâu. Nếu tâm yếu thì trụ không lâu. Như thụ giới một ngày thì
trụ một ngày, thụ giới trọn đời trụ trọn đời.
Phẩm 97 : Cố ý và không cố ý
Hỏi: Trong kinh nói : Cố tác nghiệp không cố tác nghiệp.
Vậy nào là cố ý và không cố ý ?
Đáp : Trước đã biết mà cứ làm gọi là cố làm, trái lại gọi là
không cố làm.
Hỏi : Nếu không cố ý làm, không gọi là nghiệp ?
Đáp : Có nghiệp, nhưng chỉ có tâm cố ý làm thì nghiệp có
quả báo.
Lại tâm quyết định làm nghiệp gọi là cố ý. Tâm không quyết
định làm gọi là không cố ý. Như nói lỡ lời gọi là không cố ý,
không lỡ lời là cố ý. Như trong kinh nói : Ông có tội lỗi, ta sẽ kể
tội, nếu nói lỡ lời thì ta không kể. Hỏi như vậy 3 lần. Nếu trước
không có ý làm mà làm như người khi đi dẫm phải làm chết trùng,
đấy là không cố ý. Nghiệp không cố ý này, vì không nhóm, nên
không có thể sinh quả báo.
Nghiệp có 4 thứ : có làm không nhóm, có nhóm không làm,
có cũng làm cũng nhóm, có không làm không nhóm.
Làm mà không nhóm như làm nghiệp sát sinh v.v..., sau liền
sinh ăn năn làm nghiệp bố thí v.v... , về sau lòng cũng ăn năn và
làm nghiệp rồi sau tâm không nhớ. Đó gọi là làm mà không
nhóm.
Thành Thật Luận Trang 223 Tuệ Quang Foundation
Nhóm không làm là như người khác làm sát sinh v.v... mà
lòng minh sinh vui mừng, người khác làm bố thí v.v... lòng cũng
vui mừng.
Cũng làm cũng nhóm là như tự làm tội sát sinh v.v..., làm
phúc bố thí v.v..., tự sinh lòng vui mừng.
Không làm không nhóm là cũng không làm cũng không sinh
mừng. Trong đây, cũng làm cũng nhóm, nghiệp ấy quyết định
chịu quả báo. Như trong kinh nói nếu nghiệp cũng làm cũng nhóm
là nghiệp chắc chắn thụ quả báo. Cho nên nghiệp làm nhóm, hoặc
hiện đời chịu báo, hoặc đời sau chịu báo, hoặc sau đời sau nữa
chịu báo.
Hỏi : Nếu nghiệp có làm có nhóm quyết định chịu báo thì
không giải thoát ?
Đáp: Nghiệp tuy cố làm, nhưng vì được chân trí nên không còn
nhóm nữa, ví như rang hạt giống thì hạt giống không có thể sinh
lại.
Hỏi : Trong kinh Giám Lượng Phật nói : Có người tạo
nghiệp báo địa ngục mà hiện đời chịu nhẹ ?
Đáp : Nếu ác nghiệp nặng mà có thể hiện chịu nhẹ, cớ sao
không thể khiến hết sạch ư ? Nếu người không thể tu đầy đủ chân
trí, thì ác nghiệp được cơ hội trả báo, nên đời hiện tại ít chịu quả
báo.
Hỏi : A-la-hán tuy tu đủ chân trí mà cũng chịu ác báo ?
Đáp : Thâm nghiêm tu hành thiện pháp thì ngăn được bất
thiện. Cho nên, nếu người ở trong trăm ngàn đời tu nhóm giới
v.v... các nghiệp thiện, thì nghiệp bất thiện không thể sinh khởi
được, giống như chư Phật, bậc Nhất thiết trí. Còn những người
khác không thể như vậy, cho nên nghiệp bất thiện được cơ hội
phát sinh. Cho nên A-la-hán tuy tu đủ chân trí, nhưng vì nghiệp
đời trước nên cũng phải chịu ác báo.
Thành Thật Luận Trang 224 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Trong kinh cũng nói Phật cũng bị hủy báng v.v... các
nghiệp báo bất thiện ?
Đáp : Phật là bậc Nhất thiết trí, không còn ác nghiệp báo vì
đã dứt tất cả cội gốc các pháp bất thiện. Nhưng dùng vô lượng
thần thông, phương tiện thị hiện làm Phật sự không thể nghĩ bàn.
Như trong kinh Tăng Nhất A-hàm nói có 5 việc không thể nghĩ
bàn.
Nghiệp có 2 thứ : Định báo và Bất định báo. Nghiệp định
báo là hoặc nhiều hoặc ít quyết sẽ chịu quả báo. Nghiệp bất định
là có thể khiến tiêu hết.
Hỏi : Vậy nào gọi nghiệp định báo và những gì là nghiệp bất
định báo ?
Đáp : Trong kinh nói tội ngũ nghịch là nghiệp định báo.
Hỏi : Chỉ tội ngũ nghịch là nghiệp định báo, còn có tội gì
khác không ?
Đáp : Trong các nghiệp khác cũng có phần định báo, nhưng
không thể chỉ ra được. Hoặc vì sự trọng nên quyết định báo, như
đối với Phật và đệ tử Phật, hoặc cúng dường, hoặc khinh chê.
Hoặc vì tâm trọng nên có định báo, như người vì cố tâm giết hại
trùng kiến, nặng đến việc giết người. Những nghiệp như vậy v.v...
quyết chắc có định báo.
Hỏi : Nếu tội ngũ nghịch có thể khiến nhẹ bớt, Vì sao không
thể khiến tiêu hết ?
Đáp : Tội pháp nầy là như vậy, không thể làm tiêu hết được.
Như Tu-đà-hoàn dù giải đãi mấy cũng không đến 8 lần sinh.
Lại tội ngũ nghịch vì bền chắc nặng nề nên không thể làm
tiêu hết được. Như trong phép vua người bị trọng tội, có thể được
giảm khinh, chứ không tha bổng.
Phẩm 98 : Tội nhẹ nặng
Thành Thật Luận Trang 225 Tuệ Quang Foundation
Hỏi: Trong kinh nói có tội nghiệp nhẹ nặng. Vậy nào là nhẹ
nặng ?
Đáp : Nếu nghiệp có thể bị quả báo địa ngục A-tì, gọi là tội
nặng.
Hỏi : Những nghiệp gì có thể bị quả báo ấy ?
Đáp : Như nghiệp phá Tăng ắt chịu báo này. Bởi vì sao ? Vì
chia lìa ngôi Tam Bảo, khiến Tăng bảo lìa Phật bảo cũng phá
Pháp bảo nữa. Lại vì sinh tà kiến hạng nặng nên có thể khởi
nghiệp này. Cũng do rất ghét, giận Phật, nên khởi nghiệp này.
Cũng từ lâu tụ tập ác tính, rất tham lợi dưỡng, nên khởi nghiệp
này.
Lại người này nói phi pháp là pháp phải thời, ngăn nhiều
chúng sinh tu các thiện pháp, nên gọi là tội nặng.
Hỏi : Chỉ có tội phá Tăng bị báo địa ngục A-tì, còn các tội
khác ?
Đáp : Các nghiệp khác cũng có. Như nói không có tội phúc,
cúng dường cha mẹ và các người thiện không có quả báo. Các tà
kiến nầy cũng bị quả báo đó.
Lại làm cho người khác sa vào tà kiến nầy, khiến nhiều
chúng sinh tạo các ác nghiệp nên cũng bị báo đó.
Lại có thể trước tác các kinh sách tà kiến như vậy, như bọn
Phú-lan-na v.v... và các sư tà kiến, làm hại chính kiến, nên mở
đường nhân duyên cho nhiều chúng sinh làm ác.
Lại tội hủy báng hiền thánh cũng bị quả báo ấy, như nói một
bên hông chịu khổ 8 vạn 4 ngàn năm.
Lại như trong Kinh Pháp Cú nói :
Thánh sống lâu vì pháp,
Đem pháp ấy giáo hóa.
Độn căn nương ác kiến
Trái nghịch lời dạy đây,
Như tre gai sinh trái,
Thành Thật Luận Trang 226 Tuệ Quang Foundation
Thì tự hại thân hình,
Người nầy đọa địa ngục,
Đầu xuống chân ngược lên,
Người ác tâm ác khẩu,
Vì bài báng hiền thánh.
Người nầy đọa 10 vạn
Địa ngục Ni-la-phù,
Ba sáu vạn địa ngục,
Và 5 A-phù-đà.
Lại sát sinh v.v..., nếu sự trọng, tâm trọng, tội này cũng đọa
địa ngục A-tì. Trái lại với nặng là nhẹ, như là ở trong địa ngục
nhỏ bị nướng trên lửa nướng v.v... súc sinh, ngạ quỷ và trong
người trời chịu quả báo bất thiện, đó là tội nhẹ.
Phẩm 99 : Nghiệp lợi lớn nhỏ
Hỏi: Trong kinh nói có nghiệp lợi lớn nhỏ. Những gì là
nghiệp lợi lớn ?
Đáp : Tùy theo nghiệp nào có thể đưa đến A-nậu-đa-la Tammiệu
Tam-bồ-đề, đó là nghiệp báo lợi lớn nhất. Nghiệp kế tiếp là
có thể được quả Bich-chi-phật đạo. Nghiệp kế tiếp là được quả
Thanh Văn đạo. Nghiệp kế tiếp là được quả báo cõi Hữu đảnh, có
thọ mạng đến 8 vạn đại kiếp. Đây là nghiệp báo lớn nhất trong
sinh tử. Nghiệp kế tiếp là được quả báo cõi Vô sở hữu xứ, thọ
mạng 6 vạn kiếp. Cứ như vậy lần lượt cho đến cõi Phạm Vậy, thọ
mạng nửa kiếp. Tiếp đến trời Tha Hóa Tự Tại trong cõi Dục
hưởng số trời 1 vạn 6 ngàn tuổi. Cho đến trời Tứ Thiên Vương
hưởng số trời 5 trăm tuổi. Như vậy trong loài người 4 thiên hạ đều
tùy theo nghiệp mà thụ quả báo. Như vậy súc sinh, ngạ quỷ, địa
ngục cũng có nghiệp lợi nhỏ.
Hỏi : Những nghiệp nào có thể được A-nậu-đa-la Tam-miệu
Tam-bồ-đề ?
Thành Thật Luận Trang 227 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Bố thí v.v... đầy đủ sáu pháp Ba-la-mật, thì có thể được
A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Rồi từ thiện nghiệp nầy thứ
lớp càng mỏng dần được Bích-chi-phật Bồ-đề, càng mỏng dần
nữa được Thanh Văn Bồ-đề. Nếu tu tăng thượng 4 vô lượng tâm
thì được sinh về cõi Hữu đảnh. Tu 4 vô lượng thứ lớp mỏng dần,
kế là sinh về bậc dưới. Tu 4 vô lượng càng nhỏ mỏng nữa và tùy
nhân duyên giới định nên sinh cõi Sắc. Do nhân duyên tu bố thí trì
giới tu thiện nên sinh cõi Dục. Nghiệp bố thí v.v... nầy tùy theo
phúc điền dày mỏng nên có sai khác. Nếu tu trong phúc điền chư
Phật thì vượt trội hơn hết. Kế đến là trong phúc điền Bich-chiphật,
v.v... mà tu, thứ lớp càng ít dần.
Hỏi : Trí phúc điền hơn, hay đoạn phúc điền hơn ?
Đáp : Nếu trí có thể đạt tới pháp tướng nghĩa là rốt ráo
không, thì trí ấy hơn. Bởi vì sao ? Vì như Phật do trí nên trong
hàng đệ tử Phật là hơn, chứ không do đoạn. Như trong Tạp Bảo
Tạng nói : Nếu quét đất phòng Tăng rộng bằng một cõi Diêmphù-
đề, không bằng quét tháp Phật một chỗ bằng chừng một bàn
tay. Lại tất cả trí tuệ đều vì để đoạn. Như các Bồ-tát ở lâu trong
sinh tử đều là khéo đoạn. Khéo đoạn nghĩa là tự mình đoạn kết và
cũng đoạn kết cho chúng sinh. Các kết nầy đều dùng trí đoạn dần.
Cho nên biết trí tuệ phúc điền đối với đoạn là hơn.
Hỏi : Như Tu-đà-hoàn lợi căn, Tu-đà-hoàn độn căn, thì 2
phúc điền này đàng nào là hơn ?
Đáp : Lợi căn hơn, không phải độn căn.
Hỏi : Nói vậy không đúng. Như trong kinh nói : Cúng dường
trăm Tu-đà-hoàn, không bằng cúng dường một Tư-đà-hàm. Lại
nói : Cỏ dại hại lúa, tham dục vấy bẩn tâm. Cho nên bố thí người
vô dục, phải được phúc nhiều. Tư-đà-hàm có thể làm mỏng 3 độc,
Tu-đà-hoàn thì chưa, làm sao nói hơn được ?
Đáp : Kinh đó là không liễu nghĩa. Vì sao biết được ? Trong
kinh nầy nói : Thí cho súc sinh được lợi gấp trăm. Mà thật thí cho
Thành Thật Luận Trang 228 Tuệ Quang Foundation
chim chóc v.v... được quả báo hơn thí cho người ngoại đạo có 5
thần thông. Cho nên kinh nầy cần phải biện biệt rõ nghĩa lại. Kinh
nầy theo số nhiều nên mới nói như vậy, trừ lợi trí tuệ.
Lại Tu-đà-hoàn vì trí lực nên tuy thụ các dục mà cũng gọi
phúc điền, không phải phàm phu đoạn dục, cho đến người có thể
được định cõi Hữu đảnh.
Lại trí đa văn ở trong đạt phần còn hơn, chứ không phải định
Hữu đảnh phần không thông đạt.
Lại Bồ-tát Di-lặc tuy chưa được Phật quả, nhưng cũng được
các A-la-hán lễ kính.
Lại như người chỉ có thể phát tâm Bồ-đề suông liền được La-
Hán cung kính. Như có một Sa-di mang áo bát đi theo A-la-hán,
Sa-di nầy bỗng phát tâm vô thượng Bồ-đề, vị A-la-hán liền lấy áo
bát lại tự mang lấy và đi theo sau Sa-di. Như trong thí dụ có nói
rộng. Cho nên biết trí tuệ phúc điền là hơn hết.
Phẩm 100 : Ba nghiệp
Hỏi : Trong kinh nói 3 nghiệp : thiện, bất thiện, và vô ký.
Những gì là nghiệp thiện ?
Đáp : Tùy theo nghiệp nào đó có thể cho người khác việc tốt,
nghiệp đó là thiện. Nghiệp thiện nầy do pháp bố thí, trì giới, lòng
từ v.v… mà sinh, chứ không phải do tắm rửa v.v....
Hỏi : Sao gọi là tốt ?
Đáp : Làm cho người khác được vui, gọi là tốt. Cũng gọi là
thiện, cũng gọi là phúc.
Hỏi : Nếu làm cho người khác được vui gọi là phúc thì làm
cho người khác bị khổ phải có tội ? Vậy như thầy thuốc châm cứu
làm bệnh nhân đau đớn cũng phải đắc tội ?
Đáp : Thầy thuốc châm cứu là vì làm cho được vui nên
không đắc tội.
Thành Thật Luận Trang 229 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Nếu vì cho vui là được phúc, thì như dâm vợ người ta,
khiến họ sinh vui sướng cũng phải được phúc ?
Đáp : Dâm dục quyết định là bất thiện. Nếu ai khiến người
khác làm pháp bất thiện, thì đấy là khổ không phải vui. Nói vui, là
nay vui, sau cũng vui, chứ không phải chút vui hiện tại, mà vì đó
bị khổ lớn về sau.
Hỏi : Có người dùng nhân duyên ăn uống khiến người khác
sinh vui, hoặc ăn uống không tiêu khiến người kia đến chết, thì
người cho ăn nầy bị tội hay được phúc ?
Đáp : Người nầy tâm tốt cho ăn, không có tâm xấu, nên chỉ
được phúc mà không bị tội.
Hỏi : Dâm vợ người khác ấy cũng như vậy. Chỉ vì khoái lạc
nên cũng bị tội, và được phúc ?
Đáp : Điều này trước đã giải đáp. Nghĩa là dâm dục, quyết
định là bất thiện, vì sinh khổ lớn.
Lại trong bố thí ăn uống có phần phúc đức. Bởi vì sao ? Vì
người được ăn uống không phải ai cũng chết. Chúng sinh đều bởi
lòng tham nhiễm mà hành dâm dục, hoàn toàn không phải nhân
phúc, làm sao được phúc ?
Hỏi : Có người vì sát sinh mà lợi ích nhiều người, như người
phá giặc thì đất nước khỏi tại họa. Như giết thú dữ thì lợi nhân
dân. Các trường hợp này có thể dùng sát sinh mà được phúc
chăng ? Hoặc có người dùng nhân duyên trộm cướp mà cúng
dường cha mẹ, nhân duyên dâm dục sinh con cái tốt, nhân duyên
vọng ngữ hoặc cho mạng sống lâu, hoặc do ác khẩu v.v... khiến
người ta được lợi. Đó đều là thuộc về 10 ác, làm sao do đấy mà
được phúc ?
Đáp : Người nầy được phúc mà cũng bị tội. Vì lợi người
khác nên được phúc, vì hại người khác nên bị tội.
Thành Thật Luận Trang 230 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Thầy thuốc nầy trước làm cho người khổ vì đau đớn,
sau khiến được vui vì thiện bệnh, sao không bị tội và được phúc,
mà chỉ được phúc ?
Đáp : Thầy thuốc ấy vì thiện tâm mà châm cứu, không có ác
ý. Nếu hành nghiệp vì thiện ác nên khởi, thì có tội phúc cả hai.
Hỏi : Sát v.v... đều là được phúc. Bởi vì sao ? Vì nhân duyên
sát được việc sở dục. Như làm vua giết giặc được giàu sang. Do
nhân duyên phúc nên được tùy ý sở dục, sao sát sinh mà không
gọi là phúc ?
Lại người có thể sát thì được tiếng khen. Mà tiếng khen là
điều vui của người đời, mà điều vui của người đời là quả báo của
phúc đức.
Lại vì sát, nên được mừng vui, mà mừng vui cũng là quả báo
phúc đức.
Lại trong kinh sách nói : Nếu ra trận bị chết, được sinh lên
trời. Như bài kệ nói : Nếu người ra chiến trận bị chết, thì thiên nữ
tranh nhau làm chồng.
Lại nói : Tuy người thiện giàu sang, vì giặc mà xông ra trước
có thể giết giặc không bị tội, không giết giặc là bị tội.
Lại Kinh Vậy Pháp nói : Có 4 hạng người : Bà-la-môn, Sátlợi,
Tỳ-xá và Thủ-đà-la. Bốn hạng người nầy đều có pháp riêng.
Bà-la-môn có 6 pháp, Sát-lợi 4 pháp; Tỳ-xá 3 pháp và Thủ-đà-la 1
pháp. Sáu pháp là : 1. Tự làm miếu thờ trời. 2. Làm thầy tế trời. 3.
Tự đọc kinh Vi-đà. 4. Cũng dạy người khác. 5. Bố thí. 6. Nhận
của thí. Bốn pháp là : 1. Tự làm miếu thờ trời mà không được làm
thầy tế. 2. Theo người khác thụ học kinh Vi-đà mà không được
dạy người. 3. Bố thí, không được nhận của thí. 4. Bảo vệ nhân
dân. Ba pháp là : 1. Làm miếu thờ trời mà không làm thầy tế. 2.
Tự học kinh Vi-đà mà không dạy người. 3. Tự bố thí mà không
nhận của ai thí. Một pháp là : Lo cung cấp 3 hạng người trên mà
Thành Thật Luận Trang 231 Tuệ Quang Foundation
thôi. Như hạng Sát-lợi vì bảo hộ nhân dân nên có quyền đoạt
mạng sống người khác mà chỉ có phúc không có tội.
Lại kinh Vi-đà nói sát sinh được phúc, như lấy thần chú
trong Vi-đà đọc mà giết dê, dê chết sinh lên trời. Kinh Vi-đà được
người đời tin.
Lại cũng kinh ấy nói nếu thật sự người đáng chết thì giết
không tội. Như tiên ngũ thông hay dùng thần chú giết người,
không thể nói là thần tiên có tội. Nhười có tội làm sao có thể
thành được điều này. Cho nên biết sát sinh được phúc.
Lại người hoặc có tâm lực có thể đoạt mạng sống thì được
phúc, mà thí cho mạng sống là đắc tội. Như người đem thiện tâm
mà sát sinh vì muốn khiến được an vui làm sao có tội ? Như
những người hàng thịt nuôi dưỡng bò dê, tuy thí mà vẫn phải tội.
Như vậy trong việc trộm v.v... cũng có phúc đức ?
Đáp : Ông nói sát sinh được sở dục nên gọi phúc đức. Điều
này không đúng. Bởi vì sao ? Vì do phúc đức nên được tùy ý sở
dục. Việc sở dục đó lại duyên sát sinh mà được. Bởi vì sao ? Vì
do đời trước tạo phúc bất tịnh. Như trong kinh nói : Cướp đoạt sát
hại được của dùng làm bố thí, khiến cho người khác buồn khóc,
và bất tịnh thí, thí như vậy v.v... gọi là bất tịnh. Phải do ác duyên
mới thụ quả báo.
Lại người nầy do đời trước có phúc mà cũng có nghiệp
duyên sát sinh, cho nên thân nay nhân sát mà thụ báo. Cũng có
chúng sinh phải đền của, đền mạng nên do sát hại mà được toại sở
dục.
Lại không phải tất cả chúng sinh đều do sát sinh mà được
giàu sang, như người đời nói : Người ấy bạc phúc, làm nhiều công
đức, mà không được quả. Tiếng khen, mừng vui cũng như vậy,
đều nhờ phúc đức nhân duyên nên được tiếng khen, được thân
mạnh mẽ và vui sướng. Chỉ vì phúc đó bất tịnh nên mới do sát mà
được.
Thành Thật Luận Trang 232 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Sư tử, cọp sói v.v... được thân khỏe mạnh đều từ tội
sinh, Dạ-xoa, La-sát v.v... được vui thân khỏe mạnh vui sướng
cũng do tội sinh ?
Đáp : Điều này như trước đã đáp. Cũng do phúc bất tịnh nên
nhờ tội duyên mà được. Ông nói trong kinh sách có nói nếu ra
trận bị chết, thì được sinh lên trời. Điều này không đúng. Bởi vì
sao ? Vì kinh ấy là lấy lời tà ngữ dụ dỗ người ngu, làm cho họ có
dũng khí. Vì sao biết được ? Vì phải do phúc sinh phúc, do tội
sinh tội. Trong đó hoàn toàn không có nhân của phúc thì do đâu
mà được quả phúc ? Ông nói 4 hạng chúng sinh đều tự có pháp
riêng. Hạng Sát-lợi vì bảo hộ người nên giết không tội. Điều này
cũng như gia pháp, như những người hàng thịt v.v... đời đời gia
truyền thường phải sát sinh mà cũng không khỏi tội. Hạng Sát-lợi
cũng vậy, tuy vương pháp, nhưng cũng phải đắc tội. Nếu Sát-lợi
vì vương pháp nên sát sinh không tội, thì những người thợ thịt,
thợ săn kia cũng phải không tội ? Chỉ hạng Sát-lợi đem lòng
thương xót vì dân trừ hoạn, do đó mà được phúc. Nếu trừ lý do
trên, mà đoạt mạng sống của người khác, thì có tội. Như người
cướp đoạt của cải người khác để nuôi cha mẹ mình, thì người nầy
đều phải chịu cả tội lẫn phúc.
Hỏi : Người nào trộm cướp về nuôi cha mẹ người ấy không
nên đắc tội. Như Kinh Vậy Pháp nói : Nếu thiếu ăn 7 ngày, theo
Thủ-đà-la mà cướp lấy thì không tội. Nếu mạng đói muốn chết,
thì được quyền theo Bà-la-môn mà lấy. Người ấy tuy dùng ác
nghiệp để nuôi mạng sống, nhưng không gọi là người phá giới, vì
lý do nguy cấp, giống hư không bụi đất không làm bẩn được.
Người nầy cũng vậy, không nhiễm bẩn vì tội ?
Đáp : Tức trong pháp Phạm Chí nói : Nếu khi cướp đoạt, tài
chủ đến bảo hộ, bấy giờ Phạm Chí cần phải so sánh tính toán giả
sử công đức của tài chủ không bằng thì nên giết đi. Bởi vì sao ?
Vì Phạm Chí ta là người thắng nhân có thể dùng nhiều phương
Thành Thật Luận Trang 233 Tuệ Quang Foundation
pháp sám hối mà trừ diệt tội nầy. Nếu công đức đôi bên ngang
nhau, thì tự giết giết người tội đó cũng ngang nhau, vì đó là trọng
tội khó trừ diệt. Nếu tài chủ đức thắng hơn, thì nên tự xả thân, vì
đó là trung tội, không thể trừ. Phân biệt như vậy, trong việc giết
người cướp đoạt cũng phải như vậy.
Lại nói dùng ác nghiệp nuôi sống, trong đó vì có ác nghiệp
làm sao gọi là phúc ? Ông nói người xông ra trước giết thì không
tội, không giết là đắc tội. Lời nầy đã bị phá. Bởi vì sao ? Vì nếu
đối phương đức hơn mình, thì nên tự xả thân. Nếu là không tội, cớ
sao phải như vậy ? Ông nói kinh Vi-đà nói sát sinh được phúc.
Lời nói nầy trước đã đáp, là giết thì không phúc… Ông nói người
thật đáng chết, thì giết không tội. Vậy thì giết những người oán
tặc cũng phải không tội ?
Lại tất cả chúng sinh đều là tội nhân, vì khởi tác nghiệp thụ
ấm thân. Vậy thì sát sinh không đắc tội. Điều này không thể được.
Hỏi : Nếu chúng sinh đời trước tự tạo sát duyên, nay giết lại
sao đắc tội. Nghiệp cướp trộm v.v... cũng đều như vậy?
Đáp : Nếu như vậy thì không có tội phúc. Bởi vì sao ? Vì
người ấy đời trước tự tạo duyên giết hại, nên giết nó không tội, thì
lìa sự sát sinh cũng không có phúc đức. Như vậy nếu bố thí người
khác cũng phải không có phúc, vì người thụ thí đời trước đã tự tu
nghiệp bố thí, nay tự được quả báo. Nhưng kỳ thật không thể
không có tội phúc. Nên phải biết chúng sinh tuy tự tạo nghiệp sát,
mà người sát sinh cũng vẫn đắc tội, vì khởi tham sân si các phiền
não. Các phiền não nầy gọi là tà điên đảo; sinh tâm tà điên đảo
còn đáng bị tội huống chi cố ý khởi nghiệp thân khẩu ? Bởi đó mà
khiến sinh tử vô cùng tận. Nếu không như vậy, thì khi các vị thần
tiên khởi phiền não tham sân v.v..., phải không liền bị mất thần
thông. Nếu đó không phải tội lỗi thì với pháp gì trái nhau mới gọi
là phúc đức ? Phải biết chúng sinh tuy đời trước tự tạo duyên sát
sinh, nhưng kẻ sát sinh vẫn phải có tội. Tuy ông nói tội nhân vô
Thành Thật Luận Trang 234 Tuệ Quang Foundation
sở có thể thành. Điều này không đúng. Vì hạng Chiên-đà-la v.v...
cũng có thể dùng chú thuật để giết người. Người tiên cũng vậy, vì
ác tâm nên tùy theo lời chú nên vẫn có thể thành tội.
Lại người này vì phúc lực nên có thể thành, bởi cướp đoạt
mạng sống nên bị tội. Ông nói hoặc có tâm lực do đoạt mạng sinh
phúc, thí mạng đắc tội. Điều này không đúng. Bởi vì sao ? Vì
phải do tâm lực và phúc nhân duyên nên mới được phúc, chứ
không những chỉ do tâm. Nếu đem thiện tâm dâm vợ của thầy,
giết Bà-la-môn có thể được phúc chăng ? Những người ở vùng
biên giới xa xôi như ở các xứ An-tức v.v... đem tâm phúc đức
dâm mẹ, dâm chị liệu có phúc chăng ? Cho nên biết do nhân
duyên phúc, mới có phúc sinh, chứ không phải chỉ có tâm mà
thôi. Cướp trộm v.v... cũng như vậy. Cho nên biết sát sinh v.v...
đều là bất thiện.
Lại sát sinh này v.v... chẳng phải vì lợi cho người khác nên
gọi là bất thiện, tuy với đời hiện nầy được chút vui chốc lát,
nhưng đời sau chịu khổ lớn, vì hại tổn người khác nên gọi là
tướng bất thiện.
Lại hiện thấy có nhiều chúng sinh gây những nghiệp sát sinh
v.v... cũng phần nhiều ở trong tam đồ và loài người chịu các khổ
não. Nên phải biết khổ não là kết quả của sát sinh v.v..., vì quả
giống nhân.
Lại trong 3 ác đạo tội khổ rất dữ dội. Cho nên biết vì nhân
duyên sát sinh v.v... mà sinh vào trong đó.
Hỏi : Trong người, trời cũng như vậy. Các trời cũng thường
cùng chiến tranh với A-tu-la, giết hại lẫn nhau. Trong loài người
cũng dùng hầm hào, lưới, thuốc độc, giết hại chúng sinh ?
Đáp : Trong cõi người, cõi trời có pháp lìa sát sinh v.v..., mà
trong 3 ác đạo không có. Phải biết trong đó, tội khổ rất lớn.
Lại trong loài người bởi nhân duyên sát sinh v.v... nên mất
những lợi lạc sống lâu v.v... Con người thời thượng cổ có thọ
Thành Thật Luận Trang 235 Tuệ Quang Foundation
mạng vô lượng, ánh sáng từ thân phóng ra, sáng như mặt trời mặt
trăng, bay đi tự tại; đất đều tự nhiên sinh các vật tùy ý, gạo thóc tự
nhiên sinh. Nhưng đều bởi phạm tội sát sinh v.v..., nên mất các
việc như vậy. Về sau, đến khi con người thọ mạng chỉ còn 10 tuổi,
lại mất các thứ như bơ, dầu, đường phèn, thóc lúa, bắp v.v..., tất
cả đều không có. Cho nên biết sát sinhv.v... là nghiệp bất thiện.
Lại nếu như lìa sát sinh v.v... được lợi lạc trở lại: Thọ mạng
tăng thêm như tuổi thọ đến 8 vạn tuổi và các sở dục đều tùy ý.
Cho nên biết sát sinh là bất thiện.
Lại như hiện nay, Châu Uất-đan-việt tự nhiên có gạo bắp, áo
mặc do cây sinh ra, đều do lìa sát sinh v.v... Nói tóm lại, chúng
sinh có tất cả những vui sướng gì đều do lìa sát sinh v.v... mà
được. Cho nên biết sát sinh v.v... là nghiệp bất thiện.
Lại pháp sát sinh v.v…là pháp những người thiện đã xả bỏ.
Như chư Phật, Bồ-tát, Duyên Giác, Thanh Văn và bao nhiêu
những người có công đức , v.v... đều lìa bỏ, cho nên biết là bất
thiện.
Hỏi : Sát sinh v.v... nầy, người thiện cũng cho phép. Như
trong Kinh Vi-đà nói : Vì cúng trời nên cho phép giết dê ?
Đáp : Đó không phải là người thiện. Người thiện là thường
cầu lợi tha, tu tâm từ bi, bình đẳng với kẻ oán, người thân. Những
người như vậy, đâu có cho phép sát sinh ? Người nói như vậy là
do lòng tham sân đục vẩn nên tự tạo kinh nầy để cầu sinh lên trời.
Chú chúng sinh kia, nhờ phúc lực nên có thể thành điều này.
Lại sát sinh v.v... nầy, người được giải thoát không bao giờ
làm. Cho nên biết là bất thiện.
Hỏi : Những người được giải thoát cũng không làm các việc
khác nữa, như ăn quá trưa v.v... Điều này cũng nên là bất thiện
sao ?
Đáp : Đó là nhân duyên sinh tội, nên người thiện cũng bỏ.
Nếu pháp không lỗi không nên lìa bỏ. Ăn quá giờ trưa v.v... có thể
Thành Thật Luận Trang 236 Tuệ Quang Foundation
hại hạnh tu hành, cho nên cũng bỏ. Có pháp vì thể tính bất thiện
nên bỏ, như sát sinh, trộm cắp v.v... Có pháp vì nhân duyên bất
thiện nên cũng bỏ, như uống rượu, ăn quá trưa v.v.... Cho nên biết
sát sinh thể tính bất thiện.
Lại người sát sinh bị nhiều người ghét như sư tử, cọp, sói,
các oán tặc và Chiên-đà-la v.v.... Nếu vì pháp nhân duyên nầy mà
bị nhiều người ghét gớm lẽ đâu chẳng phải bất thiện ?
Lại nếu người không sát sinh được nhiều người thương mến,
như các vị hiền thánh tu hạnh từ bi. Cho nên biết sát sinh là bất
thiện.
Hỏi : Có người sát sinh vì sức mạnh mẽ nên được người ưa,
như người vi vua giết các oán giặc thì được vua yêu mến ?
Đáp : Vì nhân duyên nên không phải yêu mến cho lắm. Như
nói nếu người đem ác nghiệp làm cho chủ vui lòng, nếu khi chủ
sinh chán, thì trở lại nghi người nầy. Nếu vì ác sự sinh nghi thì
làm sao gọi gọi là thứong mến ?
Lại những người làm điều bất thiện là tự không thương mình
huống chi người khác ? Cho nên biết sát sinh là pháp bất thiện.
Lại pháp sát v.v... là đánh phá sự trói buộc v.v… các nhân
khổ não. Cho nên biết là bất thiện.
Hỏi : Pháp bất sát v.v... cũng có nhân khổ, như vua ra lệnh
cho người phải giết giặc, nếu không giết chắc bị vua hại ?
Đáp : Nếu vì không giết bèn bị hại. Vậy thì những người
không giết đều bị hại chết ? Người nầy vì tự trái lệnh vua . Nếu
vua biết thâm tâm người nầy không giết, thì không gia hại mà lại
cúng dường. Cho nên biết giết v.v... là nhân duyên khổ, chứ
không phải không giết v.v....
Lại người làm sát sinh, khi sắp chết đều sinh tâm ăn năn.
Cho nên biết là bất thiện.
Lại làm việc sát sinh v.v... nên bị người không tin, trong
đồng bọn còn không tin nhau, huống chi người thiện.
Thành Thật Luận Trang 237 Tuệ Quang Foundation
Lại người làm việc sát sinh còn bị đồng bọn chê bai, huống
chi những người khác.
Lại người làm việc sát sinh v.v... người thiện lánh xa, như
những Chiên-đà-la, người hàng thịt, thợ săn v.v....
Lại những người làm việc sát sinh v.v... không gọi là người
vui, như người hàng thịt, thợ săn v.v... trọn đời không nhờ nghề
nghiệp đó mà được quý trọng.
Lại người thiện gắng công lìa bỏ sát sinh v.v.... Nếu không
phải bất thiện, cớ sao gắng công cầu lìa bỏ làm gì ?
Lại hiện thấy sát sinh v.v... có quả báo không ưa thích. Phải
biết đời sau cũng bị quả báo khổ.
Lại nếu sát sinh v.v... không phải bất thiện, thì còn có pháp
nào gọi bất thiện sao ?
Hỏi : Nếu pháp sát sinh v.v... là bất thiện, thì không có thân
người đẹp. Bởi vì sao ? Vì không có lúc nào không sát sinh. Như
những lúc đi đến, chân cất lên dẫm xuống, hằng thường giết hại
những chúng sinh vi tế. Cũng thường vì ý tưởng của mình mà lấy
vật của người khác. Cũng tùy ý tưởng của mình mà nói dối. Cho
nên chắc không có thân đẹp ?
Đáp : Cố ý làm thì bị tội, chứ không phải không cố ý. Như
trong kinh nói : Thật có chúng sinh, trong đó sinh tâm tưởng
chúng sinh, có tâm muốn giết, giết rồi bị tội giết. Trộm v.v... cũng
như vậy.
Hỏi : Như người ăn thứ độc, cố ý hay không cố ý đều có thể
chết người.
Lại như sa hầm lửa, biết cùng không biết đều có thể cháy
người. Dẫm gai v.v... cũng như vậy. Phải biết sát sinh cố ý hay
không cố ý đều phải bị tội ?
Đáp : Dụ nầy không đúng. Độc để giết hại thân nên chết, còn
tội phúc do tâm, làm sao đem ví dụ được.
Thành Thật Luận Trang 238 Tuệ Quang Foundation
Lại lửa gai v.v..., nếu không cảm giác, không thể sinh khổ.
Cho nên dụ này không đúng. Nếu không biết thì không cảm giác
đau, có biết mới có cảm giác. Như vậy nếu không cố tâm, thì tác
nghiệp không thành, cố tâm thì thành, dụ nầy mới đúng. Có cố thì
có tội; không cố thì không. Các nghiệp đều do tâm sai khác, nên
có thượng có hạ, nếu không cố tâm làm sao có thượng có hạ ?
Như thầy thuốc với không phải thầy thuốc, đều làm cho bệnh
nhân sinh khổ, nhưng vì tâm lực nên có tội phúc sai khác.
Lại như con sờ vú mẹ thì không bị tội, vì không nhiễm tâm.
Nếu nhiễm tâm mà sờ thì có tội. Nên phải biết tội phúc đều do
tâm sinh.
Lại nếu không cố tâm mà có tội, thì những người được giải
thoát cũng có không cố mà não hại chúng sinh thì phải bị tội, và
không có giải thoát, vì lẽ các tội nhân thì không giải thoát.
Lại nếu không cố mà có tội phúc, thì một hành nghiệp phải là
thiện và bất thiện. Như người làm phúc nghiệp lầm giết chúng
sinh, thì nghiệp nầy cũng tội mà cũng phúc ? Điều này không
đúng. Phải biết không cố, thì không nên có tội có phúc gì cả.
Lại nếu vô tâm mà có nghiệp báo, thì làm sao phân biệt được
đâu là thiện, đâu là bất thiện và đâu là vô ký ư ? Nên đều do tâm
mới có sai khác. Như có 3 người đồng đi nhiễu quanh tháp. Một
người nghĩ nhớ công đức Phật. Một người để lấy trộm đồ. Một
người vì dạo mát. Tuy thân nghiệp đồng mà có thiện, bất thiện và
vô ký khác nhau. Phải biết là do ở tâm.
Lại có nghiệp quyết định có quả báo; có nghiệp không quyết
định có quả báo. Có nghiệp thượng, trung, hạ. Có nghiệp có quả
báo hiện tại, có quả báo đời sau, có quả báo sau các đời sau nữa
v.v.... Nếu không do tâm mà có tội phúc thì sao có sai khác như
vậy ?
Lại nếu lìa tâm có nghiệp, thì chẳng phải chúng sinh cũng
phải có tội phúc. Như gió xô sập núi hại chết chúng sinh, gió cũng
Thành Thật Luận Trang 239 Tuệ Quang Foundation
phải có tội. Nếu thổi hoa thơm đến chùa tháp, gió cũng phải được
phúc. Điều đó không thể được. Cho nên biết lìa tâm không có tội
phúc.
Lại có ngoại đạo nói : Tu pháp nhịn ăn, nằm trên tro, đất,
chông gai v.v..., gieo mình xuống vực, nhảy vào lửa, tự lao mình
xuống núi v.v..., dùng những nhân duyên khổ mà có phúc đức.
Có người trí hỏi vặn lại rằng : Nếu vậy chúng sinh ở địa ngục
thường bị đốt nướng, loài ngạ quỷ bị đói khát, loài trùng thiêu
thân bay vào lửa, loài cá rùa ở nước, heo, dê, chó v.v... thường
nằm trên phân đất, Chúng cũng phải được phúc ? Ngoại đạo kia
đáp : Phải đem cố tâm chịu khổ não nầy mới có phúc đức, chứ
không phải không cố tâm mà được. Địa ngục v.v... không phải
dùng cố tâm chịu khổ đốt v.v... Nếu không do cố tâm nên không
có phúc, thì do không cố tâm nên không tội. Nếu do không cố tâm
mà có tội phúc, thì trong địa ngục v.v... cũng phải có phúc ? Có
những lỗi như vậy.
Lại nếu không cố tâm mà có tội phúc, thì đời không có người
thiện. Bởi vì sao ? Vì trong 4 oai nghi thường giết chúng sinh.
Điều này là không thể được. Phải biết không cố tâm, thì không tội
phúc.
Lại không được sinh nơi tốt đẹp là thường vì tội. Mà thật có
các Phạm vương có các thân hình tốt đẹp, cho nên biết nghiệp
không cố tâm là không tội phúc.
Lại trong pháp của các ông, ăn thức ăn bất tịnh, thì đều có
tội. Nếu suy nghĩ cho kỹ, tất cả đồ uống ăn đều là bất tịnh, ăn thức
ăn bất tịnh đều phải đắc tội. Như vậy đụng đến rượu v.v..., thì
không phải Bà-la-môn. Nếu không thấy nghe, đem tịnh tâm mà
ăn, bèn không tội. Phải biết lìa tâm, thì không tội phúc gì cả.
Lại trong việc cúng trời, đem phúc tâm nên giết dê, khiến dê
sinh lên trời. Vì phúc tâm mà giết nên có phúc. Nếu không phải
vậy, tất cả sát sinh đều được phúc mà cũng bị tội.
Thành Thật Luận Trang 240 Tuệ Quang Foundation
Lại như Bà-la-môn nói : Hoặc có khi trộm cướp mà không
tội. Như thiếu ăn bảy ngày được theo Thủ-đà-la mà lấy. Nếu đói
gần chết thì theo Bà-la-môn mà lấy. Cũng vì muốn sinh con đẹp
nên dâm dục không tội. Nếu không vì cố tâm, thì sẽ không có các
khác biệt này. Cho nên biết, nếu người không cố tâm ác ý mà cho
người khác uống độc, thì do đâu đắc tội ? Nếu cố tâm cho người
chất độc, mà độc trở lại làm thiện bệnh, thì phải được phúc ? Như
bố thí cho người ăn, thức ăn ấy không tiêu, khiến người phải chết,
vậy là đắc tội sao ? Nếu không cố tâm mà có tội phúc thì pháp
loạn.
Lại người đời, tất cả việc đều tin nơi tâm, như ngay một câu
nói có thể sinh vui hoặc giận. Đánh đập v.v... cũng vậy. Cho nên
biết các nghiệp đều do nơi tâm.
Lại ý nghiệp thắng hơn hết, phẩm sau sẽ nói, cho nên biết
các nghiệp tại tâm.
Lại như người trí tuệ tuy ở nơi ngũ dục mà không đắc tội,
đều nhờ sức của ý. Bởi vì sao ? Vì người trí thấy sắc không khởi
tâm tưởng tà vạy, nên không lỗi đắm sắc. Thanh v.v... cũng như
vậy. Nếu không khởi vọng tưởng mà có lỗi ấy, thì tất cả mọi thấy
nghe, phải đều có lỗi. Vậy thì ý nghiệp vô dụng. Người trí lấy trí
tuệ làm đầu, tuy thụ 5 dục mà không tham đắm. Ngũ dục tuy có
đấy, nhưng tâm nhàm chán nên có thể không đắm nhiễm, đó
không phải là sức của ý nghiệp ư ? Cho nên không có việc không
cố tâm mà đắc phúc hay đắc tội.
Hỏi : Ông nói tướng thiện và bất thiện là tổn hại hay lợi ích
cho người khác. Điều này không đúng. Bởi vì sao ? Vì nếu người
tự đem vật nuôi thân mà làm phúc nghiệp, người ấy tự ăn cũng
vẫn có phúc đức.
Lại tháp chùa, chẳng phải chúng sinh, tưới quét cũng được
phúc.
Thành Thật Luận Trang 241 Tuệ Quang Foundation
Lại lễ kính v.v... đối với người khác là vô ích. Chỉ tổn hại
công đức người khác, không nên có phúc.
Lại không chỉ phát tâm nên có phúc đức mà tùy đem áo cơm
lợi ích cho người khác bấy giờ mới được phúc. Như vậy thì người
tu hạnh từ bi, không nên có phúc.
Lại như tháp chùa v.v... nếu chẳng phải thuộc loài chúng
sinh, thì hoặc đoạt lấy của cải đồ vật, hoặc làm hư hại, phải không
có tội.
Lại không ra trước mặt mà ác khẩu mắng sau lưng người ta,
phải không có tội, vì người ta không nghe, đâu tổn giảm chi mà
tội ?
Lại đối với người khác, chỉ sinh ác tâm mà không động thân
mở miệng, thì đâu có hại gì, đó đều không phải tội.
Lại hoặc tự mắng mình hoặc tự sát, hoặc tự làm hạnh tà cũng
có khi đắc tội. Cho nên tướng thiện và bất thiện, không phải chỉ
có tổn hại hay lợi ích người khác.
Đáp : Ông nói tự đem đồ nuôi thân là có phúc đức. Điều này
không đúng. Nếu tự cúng dường cho mình mà có phúc đức, thì
không ai cúng dường người khác. Mà thật có người cúng dường
người khác để cầu phúc đức.
Lại do mình vị kỷ mà phúc trở nên mỏng, cho nên biết tự vì
mình thì không có phúc.
Lại ông nói tự ăn là làm phúc nghiệp. Nếu tự nuôi thân là lợi
ích cho người khác, đó là do nơi tâm mới có thể sinh phúc đức,
chứ không phải do tự nuôi mình mà được phúc.
Ông nói tháp chùa, là chẳng phải chúng sinh, tưới quét cũng
được phúc. Đó là người nầy nghĩ công đức của Phật, đối với trong
chúng sinh Phật là bậc cao cả, cho nên tưới quét. Điều này cũng
do chúng sinh nên được phúc.
Hỏi : Phật đã diệt độ, không gọi chúng sinh. Như trong kinh
nói : Phật không phải có, không phải không, cũng không phải có
Thành Thật Luận Trang 242 Tuệ Quang Foundation
không, cũng không phải không có không phải không không. Làm
sao gọi là chúng sinh được ?
Đáp : Nếu đã diệt độ không gọi chúng sinh. Người ấy nghĩ
Phật khi chưa diệt độ mà cúng dường, cho nên được phúc. Như
người thờ cúng cha mẹ là nghĩ tưởng lúc sinh thời. Nếu không
như vậy, không gọi là cúng cha mẹ. Việc này cũng vậy.
Ông nói lễ kính v.v... với người khác vô ích. Điều này
không đúng. Bởi vì sao ? Vì lễ kính v.v..., có nhiều lợi cho người
khác, là khiến cho người kia được trọng vọng, được người khác
cung kính, đó là lợi ích. Cũng khiến người khác bắt chước theo
cung kính, cũng được phúc đức.
Lại khi lễ kính người khác, tự mình phá bỏ được sự ngạo
mạn, vì phá được một phần bất thiện, nên được nhiều lợi ích.
Cũng để hiển dương công đức của người khác, nên lễ kính v.v...
có những lợi ích như vậy.
Lại ông nói lễ kính v.v... tổn công đức người khác. Điều này
không đúng. Đem hảo tâm mà lễ kính, không phải như ngoại đạo
muốn làm tổn người kia mà hành lễ kính.
Lại như bố thí, nếu người kia không tiêu, thì cũng tổn công
đức. Vậy thì bố thí cũng phải không có phúc. Nên khi lễ kính
v.v... cần phải suy nghĩ kỹ, có phúc thì làm. Như trong kính nói:
Có một Tì-kheo ở trong nhà tắm, đem tay thoa thân người khác.
Phật bảo các Tì-kheo rằng : Người cúng dường này là A-la-hán,
người thụ cúng dường là người phá giới. Các người nên học.
Không nên đem sư tử cúng dường chồn mèo v.v...
Ông nói không chỉ phát tâm mà được phúc. Tâm là gốc tất cả
công đức. Như người làm lợi mình và người, lợi đời nầy và đời
sau, đều lấy thiện tâm làm gốc. Như người làm tổn mình và
người, tổn hại đời nầy và đời sau, đều do tâm bất thiện làm gốc.
Lại người tu hạnh từ, lấy quả báo từ tâm làm lợi ích cho tất
cả. Như là gió mưa phải thời, nhật nguyệt tinh tú không sai lệch,
Thành Thật Luận Trang 243 Tuệ Quang Foundation
nước biển lớn không dâng cao, lửa dữ không thiêu đốt, gió mạnh
không làm đổ sập. Đây đều là quả báo của sức từ. Như trong kinh
nói : Nếu tất cả vậy gian đều làm hạnh từ tâm thì điều mong muốn
tự nhiên được.
Ông nói cướp lấy của tháp chùa không phải tội, người này
đem tâm chúng sinh mà cướp đoạt tùy theo tháp gì mà cướp đoạt
đây ? Do nhân duyên đó nên nếu có thể làm tổn hay nếu không
thể làm tổn đều là chủ nên đắc tội.
Nếu tâm ông bảo đối với Phật không thể sinh não cho nên vô
tội, thì dùng ác khẩu v.v… với A-la-hán không thể sinh khổ, cũng
phải không có tội.
Ông nói không ở trước mặt mắng nhiếc thì phải không có tội,
điều này không đúng. Người này dùng ác tâm với người. Bởi ác
tâm cho nên tuy người kia không nghe, nếu nghe ắt phải sinh khổ,
cho nên phải đắc tội.
Ông nói nếu sinh ác tâm mà không động thân mở miệng thì
không có tội, điều này cũng không đúng. Cái tâm xấu ác ô trược
này là vì não hại người mà sinh, nếu người kia biết ắt sinh khổ
não. Như giặc đến cướp của người, tuy không hay biết cũng làm
não hại người.
Ông nói tự sát, tự mắng nhiếc mình cũng bị tội, điều này
không đúng. Nếu tự làm khổ thân mà bị tội, thì không có ai được
sinh chỗ tốt. Bởi vì sao ? Con người trong 4 oai nghi thường bị
khổ thân. Vậy thì tất cả chúng sinh thường phải bị tội như não hại
người khác, cho nên không có ai được sinh chỗ tốt. Điều này
không đúng. Phải biết không do tự thân có tội phúc, mà vì đạo
nhân duyên, cho nên trong Tì-ni kết giới này. Nếu người ác tâm
mà tự sát, do phiền não nên bị tội.
Nghiệp vô ký, là nghiệp không phải thiện không phải bất
thiện. Đối với chúng sinh khác không làm tăng ích cũng không
tổn giảm gọi là vô ký.
Thành Thật Luận Trang 244 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Vì sao gọi là vô ký ?
Đáp : Đây là tên gọi của nghiệp này. Nếu nghiệp không phải
thiện, không phải bất thiện thì gọi là vô ký.
Lại, nghiệp thiện bất thiện đều có thể được quả báo, nghiệp
này không thể sinh quả báo nên gọi là vô ký. Bởi vì sao ? Nghiệp
thiện bất thiện là kiên cường, còn nghiệp này sức yếu. Ví như hạt
giống hỏng không thể nảy mầm.
Lại báo có 2 thứ, thiện được báo yêu thích, bất thiện bị báo
không không yêu thích, vô ký không có báo.
Hỏi : Trong đây có lấy chẳng phải yêu chẳng phải ghét là báo
vô ký. Nói vậy có lỗi gì ?
Đáp : Phật nói báo có 2 thứ. Tà thân mà làm, được báo
không yêu thích. Chính thân mà làm được quả báo ưa thích.
Không nói có báo thứ 3.
Lại quả báo phúc đức thì được yêu thích như ý muốn, mà
quả báo tội lỗi thì trái lại với trên.
Lại khổ, vui là quả báo của tội, phúc. Không khổ không vui
cũng là quả báo của thiện hành. Cho nên biết vô ký không có quả
báo.
Phẩm 101 : Tà hành
Phật nói 3 tà hành : Thân tà hành, miệng tà hành, ý tà hành.
Thân tạo tác ác nghiệp gọi là thân tà hành. Tà hành nầy có 2 thứ.
Một là nhiếp thuộc vào 10 bất thiện đạo, như giết, trộm, tà dâm.
Hai là không nhiếp, như roi, gậy, trói buộc, tự dâm vợ v.v... và bất
thiện đạo trước sau ác nghiệp.
Hỏi : Sát sinh v.v... nầy là 3 nghiệp bất thiện, chỉ là tính của
thân nghiệp ư ?
Đáp : Tội sát gọi sát bất thiện nghiệp. Tội nầy thân cũng có
thể tạo, tùy đem thân mình sát hại chúng sinh. Miệng cũng có thể
tạo, tùy đem lời sai bảo khiến người sát chúng sinh, hoặc đem tâm
Thành Thật Luận Trang 245 Tuệ Quang Foundation
rủa nộp mà sát cũng có thể tạo được. Có người phát tâm có thể
khiến người khác chết. Tội trộm, dâm cũng như vậy. Có điều tự
làm thì bị tội đầy đủ.
Lại thân nghiệp bất thiện, hoặc lấy thân làm tướng, hoặc
miệng làm tướng, hoặc phát tâm thì người khác biết, lấy nhân
duyên nầy cũng tạo được tội sát v.v.... Nhưng phần nhiều là do
thân tạo tác, nên thông thường gọi là thân nghiệp. Tà hành của
miệng cũng như vậy. Miệng gây ra ác nghiệp gọi là tà hành của
miệng. Trong đây cũng có 2 thứ. Như khi có người quyết định
hỏi, mà hiện trước mặt dối người ta, đó thuộc về bất thiện đạo.
Ngoài ra là không nhiếp thuộc. Tham sân tà kiến v.v... là tà hành
của ý.
Hỏi : Vì sao trong 10 bất thiện đạo nói là tà kiến ? Trong 3
bất thiện căn nói là si ?
Đáp : Tà kiến là tên khác của si. Si nầy tăng trưởng bền chắc
gọi là tà kiến. Si lại không có tướng riêng, chỉ lấy điên đảo tham
đắm, nên gọi là si.
Hỏi : Trong kinh nói : Các tà hành được quả báo bất ái, chính
hành được quả báo ái. Tướng ái và bất ái nầy không quyết định.
Như có một sắc, mà có ái và bất ái. Cho nên cần nói rõ tướng đó ?
Đáp: Vui là tướng ái. Như trong kinh nói : Phúc báo gọi là
vui. Khổ là tướng bất ái. Như trong kinh nói : Các ông đối với tội,
phải sinh lòng khiếp sợ, vì đó là nhân duyên khổ.
Hỏi : Nếu vui là tướng ái thì heo chó v.v..., ăn phân nhơ lấy
làm vui, đó là quả phúc đức sao ?
Đáp : Là phúc quả bất tịnh. Như Kinh Nghiệp nói : Nếu phi
thời thí, bất tịnh thí, tâm khinh khi, tâm đục vẩn mà bố thí nơi phi
phúc điền. Thí như vậy v.v... thì được quả báo ấy.
Hỏi : Như trong kinh nói chính hành được ái báo. Vì sao lại
nói do nhân duyên chính hành được sinh lên trời ?
Thành Thật Luận Trang 246 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Có những người tà hành cũng được sinh lên trời, hoặc
bảo sinh trời là quả báo tà hành. Nên trong kinh lại nói nhân
duyên chính hành mới sinh về nơi ấy.
Lại tà hành chính hành có thể được thân 2 đường thiện ác
khác nhau. Khi thụ thân rồi trong đó chịu những khổ vui. Như
nhân duyên tà hành trong ác đạo chịu khổ; nhân duyên chính hành
thì được hưởng vui cõi trời cõi người.
Phẩm 102 : Chính hành
Thân làm điều thiện gọi là thân chính hành. Miệng, ý cũng
như vậy. Lìa sát sinh v.v... 3 nghiệp bất thiện gọi là thân chính
hành. Miệng lìa 4 lỗi gọi là miệng chính hành. Ý lìa 3 bất thiện
gọi là ý chính hành. Ba thứ nầy nhiếp thuộc về Luật nghi. Như là
giới, định vô lậu luật nghi.
Lại có những lễ kính, bố thí v.v... là thiện nghiệp của thân,
đều gọi là thân chính hành. Như nói lời chân thật dịu dàng v.v...
đều gọi miệng chính hành. Ý nghiệp không tham v.v... đều gọi ý
chính hành. Gọi chung là 3 chính hành.
Hỏi : Ngoại đạo, thần tiên không có quả báo được giải thoát
giới, những người nầy có thể được giới luật nghi chăng ?
Đáp : Các ngoại đạo ấy từ nơi tâm sinh giới luật nghi, hoặc
cũng gọi giới khẩu thụ.
Lại các người đó v.v... cũng có thể được nhiếp thuộc về
chính hành giới luật nghi. Như khi loài người thọ mạng chỉ còn 10
tuổi mà nhờ thụ pháp bất sát thì đẻ con thọ mạng được 2 0 tuổi.
Hỏi : Trong kinh nói chính hành, tịnh hành và tịch diệt hành.
Có gì sai khác ?
Đáp : Có luận sư nói : Người phàm phu tu thiện nơi nghiệp
thân, miệng, ý gọi là chính hành. Học nhân đã đoạn kết thì ngay
nơi chính hành nầy gọi là tịnh hành. Vô học nhân đoạn kết, vì từ
không kết sinh lời nói, nên gọi là tịch diệt hành.
Thành Thật Luận Trang 247 Tuệ Quang Foundation
Lại vô học nhân rốt ráo không khởi nghiệp bất thiện nên gọi
là tịch diệt hành. Như nói thân tịch diệt, miệng tịch diệt, ý tịch
diệt.
Lại có người nói 3 thứ hành nầy nghĩa đồng mà tên khác. Chỉ
đẹp nơi chất trực nên gọi là chính. Lìa các phiền não nên gọi là
tịch. Lìa các bất thiện nên gọi là tịch diệt. Nên tuy có 3 tên mà
nghĩa không khác.
Hỏi : Có luận sư nói chỉ có tâm là tịch diệt hành chứ không
phải tư duy. Nghĩa ấy vậy nào ?
Đáp : Ba thứ hành nầy đều do tâm. Bởi vì sao ? Vì lìa tâm
không có tư duy, cũng không có nghiệp thân miệng.
Hỏi : Trong kinh nói: “Người thấy chính hành thành tựu, tức
là thấy trời. Nếu thấy số trời không phải tất cả người chính hành
đều sinh lên trời, sao nói quyết định như vậy ?
Đáp : Vì nói số trời nên điều này đã rõ. Những người chính
hành tuy không nhất thiết sinh lên trời, nhưng nếu sinh về nơi tôn
quý, thì cũng tương tự như trời, nên mới nói thấy số trời. Những
người chính hành đáng lẽ đều sinh lên trời mà hoặc bị các duyên
thừa phá hoại, cho nên không sinh, như là tà chính tạp hành. Vì tà
hành mạnh hơn nên không được sinh lên trời. Như trong kinh
Phật bảo A-nan rằng : Ta thấy có người tu 3 chính hành mà sinh
vào ác đạo. Đó là người quả báo tà hành đời trước đã chín mùi,
nay tuy tu chính hành nhưng chưa đầy đủ.
Lại có người khi sắp lâm chung khởi tâm tà kiến, nên bị đọa
ác đạo. Còn những người tà hành sinh về nơi thiện cũng như vậy.
Cho nên pháp phàm phu là không nên tin. Phải biết tùy theo
nghiệp lực mạnh nên thụ sinh có sai khác.
Phẩm 103 : Nghiệp buộc
Hỏi : Kinh nói có 3 thứ nghiệp: Nghiệp buộc cõi Dục, nghiệp
buộc cõi Sắc, nghiệp buộc cõi Vô sắc. Sao như vậy ?
Thành Thật Luận Trang 248 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Nếu nghiệp từ địa ngục đến cõi trời Tha Hóa Tự Tại,
trong đó chịu báo gọi là nghiệp buộc cõi Dục. Từ cõi Phạm Vậy
đến cõi trời A-ca-ni-tra, trong đó chịu báo gọi là nghiệp buộc cõi
Sắc. Từ Hư Không Xứ đến Phi Hữu Tưởng Phi Vô Tưởng Xứ,
trong đó chịu báo gọi là nghiệp buộc cõi Vô sắc.
Hỏi : Nghiệp vô ký và nghiệp bất định báo, không ở trong 3
thứ nầy sao ?
Đáp : Nghiệp nầy và quả báo đều gọi là buộc ở cõi Dục. Bởi
vì sao ? Vì pháp nầy là nghiệp quả báo cõi Dục.
Hỏi : Pháp cõi Dục, không phải tất cả đều là nghiệp báo, cho
nên không phải ?
Đáp : Tất cả pháp ở cõi Dục đều là nghiệp báo buộc ở cõi
Dục.
Hỏi : Nếu vậy thì ngoại đạo tà luận cho rằng tất cả những sự
thụ khổ vui đều là nghiệp nhân duyên đời trước ? Lại nghiệp quả
báo đời trước là thiện, bất thiện có báo không có báo ? Lại công
phu tinh tiến là không có chỗ dùng ? Nếu đều là nghiệp báo lại
cần gì nhọc công ? Và nếu các phiền não và nghiệp đều là nghiệp
báo, thì không giải thoát được, vì nghiệp báo không thể hết ?
Đáp : Ông nói là ngoại đạo tà luận. Điều này không trúng.
Ngoại đạo nói : Khổ vui tốt xấu chỉ là nghiệp quả báo đời trước.
Vậy thì không cần nhờ nhân duyên hiện tại. Mà thật thấy muôn
vật từ hiện tại duyên sinh, như hạt giống chẳng hạn. Cho nên
không được nói tất cả đều từ nghiệp nhân duyên đời trước.
Lại do nhân do duyên muôn vật mới được sinh, như lấy hạt
giống làm nhân, đất, nước, thời gian, không gian v.v... làm duyên.
Nhãn thức lấy nghiệp làm nhân, nhãn sắc v.v... làm duyên.. Cho
nên không đồng với tà luận ngoại đạo. Ông nói nghiệp quả báo
đời trước. Điều này không đúng. Vì hiện thấy do quả mới có quả
khác nối nhau sinh, như do lúa sinh lúa. Như vậy do báo sinh báo,
đâu có lỗi gì ?
Thành Thật Luận Trang 249 Tuệ Quang Foundation
Lại như người ái nam, và sự dâm dục của loại chim sẻ, chim
uyên ương v.v..., sự giận dữ của loại rắn độc v.v..., phải biết đều
là nghiệp quả báo đời trước.
Hỏi : Nếu từ báo sinh báo, vậy là vô cùng ?
Đáp : Tôi nói 3 thứ nghiệp báo : Thiện, bất thiện và vô ký.
Từ thiện và bất thiện sinh báo vô ký không sinh, nên không phải
vô cùng. Như từ lúa sinh lúa, trong đó từ hạt giống sinh mộng,
không từ bắp v.v... sinh. Như vậy từ quả báo thiện và bất thiện
mới có quả báo khác sinh không từ vô ký báo mà sinh. Ông nói
không cần nhọc công lao. Nhưng tuy từ nghiệp sinh báo cũng cần
phải gia công sau mới thành. Như nhờ được nghiệp lúa mới có lúa
sinh, nhưng cần phải gieo trồng v.v... mới được thành. Ông nói
không có giải thoát. Điều này không đúng. Được chân trí là ác
nghiệp diệt hết, cũng như hạt giống đã rang cháy không còn sinh
được, nên không bị lỗi không giải thoát.
Lại các pháp có sinh ra đều lấy nghiệp làm gốc. Nếu không
có nghiệp làm gốc làm sao có thể sinh.
Lại vạn pháp sinh ra đều có định phần, như pháp nầy quyết
từ thân người nầy sinh, mà không ở thân các người khác. Nếu
không có nghiệp làm gốc, thì làm sao quyết định sự sai khác.
Hỏi : Nếu pháp chỉ từ nhân mà sinh, như từ đậu sinh đậu có
lỗi gì ?
Đáp : Điều này cũng lấy nghiệp làm gốc, vì nghiệp nhân
duyên được đậu, nên mới có từ đậu sinh đậu. Làm sao biết được ?
Là thời kỳ thượng cổ người ta tu hạnh thiện, nên lúa thóc tự sinh,
cho nên biết nghiệp là gốc mới có đậu sinh đậu.
Hỏi : Vậy thì chúng sinh số, vật, từ nghiệp đời trước mà sinh
?
Đáp : Không phải, chẳng phải chúng sinh số, vật cũng lấy
nghiệp làm gốc. Tất cả chúng sinh có quả báo cộng nghiệp, nghĩa
là được chỗ ở, nhờ nghiệp nhân duyên nên có đất v.v..., nhờ
Thành Thật Luận Trang 250 Tuệ Quang Foundation
nghiệp nhân duyên sáng nên có mặt trời mặt trăng v.v.... Nên phải
biết vật sinh ra đều lấy nghiệp làm gốc.
Hỏi : Nếu pháp sinh ra đều do nghiệp làm gốc thì hữu vi và
vô lậu là vậy nào ?
Đáp : Cũng lấy nghiệp làm gốc. Bởi vì sao ? Vì là đời trước
đều có nguyên do của sức bố thí, trì giới v.v..., cho nên cũng từ
nghiệp v.v... sinh.
Hỏi : Nếu pháp vô lậu cũng từ nghiệp sinh, thì đó cũng là
pháp bị ràng buộc. Vậy thì không được, vì lẽ trong kinh nói có thụ
pháp không bị buộc kia mà ?
Đáp : Pháp vô lậu lấy chân trí làm nhân, lấy nghiệp làm
duyên, vì sức lớn mạnh nên gọi là không buộc.
Hỏi : Nghiệp nào thụ quả báo cõi Dục ? Nghiệp nào thụ quả
báo cõi Sắc, và cõi Vô sắc ?
Đáp : Nếu ở trong 3 cõi Dục, Sắc, Vô sắc khởi 10 nghiệp bất
thiện, thì thụ quả báo cõi Dục.
Hỏi : Nếu ở trong cõi Sắc, Vô sắc cũng có thể khởi nghiệp
bất thiện chăng ?
Đáp : Trong đó có thể khởi nghiệp bất thiện. Như trong kinh
nói trong kia có tà kiến. Tà kiến không phải bất thiện sao ?
Hỏi : Trong đó tà kiến là vô ký không phải bất thiện ?
Đáp : Không phải vô ký. Làm sao biết được ? Vì trong kinh
Phật nói : Tà kiến là nhân khổ não. Người tà kiến khởi các nghiệp
thân, khẩu, ý. Mọi tạo tác đều là quả báo khổ. Như trái mướp
đắng, toàn tứ đại đều một vị đắng. Như cõi Dục tà kiến bất thiện;
cõi Sắc và Vô sắc cũng lấy tướng nầy nên cũng gọi là bất thiện, vì
tướng đồng nhau. Như Phạm chí Bà-già bảo các Phạm kia rằng :
Các ông đừng đến Sa-môn Cù-đàm sa môn, ta ở đây có thể độ
thoát cho các ông. Đó là khởi tâm khẩu bất thiện ở cõi Sắc.
Lại có các Phạm thiên ở cõi kia nạn hỏi Phật. Có các việc
như vậy. Lại người ở cõi Sắc, Vô sắc bảo đó là Nê-hoàn. Đến khi
Thành Thật Luận Trang 251 Tuệ Quang Foundation
mạng chung thấy ấm thân ở trong cõi Dục, cõi Sắc liền sinh tà
kiến cho rằng không có Nê-hoàn, nên bài báng Pháp vô thượng.
Làm sao không phải bất thiện ư ? Vì những điều này nên biết
trong đó có nghiệp bất thiện.
Hỏi : Nếu ở trong đó khởi nghiệp bất thiện, nghiệp nầy bị
buộc nơi nào ?
Đáp : Nghiệp bât thiện nầy thụ quả báo cõi Dục, nên buộc ở
cõi Dục. Nghiệp thiện có 3 bậc: thượng, trung, hạ. Nghiệp hạ chịu
quả báo cõi Dục; trung, chịu quả báo cõi Sắc; thượng chịu quả
báo cõi Vô sắc.
Lại có người nói nghiệp thiện chịu báo ở cõi Sắc là nhiếp
thuộc về Tứ thiền, chịu báo cõi Vô sắc là nhiếp thuộc về Tứ Vô
sắc định. Ngoài ra tâm tán loạn khởi nghiệp thì chịu quả báo ở cõi
Dục.
Hỏi : Vì sao trong đó khởi nghiệp thiện mà chịu quả báo cõi
Dục ?
Đáp : Như trong đây nhiếp tâm khởi nghiệp thiện, thì trong
kia chịu báo. Như vậy trong kia tâm tán loạn khởi nghiệp thiện,
thì trong đây chịu báo.
Lại như cõi Sắc, Vô sắc khởi nghiệp bất thiện thì ở trong cõi
Dục chịu báo. Nghiệp thiện trong kia cũng như vậy.
Hỏi : Nếu ở cõi Sắc, Vô sắc không thể khởi nghiệp thiện
buộc về cõi Dục ?
Đáp : Trong đó không có nhân duyên nầy. Nếu ở cõi Dục có
thể khởi nghiệp thiện cõi Sắc, Vô sắc, mà ở cõi Sắc, Vô sắc lại
không có thể khởi nghiệp thiện cõi Dục sao ?
Lại các ông nói ở trong cõi Sắc có thể sinh tâm vô ký cõi
Dục. Nếu có thể sinh tâm vô ký, Vì sao không thể sinh tâm thiện
ư ?
Lại trong kinh, Phật bảo Thủ Thiên tử rằng : Phải niệm trụ
tâm thụ thô tướng. Thô tướng tức là tâm buộc cõi Dục. Người nầy
Thành Thật Luận Trang 252 Tuệ Quang Foundation
tùy đem thiện tâm nghe pháp lễ Phật, đều là buộc tâm ở cõi Dục.
Nếu không như vậy không gọi thô tướng.
Lại trong đó nghĩ cầu tài phúc. Như nói : Vậy Tôn ! Tôi đối
với 3 việc không chán đủ nên trong đây mạng chung sinh về cõi
trời Vô Nhiệt. Nghĩa là chiêm bái Phật, nghe Pháp, và cúng dường
Tăng mà nghĩ cầu tài phúc là buộc tâm về cõi Dục.
Lại trong đây có người niệm Phật v.v... mà không cầu tài
phúc nên phải biết có thiện buộc về cõi Dục.
LUẬN THÀNH THẬT
CÒN NỮA
LUẬN THÀNH THẬT
( Quyển 8 )
Ha-lê-bạt-ma tạo luận
Cưu-ma-la-thập dịch
Nguyên Hồng dịch tiếng Việt
Phẩm 104 : Ba nghiệp báo
Hỏi : Trong kinh Phật nói 3 thứ nghiệp báo : Nghiệp hiện
báo, nghiệp sinh báo, nghiệp hậu báo. Vậy là vậy nào ?
Đáp : Nếu thân này gây nghiệp tức ngay thân này chịu, gọi là
hiện báo. Đời nầy gây nghiệp đời sau chịu báo, gọi là sinh báo.
Đời nầy gây nghiệp, qua các đời sau nữa mới chịu báo, gọi là hậu
báo, vì qua sau đời sau nên gọi là hậu.
Hỏi : Báo nghiệp thân trung ấm chịu ở chỗ nào ?
Đáp : Chịu ở 2 chỗ. Nghiệp trung ấm thứ tự chịu ở chỗ sinh
báo, vì sinh có sai khác gọi trung ấm; nên nghiệp các trung ấm
khác chịu ở chỗ hậu báo.
Hỏi : Ba thứ nghiệp này là báo quyết định hay đời quyết định
?
Đáp : Có người nói báo quyết định. Nghiệp hiện báo ắt hiện
chịu báo. Hai thứ kia cũng vậy.
Thành Thật Luận Trang 253 Tuệ Quang Foundation
Tuy có thuyết nầy, nhưng nghĩa ấy không đúng. Bởi vì sao ?
Vì nếu như vậy không chỉ ngũ nghịch gọi là định báo mà trong
Lục Túc A-tì-đàm cũng nói ngũ nghịch là định báo.
Lại trong kinh Giám Lượng cũng nói bất định. Có nghiệp
phải chịu quả báo địa ngục mà người nầy vì tu thân giới tâm tuệ
nên có thể chịu quả báo đời hiện này. Cho nên 3 thứ nghiệp phải
là đời quyết định, vì báo nghiệp hiện đời không nhất thiết hiện
đời này chịu. Nếu chịu thì nên hiện chịu chứ không phải các chỗ
khác. Hai thứ nghiệp kia cũng như vậy.
Hỏi : Những nghiệp gì có thể thụ hiện báo ?
Đáp : Có người nói nghiệp nhanh nhạy chịu hiện báo. Như
đối với Phật các vị Thánh nhân và cha mẹ v.v... mà khởi nghiệp
thiện, ác là hiện chịu ngay quả báo. Nếu nghiệp không nhạy mà
nặng thì đời sau chịu báo. Như ngũ nghịch v.v.... vừa nhạy vừa
nặng, thì sau đời sau mới chịu. Như nghiệp Vua Chuyển luân,
hoặc nghiệp Bồ-tát.
Lại có người nói 3 thứ nghiệp này tùy thuận được quả báo.
Nếu nghiệp nguyện đời nay thụ tức là hiện thụ. Như bà Mạt Lỵ
phu nhân đem phần ăn của mình cúng dường Phật, nguyện hiện
đời được làm phu nhân của vua. Hai nghiệp kia cũng như vậy.
Lại tùy nghiệp nào chín muồi thì thụ trước.
Hỏi : Nghiệp quá khứ sao gọi là chín muồi ?
Đáp : Đầy đủ tướng nặng, thì gọi là chín muồi.
Hỏi : Liệu có một niệm khởi nghiệp, một niệm kế thụ báo
không ?
Đáp : Không có. Lần lượt rồi mới thụ, như hạt giống lần lượt
sinh mầm. Nghiệp pháp cũng như vậy.
Hỏi : Như những người còn ở trong thai, khi ngủ mê, hoặc
điên cuồng v.v..., có thể tụ tập nghiệp không ?
Đáp : Những trường hợp như vậy, hễ có suy nghĩ tư duy thì
có thể tụ tập nghiệp, nhưng không đầy đủ.
Thành Thật Luận Trang 254 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Nếu lìa địa vị cõi Dục nầy có thể khởi nghiệp địa vị
này không ?
Đáp : Người có ngã tâm đều tụ tập nghiệp này, nếu lìa ngã
tâm thì không tụ tập lại.
Hỏi : A-la-hán cũng kính lễ tu phúc v.v..., nghiệp nầy Vì sao
không tụ tập ?
Đáp : Vì tâm chúng sinh nên các nghiệp mới nhóm. A-la-hán
không ngã tâm nên các nghiệp không nhóm.
Lại A-la-hán tâm vô lậu, mà người vô lậu tâm không nhóm
các nghiệp.
Lại trong kinh nói dứt nghiệp tội phúc gọi là A-la-hán.
Người nầy không tụ tập nghiệp tội phúc và nghiệp bất động, thụ
nghiệp cũ đã xong, nghiệp mới không tạo.
Hỏi : Học nhân có nhóm các nghiệp không ?
Đáp : Cũng không còn tụ tập. Bởi vì sao ? Kinh nói : Người
nầy phá tan các nghiệp, không nhóm, không chứa, diệt hết v.v....
Có luận sư nói : Học nhân này có ngã mạn, nên cũng nhóm các
nghiệp, nhưng nhờ sức của trí vô ngã, nên bất tất chịu báo.
Hỏi : Ba thứ nghiệp nầy ở cõi nào có thể tạo ?
Đáp : Tất cả chỗ trong 3 cõi đều tạo được.
Hỏi : Có hay không có nghiệp bất định ?
Đáp : Có. Nếu nghiệp hoặc hiện báo, hoặc sinh báo, hoặc hậu
báo, đó gọi là bất định. Nghiệp như vậy nhiều.
Hỏi : Nếu biết 3 thứ nghiệp nầy được lợi gì ?
Đáp : Nếu có thể phân biệt 3 thứ nghiệp nầy thì sinh chính
kiến. Bởi vì sao ? Vì hiện thấy có người làm ác mà hưởng giàu có
sung sướng. Người hiền thiện lại chịu khổ. Đối với việc như vậy
hoặc sinh tà kiến cho rằng thiện ác không có quả báo. Nếu biết 3
nghiệp nầy sai khác như vậy, thì sinh chính kiến. Như kệ nói :
Làm ác thấy vui,
Vì ác chưa chín.
Thành Thật Luận Trang 255 Tuệ Quang Foundation
Đến lúc ác chín,
Tự thấy chịu khổ.
Làm thiện thấy khổ,
Vì thiện chưa chín.
Đến khi thiện chín,
Tự thấy hưởng vui.
Lại kinh Phân Biệt Đại Nghiệp nói : Người không đoạn sát
được sinh lên trời, là vì nếu người nầy đời trước có phúc, nên khi
mạng chung phát thiện tâm mạnh mẽ, có thể biết như vậy tức sinh
chính kiến. Cho nên phải biết tướng 3 thứ nghiệp này.
Phẩm 105 : Ba thứ nghiệp thụ báo
Hỏi : Trong kinh Phật nói 3 thứ báo nghiệp: Báo vui, báo
khổ và báo nghiệp không khổ không vui. Thứ nào như vậy nào ?
Đáp : Nghiệp thiện được báo vui. Nghiệp bất thiện bị báo
khổ. Nghiệp bất động được báo không khổ không vui. nghiệp nầy
không nhất thiết quyết định chịu, nếu chịu thì chịu báo vui, không
phải khổ v.v.... Hai nghiệp kia cũng như vậy.
Hỏi : Các nghiệp nầy cũng được báo sắc, Vì sao chỉ nói thụ
thôi ?
Đáp : Trong các quả báo, thụ là vượt trội hơn hết. Thụ là thật
báo, sắc v.v... là như đồ dụng cụ.
Lại trong cảnh duyên nói thụ, như nói lửa khổ lửa vui; hoặc
trong nhân có quả, như người thí thực gọi là thí 5 thứ lợi. Cũng
như nói ăn tiền v.v....
Hỏi : Từ cõi Dục đến trong Tam thiền có được thụ quả báo
không khổ không vui ư ?
Đáp : Được thụ.
Hỏi : Do nghiệp báo nào ?
Đáp : Là nghiệp báo hạ thiện. Nghiệp thượng thiện thì thụ
báo vui.
Thành Thật Luận Trang 256 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Nếu như vậy, Vì sao nói trong đệ Tứ thiền và Vô sắc
định ư ?
Đáp : Kia là tự địa. Bởi vì sao ? Vì trong đó chỉ có một thứ
quả báo nầy mà không có thụ nào khác, vì là tịch diệt vậy.
Hỏi : Có người nói buồn không phải nghiệp báo. Việc ấy vậy
nào ?
Đáp : Vì sao không phải ?
Hỏi : Buồn chỉ do tưởng phân biệt sinh, nghiệp báo không
phải là tưởng phân biệt.
Lại nếu buồn là nghiệp báo thì nghiệp báo nhẹ, nên không
phải báo.
Lại buồn nầy khi lìa dục là dứt, mà nghiệp báo khi lìa dục
không dứt. Cho nên biết buồn không phải nghiệp báo ?
Đáp : Ông nói buồn do tưởng phân biệt sinh nên không phải
báo, thì vui cũng là nghiệp báo. Vui nầy có 2 thứ : một là vui, hai
là mừng. Mà vui mừng cũng do tưởng phân biệt sinh, lẽ ra không
nên gọi là báo sao ? Ông nói nghiệp báo thì nhẹ. Buồn nầy nặng
hơn khổ. Bởi vì sao ? Vì buồn là người ngu, những người có trí
không buồn, cho nên khó trừ, cũng có thể sinh phiền não sâu đậm.
Lại trong Tứ Bách Quán nói : Tiểu nhân thân khổ, quân tử
tâm ưu.
Lại buồn lo nầy cần phải đem trí mới dứt được, thân khổ vui
cũng có thể trừ được.
Lại buồn có thể sinh khổ não trong 3 đời, như nói ta trước
khổ, nay khổ mai sau sẽ khổ.
Lại buồn là chỗ trú của các phiền não. Như trong kinh nói là
chỗ ở của phiền não. Nên nói 18 thứ ý hành, bởi trong 5 thức
không sinh phiền não.
Lại trong kinh nói buồn là 2 mũi tên, vì chịu khổ 2 lần, như
người bị 2 mũi tên đâm vào một chỗ thì chịu khổ gấp đôi. Như
Thành Thật Luận Trang 257 Tuệ Quang Foundation
vậy người ngu bị khổ bức bách lại càng thêm buồn lo, nên thân
tâm khổ não lắm hơn khổ thông thường.
Lại người ngu thường buồn lo. Bởi vì sao ? Vì người ấy trái
lìa ân ái, gặp gỡ oán ghét, tìm cầu không được v.v..., nên thường
lo buồn khổ não.
Lại buồn nầy do 2 nhân sinh : một là do hỷ sinh, hai là do ưu
sinh. Như mất vật mình yêu là do hỷ sinh, như trong kinh nói :
Phật hỏi vua Ba-tư-nặc rằng : Ông yêu nước Ca-thi-kiều-tát-la
không ?
Lại nói : Chư Thiên vui sắc, tham sắc, sắc nầy nếu hoại, thì
sinh buồn khổ. Đó là hỷ sinh.
Do ưu sinh là do việc ghét mà sinh, cũng do ganh ghét v.v...
sinh. Người chưa lìa dục ganh ghét v.v... các thứ kết thường não
hại nơi tâm. Như nói thiên nhân nhiều kết xan tham tật đố.
Lại nhiều chúng sinh bởi chọc tức người khác nên bị quả báo
buồn khổ, như nói tùy trồng giống sinh quả, cho nên biết buồn là
nghiệp báo. Ông nói khi lìa dục thì dứt nên không phải báo. Điều
này không đúng. Tu-đà-hoàn chưa ly dục cũng dứt được báo địa
ngục v.v.... Có thể cho các báo địa ngục là không phải quả báo sao
? Cho nên không thể cho ly dục dứt, mà liền gọi là không phải
quả báo.
Hỏi : Báo nghiệp không khổ không vui, gọi là bất động.
Nghiệp nầy là thiện, lẽ ra phải thụ báo vui, sao lại thụ báo không
khổ không vui ?
Đáp : Thụ nầy bất động nên thật vui. Vì tịch diệt nên gọi
không khổ không vui.
Lại trong kinh nói : Trong lạc thụ tham sai khiến. Trong đó
lòng tham ở trong thụ kia sai khiến nên biết là vui.
Phẩm 106 : Ba chướng
Thành Thật Luận Trang 258 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Trong kinh nói 3 chướng: Nghiệp chướng, phiền não
chướng, báo chướng. Thứ nào như vậy nào ?
Đáp : Nếu các nghiệp phiền não và báo, có thể chướng ngại
đạo giải thoát, thì gọi là chướng.
Hỏi : Có thể chướng pháp gì ?
Đáp : Tu thiện thí, giới hồi hướng 3 cõi, đây thường hay
chướng đạo.
Lại cũng là chướng báo nghiệp quyết định chịu. Như trong
kinh nói : Nếu người nầy quyết định nhóm chịu báo nghiệp, thì
không vào chính vị. Đó gọi là nghiệp chướng.
Lại nếu người phiền não sâu dày thường ở nơi tâm tăng
thượng một cách nhanh chóng, đó là phiền não chướng.
Lại như người phiền não không trừ khiển được, như dục tâm
của những người ái nam v.v..., cũng gọi là phiền não chướng.
Lại ở chỗ do tội ác sinh như địa ngục v.v..., và tùy những chỗ
sinh không thể tu đạo, đều gọi là báo chướng.
Hỏi : Có người trước không hiểu rõ đối tượng, không biết
người ấy là người thiện, nên không bố thí, vì nghĩ rằng người kia
nếu ta thí sẽ được điều kiện gây các việc ác, thì ta có phần trách
nhiệm. Như Phạm Chí v.v... người xuất gia. Cho nên các người
xuất gia, không nên bố thí vì nghiệp mới trói buộc chướng ngại
giải thoát ?
Đáp : Không phải vậy. Vì người khác tạo tội phúc với ta
không can hệ. Bởi vì sao ? Vì trong nhân duyên tội phúc có nhiều
tội lỗi. Bởi vì sao ? Như chúng sinh là nhân duyên sát, nếu không
chúng sinh làm sao có sát ? Vậy thì người chết lẽ ra phải có tội.
Lại như người giàu là nhân duyên của trộm cắp. Sắc đẹp là
nhân duyên của tà dâm. Người khác là nhân duyên của nói dối
v.v.... Ngụy xưng v.v... là nhân duyên của lường gạt. Người mua
lẽ ra cũng có tội ?
Thành Thật Luận Trang 259 Tuệ Quang Foundation
Lại người nhận làm nhân duyên của người thí, lẽ ra cũng
được phúc. Như người đào giếng đào ao v.v..., người dùng nước
lẽ ra đều được phúc ? Như vậy thì tự mình không cần làm phúc
đức. Mà thật không phải vậy. Cho nên trong nhân duyên không
nên có tội phúc.
Lại phúc phần của người nhận lẽ ra phải tiêu hết, thì người
ấy không nên theo người khác mà thụ thí. Bởi vì sao ? Vì đem
phần phúc đức của mình mà đổi lấy đồ uống ăn.
Lại người thí phải nhiều tội mà ít phúc. Bởi vì sao ? Vì đâu
có bao nhiêu người Bà-la-môn hay làm thiện. Phần nhiều đem tâm
3 độc vẩn đục chìm-đắm trong 5 dục, không siêng tu hành. Cho
nên người thí lẽ ra phải tội nhiều mà phúc ít.
Lại các Phạm Chí v.v... tự xưng là người thiện tu hành pháp
thiện. Mà sự thật những người ấy không thể nhiếp tâm chính quán
các pháp thiền định. Nếu lìa thiền định, thì khó điều phục tâm.
Cho nên người thí cho người chưa lìa dục lẽ ra phải bị tội nhiều ?
Lại như người cúng dường cha mẹ, cung cấp cho vợ con,
thân bằng quyến thuộc bè bạn đều phải bị tội, thì không có người
được phúc phần. Mà thật không phải vậy. Cho nên tội phúc không
ở trong nhân duyên.
Lại pháp trì giới v.v... cũng lợi cho người khác, vì người này
không sát sinh nên thí mạng sống cho tất cả, thì người trì giới bị
phần đại tội ? Vì không sát nên đối tượng được sống lâu làm các
điều ác, vậy lẽ ra người trì giới phải chịu một phần, như vậy thì
người cầu phúc nên sát sinh, chứ không nên trì giới ?
Lại như người thuyết pháp khiến cho người khác tu phúc,
nhờ nhân duyên tu phúc về sau được giàu sang; giàu sang thì kiêu
ngạo, phóng dật, kiêu ngạo phóng dật thì gây các việc ác; các ác
nầy người thuyết pháp đều phải có phần trách nhiệm ?
Lại nhân duyên thí khiến người khác giàu, vì nhân duyên
giàu gây làm các tội, vậy người thí cũng phải chịu một phần. Vậy
Thành Thật Luận Trang 260 Tuệ Quang Foundation
thì Phạm Chí không nên nhận thí, cũng không nên thí cho ai. Mà
nay Phạm Chí chỉ nhận thí mà không thí nên biết đó là tà đạo.
Lại như các vị vua đúng như pháp trị dân cũng phải có tội ?
Lại như con làm tội, cha mẹ phải có phần trách nhiệm, vậy
thì lẽ ra không nên sinh con ?
Lại như thầy thuốc giỏi chữa lành bệnh lẽ ra cũng phải tội, vì
người được sống sẽ làm nhiều tội lỗi.
Lại trời mưa đúng thời vụ, nuôi lớn ngũ cốc lẽ ra trời cũng
đắc tội, vì cứu sống và nuôi nhiều chúng sinh ác.
Lại người thí cho ăn lẽ ra cũng bị tội, vì người ăn nếu không
tiêu thức ăn khiến đến chết, và những người chưa lìa dục vì đắm
say thực vị, nên người thí lẽ ra cũng bị tội. Vậy thì người thí
thường phải buộc người nhận lập lời thề rằng : Nay ăn thức ăn của
ông, quyết sẽ không làm ác, rồi sau mới thí cho. Nếu không làm
vậy thì người thí mất hết cả hai.
Hỏi : Trong kinh cũng nói : Nếu Tì-kheo ăn cơm của thí chủ,
mặc áo của thí chủ, nhập vô lượng thiền định, nhờ nhân duyên
nầy nên thí chủ ấy được phúc vô lượng. Nếu nhờ nhân duyên nầy
mà được phúc ấy, thì sao lại không bị tội ?
Đáp : Nếu Tì-kheo ăn cơm của thí chủ, mặc áo của thí chủ,
nhập vô lượng thiền định, là phúc bố thí của thí chủ tự được tăng
trưởng, chứ không được phúc thiền định. Như ruộng tốt nên thu
hoạch nhiều, ruộng xấu thì thu hoạch ít. Như vậy ruộng phúc tốt
thì quả báo thí phúc nhiều, mà phúc điền xấu thì phúc ít, chứ
không phải do người nhận làm phúc làm tội mà người thí chịu ảnh
hưởng. Cho nên không bởi nhân duyên tội phúc mà bị tội hay
được phúc. Người kia tuy là nhân duyên, mà tội phúc phải do tự
mình khởi 3 nghiệp.
Hỏi : Người chưa lìa dục tâm không tự tại, ắt có tham đắm,
nên người xuất gia không nên tu thí ?
Thành Thật Luận Trang 261 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Nếu như vậy thì người xuất gia trì giới v.v... đều có
phúc đức, điều đó cũng nên bỏ, mà thật ra là không thể. Cho nên
bố thí cũng không nên bỏ, nhưng đừng hồi hướng 3 cõi mà phải vì
Nê-hoàn.
Lại chỉ nên xa lìa phiền não các nghiệp bất thiện. Bởi vì sao
? Vì các nghiệp nầy, trong nhân còn có thể đề phòng, mà đến khi
thành quả thì không thể làm gì hơn được ! Cho nên chư Phật
thường trong khi nhân nói pháp giáo hóa, không phải như Vua
Diêm Vương đến khi quả mới giáo hóa bằng quở trách.
Hỏi : Trong 3 nghiệp chướng nầy thứ nào nặng hơn ?
Đáp : Có người nói báo chướng nặng hơn, vì không giáo hóa
được. Có người nói bởi tùy người nên tất cả đều nặng.
Hỏi : Thứ nào có thể chuyển được ?
Đáp : Đều có thể khiến diệt được. Nếu có chuyển, thì đã
không gọi là chướng.
Phẩm 107 : Bốn nghiệp
Hỏi : Trong kinh Phật nói 4 thứ nghiệp : Báo nghiệp đen đen,
báo nghiệp trắng trắng, báo nghiệp đen trắng đen trắng, và không
báo nghiệp không đen không trắng vì đã diệt hết nghiệp. Thứ nào
như vậy nào ?
Đáp : Nghiệp báo đen đen là tùy theo nghiệp nào đó sinh về
nơi khổ não như địa ngục A-tì và các chỗ khổ não khác không báo
thiện, như súc sinh ngạ quỷ một phần ít. Trái nhau với đây, tức
nghiệp thứ hai. Tùy theo nghiệp nào đó sinh về nơi không khổ
não, như 2 cõi Sắc, Vô sắc và cõi Dục, người trời một phần ít, đen
trắng lẫn lộn, tức nghiệp thứ ba. Tùy theo nghiệp nào đó sinh về
nơi khổ não không khổ não, như địa ngục súc sinh ngạ quỷ người
trời một phần ít. Nghiệp thứ tư là vô lậu vì có khả năng diệt hết 3
nghiệp. Nếu nghiệp 2 đời bị quở trách là đời nay quở trách, đời
Thành Thật Luận Trang 262 Tuệ Quang Foundation
sau quở trách, là người bị tội đọa ở nơi tối đen, không có tiếng
tăm, nên gọi là đen.
Lại 2 đời khổ não là đời nay khổ, đời sau khổ nên gọi là đen.
Hỏi : Nghiệp nầy thứ nào có thể sinh về nơi hoàn toàn khổ
não ?
Đáp : Tâm nối nhau làm ác, không chút ăn năn, không có
điều thiện có thể tiêu diệt nghiệp ác, đó là có thể sinh nơi hoàn
toàn khổ não.
Lại đem tâm tà kiến gây các ác. Lại đối với người quan trọng
mà gây ác, như cha mẹ và các người thiện. Lại đối vói chúng sinh
làm ác không chút xót thương, như giết chúng sinh, hoặc cướp hết
của cải, hoặc nhốt nơi lao ngục mà lại không cho ăn, hoặc đánh
khảo nặng nề khiến không còn chút vui. Các nghiệp như vậy sinh
về nơi hoàn toàn khổ.
Nghiệp báo trắng trắng là như người thuần tụ tập các thiện,
không có gì bất thiện. Vậy lực 2 nghiệp này to lớn nhất, các
nghiệp khác không hơn được. Như khi chịu nghiệp báo đen thì
không dung nghiệp báo trắng, khi chịu nghiệp báo trắng thì không
dung nghiệp báo đen. Bởi vì sao ? Vì tất cả chúng sinh đều tụ tập
thiện, bất thiện, nghiệp lực chướng ngại nhau, nên không được
đồng chịu cùng lúc. Như 2 người cùng kéo giành một vật ai mạnh
lôi đi trước. Nghiệp thứ 3 báo yếu ớt, vì thiện, bất thiện lẫn lộn
cho nên chịu báo cùng thay nhau thắng hơn.
Hỏi: Có người nói nếu nghiệp bất thiện chịu báo ác đạo, đó
là nghiệp đầu tiên. Thiện buộc ở cõi Sắc, là nghiệp thứ hai. Trong
cõi Dục buộc người trời chịu nghiệp báo lẫn lộn, đó là nghiệp thứ
ba. Trong vô ngại đạo, 17 bậc học tư, là nghiệp thứ tư. Nghĩa này
như vậy nào ?
Đáp : Phật tự nói tướng các nghiệp nầy. Nghĩa là nếu người
khởi gây tội nơi thân khẩu ý, thì sinh về nơi khổ não, thân chịu
khổ não, và chịu lấy các thứ phải chịu đều không như ý muốn.
Thành Thật Luận Trang 263 Tuệ Quang Foundation
Cho nên tùy khiến chúng sinh về nơi hoàn toàn khổ, đó là nghiệp
đầu tiên. Cõi Sắc và Vô sắc thì hoàn toàn hưởng lạc. Trời người
cõi Dục cũng có người hoàn toàn hưởng lạc, như trong kinh nói :
Có người vui cũng có 6 thứ xúc, người trời cảm giác các thứ trần,
không gì không được tùy ý. Đó là nghiệp thứ hai. Gây nghiệp đen
trắng lẫn lộn, là nghiệp thứ ba. Tất cả nghiệp vô lậu là hết các
nghiệp, vì trái nhau, chứ không phải chỉ 17 bậc học tư gọi là
nghiệp thứ tư.
Hỏi : Vô lậu thật trắng, sao gọi là không trắng ?
Đáp : Tướng trắng nầy khác không giống trắng của nghiệp
thứ hai. Trắng nầy vượt trội hơn cả, vì không đối đãi nhau. Như
nói vị Chuyển Luân Thánh Vương thành tựu thanh tịnh quá hơn
mắt người trời. Thật mắt người nầy hơn các người khác nên gọi là
hơn người. Nghiệp nầy cũng vậy, hơn các nghiệp trắng khác nên
nói không trắng.
Lại có người nói : Lẽ ra phải nói là nghiệp báo không phải
đen trắng, vậy thì không lỗi.
Lại Nê-hoàn không là không phải trắng. Cho nên nghiệp nầy
phải gọi là không phải trắng.
Lại cũng phải nói không phải trắng không phải đen. Bởi vì
sao ? Vì Nê-hoàn là vô pháp. Nghiệp nầy là Nê-hoàn nên gọi
không đen không trắng.
Lại người đời quí trọng nghiệp thiện hữu lậu, nên gọi là
trắng. Và nghiệp thứ tư có thể bỏ nghiệp nầy, nên gọi không
trắng.
Lại nghiệp nầy không có tướng đen nên cũng không thể có
tướng trắng được.
Lại báo trắng nên nghiệp gọi cũng trắng. Nghiệp nầy không
báo nên không gọi trắng.
Phẩm 108 : Ngũ nghịch
Thành Thật Luận Trang 264 Tuệ Quang Foundation
Thân kế sau chịu quả báo nên gọi không gián đoạn. Nếu đời
hiện nầy chịu thì khổ não nhẹ, báo ít; vì nghiệp ấy nặng, nên theo
thứ lớp mau đọa vào địa ngục A-tì.
Ngũ nghịch là bởi phúc điền đức trọng, nên gọi là nghịch. Đó
là ác tâm phá Tăng, làm thân Phật chảy máu, giết A-la-hán, giết
cha mẹ. Vì không biết ơn dưỡng dục, nên gọi là nghịch. Nghịch
tội nầy chỉ trong đạo làm người có thể sinh khởi, không phải trong
các đạo khác, vì người có phân biệt hiểu biết.
Hỏi : Giết Thánh nhân khác có bị tội nghịch không ?
Đáp : Người giết Thánh nhân phần nhiều đọa địa ngục, nếu
giết A-la-hán chắc chắn phải đọa địa ngục. Nếu người đánh Phật
mà không chảy máu cũng bị trọng tội, vì cố tâm muốn hại Vậy
Tôn.
Hỏi : Nếu người gây một nghịch tội thì đọa địa ngục, hoặc
gây 2, 3, cũng nơi một thân đều chịu báo chăng ?
Đáp : Vì tội nầy nhiều nên chịu khổ nặng lâu. Ở trong đó
chết rồi lại sống lại trong đó.
Hỏi : Trong tội phá Tăng vì sao nặng ?
Đáp : Nếu phi pháp biết là phi pháp, pháp biết là pháp, với
tâm như vậy mà làm thì gọi là nặng. Nếu phi pháp bảo là pháp,
pháp bảo là phi pháp, là không như trước.
Lại như người ở chỗ Phật mà phá Tăng, tự xưng Đại sư đáng
cao cả trong trời người, đó cũng là nặng.
Hỏi : Nếu không phải Thánh nhân, phàm phu có thể phá sao
gọi trọng tội ?
Đáp : Vì chướng ngại chính pháp nên gọi trọng tội.
Hỏi : Pháp phá Tăng là bao lâu ?
Đáp : Pháp không trụ lâu, không trải qua một đêm. Trong đó,
các Phạm Vương, chư thiên, các đại đệ tử như Xá-lợi-phất v.v...,
liền hòa hợp trở lại. Có người nói 5 trăm vị Tì-kheo nầy, đời trước
Thành Thật Luận Trang 265 Tuệ Quang Foundation
vì nhân duyên ngăn thiện căn đắc đạo của người khác nên nay bị
quả báo nầy.
Lại nhân tâm phàm phu vội vã nên dễ có thể phá hoại, như
chỉ chứng được tâm không, vô ngã vậy gian còn không thể phá
được, huống chi bậc vô lậu ! Vì ác dục ở trong tâm, nên mới gây
nhân duyên phá Tăng. Cho nên người cầu phúc cần phải bỏ ác
dục.
Phẩm 109 : Năm giới
Phật nói Ưu-bà-tắc có 5 giới.
Hỏi : Có người nói thụ đầy đủ thì được giới luật nghi. Việc
ấy vậy nào ?
Đáp : Tùy thụ nhiều ít đều được luật nghi. Nhưng chỉ cần lấy
có 5.
Hỏi : Lìa trói buộc v.v... vì sao không gọi là giới, mà chỉ nói
bất sát v.v... ?
Đáp : Vì là bà con quyến thuộc.
Hỏi: Vì sao không nói đoạn dâm, mà chỉ nói không tà dâm ?
Đáp : Vì người còn ở vậy tục khó thường lìa bỏ. Lại như tự
dâm vợ mình không nhất thiết đọa các ác thú. Như Tu-đà-hoàn
v.v... cũng còn hành pháp nầy. Cho nên không nói hoàn toàn dứt
dâm dục.
Hỏi : Lìa 2 lưỡi v.v..., vì sao không gọi là giới?
Đáp : Việc nầy vi tế, khó giữ gìn được. Lại 2 lưỡi v.v... là
một phần của nói dối, nếu nói “nói dối” là đã nói chung tất cả.
Hỏi : Uống rượu là thật tội sao ?
Đáp : Không phải. Bởi vì sao ? Vì uống rượu không làm não
hại chúng sinh, chỉ làm nhân sinh tội. Nếu người uống rượu thì
mở cửa bất thiện. Cho nên, nếu dạy uống rượu thì đắc tội một
phần, vì có thể chướng ngại thiền định và các thiện pháp. Như
Thành Thật Luận Trang 266 Tuệ Quang Foundation
trồng cây ăn trái, ắt phải làm rào ngăn. Như vậy 4 pháp kia là thật
tội, lìa là thật phúc.Vì để bảo vệ nên mới kết giới rượu nầy.
Phẩm 110 : Sáu nghiệp
Nghiệp có 6 thứ. Nghiệp báo địa ngục, nghiệp báo súc sinh,
nghiệp báo ngạ quỷ, nghiệp báo làm người, nghiệp báo sinh về cõi
trời và nghiệp báo bất định.
Hỏi : Thứ nào như vậy nào ?
Đáp : Nghiệp báo địa ngục là như trong phần Lâu thán của
bộ Lục Túc A-tì-đàm có nói rộng.
Lại tội sát sinh v.v... đều là địa ngục. Như trong kinh nói
người ưa sát sinh, sinh trong địa ngục; nếu được làm người thì
chịu quả báo chết yểu. Cho đến tà kiến cũng như vậy.
Hỏi : Đã biết 10 bất thiện đạo chịu báo địa ngục và cũng sinh
trong súc sinh, ngạ quỉ và loài người, mà ông chỉ nói sinh trong
địa ngục và loài người. Nay phải nói riêng nghiệp nào chỉ chịu
báo địa ngục ?
Đáp : Tức tội nghiệp nầy, rất nặng là chịu báo địa ngục, nhỏ
nhẹ chịu báo súc sinh v.v....
Lại nếu đầy đủ 3 thứ tà hành tức là địa ngục, còn các nghiệp
khác không đầy đủ thì làm súc sinh v.v....
Lại cố ý gây trọng tội là địa ngục.
Lại người phá giới phá kiến, gây các ác nghiệp tức là địa
ngục.
Lại thâm tâm làm ác, tâm hoại, hành hoại, người nầy gây ác
nghiệp tức là địa ngục.
Lại gây nghiệp bất thiện vì giúp bất thiện là địa ngục.
Lại như đối với hiền thánh tạo nghiệp bất thiện là địa ngục.
Lại khởi nghiệp bất thiện, rồi tu nhóm bất thiện, về sau ngợi
khen khoái lạc không muốn bỏ lìa, là địa ngục.
Thành Thật Luận Trang 267 Tuệ Quang Foundation
Lại đem tâm ghét giận để gây tội nghiệp, thì là địa ngục. Nếu
vì của cải thì còn chịu báo thừa nữa.
Lại đem tâm tà kiến khởi nghiệp bất thiện, là địa ngục.
Lại người phá giới gây ra tội nghiệp, là địa ngục.
Lại người không hổ thẹn gây ra tội nghiệp, là địa ngục.
Lại người ác tính gây ra tội nghiệp, là địa ngục, ví như đất
ướt mưa ít cũng thành bùn.
Lại người thường làm bất thiện gây ra ác nghiệp, là địa ngục.
Lại nếu không duyên cớ cấp nạn mà gây ác nghiệp là địa
ngục.
Lại nếu người không được chút ít không vô ngã, vì nhiễm
đắm sâu đậm gây tội nghiệp là địa ngục.
Lại nếu người không tu thân giới tâm tuệ, gây ra ác nghiệp,
là địa ngục.
Lại nếu người phàm phu gây ra tội nghiệp là địa ngục. Bởi vì
sao ? Vì người nầy không biết các pháp; ấm, giới, các nhập và 12
nhân duyên v.v..., vì không biết nên làm việc không nên làm,
không làm việc nên làm, nói lời không nên nói, không nói lời nên
nói, nghĩ điều không nên nghĩ, không nghĩ điều nên nghĩ. Người
nầy gây ra tội nghiệp tuy ít nhưng cũng là địa ngục.
Lại nếu không thấy lỗi trong bất thiện, thì người nầy có thể
khởi tội nghiệp nặng, chịu quả báo địa ngục.
Lại nếu người làm tội mà không nương nơi thiện, tức là địa
ngục, như người mắc nợ không nương cậy vua, thì chủ nợ dễ đòi.
Lại nếu người nghiệp thiện yếu ớt gây ra tội ít cũng là địa
ngục, như trong thân người nhiệt lực kém ít, ăn phải thứ ăn khó
tiêu, thì không tiêu được.
Lại nếu người chỉ làm bất thiện, không xen chút thiện
nghiệp, tức là địa ngục. Như người làm giặc, nặng nhẹ đều bị trói.
Lại nếu lìa bỏ tất cả thiện căn, như khi voi chiến ra trận
không giữ tiếc cái đầu, người ấy gây tội tức là địa ngục.
Thành Thật Luận Trang 268 Tuệ Quang Foundation
Lại nếu hành tiểu pháp, thụ học tiểu sư, người ấy tạo tội tức
là địa ngục. Như người nghèo hèn mắc nợ, bị người giàu lôi kéo.
Lại nếu người thường trưởng dưỡng bất thiện, như mắc nợ
ngày một sinh lời. Như hành nghiệp của những người hàng thịt,
thợ săn v.v..., là địa ngục.
Lại nếu che giấu tội lỗi, tức là địa ngục, như mụt nhọt chảy
mủ.
Lại nếu người bất thiện ở lâu trong tâm, không thể mau dứt,
tức là địa ngục. Như bị trị độc liền có thể giết người.
Lại như người tự làm bất thiện, cũng đem dạy người khác, vì
mở nhiều cửa đau khổ cho chúng sinh, tức là địa ngục. Như các
quốc vương và nhiều người tri thức làm ác tà hạnh khiến nhiều
người học theo, như bọn Phú-lan-na v.v....
Lại nếu gây ra nghiệp hại nhiều chúng sinh, như đốt rừng
v.v..., lại dạy nhiều người khác, khiến sa vào phi pháp, như làm
thợ săn v.v..., lLại nếu người dùng ác nghiệp làm nghề sinh sống,
như làm đầu sỏ đảng giặc cướp, thợ thịt, thợ săn v.v..., lại người
rốt ráo phá giới gây tạo tội nghiệp, tức là địa ngục. Đến chết
không bỏ nên gọi là rốt ráo. Như kệ nói :
Người rốt ráo phá giới
Như dây mây quấn cây.
Tự khiến oán toại nguyện,
Lại vô cớ mà giận.
Lại vô cớ mà nổi giận dữ, vì tâm giận dữ này mà gây tội
nghiệp tức là địa ngục. Nếu có cớ sự mà giận thì tội không đến
như vậy.
Lại vì giận khởi nghiệp là kết nặng, tức là địa ngục. Như
trong kinh nói : Giận là tội nặng mà dễ trừ diệt.
Lại nếu ác tâm thành tính, tức là địa ngục. Nếu vì nhân
duyên mà khởi tội nghiệp thì yếu nhẹ.
Thành Thật Luận Trang 269 Tuệ Quang Foundation
Lại như người phóng túng tạo các ác nghiệp, tức là địa ngục.
Nếu được bạn tri thức ủng hộ thì được sinh lên trời. Như chủ hàng
thịt tên Tá-bà khi sắp lâm chung được Xá-lợi-phất đến tại chỗ,
người ấy liền đưa mắt dữ tợn nhìn Xá-lợi-phất, mà không thể làm
gì được, liền hô lên : Lại đây một chút. Rồi thở dài và thấy sắc
hào quang của Xá-lợi-phất rực rỡ, bền nảy ý nghĩ rằng : Người
này hơn ta, không thể giết. Liền đem tịnh tâm nhìn lên nhìn xuống
Xá-lợi-phất 7 lần như vậy. Nhờ nhân duyên ấy mà được 7 phen
sinh lên trời, bảy phen sinh trong loài người. Về sau tu chứng
được quả Bích-chi-phật.
Lại như Ương-quật-ma-la đã gây nhiều tội nghiệp còn muốn
toan giết mẹ, vì nhờ Phật là vị thiện tri thức, nên liền được giải
thoát.
Lại như người thí việc dùng hầm lửa, cơm độc, muốn Phật
trúng độc và hại Phật. Phật là vị thiện tri thức, nên cũng được giải
thoát. Những người như vậy tuy có ác nghiệp mà không đọa địa
ngục, cho nên mới nói: Nếu người phóng túng tạo các ác nghiệp,
tức là địa ngục.
Lại nếu dứt mất thiện căn không còn chữa được, như Điềuđạt
v.v..., giống như bệnh nhân tướng chết đã hiện, người ấy tạo
tội, tức là địa ngục.
Lại nếu người không thường làm thiện, đến khi mạng sắp
chết thiện tâm khó sinh, người này tâm ăn năn nên đọa địa ngục.
Lại nếu đến khi chết khởi tâm tà kiến, người này bởi trước
lấy bất thiện làm nhân, tà kiến làm duyên, nên đọa địa ngục. Như
vậy có nhiều các nghiệp quả báo địa ngục.
Lại có luận sư nói : Tất cả bất thiện đều là nhân duyên địa
ngục. Ngoài ra dư báo bất thiện sinh trong các loài súc sinh v.v…
Như trong kinh nói : Phật bảo Tì-kheo rằng : Các ông đã thấy
chúng sinh thân tà hành, khẩu tà hành, ý tà hành. Phải biết đó là
thấy người trong địa ngục.
Thành Thật Luận Trang 270 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Đã biết báo nghiệp địa ngục. Còn báo nghiệp súc sinh
là vậy nào ?
Đáp : Nếu người thiện không thuần, khởi nghiệp bât thiện,
nên đọa súc sinh.
Lại kết sử bùng phát mạnh nên đọa súc sinh. Như dâm dục
thịnh nên sinh trong loại chim sẻ, chim cù dục, uyên ương v.v...,
giận dữ thịnh nên sinh trong loại rắn, rết, bò cạp loài có nọc độc
v.v..., ngu si thịnh nên sinh trong loài heo dê v.v..., kiêu ngạo
thịnh nên sinh trong loài sư tử, cọp, sói v.v..., hiếu động thịnh nên
sinh trong loài vượn khỉ v.v..., ganh ghét v.v...thịnh nên sinh trong
loài chó v.v.... Như vậy, các loại phiền não khác thịnh, nên sinh
trong nhiều loài súc sinh khác. Nếu người có chút phần bố thí, tuy
sinh trong súc sinh cũng được hưởng vui, như loài chim cánh
vàng, rồng, voi ngựa v.v....
Lại khẩu nghiệp báo, phần nhiều đọa súc sinh, như người
không biết, không tin nghiệp quả báo, nên khởi các thứ khẩu
nghiệp. Như nói : Người ấy hiếu động như vượn khỉ thì sinh trong
loài vượn khỉ, như nói tham ăn như quạ, nói như chó sủa, hãi như
heo dê, tiếng như lừa kêu, đi như lạc đà, tự cao như voi, hung dữ
như trâu hoang, dâm như chim sẻ, sợ như chồn mèo, nịnh hót như
dã can, hung tợn như dê đen, nhiều như lông bò. Sinh khởi ác
khẩu nghiệp như vậy v.v..., nên phải theo nghiệp mà chịu quả báo.
Lại chúng sinh vì ham muốn nên phát nhiều thứ nguyện ước,
như ham muốn dâm dục thì sinh trong loài chim sẻ v.v.... Nếu
nghe các loài rồng, chim cánh vàng v.v... có vậy lực, nên muốn
sinh trong các loài ấy.
Lại như trong kinh nói : Nếu chết ở chỗ chật hẹp, nguyện
được ở chỗ rộng rãi, thì sinh trong loài chim. Nếu chết vì khát,
cầu nước nên sinh trong loài ở nước, chết vì đói, tham ăn nên sinh
trong nhà xí v.v....
Thành Thật Luận Trang 271 Tuệ Quang Foundation
Lại từ ngu si khởi nghiệp nhẹ yếu, vì thiện lẫn lộn, nên sinh
trong các loài bọ chét, rận, rệp, trùng, kiến v.v....
Lại nếu dạy người khác khiến đọa trong tà pháp thì sinh chỗ
không trí, mù bẩm sinh, mù suốt đời, sinh làm côn trùng trong
thây chết.
Lại gây nghiệp lẫn lộn, nên sinh trong súc sinh. Như trong
kinh nói : Các súc sinh tùy nhiều thứ tâm, được nhiều thứ hình.
Lại nếu khởi nghiệp phải ăn cỏ, như người vọng ngữ, tự trù
ẻo thề rằng : Nếu ăn thứ ăn nầy khiến ta ăn cỏ, hoặc nói ta ăn đất
v.v....
Lại nếu người ác khẩu mắng rằng : Sao ngươi không ăn cỏ,
ăn đất cho rồi ! Người ấy tùy theo lời nói mà thụ sinh ăn cỏ ăn đất
v.v....
Lại người tu bất tịnh thí, thì bị quả báo ăn cỏ v.v....
Lại nếu người mắc nợ không trả đọa trong các loài bò, dê,
cheo, nai, lừa, ngựa v.v... để đền nợ xưa. Các nghiệp như vậy
v.v... đọa trong súc sinh.
Hỏi : Đã biết báo nghiệp trong súc sinh, còn nghiệp nào đọa
trong loài ngạ quỉ ?
Đáp : Đối với ăn uống sinh tâm tham lam, nên đọa ngạ quỉ.
Hỏi : Nếu người có vật của mình không cho ai, sao lại bị tội
?
Đáp : Vì người tham lam keo kiệt nầy, nếu có ai theo xin, thì
tham tiếc mà sinh giận dữ. Do tội nầy nên sinh trong ngạ quỷ.
Lại người tham lam keo kiệt nầy nếu có ai theo xin có mà nói
không, vì vọng ngữ nên đọa trong ngạ quỷ.
Lại người nầy lâu nay tụ tập lòng keo kiệt, thấy người khác
được lợi thì sinh lòng ganh ghét, nên đọa ngạ quỷ.
Lại người tham lam keo kiệt nầy, thấy người khác tu thí thì
ghét giận thí chủ, rồi nói : Người xin nầy vì quen xin được, nên
chắc sẽ lại theo ta xin.
Thành Thật Luận Trang 272 Tuệ Quang Foundation
Lại đã từ lâu tụ tập lòng keo kiệt, nên đã tự không thí lại còn
ngăn người khác thí.
Lại nếu là của chung như vật của chúng Tăng trong chùa và
vật của Bà-la-môn trong các miếu thờ trời, có người độc quyền
chiếm lấy, lẫn tiếc không muốn thí cho người khác nên đọa vào
ngạ quỷ.
Lại nếu người vì cướp đoạt phá hoại đồ uống ăn của người
khác, nên sinh về chỗ không có vật uống ăn.
Lại nếu người không có phúc bố thí, nên không được báo
sinh theo chỗ mong muốn, mà còn bị trách mắng là nghiệp ăn xin,
nên chịu khổ trong đó.
Lại người keo kiệt nầy thấy người đói khát, không lòng
thương tưởng, nên sinh về nơi thường bị đói khát. Nếu nhờ lòng
từ bi được sinh lên trời. Như vậy bởi lòng giận hờn, nên sinh
trong đường ác.
Lại tham đắm thân thuộc, yêu thích nơi ở nên đọa vào loài
chim Ca-lăng-già v.v.... Sinh trong ngạ quỷ, vì tham ái làm nhân
duyên sinh. Như vậy v.v..., như trong Kinh Nghiệp Báo có nói
rộng.
Hỏi : Đã biết 3 ác báo nghiệp, còn do nghiệp gì sinh trong
loài người và trời ?
Đáp : Nếu tu nghiệp thiện như bố thí, trì giới v.v..., bậc
thượng sinh trời, trung, hạ sinh trong loài người.
Lại người lợi căn thì sinh trong loài người, vì có thể tu hành
pháp làm người nên gọi là người.
Lại nghiệp thiện lẫn lộn nên sinh trong người. Nghiệp này có
thượng trung hạ, nhất tâm bất nhất tâm, tịnh bất tịnh v.v.... Vì sao
biết được ? Vì người có nhiều phẩm cách sai khác bất đồng. Như
trong kinh nói: Sát sinh thì đoản mạng, trộm cướp thì bần cùng, tà
dâm thì gia đình không trinh lương, nói dối thì thường bị bài báng
đâm thọc thì dòng họ bất hòa, ác khẩu thì thường nghe tiếng dữ,
Thành Thật Luận Trang 273 Tuệ Quang Foundation
lời thêu dệt thì người không tin, tham lam tật đố thì nhiều dâm
dục, giận dữ thì nhiều tính ác, tà kiến thì nhiều ngu si, kiêu mạn
thì sinh làm người hạ tiện, tự cao thì sinh lùn thấp, ganh ghét thì
không uy đức, keo kiệt thì bần hàn, giận dữ thì thân xấu xí, não
hại người thì nhiều tật bệnh, tạp tâm bố thí thì thèm những thứ
không mỹ vị, bố thí phi thời thì không được quả vừa ý, nghi hối
thì sinh ở biên địa, hành bất tịnh thí thì từ việc khổ mới được quả
báo, phi đạo hành dâm thì sinh thân bất nam. Trong loài người có
nghiệp bất thiện pha tạp như vậy v.v.... Nghiệp thiện thì trái lại
với trên, như không sát sinh thì mạng được sống lâu v.v.... Trong
loài người có nhiều thứ bất đồng như vậy v.v..., cho nên biết là
nghiệp báo xen tạp.
Lại vì nguyện nên sinh trong loài người.
Lại người không ưa phóng túng, cũng không nhiều dục, mà
ưa thích trí tuệ, phát nguyện muốn được thân người, thì sinh trong
loài người.
Lại nếu người ưa thích cúng dường cha mẹ và các bậc tôn
trưởng, cũng biết cúng dường Sa-môn Bà-la-môn v.v... ưa vui làm
sự nghiệp, cũng ưa thích tu phúc, thì sinh loài người, ở trong loài
người hoặc tu nhân duyên tịnh nghiệp, thì sinh về Uất-đan-việt.
Lại nếu người chán ghét ruộng vườn nhà cửa và các ngã sở
sai khác, thì cũng sinh Uất-đan-việt.
Lại nếu, người tu chính hành bạch nghiệp, không não hại
người khác, dùng của để bố thí, cũng không tham đắm, tự trì giới
hạnh lại không phá các giới quyến thuộc trước sau, thì sinh Uấtđan-
việt. Làm điều thiện nhỏ yếu, thì sinh về Câu-da-ni. Lại nhỏ
mà không bằng điều trên, thì sinh về Phất-vu-đãi. Nghiệp báo cõi
trời là giới, thí thiện, thanh tịnh bậc thượng nên sinh về cõi trời.
Lại nếu người được một phần trí tuệ, uốn dẹp được các kết,
nên sinh lên cõi trời.
Thành Thật Luận Trang 274 Tuệ Quang Foundation
Lại cũng tùy tạp nghiệp nên có sai khác, như đã nói trong
phần về loài người.
Lại vì nguyện, như nghe nói nhân duyên hưởng vui trên trời,
rồi ra làm nghiệp thiện, nguyện vãng sinh, như đã nói trong 8 nơi
có phúc được sinh về. Nếu tu từ bi hỷ xả thì sinh cõi Phạm Vậy
cho đến cõi Hữu-Đảnh. Trong đó phẩm loại thiền định có sai
khác, nên quả báo cũng sai khác. Như không khéo dứt trừ sự ngủ
nghỉ vui chơi v.v..., thì ánh sáng nơi thân người nầy đục, nếu khéo
thì dứt thì ánh sáng trong sáng.
Lại thượng thiện nghiệp báo thì sinh lên trời, được các thứ sở
dục, nghĩ là liền được. Nếu lìa sắc tướng thì được Vô sắc định,
sinh Vô sắc xứ. Như vậy v.v... gọi là nghiệp báo thiện. Nghiệp
báo bất định là nghiệp thiện bậc thấp và nghiệp bất thiện. Nghiệp
nầy chịu quả báo hoặc trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người,
trời.
Hỏi: Trong 4 đạo kia khá được thiện nghiệp báo, còn địa ngục thì
sao?
Đáp : Nếu trong địa ngục nhỏ có tạm nghỉ ngơi, như từ địa
ngục lửa tự thoát ra, xa thấy rừng cây lòng mừng chạy đến vào
trong rừng ấy, gió mát cây động, dao gươm chưa rơi xuống, bấy
giờ tạm vui. Hoặc thấy sông nước mặn tưởng là nước ngọt, vội
chạy thẳng đến cũng được chút vui. Như vậy v.v... là phần nghiệp
báo thiện trong địa ngục. Đó gọi là nghiệp báo bất định.
Phẩm 111 : Bảy bất thiện luật nghi
Bảy bất thiện luật nghi là : giết, trộm, tà dâm, đâm thọc, ác
khẩu, nói dối, nói thêu dệt. Nếu người với 7 điều này, hoặc đầy
đủ, hoặc không đầy đủ, đều gọi là người bất thiện luật nghi.
Hỏi : Những gì thành tựu bất thiện luật nghi ?
Đáp: Thành tựu giết bất thiện luật nghi, là những người hàng
thịt, thợ săn v.v.... Thành tựu trộm, là trộm cướp v.v.... Thành tựu
Thành Thật Luận Trang 275 Tuệ Quang Foundation
tà dâm, là hành dâm không phải đạo và dâm nữ v.v.... Thành tựu
nói dối là những con hát, ca vũ kỹ v.v.... Thành tựu đâm thọc là
ưa sàm báng và độc tụng những kinh sách nhảm nhí, cấu hợp
quốc sự v.v.... Thành tựu ác khẩu là quỉ ngục tốt v.v..., cũng dùng
ác khẩu tự sinh sống v.v.... Thành tựu lời nói thêu dệt là hợp tập
những ngôn từ khiến người cười chơi v.v.... Có người nói các
vương hầu tể tướng trị việc vua, thường thành tựu bất thiện luật
nghi này. Điều này không đúng. Bởi vì sao ? Vì nếu người gây
tội nối nhau không dứt, đó mới gọi thành tựu bất thiện luật nghi,
chứ vương hầu v.v... không phải vậy.
Hỏi : Làm sao được bất thiện luật nghi nầy ?
Đáp : Tùy khi làm ác nghiệp mà được.
Hỏi : Là do giết một chúng sinh được luật nghi nầy, hay do
tất cả chúng sinh mà được ?
Đáp : Do tất cả chúng sinh mà được. Như người trì giới đối
với tất cả chúng sinh mà được thiện luật nghi. Bất thiện luật nghi
cũng như vậy. Như tùy giết chúng sinh được 2 thứ vô tác : một là
thuộc về tội giết, hai là thuộc về bất thiện luật nghi.
Hỏi : Bất thiện luật nghi nầy thành tựu thời gian bao lâu ?
Đáp : Cho đến khi chưa được xả tâm thì thường thành tựu.
Hỏi : Nếu người do tâm hạ nhuyễn, được bất thiện luật nghi,
nếu tâm tham v.v... được, người ấy thường thành tựu như vậy, hay
là lại được nữa ư ?
Đáp : Tùy tâm tùy phiền não nhân duyên, lại được bất thiện
luật nghi nầy nữa, vì trong niệm niệm thường được. Đối với tất cả
chúng sinh được khởi 7 thứ. Bảy thứ nầy có thượng trung hạ nên
lại có 21 thứ. Như vậy trong mỗi niệm thường đối bên tất cả
chúng sinh mà được.
Hỏi : Làm sao xả bỏ được bất thiện luật nghi này ?
Đáp : Tùy khi thụ thiện luật nghi là bỏ được, khi chết cũng
bỏ.
Thành Thật Luận Trang 276 Tuệ Quang Foundation
Lại phát thâm tâm từ nay không còn tái phạm, bấy giờ cũng
bỏ. Có luận sư nói khi nào chuyển căn là bỏ. Điều này không
đúng. Bởi vì sao ? Vì những người ái nam cũng được thành tựu.
Trong Luật Tì-ni cũng nói: Nếu Tì-kheo chuyển căn không mất
luật nghi. Nên phải biết không vì chuyển căn mà bỏ được.
Hỏi : Trong ngũ đạo, chúng sinh trong đạo nào thành tựu bất
thiện luật nghi ?
Đáp : Chỉ đạo làm người thành tựu, không phải các đạo khác.
Có người nói sư tử cọp sói v.v... thường sinh sống bằng nghiệp ác
cũng phải thành tựu.
Phẩm 112 : Bảy thiện luật nghi
Bảy thiện luật nghi là không giết cho đến không nói lời thêu
dệt.
Hỏi : Đối với phi chúng sinh số, có được thiện luât nghi nầy
không ?
Đáp : Nhưng cần phải nhân nơi chúng sinh, thiện luật nghi
nầy có 3 thứ là giới luật nghi, thiền luật nghi, và định luật nghi.
Hỏi : Vì sao không gọi vô lậu luật nghi ?
Đáp : Vô lậu luật nghi gồm trong 2 thứ sau, nên không nói
riêng. Có luận sư nói : Lại có đoạn luật nghi. Nghĩa là khi lìa cõi
Dục được thiện luật nghi. Vì đoạn dứt phá giới v.v... các điều ác
nên gọi là đoạn. Mà thật ra tất cả luật nghi đều gồm trong 3 thứ.
Hỏi : Các ngoại đạo được giới luật nghi nầy không ?
Đáp : Được vì người nầy cũng nhờ thâm tâm lìa các ác, nên
giới sư dạy rằng : Người từ ngày nay không nên khởi giết v.v...
các tội.
Hỏi : Các đạo chúng sinh khác có được giới luật nghi nầy
không.
Đáp : Trong kinh nói các loại rồng v.v... cũng có thể thụ giới
tu một ngày. Nên biết là có.
Thành Thật Luận Trang 277 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Có người nói có những người không đủ nam căn không
được giới luật nghi nầy. Việc ấy vậy nào ?
Đáp : Giới luật nghi nầy do tâm mà được sinh. Người ái nam
cũng có thiện tâm Vì sao không được !
Hỏi : Vậy sao không cho làm Tì-kheo ?
Đáp : Vì người nầy kết sử sâu dày khó mà đắc đạo. Lại
người nầy không ở trong hàng ngũ Tì-kheo, cũng không thuộc
hàng ngũ Tì-kheo-ni, cho nên không cho.
Lại trong đó cũng có ngăn không cho các người khác nữa,
như lé mắt v.v.... Người ấy cũng được thiện luật nghi nầy.
Hỏi : Trong Luật Tì-ni ngăn cấm người nghịch tội, người tặc
trú và người làm ô uế Tì-kheo-ni v.v... không cho làm Tì-kheo.
Nhưng các người ấy cũng có thiện luật nghi chứ ?
Đáp : Những người ấy nếu là người vậy gian có thể được
thiện luật nghi, như không ngăn những người ấy tu bố thí từ bi các
pháp thiện. Như vậy nếu có vậy gian giới luật nghi, đâu có lỗi gì.
Nhưng vì người ấy bị ác nghiệp làm bẩn cũng chướng ngại Thánh
đạo nữa, cho nên không cho xuất gia.
Hỏi : Là do chúng sinh có thể giết v.v... mà được thiện luật
nghi hay là với tất cả chúng sinh mà được ?
Đáp : Đều đối với tất cả chúng sinh mà được. Nếu không
phải vậy, thì luật nghi có giới hạn, mà có giới hạn là không đầy
đủ.
Lại luật nghi ấy có thể tăng giảm. Vậy là cũng đồng với pháp
của Ni-kiền tử, nghĩa là trong phạm vi một trăm do-tuần không sát
sinh v.v.... Có các lỗi ấy, cho nên luật nghi không có phân biệt.
Nếu có người nói : Ta đối với người ấy lìa giết, mà người ấy
không lìa, người ấy không được luật nghi nầy. Có luận sư nói :
Nếu phân biệt bố thí tu từ tâm v.v... cũng có phúc đức. Giới cũng
như vậy, như giữ một giới cũng được phúc một giới. Như vậy đối
với một chúng sinh cũng được luật nghi.
Thành Thật Luận Trang 278 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Giới luật nghi nầy có 2 thứ : một là trọn đời, hai là một
ngày đêm. Trọn đời như giới Tì-kheo, Ưu-bà-tắc. Một ngày đêm
như thụ 8 giới một ngày đêm, việc ấy vậy nào ?
Đáp : Việc ấy vô định. Hoặc một ngày một đêm, hoặc chỉ
một ngày, hoặc chỉ một đêm; hoặc nửa ngày, hoặc nửa đêm. Tùy
lúc có thể lãnh thụ được. Xuất gia thì chỉ nên trọn đời. Nếu nói tôi
chỉ thụ 1 tháng hay 2 tháng, hoặc chỉ 1 năm thì không gọi là được
pháp xuất gia. Năm giới cũng như vậy.
Hỏi : Nếu được thiện luật nghi trở lại phá, có mất luật nghi
chăng ?
Đáp : Không mất. Chỉ do bất thiện pháp làm bẩn luật nghi
nầy.
Hỏi : Chỉ đối với chúng sinh hiện tại được giới luật nghi hay
là chúng sinh 3 đời được chăng ?
Đáp : Đều phải đối với chúng sinh 3 đời được. Như người
cúng dường Chư Tôn quá khứ cũng có phúc đức.. Luật nghi cũng
như vậy. Cho nên tất cả Chư Phật đồng một giới phẩm. Luật nghi
nầy nhiều vô lượng, như đối với một chúng sinh được khởi 7 thứ,
như do thiện căn không tham v.v... mà khởi, cũng do tâm thượng
trung hạ mà khởi, nên có nhiều thứ. Như một người, hay tất cả
chúng sinh cũng như vậy, trong mỗi niệm thường được, nên có vô
lượng.
Hỏi : Giới luật nghi, thì gian bao lâu mới được ?
Đáp : Có người thụ giới một ngày, là sơ luật nghi. Ngay ngày
thụ giới Ưu-bà-tắc, là luật nghi thứ hai. Ngay ngày xuất gia làm
Sa-di, là luật nghi thứ ba. Ngay ngày thụ giới Cụ túc là luật nghi
thứ tư. Ngay ngày thiền định, là luật nghi thứ năm. Ngay ngày
được Vô sắc định, là luật nghi thứ sáu. Ngay ngày được vô lậu, là
luật nghi thứ bảy. Tùy chỗ được đạo quả lại được luật nghi nữa,
mà những luật nghi đã được từ trước không mất. Chỉ thứ nào
thắng hơn thì được tên gọi. Như vậy là phúc đức càng tăng thêm,
Thành Thật Luận Trang 279 Tuệ Quang Foundation
vì giới luật nghi nầy đối với tất cả chúng sinh trong mỗi niệm
thường được. Cho nên nói giới luật nghi một ngày nầy, 4 kho báu
lớn không bằng 1 trong 16 phần. Thiền luật nghi, vô lậu luật nghi
tùy tâm hành, mà giới luật nghi không tùy tâm hành.
Hỏi : Có người nói khi nhập định có thiền luật nghi, mà xuất
định thì không có. Việc ấy vậy nào ?
Đáp : Xuất nhập đều thường có. Vì người nầy thật được pháp
không tạo ác, và trái với phá giới, thường không làm ác, thiện tâm
càng vượt trội, nên phải thường có.
Hỏi : Như thiền trong cõi Vô sắc, không có pháp phá giới thì
lấy gì trái nhau mà gọi là thiện luật nghi ?
Đáp : Pháp phải như vậy. Các tiên, thánh đều được thiện luật
nghi. Nếu phải lấy trái nhau với phá giới mới có luật nghi, thì chỉ
do nên não hại chúng sinh mới được thiện luật nghi. Có những lỗi
như vây, cho nên không đúng.
Phẩm 113 : Tám giới trai
Tám giới trai gọi là Ưu-bà-ta, nhà Tần dịch là thiện túc, là
người ấy thiện tâm lìa được phá giới một đêm nên gọi là thiện túc.
Hỏi : Vì sao chỉ nói lìa 8 việc ấy ư ?
Đáp : Đây là 8 cửa. Do 8 pháp nầy lìa tất cả ác. Trong đó có
4 pháp thật ác là ụống rượu là cửa của ác; 3 pháp kia là nhân
duyên phóng dật. Người nầy lìa 5 thứ ác là nhân duyên của phúc,
lìa 3 thứ kia là nhân duyên của đạo. Người vậy gian phần nhiều
thiện pháp yếu ớt, chỉ có thể khởi nhân duyên của đạo nhờ 8 pháp
nầy mà thành tựu pháp ngũ thừa.
Hỏi : Tám phần trai giới chỉ nên thụ đầy đủ, hay thụ một
phần nào cũng được ?
Đáp : Tùy sức có thể giữ. Có người nói pháp nầy chỉ trai giới
một ngày đêm. Điều này không đúng. Tùy thụ giới nhiều ít, hoặc
có thể nửa ngày cho đến một tháng, đâu có lỗi chi ? Có người nói
Thành Thật Luận Trang 280 Tuệ Quang Foundation
cần phải theo người khác mà thụ. Đó cũng không nhất định. Nếu
khi không người truyền thì chỉ tâm niệm miệng nói : Tôi giữ 8
giới. Giới nầy có 5 thứ thanh tịnh :
1. Tu 10 thiện đạo
2. Dứt các khổ trước sau
3. Không bị ác tâm não hại
4. Cần nghĩ nhớ giữ gìn
5. Hồi hướng về Niết-bàn.
Có thể được trai giới như vậy, thì 4 kho báu lớn không bì kịp
một phần, phúc báo Thiên Vương cũng không bì kịp. Đế Thích
nói kệ, Phật quở rằng nếu người hết lậu tâm mới nên nói kệ nầy.
Kệ rằng :
Lục trai tháng thần túc,
Vâng tu 8 giới pháp.
Người nầy được phúc đức,
Thì cùng tôi ngang nhau.
Nếu ngày trai người nào thụ trai giới thì phúc như Đế Thích.
Vì thụ trai pháp nầy ứng với quả Nê-hoàn, nên những người hết
lậu tâm mới nên nói kệ nầy. Trong phép thụ trai pháp, có bị trói
buộc, gông cùm đều được tháo xả; cũng cắt đứt được tất cả nhân
duyên bất thiện, nên gọi là thanh tịnh.
Hỏi : Chuyển Luân Thánh Vương muốn thụ trai pháp nầy, thì
nhờ ai truyền dạy ?
Đáp : Đại Thiên Thần là người đã từng yết kiến Phật sẽ dạy
cho thụ.
Phẩm 114 : Tám thứ lời nói
Tám thứ lời nói có 4 thứ bất tịnh 4 thứ tịnh. Bốn thứ bất tịnh
là : Nếu người thấy nói không thấy, không thấy nói thấy, không
thấy tự bảo thấy, nhưng hỏi thì nói không thấy; thấy tự bảo không
thấy, nhưng hỏi thì nói thấy. Như vậy là sự trái ngược tâm cũng
Thành Thật Luận Trang 281 Tuệ Quang Foundation
trái ngược, nên gọi là bất tịnh. Bốn thứ tịnh là : Nếu thấy nói thấy,
không thấy nói không thấy, thấy tự bảo không thấy, hỏi thì nói
không thấy, không thấy tự bảo thấy, hỏi thì nói thấy. Sự thật tâm
cũng thật, nên gọi là tịnh. Nghe, hiểu, biết, cũng như vậy.
Hỏi : Thấy, nghe, hiểu, biết có sai khác gì không?
Đáp : Có 3 thứ tin : Thấy là tin hiện tại; nghe là tin lời hiền
thánh, biết là so sánh biết, hiểu là phân biệt. Là 3 thứ tin tuệ. Ba
thứ tuệ nầy, hoặc đều là thật, hoặc đều là trái ngược. Bậc thượng
nhân không khởi bất tịnh, chỉ nói lời tịnh ngữ. Cho nên lời nói của
kẻ hạ nhân dùng là bất tịnh. Lời nói của thượng nhân mới gọi là
tịnh. Có người nói trong nghĩa nầy, các người chính trí đều gọi là
thượng vì không những chỉ có người đắc đạo mà người phàm phu
cũng có tịnh ngữ.
Phẩm 115 : Nghiệp
Có 9 thứ nghiệp. Nghiệp buộc cõi Dục có 3 thứ là tạo tác,
không tạo tác, không phải tạo tác, không phải không tạo tác.
Nghiệp buộc cõi Sắc cũng vậy. Cõi Vô sắc 2 thứ và nghiệp vô lậu.
Nghiệp do thân khẩu gây ra gọi là tạo tác. Bởi tạo tác nên
nhóm các tội phúc thường bám theo, đó là pháp tâm bất tương
ưng, gọi là không tạo tác. Cũng có không tạo tác chỉ do tâm sinh.
Không phải tạo tác không phải không tạo tác; tức là ý. Ý tức là ý
nghĩ, ý nghĩ là nghiệp. Cho nên nếu ý tìm cầu thân sau, thì đó gọi
là ý nghiệp, cũng gọi là ý nghĩ. Tư duy nghĩ về thân sau nên gọi là
nghiệp.
Hỏi : Nếu như vậy thì không có tư duy vô lậu ?
Đáp : Nếu cho đó là tư duy, tức là tư duy vô lậu.
Hỏi : Không tạo tác nầy tuy từ thân sinh, nhưng phải có
nhiều ít sai khác chăng ?
Đáp : Tất cả thân phần đều khởi tác nghiệp, nhân đó nhóm
họp nhiều không tạo tác, được quả báo lớn.
Thành Thật Luận Trang 282 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Không tạo tác nầy ở chỗ nào ?
Đáp : Thể của nghiệp đạo quyết định nhóm không tạo tác.
Tạo tác hoặc có hoặc không, các thứ khác thì phải đợi tâm. Nếu
tâm mạnh thì có, tâm yếu thì không.
Lại không tạo tác này cũng từ nguyện sinh, nếu người phát
nguyện : Tôi cần phải bố thí hoặc xây tháp cất chùa. Người ấy
quyết định được không tạo tác.
Hỏi : Không tạo tác này thời gian bao lâu mới được, thời
gian bao lâu thì mất ?
Đáp : Tùy việc làm ra tồn tại, như tạo lập vườn tược tháp
chùa v.v... thí tùy vật thí không hư, bấy giờ thường còn.
Lại tùy tâm không dứt, như người phát tâm : Ta phải thường
làm điều này. Hoặc hội đồng hoặc cúng áo, những việc như vậy ở
nơi tâm không dứt, bấy giờ thường được.
Lại tùy mạng sống chưa qua đời, như người thụ giới xuất gia,
bấy giờ thường được.
Hỏi : Có người nói chỉ trong cõi Dục do tạo tác sinh không
tạo tác mà trong cõi Sắc thì không có. Việc ấy vậy nào ?
Đáp : Hai cõi đều có cả. Bởi vì sao ? Vì chư thiên ở cõi Sắc
cũng có thể thuyết pháp, kính lễ Phật và Tăng. Những người như
vậy v.v..., Vì sao không do tác nghiệp sinh vô tác ư ?
Lại có người nói ẩn mất, vô ký, nên không có không tạo tác.
Điều này không đúng. Ẩn mất, vô ký là phiền não nặng. Phiền
não nầy nhóm họp, gọi là sử, nhưng khong ẩn mất, vô ký thì
không có không tạo tác. Bởi vì sao ? Vì tâm ấy mềm yếu, không
thể khởi nhóm, như hoa có thể ướp mè chứ không phải cỏ cây
v.v.... Có người nói : Vượt lên trên cõi Phạm Vậy không có tâm
có thể khởi tác nghiệp. Bởi vì sao ? Vì có giác quán mới có thể
khởi khẩu nghiệp, kia không có giác quán, chỉ dùng tâm Phạm
Vậy có thể khởi khẩu nghiệp. Điều này không đúng. Chúng sinh
tùy nghiệp thụ thân, nếu được sinh lên bậc trên, thì không được
Thành Thật Luận Trang 283 Tuệ Quang Foundation
dùng báo trong cõi Phạm Vậy. Cho nên biết dùng tâm từ cõi mình
có thể khởi khẩu nghiệp.
Lại ông nói kia không giác quán, ra sau sẽ nói có.
Hỏi : Thánh nhân đoạn các kết chưa hết có thể khởi tác
nghiệp không ?
Đáp : Thánh nhân không thể khởi nghiệp thật tội.
Hỏi : Âm thanh chúng sinh như tiếng chó sủa v.v... có phải
khẩu nghiệp chăng ?
Đáp : Tùy không có ngôn từ sai biệt, nhưng vì do tâm khởi
nên cũng gọi là nghiệp.
Lại như hiện tướng hoặc hiệu lệnh, hoặc tiếng đàn sáo v.v...,
đều gọi khẩu nghiệp. Nghiệp thân khẩu nầy cần có ý thức mới có
thể khởi, chứ không phải các thức khác. Cho nên người có tự thấy
thân nghiệp, tự nghe khẩu nghiệp, dùng ý thức sinh khởi nghiệp,
nối nhau không dứt nên tự thấy nghe.
Phẩm 116 : Mười con đường bất thiện
Trong kinh Phật nói 10 con đường bất thiện là sát sinh v.v....
Năm ấm hòa hợp gọi là chúng sinh. Dứt mạng sống nầy là sát
sinh.
Hỏi : Nếu 5 ấm ấy thường diệt trong từng mỗi niệm thì lấy gì
mà sát ?
Đáp : Năm ấm tuy mỗi niệm diệt mà lại nối nhau sinh. Cắt
đứt sự nối nhau gọi là sát sinh.
Lại vì người ấy có cố tâm sát, nên bị tội sát.
Hỏi : Vì dứt 5 ấm hiện tại mà gọi là sát hay sao?
Đáp : Trong 5 ấm nối nhau có tên chúng sinh. Vì hoại sự nối
nhau nầy nên gọi sát sinh, chứ không bởi trong mỗi niệm diệt có
tên chúng sinh.
Thành Thật Luận Trang 284 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Có người dựa theo cựu pháp của quan mà sát hại chúng
sinh, hoặc vì sức mạnh ép bức sát chúng sinh, tự bảo không có tội.
Việc ấy vậy nào ?
Đáp : Lẽ ra cũng bị tội. Bởi vì sao ? Vì người ấy đầy đủ nhân
duyên sát tội. Do 4 duyên bị tội sát sinh : 1. Có chúng sinh. 2. Biết
là chúng sinh. 3. Có tâm muốn sát. 4. Dứt mạng sống của nó.
Người ấy đủ 4 nhân nầy làm sao mà không tội ?
Gọi là trộm, là nếu vật ấy thật thuộc của người ấy mà cướp
trộm đấy gọi là trộm. Trong đó cũng có 4 thứ nhân duyên : 1. Là
vật thật thuộc người khác. 2. Biết là thuộc người khác. 3. Có tâm
cướp trộm. 4. Cướp trộm lấy xong.
Hỏi : Có người nói của vật ẩn tàng là thuộc của vua, nếu lấy
vật ấy thì đắc tội với vua. Việc ấy vậy nào ?
Đáp : Bất luận vật gì trong đất, chỉ vật trên mặt đất thuộc của
vua. Bởi vì sao ? Vì như Cấp-cô-độc chẳng hạn, là Thánh nhân
mà cũng lấy vật ấy, nên biết không tội.
Lại như tự nhiên được của không gọi trộm cướp.
Hỏi: Nếu tất cả muôn vật đều là cọng nghiệp sinh, thì trộm
cướp Vì sao bị tội ?
Đáp : Tuy do nhân cọng nghiệp sinh, nhưng nhân có mạnh
yếu, nếu người có sức nghiệp nhân mạnh, lại siêng có thể gia công
thì vật ấy mới thuộc quyền sở hữu.
Hỏi : Nếu người cướp lấy ruộng đất nhà cửa đồ vật v.v... của
tháp, chùa, chúng Tăng thì đắc tội với ai ?
Đáp : Tuy Phật và Tăng đối với vật không có tâm cho là của
mình, nhưng cũng đắc tội, vì vật nầy nhất định thuộc Phật Tăng.
Trong đó sinh ác tâm hoặc cướp hoặc trộm, cho nên đắc tội.
Gọi tà dâm, là nếu hành dâm với người không phải vợ mình
thì gọi là tà dâm.
Lại tuy là vợ mà hành dâm chỗ phi đạo cũng gọi là tà dâm.
Thành Thật Luận Trang 285 Tuệ Quang Foundation
Lại tất cả nữ nhân đều có người giám hộ, như cha mẹ, anh
em, người chồng, dâu con v.v....Nữ nhân xuất gia được vua v.v...
làm giám hộ ?
Hỏi : Hành dâm với gái giang hồ là người không phải vợ, có
phải tà dâm không ?
Đáp : Là vợ thời gian ngắn. Như trong Luật Tì-ni có nói : Đó
là vợ một thời gian ngắn, cho đến lấy một sợi tóc ngăn.
Hỏi : Nếu gái không chồng, tự đến cầu xin làm vợ, việc ấy
vậy nào ?
Đáp : Nếu thật không chồng mà đối trước công chúng đúng
như pháp đến cầu, thì không gọi tà dâm.
Hỏi : Nếu người xuất gia lấy vợ miễn tà dâm chăng ?
Đáp : Không miễn được. Bởi vì sao ? Vì không có pháp nầy.
Pháp người xuất gia là thường lìa dâm dục. Nhưng tội nhẹ hơn
phạm vợ người khác.
Vọng ngữ là, nếu thân khẩu ý dối gạt chúng sinh khác, khiến
hiểu sai lạc, gọi là vọng ngữ. Phật vì trọng tội nên nói trong chúng
định hỏi là vọng ngữ. Cho đến khi một người hỏi cũng gọi vọng
ngữ, đâu cần phải nhiều người.
Lại tùy chỗ muốn dối gạt người thì đắc tội với người đó. Nếu
ai bảo với người khác rằng tôi đã nói với người nào đó việc như
vậy. Việc tuy không thật mà không gọi là vọng ngữ.
Lại vọng ngữ tùy theo ý tưởng. Nếu thấy tưởng không thấy,
hỏi thì nói không thấy, là không bị tội vọng ngữ. Như trong Luật
Tì-ni đã nói.
Hỏi: Nếu người, việc điên đảo không thấy nói thấy, Vì sao
không phải vọng ngữ ?
Đáp : Tất cả tội phúc đều do tâm sinh. Người ấy với việc
không thấy mà sinh tưởng thấy, cho nên không tội. Như với thật
chúng sinh tưởng không chúng sinh, trong phi chúng sinh tưởng
chúng sinh, thì không bị tội sát.
Thành Thật Luận Trang 286 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Như thật có chúng sinh, sinh tưởng chúng sinh mới bị
tội sát. Như vậy nếu thấy sinh thấy tưởng, thì phải không tội,
không phải không thấy thấy tưởng mà được không tội ?
Đáp : Sinh tội là do tâm, do chúng sinh. Cho nên tuy có
chúng sinh mà tưởng không chúng sinh thì không bị tội, vì vô
tâm. Nếu không chúng sinh mà tưởng có chúng sinh, vì chúng
sinh không nên cũng không bị tội. Nếu có chúng sinh tưởng có
chúng sinh, vì đã đủ nhân duyên nên mới bị tội sát sinh. Nếu trong
việc thấy sinh tưởng không thấy, hỏi thì nói không thấy; người ấy
nghĩ tưởng không điên đảo, nên không dối chúng sinh, tuy là việc
điên đảo, nhưng cũng gọi là thật. Nếu trong việc không thấy mà
sinh tưởng thấy, hỏi thì nói không thấy, người ấy tưởng điên đảo
dối gạt chúng sinh; việc tuy không điên đảo, nhưng cũng gọi vọng
ngữ.
Đâm thọc, là nếu người muốn chia rẽ người khác nên khởi
khẩu nghiệp, gọi là đâm thọc. Nếu không cố tâm chia rẽ, mà
người kia nghe tự hoại, thì không đắc tội. Nếu đem thiện tâm giáo
hóa khiến lìa người ác, tuy là chia lìa, nhưng cũng không đắc tội.
Nếu không bởi kết sử trược tâm tuy là miệng nói cũng không đắc
tội.
Ác khẩu, là nếu người đem lời khó nghe mà không có lợi ích
chỉ muốn não hại người khác, gọi là ác khẩu. Nếu vì lòng thương
xót muốn làm lợi ích, nên phải dùng lời khó nghe, thì không có
tội. Như vô sự mà gia hại thì có tội. Y theo phương pháp châm
cứu chữa bênh, tuy làm đau đớn mà không phải tội. Khổ ngôn
cũng vậy, Chư Phật, hiền thánh cũng vì việc ấy, nên như nói :
Ông là người ngu si ! v.v....
Lại nếu không kết sử trược tâm, tuy là khổ ngôn mà không
gọi là tội, như người ly dục v.v.... Nếu vì thiện tâm, trong khổ
ngôn mà khởi phiền não là lập tức đắc tội.
Thành Thật Luận Trang 287 Tuệ Quang Foundation
Lời thêu dệt, là nếu không phải thật, ngữ nghĩa bất chính, gọi
là lời thêu dệt.
Lại tuy là thật ngữ vì phi thời, nên cũng gọi lời thêu dệt.
Lại tuy thật và phải thời, vì tùy thuận suy não không lợi ích,
nên cũng gọi là lời thêu dệt.
Lại tuy lời thật và phải thời, cũng có lợi ích, nhưng vì nói
nghĩa lý không đầu đuôi, không thứ tự, nên cũng gọi lời thêu dệt.
Lại vì si v.v... các phiền não tán tâm mà nói, gọi là lời thêu
dệt. Thân ý bất chính cũng gọi nghiệp nói thêu dệt. Chỉ đa phần
do miệng nói, cũng tùy vậy tục mà nói, nên gọi là lời thêu dệt.
Còn 3 khẩu nghiệp kia lời thêu dệt đều xen lẫn không thể rời
nhau. Nếu vọng ngữ mà không khổ ngôn, cũng không chia lìa thì
có 2 thứ là vọng ngữ và thêu dệt. Nếu là vọng ngữ cũng muốn
chia rẽ, mà không khổ ngôn thì có 3 thứ là vọng ngữ, đâm thọc và
thêu dệt. Nếu vọng ngữ, khổ ngôn, không muốn chia lìa, thì đủ 4
thứ. Nếu không vọng ngữ, khổ ngôn, cũng không chia lìa, nhưng
là lời phi thời, lời vô ích, lời vô nghĩa, thì chỉ là lời thêu dệt. Lời
thêu dệt nầy vi tế khó lìa bỏ, chỉ Chư Phật mới có thể dứt tận gốc.
Cho nên chỉ có Chư Phật độc xưng Vậy Tôn, vì nói là tin thụ, kỳ
dư không ai sánh kịp được.
Hỏi : Đã nói 7 thứ nghiệp đạo, cần gì lại nói 3 ý nghiệp ?
Đáp : Có người bảo tội phúc chỉ cần do thân khẩu, chứ
không phải do tâm. Cho nên mới nói tâm cũng là nghiệp đạo.
Lại 3 thứ nầy ý nghiệp có sức mạnh, nên thân khẩu mới khởi
ác nghiệp. Ba thứ này tuy đều quan trọng, nhưng vì ý nghiệp vi tế
nên phải nói ở sau. Mặc dù tất cả phiền não có thể khởi ác nghiệp,
mà chỉ 3 thứ này làm não hại chúng sinh nhiều hơn, nên mới gọi
là nghiệp đạo bất thiện. Nếu lòng tham ở mức trung, hạ không gọi
là nghiệp đạo. Lòng tham nầy tăng thượng sâu đắm của người
khác khi có phương tiện muốn não hại là có thể khởi nghiệp thân
Thành Thật Luận Trang 288 Tuệ Quang Foundation
khẩu, cho nên lấy tham lam tật đố làm nghiệp đạo. Giận si cũng
vậy.
Lại nếu nói si tức đã nói tất cả phiền não. Trong đây chỉ vì có
thể khởi nghiệp thân khẩu xâm hại chúng sinh nên nói 3 thứ.
Hỏi : Vì sao gọi si là tà kiến ?
Đáp : Si có nhiều thứ sai khác. Bởi vì sao ? Vì không phải tất
cả si đều là bất thiện. Nếu si tăng thượng trở thành tà kiến, thì gọi
nghiệp đạo bất thiện. Tất cả bất thiện đều do 3 cửa này : Như
người vì tài lợi nên khởi nghiệp bất thiện. Như vì tiền bạc tàn sát
chúng sinh. Hoặc vì sân nên sát như giết oán tặc. Hoặc không vì
tại lợi, cũng không giận dữ, chỉ vì sức si không biết tốt xấu nên
giết chúng sinh.
Hỏi : Trong kinh nói nhân duyên ác đạo có 4 thứ hành : Do
tham, do giận, do sợ sệt và do si nên đọa các ác đạo. Nay trong
đây Vì sao không nói do sợ sệt khởi ác nghiệp ?
Đáp : Sợ là gồm trong si. Nếu nói do sợ tức là do si. Bởi vì
sao ? Vì người trí cho đến gặp phải nhân duyên mất mạng vẫn
không khởi ác nghiệp. Lại điều này trước đã đáp. Nghĩa là phiền
não tăng trưởng có thể khởi nghiệp thân khẩu, bấy giờ gọi bất
thiện đạo. Vì 3 thứ nầy phần nhiều khởi bất thiện.
Hỏi : Vì sao gọi là nghiệp đạo ?
Đáp : Ý tức là nghiệp; đi ở trong đó nên gọi là nghiệp đạo.
Trước đi trong 3 thứ sau, sau đi trong 7 thứ trước. Trong 3 nghiệp
là đạo, chứ không phải nghiệp, 7 nghiệp vừa là nghiệp vừa là đạo.
Hỏi: Cũng có roi, gậy và uống rượu v.v... các nghiệp bất thiện, Vì
sao chỉ nói 10 thứ ấy ?
Đáp : Mười tội nầy nặng nên nói.
Lại roi, gậy v.v... đều là quyến thuộc trước sau. Uống rượu
không phải thật tội cũng không làm hại người khác, dù cho có hại
người khác đi nữa cũng không phải chỉ rượu.
Hỏi : Bất thiện đạo nầy là ở chỗ nào ?
Thành Thật Luận Trang 289 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Đều ở trong 5 đạo. Chỉ Uất-đn-việt không tà dâm do 3
việc khởi bởi tham dục mà thành, ngoài ra 3 việc khởi cũng bởi 3
việc thành.
Hỏi : Thánh nhân có thể khởi bất thiện nghiệp chăng ?
Đáp : Cũng khởi ý bất thiện nghiệp, chứ không khởi thân
khẩu.
Lại trong ý nghiệp cũng chỉ khởi tâm sân chứ không khởi
tâm sát.
Hỏi : Trong kinh nói bậc học nhân rủa người tiêu diệt, khiến
người dứt giống. Việc ấy vậy nào ?
Đáp : Cũng có kinh nói A-la-hán rủa. Là người lậu tận, dứt
gốc phiền não còn không khởi tâm, huống nữa là rủa. Nói học
nhân rủa cũng như vậy.
Lại Thánh nhân đối với nghiệp bất thiện được bất tác luật
nghi, thì làm sao còn tác bất thiện ?
Lại Thánh nhân này không đọa ác đạo, nếu có thể khởi bất
thiện, thì cũng phải đọa.
Hỏi : Nếu các Thánh nhân đời nay không gây nghiệp bất
thiện, nên không đọa ác đạo, chứ trong đời quá khứ có nghiệp bất
thiện Vì sao không đọa ?
Đáp : Tâm Thánh nhân này khi trí trung thật sinh, các ác đạo
nghiệp đều bị yếu ớt, như hạt giống hư không còn mọc được.
Lại 3 độc có 2 thứ : Thứ có thể gây ác đạo, thứ không có thể
gây, Thánh nhân đã dứt hết. Vì nghiệp phiền não, nên được thụ
thân, Thánh nhân tuy có các nghiệp phiền não mà không đầy đủ,
cho nên không đọa.
Lại người này nương đại vậy lực, như Tam Bảo có thể tiêu
trừ đại ác, như người nương vua, chủ nợ không dám quấy rầy.
Lại người này trí tuệ sáng suốt linh lợi có thể tiêu ác nghiệp,
như nhiệt lực trong người thịnh nên có thể tiêu thứ ăn khó tiêu.
Lại người này có nhiều phương tiện: hoặc niệm chư Phật, hoặc
Thành Thật Luận Trang 290 Tuệ Quang Foundation
niệm từ bi các nghiệp thiện, nên được thoát khỏi các ác, như gian
tặc nhiều phương kế, nương các chỗ hiểm nạn thì không thể làm
gì được.
Lại Thánh nhân này đã biết được đạo giải thoát, như con bò
chúa đi, như chim nương hư không.
Lại vì thời gian dài lâu tu tập các pháp thiện, nên không đọa
ác đạo. Như trong kinh nói : Nếu người thường tu thân giới tâm
tuệ, thì quả báo địa ngục có thể hiện chịu nhẹ.
Lại như kệ nói :
Tu tâm từ bi,
Vô lượng vô ngại.
Có các nghiệp nặng,
Sẽ không đến thân.
Lại Thánh nhân nầy tâm bất thiện nghiệp không thể bền
chắc, như một giọt nước rơi trên tấm sắt nóng.
Lại Thánh nhân nầy nghiệp thiện sâu xa, như rễ cây Hoànthù-
la.
Lại Thánh nhân nầy nhiều thiện ít ác. Ác ít mà ở trong thiện
nhiều thì không có sức mạnh, như bỏ xuống sông Hằng một lượng
muối, không thể làm hoại vị nước được.
Lại Thánh nhân nầy giàu của tín v.v... Như người nghèo
cùng vì một đồng tiền mà bị tội, người giàu có tuy là trăm ngàn
cũng không đắc tội.
Lại vì vào Thánh đạo nên được cao quý, như người tôn quý
tuy bị tội mà không vào lao ngục.
Lại như cọp sói chó dê, lớn nhỏ giành nhau, con lớn đắc
thắng.
Lại Thánh nhân nầy tâm ngụ nơi Thánh đạo, các tội ác đạo
không thể hại được, như vua ngủ nhà trống, những người khác
không thể vào được.
Thành Thật Luận Trang 291 Tuệ Quang Foundation
Lại Thánh nhân này đi chỗ tự đi, tội nghiệp ác đạo không
làm gì được, như thí dụ chim ưng.
Lại Thánh nhân tâm buộc 4 niệm xứ, nên nghiệp các ác đạo
không làm gì được, như bình tròn đã đặt vào đài.
Lại đủ 2 thứ kết mới vào ác đạo theo nghiệp chịu báo,
Thánh nhân dứt được một thứ, nên không đọa ác đạo.
Lại người nầy thường hưởng quả báo nghiệp thiện, nên các
nghiệp ác đạo không làm gì được.
Lại như trong phẩm Lục nghiệp trước đã nói nghiệp tướng
địa ngục. Thánh nhân không nhân duyên không đọa ác đạo.
CÒN NỮA
LUẬN THÀNH THẬT
( Quyển 9 )
Ha-lê-bạt-ma tạo luận
Cưu-ma-la-thập dịch
Nguyên Hồng dịch tiếng Việt
Phẩm 117 : Mười thiện đạo
Mười thiện nghiệp đạo, là lìa sát cho đến chính kiến là 10
điều nhiếp thuộc vào trong giới luật nghi. Một thời được nhiếp
thuộc về thiền Vô sắc luật nghi, và một thời được lìa gọi là thiện
nghiệp đạo, tức là vô tác.
Hỏi : Các phúc như lễ kính, bố thí v.v... là thiện nghiệp đạo,
sao chỉ nói lìa là nghiệp đạo ?
Đáp : Vì lìa là hơn, nên 10 thứ nghiệp nầy đối với thí v.v... là
hơn. Bởi vì sao ? Vì bố thí v.v... được phúc báo không bằng trì
giới. Như đến khi con người chỉ còn 10 tuổi, nhờ nhân duyên lìa
giết mà thọ mạng được tăng lên.
Lại 10 nghiệp bất thiện là thật tội, nên lìa được gọi là thật
phúc.
Thành Thật Luận Trang 292 Tuệ Quang Foundation
Lại 3 thứ thiện nghiệp sau là gốc các thiện, cho nên các thiện
bố thí v.v... đều gồm trong nghiệp đạo.
Lại nghiệp đạo nầy có lìa roi gậy v.v..., vì trước sau hợp nói,
nên tất cả các thiện đều thuộc vào trong ấy.
Phẩm 118 : Tội lỗi
Hỏi : Nghiệp bất thiện có những tội lỗi gì ?
Đáp : Do nghiệp bất thiện nên chịu các khổ địa ngục. Như
trong kinh nói : Vì nhân duyên sát sinh nên đọa địa ngục. Nếu
được sinh trong loài người, thì chịu quả báo chết yểu. Như vậy
cho đến tà kiến.
Lại vì nhân duyên nghiệp bất thiện, nên chịu khổ não lâu,
như địa ngục A-tì trải vô lượng tuổi mà thọ mạng không hết.
Lại chúng sinh có tất cả các điều ác bại hoại suy não, đều bởi
nghiệp bất thiện.
Lại chưa từng thấy bất thiện mà có lợi ích lớn, như những
người hàng thịt, thợ săn v.v..., không bao giờ nhờ nghiệp ấy mà
được tôn quý. Hoặc ý ông bảo : Nhờ nhân duyên phá giặc mà
được giàu sang. Điều này trong phẩm Ba nghiệp ở trước đã giải
đáp.
Lại người làm việc bất thiện, bị quở trách và các phần khổ
não.
Lại khiến người khác phải ra làm việc ác, gọi là hung bạo.
Cho nên cần phải lìa nghiệp bất thiện nầy.
Lại trong kinh nói giết có 5 lỗi : Người không tin dùng, bị
mang tiếng ác, xa thiện gần ác, khi chết sinh hối, sau đọa ác đạo.
Lại nhân duyên sát sinh, vui ít khổ nhiều.
Lại làm nghiệp bất thiện, nhiễm ô tâm con người, chất chứa
lâu đời khó mà chữa được.
Lại người làm điều bất thiện, từ chỗ tối vào chỗ tối lưu
chuyển trong tam đồ vĩnh viễn không ngày ra khỏi.
Thành Thật Luận Trang 293 Tuệ Quang Foundation
Lại người làm bất thiện, uổng một đời người, như vào núi
Tuyết tìm thuốc mà hái phải cỏ độc, thật là rất ngu.
Như vậy nhờ 10 thiện đạo nầy mới được làm thân người, có
điều là không làm thiện đã là một lỗi lớn, huống chi còn khởi ác
nghiệp !
Lại người làm bất thiện tuy tự yêu thân mà thật không tự yêu
được; tuy tự hộ thân mà thật không phải tự hộ. Vì nhân duyên
khởi nghiệp mà tự não hại.
Lại người nầy thụ thân giống như người oán tặc tự làm khổ
vậy.
Lại nếu làm bất thiện là mình gây giặc cho bản thân, huống
chi người khác ư ?
Lại làm nghiệp bất thiện, nay tuy không hiện quả báo mà đã
mắc phải. Cho nên tuy ít cũng không thể không tin. Như chất độc
tuy ít có thể hại người; như nợ tuy ít dần dần sinh lợi tức.
Lại làm ác với người, người thường không quên. Cho nên
gây nghiệp tuy lâu xa mà không thể không tin.
Lại người làm bất thiện gọi là mất vui, nghĩa là vì làm bất
thiện nên mất quả vui người trời. Không vui điều đáng vui là
người ngu lắm vậy.
Lại người làm bất thiện là bị khổ dữ dội đáng thương. Hiện
tâm bị ăn năn các khổ, sau chịu khổ nơi ác đạo.
Lại quả báo của nghiệp bất thiện dù bay lên hư không, hay
lặn dưới biển cũng không chỗ trốn thoát được, như cây giáo vàng
truy đuổi theo Phật.
Lại tất cả nghiệp bất thiện đều do si khởi, cho nên người có
trí không nên tùy theo.
Lại trong kinh nói : Phóng túng như người oán, có thể hại
các pháp thiện, nên không đáng theo.
Thành Thật Luận Trang 294 Tuệ Quang Foundation
Lại nghiệp bất thiện, Chư Phật, Bồ-tát các thánh hiền ứng
chân, thần tiên có 5 thần thông và những người rõ thấu tội phúc
không ai không quở trách, cho nên không nên tạo.
Lại hiện thấy người ác tâm mạnh mẽ thì ý chí mờ tối rối loạn
buồn bực khổ đau, nên sắc mặt biến khác, người không muốn
thấy, huống là khởi nghiệp thân khẩu. Vì các duyên do nầy, nên
biết nghiệp bất thiện có tội lỗi nhiều vô lượng.
Phẩm 119 : Ba nghiệp nhẹ nặng
Trong 3 nghiệp, nghiệp nào nặng hơn : thân nghiệp, khẩu
nghiệp, hay ý nghiệp ?
Hỏi : Có người nói 2 nghiệp thân khẩu nặng, chứ không phải
ý nghiệp. Bởi vì sao ? Vì nghiệp thân khẩu định thật. Như tội ngũ
nghịch đều bởi thân khẩu gây nên.
Lại thân khẩu có thể thành xong việc, như người sinh lòng
muốn giết chúng sinh nầy, cần đem thân khẩu có thể hoàn thành
việc ấy, không phải chỉ ý nghiệp gây được tội sát sinh. Cũng
không phải chỉ phát tâm xây chùa tháp mà được phúc đức.
Lại nếu không có thân khẩu, chỉ ý nghiệp thì không quả báo,
như người phát tâm rằng ta phải bố thí, mà thật không bố thí, thì
không có thí phúc.
Lại không chỉ tùy nghiệp mà việc được thành xong, như
người phát nghiệp mở hội Đại thí, mà thật không thí, thì không
hội phúc. Nếu tâm nghiệp lớn thì phải được thí phúc, vậy thì
nghiệp báo lộn xộn.
Lại trong Luật Tì-ni, ý không phạm tội. Nếu ý nghiệp là
trọng đại Vì sao không phạm ?
Lại nếu phát tâm liền được phúc, thì phúc dễ được, Vì sao
hành giả bỏ nghiệp dễ nầy mà tu thí v.v... là những hạnh nghiệp
khó tu ư ?
Thành Thật Luận Trang 295 Tuệ Quang Foundation
Lại nếu như vậy, thì phúc vô tận, như người chỉ phát tâm
suông hoàn toàn không đâu thì chỗ dùng làm sao cho hết được ?
Vì tài vật có hạn nên phúc mới có thể hết.
Lại không chỉ phát tâm mà có thể làm tổn hại hay lợi ích cho
người khác. Như chúng sinh đói khát cần phải cơm nước, chứ đâu
phải tâm nghiệp có thể trừ được đói khát.
Lại người đời rất quan trọng việc suy tổn hay lợi ích, vì tâm
nhẹ nhàng mau lẹ khó chế phục, nên không điều ác nào không
khởi, thì mình chịu việc suy tổn nặng nề. Nếu phát thiện tâm
muốn gây phúc nghiệp, thì mình được lợi lớn, vậy là quá lắm.
Lại nếu ý nghiệp lớn phát tâm muốn sát sinh thì đọa địa
ngục. Như vậy tuy lâu tụ tập giới v.v... đâu có ích gì !
Lại tu trì giới v.v... các công đức thiện không có an ổn. Bởi
vì sao ? Vì chỉ một khi phát tâm liền bị tội.
Lại trong kinh nói : Nghiệp thân khẩu thô nên dứt trước. Vì
dứt phiền não thô nên tâm được định.
Lại nếu phát dâm tâm làm dâm rồi, liền phải phạm giới. Nếu
phát tâm mà không gọi là dâm, thì lìa dâm tâm nầy lại có pháp gì
gọi là dâm ư ?
Lại có bao nhiêu sinh khởi tác nghiệp đều do thân khẩu,
không phải do ý nghiệp, như dối gạt người khác ắt do khẩu nghiệp
mới bị tội vọng ngữ.
Lại như trước đã nói đủ 4 thứ nhân duyên mới bị tội sát sinh
là : có chúng sinh, có tâm tưởng chúng sinh, có tâm muốn sát, dứt
mạng sống nó. Do 4 việc thành tội, nên phải biết không do ý
nghiệp là trọng.
Lại như Phật nói : Như đứa trẻ nhỏ tập lòng từ từ nhỏ, có thể
khởi ác nghiệp, nghĩ ác nghiệp ư ? Cho nên biết chỉ là thân khẩu
nghiệp ác, chứ không phải ý nghiệp ?
Đáp : Ông nói nghiệp thân khẩu nặng, không phải nghiệp ý,
điều này không đúng. Bởi vì sao ? Trong kinh Phật nói : Tâm là
Thành Thật Luận Trang 296 Tuệ Quang Foundation
gốc các pháp. Tâm cao tột, tâm dẫn đường, tâm nghĩ thiện ác. Tức
nói tức làm. Cho nên biết ý nghiệp là quan trọng.
Lại ý có sai biệt nên nghiệp thân khẩu mới có sai biệt, như
thượng, trung, hạ v.v... Lìa tâm không có thân khẩu nghiệp.
Lại trong kinh nói : Cho nên khởi tác nghiệp ắt phải chịu
báo.
Lại nói bảy thứ tịnh phúc, có 3 thứ chỉ dùng ý nghiệp. Bảy
tịnh phúc nầy, với tài phúc của là hơn.
Lại lòng từ là ý nghiệp, nên kinh nói từ tâm được quả báo
lớn. Như kinh nói : Xưa, ta lên bảy tuổi, nhờ tu tập tâm từ nên ở
trong 7 đại kiếp, không trở lại vậy gian nầy. Cho nên biết ý nghiệp
là quan trọng. Vì quan trọng mới có thể che khắp tất cả vậy giới.
Lại ý nghiệp là trọng, như quả báo ý nghiệp nên sống lâu
được 8 vạn đại kiếp.
Lại vậy lực của ý nghiệp thắng hơn thân khẩu nghiệp, như
người tu thiện khi mạng sắp chết sinh lòng tà kiến, thì đọa địa
ngục. Người làm bất thiện khi sắp chết khởi tâm chính kiến, thì
sinh lên trời. Nên phải biết ý nghiệp là quan trọng.
Lại trong kinh nói: Trong các tội, tà kiến là nặng nhất.
Lại nói : Nếu người được vậy gian thượng chính kiến, tuy
qua lại trong sinh tử cho đến trăm ngàn năm hoàn toàn không đọa
ác đạo.
Lại sức của ý nghiệp vượt trội hơn thân khẩu nghiệp. Như
trong Kinh Hòa Lợi nói : Ngoại đạo thần tiên một khi nổi giận,
liền diệt nước Na-la-vu-đà. Như Đàn-đặc v.v... các chỗ hiểm nạn
đều do người tiên nổi giận gây nên.
Lại ý nghiệp có thể mau được quả báo, như trong kinh nói :
Nếu người nầy nay chết lập tức vào địa ngục, lập tức sinh lên trời,
như cây giáo mau lẹ lìa khỏi tay.
Lại ý nghiệp nầy chứa nhóm pháp nhơ bẩn cho đến đọa vào
địa ngục A-tì, chứa nhóm pháp thiện cho đến được Nê-hoàn.
Thành Thật Luận Trang 297 Tuệ Quang Foundation
Lại tâm có quả báo nên thân khẩu mới có quả báo, vì nghiệp
không cố ý không có quả báo.
Lại không lìa ý nghiệp mà có báo nghiệp thân khẩu, nếu ý
nương nơi thân khẩu làm thiện hay bất thiện, gọi là thân khẩu
nghiệp. Lìa thân khẩu nghiệp, thì ý nghiệp có quả báo; mà lìa ý
nghiệp thân khẩu không quả báo. Cho nên biết ý nghiệp là quan
trọng, chứ không phải thân khẩu nghiệp.
Tuy ông nói thân khẩu nghiệp là định thật, như tội ngũ
nghịch đều do thân khẩu gây nên, cho nên gọi là nặng. Điều này
không đúng. Vì nghĩ nặng, sự nặng nên nghiệp mới nặng, không
phải thân khẩu nặng nên nặng.
Lại vì tâm quyết định nên nghiệp mới định thật, như chỉ
dùng tâm lực vào ngôi vị chính pháp, cũng vì tâm lực có thể đủ
nghịch tội. Nếu người vô tâm dù giết phải cha mẹ cũng không bị
nghịch tội. Nên biết thân khẩu là không có sức.
Ông nói thân khẩu có thể làm xong việc. Điều đó cũng không
đúng. Vì việc rồi gọi là xong. Như cướp mạng sống người khác
rồi, mới bị tội sát sinh, không phải khi khởi nghiệp thân khẩu. Khi
xong việc còn phải cần dùng đến tâm lực nữa, cho nên không phải
thân khẩu.
Ông nói chỉ phát tâm suông không quả báo. Điều này không
đúng. Như trong kinh nói : Phát tâm mạnh nên lập tức sinh lên
trời, lập tức vào địa ngục. Sao nói ý nghiệp không quả báo ư ?
Ông nói không chỉ nhờ nguyện có thể thành sự. Điều đó
cũng không đúng. Vì có người phát thiện tâm sâu, được phúc
thắng hơn đại thí hội.
Ông nói ý không phạm tội, Điều đó cũng không đúng. Nếu
phát ác tâm tức thì bị tội. Như Phật nói có 3 thứ tội là thân, khẩu,
ý. Nên biết chỉ phát ác tâm không được vô tội. Có điều là không
kết giới vì khó hành trì. Thô tội trì giới có thể ngăn được. Tế tội
thì thiền định v.v... mới trừ được.
Thành Thật Luận Trang 298 Tuệ Quang Foundation
Ông nói tội phúc dễ. Điều này không đúng. Bởi người tâm
lực yếu nên bỏ việc dễ, làm việc khó. Như từ tâm v.v... được phúc
rất nhiều, không phải bố thí được như vậy. Chỉ vì chúng sinh trí
lực yếu ớt không thể tu ý nghiệp từ bi v.v.. , nên mới tu bố thí
v.v..., đem các thứ hương hoa và dụng cụ cúng dường, vì tịnh tâm
khó được.
Ông nói phúc vô tận. Cũng lấy đây mà đáp. Người nầy nếu
có trí lực thì có thể được pháp thiện vô tận.
Ông nói ý nghiệp không làm tổn ích. Điều này không đúng.
Vì thân khẩu nghiệp đều do ý nghiệp dẫn đường nên không gọi là
thắng. Vì tùy theo sức tự khởi được mới gọi là thắng.
Lại các điều lợi ích đều do tu từ tâm. Sở dĩ vì sao ? Vì sức tu
hành từ bi nên được mưa thuận gió hòa trăm thứ lúa được thành
thục. Như thời đại kiếp sơ, gạo thóc tự sinh. Đến khi con người
thọ chỉ còn 10 tuổi thì những điều ấy đều mất hết, làm sao nói từ
tâm không lợi ích ư ?
Lại người tu tâm từ, có thể trừ hết tất cả gốc nghiệp bất
thiện. Vì nghiệp bất thiện có các điều suy não, làm sao nói tu tâm
từ không có lợi ích lớn ? Nếu tất cả chúng sinh tu tâm từ thì đều
sinh chỗ thiện, tất cả thụ dụng tự nhiên mà có, không cần gia
công. Cho nên biết phúc của từ là sâu dày hơn hết.
Lại, hoặc có khi vì từ tâm bố thí lợi ích chúng sinh, hoặc chỉ
do từ tâm mà lợi ích.
Lại người tu từ tâm, nếu chúng sinh chạm đến thân phần,
hoặc vào trong bóng của thân đều được an vui. Nên phải biết phúc
của từ tâm thắng hơn phúc đức của bố thí.
Ông nói suy lợi rất lắm. Trước đã đáp việc ấy rồi nghĩa là
dùng sức của ý làm tổn hại hoặc lợi ích chúng sinh, cho nên biết ý
nghiệp là quan trọng.
Ông nói thời gian lâu tụ tập giới v.v... không có ích gì. Điều
này không đúng. Bởi vì sao ? Vì ý tịnh nên trì giỡi mới tịnh. Nếu
Thành Thật Luận Trang 299 Tuệ Quang Foundation
ý bất tịnh, giới cũng bất tịnh như trong Kinh Thất Chủng Dâm
nói.
Lại giới thanh tịnh được quả báo lớn, như trong kinh nói
người trì giới được sở nguyện tùy ý, là vì giới tịnh vậy.
Lại nếu thanh tịnh trì giỡi, thì tâm được yên ổn, chứ không
phải pháp nào khác.
Ông nói nghiệp thân khẩu thô nên dứt trước. Điều này không
đúng. Vì thiện vi tế mới được quả báo lớn, như ý nghĩ trong thiền
định.
Ông nói nếu phát dâm tâm liền bị phá giới. Điều này không
đúng. Nếu người ý nghiệp không tịnh thì giới cũng không tịnh.
Lại được tội phúc khác, phép kết giới khác.
Ông nói khởi ra tác nghiệp là do thân khẩu. Điều này đã giải
đáp chung rồi. Nghĩa là thân khẩu nghiệp pháp khác, ý nghiệp
pháp khác. Nghiệp thân khẩu cần do tác thành, như do 4 nhân
duyên thành tội sát sinh, không lìa tâm nghiệp.
Lại vậy gian chúng sinh cho nghiệp thân khẩu là ác, mà ý
nghiệp không như vậy.
Lại ý nghiệp không gia hại với người, cũng không thể được
là có.
Lại trước đã nói tướng tội phúc vì bởi tướng nầy nên chỉ ý
nghiệp là quan trọng chứ không phải thân khẩu.
Phẩm 120 : Nói rõ nghiệp nhân
Luận giả nói : Đã lược nói các nghiệp. Nghiệp là nhân duyên
thụ thân. Thân là bản tính khổ nên phải diệt trừ. Muốn diệt thân
nầy phải dứt nghiệp nhân, vì nhân diệt nên quả cũng diệt, như
nhân hình có bóng, hình diệt thì bóng diệt. Cho nên, nếu muốn
diệt khổ phải siêng năng tinh tiến dứt nghiệp nhân nầy.
Hỏi : Do nghiệp thụ thân, điều này cần hiểu rõ. Bởi vì sao ?
Hoặc có người nói : Thân do Bà-la-già-đề sinh; có người nói do
Thành Thật Luận Trang 300 Tuệ Quang Foundation
trời Tự Tại sinh, hoặc nói do Đại nhân sinh, hoặc nói do tự nhiên
sinh. Cho nên phải nói lý do Vì sao biết do nghiệp sinh ?
Đáp : Điều này đã dùng nhìều thứ nhân duyên phá rồi. Phải
biết do nghiệp thụ thân.
Lại muôn vật có nhiều thứ tạp loại, nên biết nhân cũng sai
khác, như thấy lúa bắp v.v... khác, biết giống không đồng, thì trời
Tự tại vì không sai khác, nên phải biết không phải nhân. Nghiệp
vì có vô lượng sai khác, nên mới thụ nhiều thứ thân khác nhau.
Lại các người thiện đều tin bởi nghiệp nên thụ thân. Bởi vì
sao ? Vì những người nầy thường tu các pháp thiện như thí, giới,
nhẫn v.v..., lìa các pháp bất thiện như sát sinh v.v... Nên biết do
nghiệp thụ thân.
Lại nếu bởi nghiệp thụ thân thì là có thể trở lại được chân trí,
dứt tà trí. Vì tà trí dứt, nên tham sân v.v... các phiền não đều dứt.
Vì các phiền não dứt, nên nghiệp nặng khởi thân sau cũng dứt. Đó
gọi là có thể trở lại. Trong nhân Tự Tại v.v... thì không trở lại
được, vi Tự Tại v.v... không dứt được, nên biết do nghiệp thụ
thân.
Lại hiện thấy quả cùng nhân giống nhau, như do bắp sinh
bắp, do lúa sinh lúa. Như vậy do nghiệp bất thiện được báo không
ưa thích, do nghiệp thiện được quả báo ưa thích. Trong nhân Tự
Tại v.v... không có giống nhau nầy. Cho nên nghiệp là gốc của
thân, chứ không phải trời Tự Tại v.v....
Lại nay hiện thấy muôn vật đều do nghiệp sinh, vì nhân ác
nghiệp nên bị chịu đánh, bắt, trói, nhốt, roi, gậy chết v.v... các
khổ; nhân thiện nghiệp được tiếng khen, lợi dưỡng v.v... vui
sướng. Người tùy ý nói lời ái ngữ, thì được hưởng quả báo tùy ý,
nên biết do nghiệp thụ thân, không phải Tự Tại v.v....
Lại người đời tự biết muôn vật do nghiệp nhân sinh nên khởi
làm các sự nghiệp cấy lúa mạ, và cũng tu thí, giới, nhẫn v.v... các
Thành Thật Luận Trang 301 Tuệ Quang Foundation
nghiệp phúc, không ai ngồi yên mà trông ông trời Tự Tại ban cho
điều mình muốn, nên biết do nghiệp được quả báo.
Lại như những người tuy nói do Tự Tại mà họ cũng phải
nương nhờ các nghiệp, nghĩa là tự khổ thân và thụ trai pháp v.v....
nên biết lấy nghiệp làm nhân.
Lại nếu việc không hiện có, phải theo người khác mà thụ
giáo, nghĩa là chỗ sở hành của Thánh nhân, tất cả Thánh Hiền nhờ
giới v.v... các pháp thiện, nên biết vì do nghiệp nhân mới có vậy
gian pháp. Nếu lìa giới v.v... cũng không có Thánh nhân, nếu
không Thánh giáo thì hành nghiệp trái lỗi, cho nên biết do nghiệp
thụ thân.
Lại tu giới v.v... các nghiệp thiện, nên có thể thành các việc
thần thông biến hóa, nên biết lấy nghiệp làm nhân.
Lại địa ngục v.v... trong các ác thú, sân não v.v... nhiều, cho
nên biết do sân não v.v... mà có các ác thú, như thấy quả trên cây
biết cây là nhân, cho nên biết nghiệp là gốc của thân.
Lại trong ác đạo do sức mạnh của si v.v..., nên phải biết
phiền não là nhân ác đạo, vì tất cả bất thiện đều do si.
Lại sinh các ác đạo thì nhiều, mà sinh về chỗ thiện thì ít. Mắt
thấy người giết v.v... người làm ác nhiều, người làm thiện ít. Nên
biết việc giết v.v... là nhân ác đạo.
Lại việc giết v.v... bị người thiện quở bỏ không làm, vì người
thiện biết giết v.v... chắc chắn có quả báo, nên mới quở bỏ không
làm. Nếu biết không quả báo ác thì Vì sao bỏ ?
Lại tâm của các người thiện nếu khởi ác tức liền siêng năng
ngăn chận, vì sợ ác báo. Nên phải biết giết v.v... chắc chắn có ác
báo. Nếu không phải vậy, thì tùy ý tung hoành là vui sướng thì
chúng sinh ăn được cứ giết ăn, của cải người cứ cướp, vợ người
cứ dâm, cũng đều cho là vui sướng cả. Vì sợ khổ báo đời sau nên
mới xa lìa các việc ấy, nên biết do nghiệp có thân.
Thành Thật Luận Trang 302 Tuệ Quang Foundation
Lại tu tập chính trí nên dứt hết nghiệp hữu lậu thì không thụ
thân, nên biết nghiệp là cội gốc.
Lại A-la-hán tuy có các nghiệp hữu lậu, vì tu chính trí nên
nghiệp không nhóm, nên biết nghiệp là nhân thụ thân. Vì nhân
của thân diệt nên thân cũng diệt theo.
Lại vì nhờ biết 4 đế nên nhờ 4 đế mà phiền não vĩnh viễn
không sinh khởi lại nữa. Vì không khởi nên không có thân. Người
trí suy nghĩ như vậy, nên muốn biết 4 đế. Cho nên biết nghiệp là
nhân của thân.
Lại nếu nhân duyên không đủ thì không thụ thân, như đất
khô giống hư thì tất cả mộng không mọc được. Như vậy nơi đất
thức mà không có nước ái thấm nhuần hạt giống nghiệp bị chân trí
làm hư, thì thân sau là mộng không nảy sinh được. Người trí vì
biết điều này nên muốn làm khô đất thức, làm hư hạt giống
nghiệp, nên mới siêng năng gia công tinh tiến. Cho nên biết
nghiệp là nhân duyên thụ thân.
Xong phần luận về nghiệp.
Phẩm 121 : Tướng của phiền não,
trong luận về phiền não của nhóm tập đế
Luận giả nói : Đã nói các nghiệp, các phiền não, nay sẽ nói
làm bẩn tâm gọi là phiền não.
Hỏi : Sao gọi là bẩn ?
Đáp : Nếu tâm có thể khiến sinh tử nối nhau luôn, đó gọi là
bẩn. Sự sai khác của tâm bẩn là : tham, sân, si v.v..., tâm bẩn nầy
gọi là phiền não, cũng gọi pháp tội, cũng gọi pháp thoái lui, cũng
gọi là pháp ẩn chìm, cũng gọi là pháp nóng và cũng gọi là pháp ăn
năn. Có các tên như vậy. Tâm bẩn nầy tu nhóm gọi là sử, không
phải chỉ khi tâm bẩn sinh gọi là sử.
Phiền não là tham, sân, si, nghi, kiêu mạn và 5 thứ kiến. Do
10 thứ sai khác nầy nên mới có 98 thứ sử. Tham là mừng vui 3
Thành Thật Luận Trang 303 Tuệ Quang Foundation
cõi, cũng mừng vui vô hữu gọi là tham. Như trong kinh nói : Dục
ái, hữu ái, vô hữu ái. Vô hữu gọi là đoạn diệt. Chúng sinh bị khổ
ép ngặt, nên muốn diệt ấm thân cho cái không đó là vui.
Hỏi : Mừng vui là tướng thụ, chứ không phải tướng tham.
Như trong kinh nói nghĩa nay mừng, sau mừng là nói đời nay thụ
vui, sau cũng thụ vui.
Lại nói nghĩa nay buồn sau buồn là nói đời này chịu khổ, đời
sau cũng chịu khổ.
Lại như trong lời trời hỏi rằng có con thì mừng. Phật đáp :
Có con thì lo. Các việc như vậy ?
Đáp : Tham là một phần của mừng. Như trong kinh nói : Thụ
làm nhân duyên cho ưa vui, trong thụ tham sai khiến, trong đoàn
thực có mừng có tham, mừng hết nên tham cũng hết. Cho nên biết
tham là một phần của mừng. Vậy là không lỗi. Vì sao biết được ?
Như trong kinh nói : Tập đế : Nghĩa là khao khát. Khao khát là
vậy nào ? Là muốn được thân sau. Hành tướng vậy nào ? Là
nương dựa lòng tham muốn được đủ thứ.
Hỏi : Nếu nói muốn được thân sau là tướng khao khát, Vì
sao nói nương dựa lòng tham muốn được đủ thứ ?
Đáp : Lại còn có tướng khao khát, như nói muốn được đủ thứ
là nói tướng chung; muốn được thân sau là nói tướng riêng.
Người lìa dục cũng có muốn được các thứ như khi khát muốn
được nước v.v..., đó không phải nhiếp vào tập đế. Nếu nương dựa
lòng tham muốn được thân sau, khao khát nầy mói gọi là nhiếp
vào tập đế.
Hỏi : Nếu như khao khát cũng là mừng, tham cũng là mừng
vì sao nói nương dựa lòng tham ?
Đáp : Mới sinh gọi khát, tăng trưởng gọi là tham, nên nói
nương dựa. Như trong kinh nói : Ưa thích trói buộc trong vậy
gian. Cho nên mừng tức là tham.
Thành Thật Luận Trang 304 Tuệ Quang Foundation
Lại trong kinh nói : Diệt trừ tham buồn các pháp bất thiện.
Trong đó tham tức là mừng, buồn tức là giận. Như nói giận là
buồn thì biết cũng nói mừng là tham. Cho nên trong 18 ý hành,
không nói phiền não, mà chi nói các thứ thụ, nên biết phần mừng
là tham.
Lại phàm phu lìa tham không thể thụ vui, lìa giận không thể
thụ khổ, lìa si không thể thụ không khổ không vui. Làm sao biết
được ? Trong thụ thứ 3 nói : Người phàm phu trong thụ này,
không biết tập nhân, không biết diệt trừ, không biết ý vị, không
biết tội lỗi, không biết xuất ly; nên với trong thụ không khổ không
vui bị vô minh sử sai khiến. Người phàm phu ấy thường không
biết 5 pháp nầy, nên thường đối với trong thụ không khổ không
vui bị vô minh sử sai khiến. Vô minh sử tức là tính không biết của
thụ hành. Như vậy phàm phu tâm hành khổ vui cũng tức là tham
giận.
Lại như bắt đầu đến tại tâm gọi là thụ, tăng trưởng minh liễu
gọi là phiền não.
Lại tâm mềm xuống gọi là thụ, cũng tức tâm ấy tăng lên gọi
là phiền não.
Phẩm 122 : Tướng của tham
Luận giả nói : Tham này trong 9 thứ kết buộc cả 3 cõi gọi là
ái. Trong 7 sử chia làm 2 thứ là dục tham và hữu tham. Bởi vì sao
? Vì có người đối với 2 cõi trên sinh tưởng giải thoát. Cho nên
Phật mới nói nơi đó gọi là hữu. Hữu gọi là sinh. Nếu không tham
thì không sinh. Cho nên đặc biệt nói hữu tham. không phải chỉ có
dục tham. Hoặc nói chỉ dục tham là phiền não, hết dục tham gọi là
được giải thoát. Cho nên Phật nói : Thiền trong Vô sắc cũng có
hữu tham. Phật chỉ rõ trong đó có trói buộc vi tế. Cho nên đặc biệt
nói tham này, ở trong 10 đường bất thiện và trong 4 trói buộc gọi
là tham dục. Tham dục mà gọi là dục, vì muốn được vật của người
Thành Thật Luận Trang 305 Tuệ Quang Foundation
khác. Ở trong 5 thứ cái và trong hạ phần kết gọi là dục dục. Dục
dục mà gọi là dục, vì ở trong 5 dục. Trong 3 bất thiện căn gọi là
tham bất thiện căn. Tham bất thiện căn là có thể sinh trưởng các
pháp bất thiện. Tham nầy, nếu tham phi pháp gọi là ác tham, như
trộm cướp vật của người khác, cho đến lấy vật của tháp, chùa,
Tăng chúng; hoặc chúng sinh chưa chết mà muốn ăn thịt, hoặc
muốn dâm mẹ, chị, em gái, vợ của thầy, người xuất gia và vợ của
mình mà dâm chỗ phi đạo, đều gọi là ác tham.
Nếu vật của mình không muốn xả cho, gọi là xan, xan tức là
tham.
Nếu thật không công đức, mà muốn khiến người ta bảo là có,
gọi là ác dục.
Nếu thật có công đức, mà muốn cho người ta biết gọi là phát
dục.
Nếu muốn được thí nhiều, được nhiều vật, gọi là đa dục.
Nếu được thí ít, ít vật, mà cầu thứ tốt không biết chán gọi là
bất tri túc.
Nếu chấp đắm sâu về chủng tính, dòng họ, danh sắc, của cải,
tuổi trẻ, tuổi thọ v.v..., gọi là kiêu dật.
Nếu tham 4 vật cúng dường, gọi là tứ ái.
Lại tham này có 2 thứ một là dục tham, hai là cụ tham.
Lại có 2 thứ một là ngã tham, hai là ngã sở tham. Một duyên
nội, hai duyên ngoại. Tham 2 cõi trên một bề duyên nội.
Lại có 5 thứ : 1. Tham sắc. 2. Tham hình. 3. Tham xúc. 4.
Tham oai nghi ngôn ngữ. 5. Tham tất cả.
Lại tham sắc, thanh, hương, vị, xúc gọi là tham 5 dục.
Lại với 6 thứ xúc sinh ái gọi là tham 6 trần.
Lại tham ở trong 3 thứ thụ : Trong lạc thụ có tham muốn
được, có tham giữ gìn. Trong khổ thụ có tham không muốn được,
có tham muốn mất. Trong bất khổ bất lạc thụ có tham si.
Thành Thật Luận Trang 306 Tuệ Quang Foundation
Lại tham này có 9 phần, như trong Kinh Đại Nhân nói : Do
ái nên tìm cầu chỗ mong muốn. Như người bị điều này làm khổ
thì tìm việc khác, như nói người vui không cầu, người khổ nhiều
cầu. Tham nầy tăng trưởng gọi là cầu. Khi cầu, nếu được gọi là
đắc. Ưa thích nhân được thì trù tính là nên lấy hay không nên lấy.
Nếu tâm quyết định gọi là nhân trù tính nên ưa muốn, nhân ưa
muốn nên tham đắm, tham đắm gọi là thâm ái. Nhân tham đắm
duyên thủ, thủ gọi là thụ, nhân thụ sinh keo kiệt, nhân keo kiệt
nên giữ gìn, nhân giữ gìn nên mới sắm đủ thứ roi, gậy, dao, xà
mâu v.v.... Đó gọi là 9 phần.
Lại có 9 phần nữa là tham tùy thời, nên có thượng, trung, hạ
là hạ hạ, hạ trung, hạ thượng; trung hạ, trung trung, trung thượng,
thượng hạ, thượng trung, thượng thượng.
Lại vậy gian chia tham nầy làm 10 thứ : 1. Như khi thấy sắc
đẹp trước tiên tâm cho là được. 2. Tiếp đó sinh muốn. 3. Phát
nguyện. 4. Nghĩ nhớ. 5. Theo bắt chước làm. 6. Quên xấu hổ. 7.
Thường ám ảnh trước mắt. 8. Phóng dật. 9. Cuồng si. 10. Chết
ngất. Đó là tướng tham.
Phẩm 123 : Nhân của tham
Hỏi : Tham đó sinh như vậy nào ?
Đáp : Như trong cảnh duyên nữ sắc v.v... sinh nghĩ nhớ tà
vạy như hoặc sắc, hoặc hình, hoặc xúc, hoặc điệu bộ nói năng là
sinh tham dục.
Lại nếu không giữ gìn các cửa mắt tai thì sinh tham dục.
Lại như với việc ăn uống không biết độ lượng là sinh tham
dục.
Lại gần gũi nữ sắc thì sinh tham dục.
Lại hưởng các thú vui thì sinh tham dục.
Lại vì ngu si nên sinh tham dục như với bất tịnh tưởng là
tịnh.
Thành Thật Luận Trang 307 Tuệ Quang Foundation
Lại bởi ác tri thức nên sinh tham dục, như đem khăn nhơ
nhớp mà gói áo sạch sẽ.
Lại vì cộng sự với người đa dục, nên sinh tham dục.
Lại đối với thân thụ v.v... 4 pháp sinh nghĩ nhớ vọng tưởng
là bị tham dục lôi kéo, như bình tròn không đế, như hoa không xỏ
xâu.
Lại như biếng nhác không siêng tu thiện thì tham dục dễ
sinh.
Lại đi chỗ không nên đi, thì bị tham xâm nhập, như là nơi
dâm nữ, quán rượu, hàng thịt v.v..., ví như loài chim ưng, đai
bàng.
Lại quán bất tịnh v.v... chưa có thể phá hoại được cảnh
duyên thì tham dục đắc vậy.
Lại từ lâu xa đến giờ, thường quen tham dục, thành tham sử
nên dễ sinh.
Lại với cảnh duyên nữ sắc v.v... ưa thủ tướng, thủ liễu. Thủ
tướng là lấy các tướng tay, chân, mặt, mắt, lời nói, giỡn cười, nhìn
ngắm, khóc lóc v.v.... Thủ liễu là phân biệt trai gái hình trạng sai
khác. Như vậy thủ lấy, thủ lấy rồi nghĩ nhớ phân biệt thì sinh
tham dục.
Lại tâm nghĩ lường yếu ớt nên cứ chạy theo cảnh duyên
không thể ngăn chận được, thì sinh tham dục.
Lại nếu sinh tham dục nhẫn chịu không bỏ, thì ngày càng
tăng thêm từ hạ sinh trung, từ trung sinh thượng.
Lại trong tham dục chỉ thấy say đắm mùi lợi lạc mà không
biết tội lỗi, thì sinh tham dục.
Lại vì thời tiết nên sinh tham dục, như mùa xuân v.v....
Lại vì nơi chỗ nên sinh tham dục, như có địa phương từ xưa
nay nhiều thói dâm dục.
Lại tùy theo thể lực, nên sinh tham dục, như tuổi trẻ, không
bệnh hoạn và đồ nuôi sống đầy đủ.
Thành Thật Luận Trang 308 Tuệ Quang Foundation
Lại vì lực có thể nên sinh tham dục, như uống thuốc tăng lực
v.v....
Lại được tịnh diệu tùy ý ngũ dục thì sinh tham dục. Nghĩa là
thấy sắc đẹp hoa ao, vườn rừng, sum sê xanh tốt, nước suối chảy
mát mẽ, mây đẹp, điện chớp sáng, gió đưa hương đến, hoặc nghe
tiếng kêu áo não của chim chóc hòa nhau, và nữ nhân trang điểm
dáng điệu dịu dàng, nói năng cử chỉ v.v....
Lại vì nghiệp nhân duyên nên sinh tham dục, như người
thanh tịnh thí thì hay ưa thích tịnh diệu ngũ dục, mà người tội lỗi
thì ưa bất tịnh.
Lại vì từng loại nên sinh tham dục, như người thì tham dục
người.
Lại đắm sâu giả danh thì sinh tham dục. Người nầy đối bên
trong sinh tướng sĩ phu, bên ngoài sinh tướng nữ lưu và áo mặc,
người oan, người thân các tướng.
Lại vì chưa được không tâm, nên trong thấy chúng sinh,
ngoài thấy sắc v.v... thì sinh tham dục.
Lại nếu tham sử chưa diệt hết, ái duyên hiện tiền, trong đó
sinh nghĩ nhớ tà vạy. Những nhân duyên như vậy v.v... tức sinh
tham dục.
Phẩm 124 : Lỗi của tham
Hỏi : Tham dục có những lỗi gì nên muốn dứt ư ?
Đáp : Tham dục thật khổ, phàm phu điên đảo vọng sinh
tưởng vui, người trí thấy khổ, thấy khổ thì phải dứt.
Lại thụ dục thì không bao giờ biết chán, như uống nước mặn,
càng uống càng khát. Vì càng khát thì làm sao được vui ?
Lại vì thụ dục nên các ác đều tụ tập và có dao gậy v.v... xảy
ra đều bởi tham dục.
Lại trong kinh nói : Tham tội nhẹ mà khỏ bỏ. Vì đối với giận
dữ nên gọi là tội nhẹ, kỳ thật là nặng.
Thành Thật Luận Trang 309 Tuệ Quang Foundation
Lại tham làm nhân duyên cho thân sau, như nói ái làm nhân
duyên cho thủ, cho đến tụ tập thành khổ lớn.
Lại nói nhân khổ là ái.
Lại nói Tì-kheo phải suy nghĩ kỹ xem có bao nhiêu các khổ
và do đâu mà có ? Phải biết đều lấy thân làm nhân duyên, thân là
nhân nơi ái.
Lại nói trong đoàn thực có hỷ có tham, cho nên thức sinh
trong đó. Phải biết ái làm nhân duyên của sự thụ thân.
Lại tham này thường hành động trong bất tịnh, như nữ nhân
v.v.... Thân tâm nữ nhân là bất tịnh, như cục phân được bọc lại, có
thể làm ô uế, như rắn độc có thể cắn hại.
Lại tham dục này thường hành động trong si, như trong kinh
nói : Ví như chó gặm xương khô dính máu, vì nước dãi thấm vào,
nên tưởng cho là ngon. Người tham cũng vậy, trong cái dục vô vị,
mà vì sức tà điên đảo cho là có hương vị.
Lại như miếng thịt v.v... có 7 thứ ví dụ.
Hoặc có người bảo với việc trong quá khứ vị lai mà sinh
tham dục cho nên biết thường hành động trong si.
Lại chúng sinh vì nhân duyên tham dục nên vui ít khổ nhiều.
Bởi vì sao ? Vì như hưởng giàu sang thì ít, mà lúc tán hoại thì
nhiều.
Lại người ái dục là vì nhân vui nên chịu đủ các thứ khổ.
Nghĩa là khi tìm cầu khổ, khi giữ gìn khổ, khi thụ dụng cũng khổ
luôn. Như trồng lúa, buôn bán, chinh chiến, làm quan v.v.... Khi
tìm cầu là khổ. Khi giữ gìn lo sợ mất mát nên khổ, hiện tại không
chán nên khổ.
Lại đoàn tụ vui yêu ít, ly biệt khổ nhiều. Cho nên biết tham
dục có nhiều tội lỗi.
Lại như Phật nói ái dục có 5 thứ tội lỗi : 1. Ý vị ít mà lỗi
nhiều. 2. Các kết bùng phát. 3. Đến chết không chán. 4. Bị Thánh
trách bỏ. 5. Không ác nào không tạo.
Thành Thật Luận Trang 310 Tuệ Quang Foundation
Lại tham dục nầy thường khiến chúng sinh thuận theo dòng
sinh tử, xa lìa Nê-hoàn. Có các tội lỗi như vậy nhiều vô lượng.
Nên phải biết tham dục là nhiều tội lỗi.
Lại sinh các phiền não đều bởi tham dục, như tham thân nên
khởi các phiền não về thân.
Lại không nhổ gốc ái sử thì thường xuyên bị khổ, như không
chặt cây độc thì thường hại người.
Lại tham có thể khiến chúng sinh gánh gánh nặng.
Lại trong kinh nói : Tham ái là trói buộc, như bò đen bò
trắng tự không buộc nhau, chỉ bởi dây buộc. Như vậy mắt không
buộc sắc, sắc không buộc mắt, mà tham dục ở trong đó buộc. Nếu
duyên là buộc, thì không được giải thoát.
Lại trong kinh nói : Chúng sinh bị vô minh che khuất bị ái
kết trói buộc, qua lại trong sinh tử không cùng tận.
Lại trong kinh nói : Tham dứt nên sắc dứt, cho đến thức cũng
dứt. Tham nầy nhờ quán vô thường v.v... mới dứt được. Dứt được
tham dục nầy thì tâm được giải thoát. Sắc tham dứt thì không sắc.
Không sắc thì khổ diệt, cho đến thức cũng như vậy. Cho nên biết
tham dục là trói buộc bền chắc.
Lại tham dục như giặc mà chúng sinh không thấy cái ác của
nó.
Lại tham dục thường hành động trong sự mềm dịu đẹp đẽ
nên gọi là thâm ác.
Lại tâm chúng sinh ưa khởi tham dục, cho đến loài muỗi,
kiến cũng đều ở trong uống ăn, dâm dục mà khởi.
Lại tham dục nầy có nhiều thứ nhân duyên có thể buộc lòng
người, như là cha mẹ, anh em, chị em vợ con và của cải v.v....
Lại chúng sinh vì tham dục ăn uống, dâm dục v.v…che tâm
nên mới có thể thụ sinh. Nếu tham thiền định thì sinh cõi trên.
Thành Thật Luận Trang 311 Tuệ Quang Foundation
Lại tham dục nầy có thể làm hòa hợp tất cả sở thích khác
nhau của vậy gian. Tham dục làm hòa hợp lại, giống như cát trộn
với nước là dính nhau lại.
Lại trong sinh tử lấy tham ái làm khí vị, như nói trong sắc
đắm vị. Nghĩa là do sắc sinh hoặc mừng hoặc vui. Nếu không
tham thì không có khí vị, không khí vị thì có thể mau dứt sinh tử.
Lại tham dục nầy trái nhau với giải thoát. Bởi vì sao ? Vì
chúng sinh vì tham đắm vui dục lạc, vui thiền định nên không vui
muốn giải thoát.
Lại tùy dứt được một phần tham, tức được biến thành một
phần vui, như nói tùy chỗ lìa dục chuyển thàh vui sâu sắc.
Lại nói : Nếu muốn được các vui, phải bỏ tất cả dục. Bỏ tất
cả dục nên được rốt ráo thường vui. Nếu muốn được cái vui lớn,
phải lìa bỏ cái vui nhỏ. Bỏ cái vui nhỏ nên có thể được cái vui vô
lượng.
Lại nói : Người trí không có cái lợi nào khác bằng lìa lìa bỏ
tâm tham ái. Tùy tâm lìa tham ái thì diệt các khổ não.
Lại tham dục nầy làm hại thiện pháp. Bởi vì sao ? Vì người
nặng tham đắm thì bất chấp giới luật, chủng tính, giáo pháp, oai
nghi, danh dự, không lĩnh thụ giáo hóa, không thấy sự suy bại,
không coi tội phúc ra gì, như cuồng như say không biết tốt xấu;
cũng như người mù không thấy phúc lợi. Như nói : Tham dục
không thấy lợi; tham dục không biết phân biệt phải trái, giống như
mù lòa không biết, vì không diệt trừ tham dục.
Lại nói : Tham dục là biển cả, không bờ cũng không đáy,
sóng mòi xoáy sâu, ác trùng và quỉ La-sát, các hiểm nạn như vậy,
không ai quá khỏi được, chỉ có ở trong thuyền tịnh giới, nhờ sức
gió chính kiến, Phật là vị thuyền trưởng có thể chỉ dẫn đường
chính, như nói mà tu hành, thì mới qua được.
Lại trong các phiền não không có tưởng nhớ phân biệt khí vị
nào bằng tham dục.
Thành Thật Luận Trang 312 Tuệ Quang Foundation
Lại tham dục này là khó dứt, như trong kinh nói có 2 thứ ước
muốn khó dứt : một là muốn được, hai là muốn sống lâu.
Hỏi : Tham dục có những lỗi như vậy, làm sao biết được
tướng của người tham dục ?
Đáp : Người nhiều tham dục thì ưa vui nữ sắc và hoa hương,
đồ trang sức, ca nhạc, múa hát; thường đến nhà dâm nữ nhóm
họp, ăn uống; ưa tụ họp đông đảo và các đồ dụng cụ vui chơi, ưa
đem lời ái ngữ, tâm thường vui mừng, sắc diện tươi hòa, gợi ý hỏi
han, cười cười nói nói, khó giận dễ vui, để tâm chiếu cố, thân thể
mau lẹ, tính tình tháo vát, tự chấp chặt bản ngã. Những tướng như
vậy gọi là tướng nhiều tham dục. Tướng nầy cùng với tính trói
buộc đều thuận nhau, cho nên khó dứt.
Lại tất cả tham dục rốt ráo đều khổ. Bởi vì sao ? Vì những
việc tham ái, được thì chắc chắn phải có lìa tan, lìa tan ắt có buồn
khổ. Như nói người, trời đều thích sắc, tham sắc, ưa sắc, đắm sắc.
Khi sắc nầy hoại thì tâm ăn năn buồn rầu. Thụ, tưởng, hành, thức
cũng đều như vậy.
Lại trong các kinh Phật nói nhiều ví dụ để quở trách tham
dục nầy. Nghĩa là có thể hại tuệ mạng, nên nói là độc. Ở trong tâm
thì đau nên gọi là gai, có thể dứt thiện căn nên gọi là dao, có thể
đốt thân tâm nên gọi là lửa, có thể sinh các khổ nên gọi là oán, từ
trong tâm sinh ra nên gọi là giặc bên trong, vì khó nhổ nên gọi là
rễ sâu, có thể làm bẩn danh dự nên gọi là đất bùn, ngăn trở đường
thiện nên gọi là chướng ngại, đau bên trong nên gọi là mũi tên
đâm trong tim, khởi các ác nên gọi là bất thiệncăn, chẩy vào biển
sinh tử nên gọi là sông, trộm cướp của thiện nên gọi là giặc. Tham
dục có vô lượng tội lỗi như vậy cho nên cần phải dứt.
Phẩm 125 : Dứt trừ tham
Hỏi : Tham dục có những lỗi như vậy, làm sao dứt ?
Thành Thật Luận Trang 313 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Lấy bất tịnh quán v.v... mà ngăn, vô thường quán v.v...
mà dứt.
Hỏi : Có người biết vô thường nên càng tăng tham dục, việc
ấy thế nào ?
Đáp : Nếu người có thể biết tất cả vô thường thì không tham
dục. Như trong kinh nói : Khéo tu tưởng vô thường nên có thể phá
hoại được tất cả tham dục. tham sắc, tham vô sắc, tất cả hí lộng,
kiêu mạn và vô minh.
Lại nếu người có thể thấy thế gian đều khổ, khổ bởi nhân
duyên tham, thì tham nầy dứt.
Lại nếu người thường nghĩ rằng mình chắc phải chịu khổ
sinh lão bệnh tử, thì tham nầy dứt.
Lại như được cái lạc thanh tịnh thì bỏ cái lạc bất tịnh. Như
được Sơ thiền thì bỏ dục ái.
Lại thấy lỗi của tham dục là có thể dứt được. Lỗi như trước
đã nói.
Lại vì đa văn v.v... trí tuệ tăng trưởng nên có thể dứt tham
dục vì tính trí tuệ phá phiền não.
Lại nhờ nhân duyên thiện đầy đủ, thì tham dục dứt, nghĩa là
tịnh trì giới v.v..., và 11 thứ định cụ. Điều này sẽ nói trong đạo đế.
Lại sắc trí v.v..., pháp trí v.v... các phương tiện, Phật là vị
thầy thuốc lớn, các đồng học là những người sai khiến, chính pháp
là thuốc, tự như nói mà làm đúng, thì bệnh tham dục. Như có
người biết bệnh và đầy đủ 3 việc ấy thì bệnh khỏi tức thì.
Hỏi : Như trong kinh nói dùng bất tịnh quán để trừ tham dục.
Vì sao nói bất tịnh v.v... và vô thường v.v...?
Đáp : Tất cả Phật pháp đều vì phá các phiền não. Nhưng đều
có sức thắng riêng. Trước tiên dùng bất tịnh quán để ngăn tham
dục, sau mới lấy trí vô thường mà dứt.
Thành Thật Luận Trang 314 Tuệ Quang Foundation
Lại dùng bất tịnh để trừ tham dục thô, điều đó được nhiều
người biết, còn tham sử thì vi tế nên phải dùng vô thường mới dứt
được.
Lại chỉ trong một kinh đó nói như vậy, chứ trong các kinh
khác cũng nói các pháp khác cũng có thể dứt. Nhân duyên như
vậy thì tham dục dứt.
Phẩm 126 : Sân nhuế
Luận giả nói tướng giận dữ là như giận người nầy muốn
khiến nó diệt mất, nhờ người khác trói đánh giết hại, nhất quyết
trừ bỏ không muốn thấy. Giận này gọi là Ba-la-đề-già, nghĩa là
giận hạng nặng. Có thứ giận chỉ muốn mắng nhiếc đánh đập
người khác gọi là Vi-hân-bà, là giận hạng trung. Có thứ giận
không muốn bỏ rời như bởi ghét, yêu vợ con mà sinh, gọi là Câulô-
đà; là giận hạng nhẹ. Có thứ giận thường nhiễm ô tâm, gọi là
Ma-xoa, là không trả thù. Có thứ giận ở mãi nơi tâm không bỏ,
cần muốn trả thù, gọi là Ưu-bà-na-ha, là trả thù. Có thứ giận vội
chấp một việc, dù nhiều lời khuyên nhủ quyết không muốn bỏ,
như sư tử muốn qua sông, cứ nhắm đến bờ bên kia, chết cũng
không nao núng, gọi là Ba-la-đà-xá, nghĩa là chấp chặt. Có thứ
giận thấy người ta được lợi, tâm sinh ganh ghét, gọi là I-sa. Có
thứ giận thường ưa tranh tụng, tâm khẩu cương cường, gọi là
Tam-lam-ba, nghĩa là giận tranh giành. Có thứ giận, hoặc sư
trưởng dạy dỗ mà nghịch chống lại, gọi là Đầu-hòa-già, nghĩa là
phàn kháng. Có thứ giận như được việc chút ít không vừa lòng thì
tâm sinh bối rối gọi là A-sằn-đề, nghĩa là không nhẫn nhịn. Có thứ
giận nói lời không nhỏ nhẹ thường hay nhăn nhó không có sắc
mặt hòa dịu. Nói năng cướp lời trước, gọi là A-bà-cật-lược, nghĩa
là không vui lòng. Có thứ giận đối với người ở chung thường hay
mắng nhiếc, gọi là A-tảo-la-cô, nghĩa là không thuận hòa. Có thứ
giận dùng thân khẩu ý xúc não người đồng học, gọi là thắng kỳ,
Thành Thật Luận Trang 315 Tuệ Quang Foundation
nghĩa là xúc hại. Có thứ giận thường hay càu nhàu và chê bai đủ
thứ, gọi là Đăng-đan-na-tha, nghĩa là khó tính.
Hai thứ giận này, hoặc nhân chúng sinh hoặc không nhân
chúng sinh. Nhân chúng sinh gọi là tội nặng.
Lại có thượng, trung, hạ phân biệt làm 9 phẩm.
Lại nhân 9 thứ phiền não phân biệt làm 9, và vô sự nổi giận
ngang ấy là thứ 10.
Hỏi : Giận nầy làm sao sinh ?
Đáp : Từ việc không vừa ý khổ não mà sinh.
Lại vì không biết dúng cái tính của khổ thụ, nên sinh giận dữ.
Hoặc từ quở mắng roi vọt v.v... mà sinh.
Hoặc cùng làm việc với người ác mà sinh giận dữ, như hàng
thịt, thợ săn v.v....
Hoặc vì do trí lực yếu ớt nên sinh giận dữ như cành nhánh
cây bị gió làm lay.
Hoặc tích chứa giận dữ lâu ngày đến nỗi thành tính nên sinh
giận dữ.
Hoặc gốc từ dòng hàng thịt, thợ săn và loài rắn độc lai sinh
làm người thì sinh giận dữ.
Hoặc ưa nhớ lỗi của người khác nên sinh giận dữ, như trong
9 thứ phiền não đã nói.
Hoặc tùy thời tiết nên sinh giận dữ, như đến khi người chỉ
còn 10 tuổi v.v....
Hoặc bởi loài giống nên sinh giận dữ, như loài rắn độc v.v....
Hoặc bởi địa phương nên sinh giận dữ, như người nước
Khương Cù v.v....
Lại như trước đã nói nhân duyên sinh tham, cùng mâu thuẫn
với tham thì sinh giận dữ.
Lại tâm chấp ngã, kiêu mạn bùng phát mạnh và say đắm tài
vật một cách sâu đậm, các nhân duyên như vậy v.v..., thì sinh giận
dữ.
Thành Thật Luận Trang 316 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Giận nầy có những tội lỗi gì ?
Đáp : Trong kinh nói giận là tội nặng đối với tham dục. Cho
nên nói là dễ cởi bỏ, mà kỳ thật là khó gỡ. Có điều là không bằng
tham đeo bám lâu nơi tâm.
Lại giận tạo ra 2 cái phiền não. Trước đốt hại nơi mình, sau
đốt hại nơi người.
Lại giận chắc chắn là địa ngục, vì do giận đa phần khởi
nghiệp đọa địa ngục.
Lại giận có thể phá hoại phúc thiện, nghĩ là thí, giới, nhẫn 3
pháp nầy đều do tâm từ v.v... sinh ra, giận thì mâu thuẫn với tâm
từ nên nói là có thể phá hoại.
Lại do giận khởi nghiệp đều bị tiếng xấu.
Lại do giận khởi nghiệp về sau tâm phải ăn năn.
Lại người hay giận hờn, là người không có lòng thương yêu,
nên gọi là người hung bạo, vì chúng sinh đã thường khổ mà lại vì
giận làm hại thêm, như ung nhọt, như lửa.
Lại trong kinh tự nói lỗi của giận là người nhiều giận thì hình
sắc xấu xí, ngủ thức không yên vì tâm thường lo sợ bị người khác
không tin v.v....
Hỏi : Người nhiều giận dữ có những tướng ra sao ?
Đáp : Tâm khẩu cương cường thường không vui vẻ, mặt mày
nhăn nhó, sắc diện không khoan hòa khó gần gũi, dễ nổi xung khó
bỏ, thường hay giận hờn, ưa cãi cọ, hay sắm sửa binh khí, kết bè
đảng với bạn ác, lại ganh ghét người thiện, là người thô kệch
không suy nghĩ kỹ, ít khi biết hổ thẹn. Có những điều như vậy gọi
là tướng giận dữ. Các tướng nầy đều vì ganh ghét người khác mà
sinh, cho nên cần phải dứt.
Hỏi : Phải dứt như thế nào ?
Đáp : Thường tu từ bi hỷ xả thì giận dữ dứt.
Lại phải thấy tội lỗi của giận dữ thì mới dứt được.
Lại được chân trí thì giận dữ dứt.
Thành Thật Luận Trang 317 Tuệ Quang Foundation
Lại phải nhờ sức nhẫn nhục, giận dữ mới dứt được.
Hỏi : Sao gọi là sức nhẫn ?
Đáp : Nếu có thể nhẫn các khổ do người khác mắng nhiếc là
người nầy được phúc của pháp thiện. Cũng không nên do không
nhẫn mà sinh hung ác. Đó gọi là sức nhẫn nhục.
Lại người tu nhẫn gọi là Sa-môn, vì nhẫn nhục là cửa ngõ
đầu tiên vào đạo. Pháp Sa-môn là giận dữ không đáp trả bằng giận
dữ, bị mắng không mắng trả, bị đánh không đánh lại.
Lại nếu Tì-kheo nhẫn được là đúng với pháp xuất gia.
Lại người giận dữ là không phải phép của người xuất gia.
Phép người xuất gia là nhẫn nhục.
Lại nếu Tì-kheo thân mặc áo khác tục mà tâm còn giận dữ
đồng với người là không hợp.
Lại như người tu nhẫn nhục tức là đã đủ công đức từ bi.
Lại người tu nhẫn nhục có thể thành tựu tự lợi. Bởi vì sao ?
Vì những người giận dữ muốn não hại người, mà trở thành tự hại.
Đem hết thân khẩu để thêm ác cho người, mà tự mình bị ác quá
hơn trăm ngàn lần. Cho nên biết giận là tự tổn hại nặng nhất. Vì
vậy người trí muốn mình và người đều được khỏi khổ lớn và tội
lớn, cần phải tu nhẫn nhục.
Hỏi : Làm sao có thể chịu nổi cái khổ bị mắng nhiếc ?
Đáp : Nếu người khéo tu vô thường, rõ thấu các pháp niệm
niệm sinh diệt, thì biết rằng người mắng, người bị mắng đều diệt
từng mỗi niệm, trong đó có chỗ nào đáng sinh giận dữ ?
Lại khéo tu không tâm, mới có thể nhẫn nhục được. Nên
nghĩ như vầy : Các pháp là thật không, có ai là người mắng, có ai
là người bị mắng.
Lại sự việc nếu thật, thì nên nhẫn nhục, vì ta thật có lỗi,
người kia nói thật lời, sao lại giận ? Nếu sự không thật, thì người
kia tự phải bị quả báo vọng ngữ, ta giận làm gì ?
Thành Thật Luận Trang 318 Tuệ Quang Foundation
Lại nếu nghe lời mắng ác, phải nghĩ như vầy : Tất cả thế gian
đều theo nghiệp chịu báo, ta xưa chắc đã gây nghiệp ác này, nay
nên đền trả chứ sao lại giận ?
Lại nếu nghe mắng ác, tự phải xét lỗi mình. Bởi ta thụ thân,
mà thân là đồ đựng các nỗi khổ, nên phải chịu mắng.
Lại người tu nhẫn nhục nên suy nghĩ như vầy : Vạn vật đều
do nhiều nhân duyên sinh. Cái khổ mắng ác nầy, là do nhĩ thức, ý
thức và âm thanh v.v... sinh ra. Trong đó tự ta có 2 phần, người
kia chỉ có âm thanh, vậy là tội ta nhiều hơn, sao lại giận ? Và vì ta
chấp lấy tướng phân biệt của âm thanh kia, nên sinh phiền não tức
là ta lỗi.
Lại người nhẫn nhục không nên bắt lỗi người khác. Bởi vì
sao ? Vì tội tham sân si nầy không phải lỗi của chúng sinh mà do
tâm bệnh của chúng sinh phát sinh ra nên không được tự tại. Như
thầy trị quỷ, chữa người bị quỷ ám, thì chỉ nên giận quỷ mà không
nên giận bệnh nhân.
Lại người nầy vì siêng tu tinh tiến thích tập pháp thiện nên
không chấp lời người khác.
Lại nghĩ nhớ chư Phật, các Hiền thánh còn không khỏi bị
mắng. Như người Bà-la-môn xảo quyệt v.v... mắng Phật nhiều
điều. Như Xá-lợi-phất v.v... bị Bà-la-môn gia hại các thứ nhục
mạ, huống chi chúng ta là hạng người bạc phúc ư ?
Lại nghĩ như thế này : Thế gian nhiều ác mà không đoạt
mạng ta đã là rất may mắn lắm rồi huống chi là đánh mắng ?
Lại nghĩ thế nầy : Các thứ mắng ác nầy với ta không khổ, có
thể dễ nhẫn chịu. Như Phật dạy Tì-kheo dẫu cho cưa sắt xẻ mình,
cũng nên nhẫn chịu, huống chi mắng nhiếc.
Lại người tu hạnh này thường chán sinh tử nếu bị mạ nhục
thì chứng nghiệm rõ ràng lại càng thêm chán lìa, bỏi ác tu thiện.
Lại người này biết không nhẫn nhục sau chịu khổ báo, mới
nghĩ như vầy : Thà bị khinh mắng, chớ đọa địa ngục.
Thành Thật Luận Trang 319 Tuệ Quang Foundation
Lại người này ôm sâu lòng hổ thẹn. Ta là đệ tử Thế Tôn, bậc
Đại nhân, là người tu đạo, làm sao lại khởi thân khẩu là nghiệp
không đáng khởi ư ?
Lại được nghe Bồ-tát tu nhẫn nhục và Đế Thích v.v... mà
được sức nhẫn. Cho nên phải tu nhẫn.
Phẩm 127 : Vô minh
Luận giả nói chạy theo giả danh gọi là vô minh. Như nói
phàm phu theo tiếng ngã. Trong đó thật không có ngã và ngã sở.
Chỉ có các pháp hòa hợp giả gọi tên là người. Phàm phu không
thể phân biệt nên sinh ngã tâm. Ngã tâm sinh tức là vô minh.
Hỏi : Trong kinh Phật nói không biết đời quá khứ v.v... gọi là
vô minh. Vì sao chỉ nói ngã tâm ?
Đáp : Vì trong quá khứ nhiều người sai lầm, nên nói trong đó
không biết gọi là vô minh.
Lại trong kinh giải thích nghĩa chữ minh là có chỗ hiểu biết
mới gọi là minh. Biết những pháp gì ? Là sắc ấm vô thường, như
thật biết vô thường. Thụ, tưởng, hành thức các ấm vô thường, như
thật biết vô thường. Trái lại với minh gọi là vô minh. Vậy thì
không rõ như thật nên gọi là vô minh.
Hỏi : Nếu không rõ như thật gọi là vô minh thì gỗ đá v.v...
các pháp lẽ ra cũng phải gọi là vô minh? Vì chúng không rõ như
thật ?
Đáp : Không phải vậy. Gỗ đá vô tâm không phân biệt được
đời quá khứ v.v..., vô minh phân biệt được nên không đồng gỗ đá.
Hỏi : Vô minh gọi là vô pháp, như người mắt không thấy sắc
không có pháp không thấy. Cho nên chỉ minh là không có, nên
gọi là vô minh, chứ không có pháp khác ?
Đáp : Không phải vậy. Nếu không có vô minh thì trong 5 ấm
vọng chấp có người, và trong gạch đá sinh tưởng vàng bạc, gọi là
Thành Thật Luận Trang 320 Tuệ Quang Foundation
thứ gì ? Cho nên phải biết tính tà phân biệt gọi là vô minh, chứ
không phải vì không có minh mà gọi là vô minh.
Lại từ vô minh nhân duyên mới có các hành v.v... nối nhau
sinh; nếu là vô pháp thì làm sao sinh được ?
Hỏi : Nếu không phải minh gọi là vô minh thì nay chỉ trừ
minh, tất cả các pháp còn lại đều là vô minh. Cho nên không lấy
một pháp gọi là vô minh ?
Đáp : Vô minh nầy là nói trong tự tướng, chứ không nói các
pháp. Như nói bất thiện tức là nói cái thể bất thiện, chứ không nói
vô ký. Vô minh cũng vậy. Tuy mang thân hình người, mà không
có hành động như con người, nên mới gọi là không phải người.
Như vậy cái minh nầy tuy có phân biệt mà không biết như thật,
nên mới gọi vô minh. Còn gỗ đá không phải vậy.
Hỏi : Nếu nói vô sắc, vô đối, vô lậu, vô vi đều là các thuyết,
vì sao vô minh không phải như vậy ?
Đáp : Hoặc giả có lý nầy, nhưng trong bất thiện v.v... thì
không như vậy.
Hỏi : Có người nói chỉ vì không có minh nên gọi vô minh,
như trong nhà không ánh sáng nên gọi là tối ?
Đáp : Thế gian có 2 lối nói : Hoặc không có sáng nên nói là
không sáng, hoặc sáng không đúng cũng nói là không sáng.
Không có sáng nên nói là không sáng, là như thế gian nói mù
không thấy sắc, điếc không nghe tiếng. Sáng không đúng cũng nói
là không sáng như đêm thấy cây trơ trụi sinh tưởng là người, thấy
người tưởng là cây trơ trụi.
Lại người không thể thật biết việc đó nên gọi là không biết.
Lại tà tâm gọi là phiền não. Các hành nghiệp nhân duyên
nầy, A-la-hán đã dứt nên không có vô minh làm nhân duyên cho
các hành. Nếu không phải minh gọi là vô minh thì nay A-la-hán
không minh trong Phật pháp, lẽ ra phải gọi vô minh ? Mà nếu có
vô minh thì không phải A-la-hán. Cho nên phải biết rằng nói có
Thành Thật Luận Trang 321 Tuệ Quang Foundation
thể tính vô minh riêng tức là tà tâm. Tà tâm nầy là vô minh phân
ra tất cả phiền não. Bởi vì sao ? Vì tất cả phiền não đều là tà hành.
Lại tất cả phiền não che tâm người, đều là đui mù. Như nói
tham dục không thấy pháp, tham dục không thấy phúc. Người
năng thụ tham nầy đều gọi là đui mù. Sân si cũng như vậy.
Lại từ tất cả phiền não sinh các hành nghiệp, nên trong kinh
nói từ vô minh sinh hành. Cho nên biết tất cả phiền não đều là vô
minh.
Lại người không thấy không, thường có vô minh. Chỉ cáu
bẩn vô minh là nhân duyên các hành.
Lại vì tà minh nên nói là vô minh. Người thưa thấy không,
thường là tà minh. Cho nên biết vô minh phân ra tất cả phiền não.
Hỏi : Vô minh sinh như thế nào ?
Đáp : Nếu nghe, nghĩ tà nhân thì sinh vô minh. Như cho có
Đà-la-phiêu, có hữu phần, có tinh thần, các pháp niệm niệm
không diệt, không có thân sau, âm thanh và Thần là thường còn,
cỏ cây v.v... có tâm, rồi muốn thành lập các tà chấp như vậy, thì
sinh vô minh.
Hoặc do tà nhân nên sinh vô minh là gần gũi bạn tà ác, nghe
tà pháp, rồi nghĩ tà và làm tà. Vì 4 tà nhân đó nên sinh vô minh.
Lại nhân duyên sinh các phiền não khác, đều là nhân sinh vô
minh.
Lại do nhân vô minh nên sinh vô minh, như từ bắp sinh bắp,
từ lúa sinh lúa. Như vậy từ chấp của chúng sinh, thì sinh vô minh.
Lại trong kinh nói : Từ nhân duyên tà niệm mà sinh vô minh.
Tà niệm là một biệt danh của vô minh, như thấy có người, trước
tâm sinh ý niệm về người, sau nghĩ rõ ràng, nên gọi là vô minh.
Hai hiện tượng trước sau nầy tương trợ tương sinh, như từ cây
sinh trái, từ trái lại sinh cây.
Hỏi : Vô minh có những lỗi gì ?
Thành Thật Luận Trang 322 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Tất cả tổn hại đều bởi vô minh. Bởi vì sao ? Vì từ vô
minh sinh tham v.v... các phiền não; từ phiền não khởi nghiệp bất
thiện; từ nghiệp thụ thân. Nhân duyên thụ thân, mới bị các thứ tổn
hại. Như trong kinh nói : Vô minh che khuất ái kết trói buộc, thụ
thân các hữu.
Lại trong kinh Sư Tử Hống nói : Các thủ, đều do vô minh
làm gốc. Lại kệ nói :
Có các chỗ tội ác
Đời nay hoặc đời sau,
Đều vô minh làm gốc,
Nên từ tham dục khởi
Tất cả lỗi phiền não
Đều bởi vô minh có,
Vì từ vô minh sinh
Tất cả phiền não đó.
Lại phàm phu vì vô minh nên chịu thân 5 ấm nầy là bất tịnh,
vô thường, khổ, không, vô ngã, làm gì có người trí chịu các khổ
này !
Lại vì nhờ chính tư duy nên có thể xả 5 ấm. Như trong kinh
nói : Nếu biết tâm ta là tà điên đảo, thì không sinh trở lại. Cho nên
biết do vô minh nhân duyên nên bị trói buộc, minh nhân duyên
nên giải thoát.
Lại thế gian chúng sinh vì vô minh nên tham cầu một chút
khí vị mà không thấy nhiều tội lỗi, như con thiêu thân tự gieo
mình vào lửa, như cá nuốt mồi câu. Chúng sinh cũng vậy, hiện
tham chút khí vị mà bất cố nhiều tội lỗi.
Lại kinh điển ngoại đạo sinh tà kiến nói không có tội phúc
v.v..., đều là vô minh.
Lại các ác đạo đều do bất thiện. Bất thiện đều là vô minh.
Lại các tà kiến khởi nghiệp phần nhiều đọa địa ngục. Tà
kiến đều do vô minh sinh.
Thành Thật Luận Trang 323 Tuệ Quang Foundation
Lại Phật là đấng Thế Tôn, là bậc Nhất thiết trí, là Đại sư của
3 cõi, là người chân tịnh tu hành và Thánh đệ tử v.v.... mà các
ngoại đạo không phân biệt biết được, như người mù vất bỏ viên
ngọc châu báu. Đó đều là lỗi vô minh.
Lại tất cả chúng sinh có bao nhiêu việc tổn não bại hoại
v.v..., đều do vô minh, tất cả lợi ích thành tựu tăng trưởng đều nhờ
minh mẫn. Nếu tăng trưởng vô minh rốt ráo quyết đọa địa ngục
A-tì. Như kiếp sơ con người không biết khí vị là hư vọng, mới
sinh tham đắm, nên mất sắc lực thọ mạng các việc v.v.... Phải biết
đều bởi vô minh làm mất các điều lợi.
Lại vô minh nầy chỉ có chân trí mới dứt được, còn tham v.v...
thì không vậy.
Lại trong tâm tham không có giận, trong tâm giận không có
tham, còn vô minh thì có mặt trong tất cả tâm; và người không tu
tuệ thì vô minh thường trực ở trong tâm.
Lại trong các phiền não vô minh là rất mạnh, như trong kinh
nói vô minh tội nặng cũng khó giải trừ.
Lại vô minh là cội rễ của 12 nhân duyên, nếu không có vô
minh thì các nghiệp không nhóm không thành. Vì sao biết được ?
Các A-la-hán không có tướng chúng sinh, vì không vô minh nên
các nghiệp không thể nhóm thành. Nghiệp không nhóm nên thức
v.v... các chi phần không sinh lại được. Cho nên biết vô minh là
gốc của các khổ.
Lại hiện thấy tham đắm thân bất tịnh nầy cũng đối với vô
thường sinh tưởng là thường, giống như nắm tay không để gạt trẻ
nít; cũng nhà ảo thuật có thể diễn trò ảo thuật khiến người xem
thấy đất là vàng.
Lại tục nói người ngu hiện có thể gia thêm tội mà cũng có
thể dùng lời nói gạt. Thế gian cũng vậy, mắt thấy bất tịnh mà vẫn
để bị gạt.
Thành Thật Luận Trang 324 Tuệ Quang Foundation
Lại các tâm pháp niệm niệm diệt hết, vì chấp lấy tướng nên
sinh. Sắc diệt hết rồi, vì si nên chấp lấy tướng. Với âm thanh
v.v… cũng như vậy. Cho nên khó giải trừ. Đó là lỗi của vô minh.
Hỏi : Người nhiều vô minh có những tướng gì ?
Đáp : Người nầy với chỗ đáng sợ không sợ, chỗ nên vui
không vui, ganh ghét người thiện, ưa thích người ác, lấy ngược ý
người, thường ưa trái chống, chấp cứng việc tà, thiếu lòng hổ
thẹn, bất cố hiềm nghi, không hay làm cho người vui, tự mình
cũng khó được vui, không hay gần ai, ai cũng khó gần; ngu hãi
không hiểu, ưa mặc áo bẩn, ưa vào chỗ tối, và chỗ bất tịnh, tự cao
tự đại, hay khinh dễ người không cần đạo lý, tự khoe công đức,
lỗi không biết lỗi, lợi không biết lợi; không thích sạch sẽ, cũng
không oai nghi, nói năng vụng về, thường hay hờn giận, lấy trộm
pháp người, mà sâu tham đắm; học tụng khó được, được rồi dễ
mất, dẫu có sở đắc, không thể hiểu nghĩa, dẫu có hiểu nghĩa, thì
cũng hiểu sai. Tất cả tướng đó đều do vô minh. Cho nên biết vô
minh có vô lượng tội lỗi cần phải dứt trừ.
Hỏi : Làm sao dứt được ?
Đáp : Khéo tu chân trí thì dứt được.
Hỏi : Biết ấm giới v.v... cũng gọi là chân trí. Vì sao trong
kinh nói thuốc chữa vô minh là, hoặc nhân duyên, hoặc quán nhân
duyên ?
Đáp : Các ngoại đạo phần nhiều hiểu lầm nhân trong sự vật,
vì hiểu lầm nhân, nên nói trời Tự tại v.v... tạo ra thế gian. Vì lầm
nhân trong sự vật, nên nói có Đà-la-phiêu có hữu phần v.v....
Quán pháp nhân duyên, thì dứt 2 sai lầm nầy.
Hỏi : Nhân duyên gọi là thuốc chữa vô minh. Vì sao nói 2
thứ ?
Đáp : Vì muốn thu gom hết các trí. Nếu quán ấm, giới, nhập
v.v... cũng phá được vô minh. Nhưng vô minh nặng là tà kiến. Tà
kiến nhờ nhân duyên dứt, nên nói 2 thứ. Tham giận cũng như vậy.
Thành Thật Luận Trang 325 Tuệ Quang Foundation
Lại thế gian phần nhiều sai lầm đối với tên gọi cái bình v.v...
Như nghe tên cái bình thì sinh nghi sắc v.v... là cái bình hay rời
sắc v.v... lại riêng có cái bình ? Như vậy 5 ấm là người hay rời 5
ấm lại riêng có người ? Nếu tâm quyết định thì sa vào nhị biên là
đoạn và thường. Thân tức là Thần, hay thân khác Thần khác cũng
như vậy. Nếu người biết cái bình từ các duyên sinh, do sắc,
hương, vị, xúc mà thành, vậy sắc v.v... các ấm có thể hiểu là
người, thì có thể lìa bỏ sự sinh từ tên gọi. Cái tên gọi này có thể
che khuất thật nghĩa các pháp. Như trong Kinh Thiên Vấn nói :
Tên gọi hơn tất cả pháp, mà không có gì có thể hơn được. Tên gọi
nầy tất cả các pháp đều theo.
Lại nói : Thấy thế gian tập thì dứt được chấp không thấy thế
gian diệt thì dứt được chấp có.
Lại nói : Vì các hành nối nhau luôn nên nói 5 ấm sinh tử. Đó
đều là tội lỗi của vô minh, quán Nhân duyên thì dứt.
Lại trong kinh nói : Nếu ai thấy nhân duyên là người đó thấy
pháp. Nếu thấy pháp tức thấy Phật. Như vậy nếu ai có thể dứt sự
sinh nghi do tên gọi thì người đó mới thật thấy Phật, mà không
phải theo ai học. Cho nên nhờ chính trí thì hết vô minh. Vì nhờ
biết đúng pháp nhân duyên nên mới có được chính trí.
Lại lược nói trong 8 vạn 4 ngàn pháp tạng có bao nhiêu trí
tuệ đều để diệt trừ vô minh, vì vô minh làm cội rễ tất cả phiền não
và giúp phát triển tất cả phiền não. Nhân duyên như vậy thì dứt
được vô minh.
THÀNH THẬT LUẬN
CÒN NỮA
( Quyển 7 )
Ha-lê-bạt-ma tạo luận
Cưu-ma-la-thập dịch
Nguyên Hồng dịch tiếng Việt
Phẩm 94 : Bất tương ưng hành
Tâm bất tương ưng hành là : đắc, bất đắc, vô tưởng định, diệt
tận định, vô tưởng xứ, mạng căn, sinh, diệt, trụ, dị, lão, tử, danh
chúng, cú chúng, tự chúng và phàm phu pháp v.v....
Đắc là các pháp thành tựu, vì chúng sinh nên mới có đắc.
Chúng sinh thành tựu 5 ấm thân, đời hiện tại gọi là đắc.
Thành Thật Luận Trang 216 Tuệ Quang Foundation
Lại trong đời quá khứ nghiệp thiện bất thiện, quả báo chưa
chịu, chúng sinh đã thành tựu pháp nầy. Như trong kinh nói :
Người này thành tựu thiện pháp và cũng thành tựu bất thiện pháp.
Hỏi: Có người nói thành tựu nghiệp thân khẩu thiện bất
thiện đời quá khứ, như người xuất gia thành tựu giới luật nghi đời
quá khứ. Việc này vậy nào ?
Đáp : Đều đã thành tựu. Bởi vì sao ? Trong kinh nói : Nếu
người làm tội phúc tức là đã có 2 việc thường bám theo thân, như
bóng theo hình.
Lại trong kinh nói : Họa phúc không hư hoại, nghĩa là có thể
được quả . Nếu không thành tựu nghiệp tội phúc thì không nên
đắc quả, tức mất các hành nghiệp.
Hỏi : Luật nghi quá khứ không nên thành tựu. Bởi vì sao ? Vì
ông đã nói pháp quá khứ diệt, vị lai chưa có, hiện tại không có thể
thường có thiện tâm, thì làm sao thành tựu giới luật nghi được ư ?
Đáp : Người nầy thành tựu luật nghi hiện tại, không phải quá
khứ. Như bởi hiện ô nhiễm nên nhiễm. Như vậy lấy giới hiện tại
nên gọi là trì giới, chứ không lấy quá khứ. Nhưng vì trước đã thụ
mà không xả, nên gọi thành tựu quá khứ.
Hỏi : Có luận sư nói chúng sinh thành tựu tâm thiện bất thiện
trong đời vị lai. Việc ấy vậy nào ?
Đáp : Không thành tựu. Bởi vì sao ? Vì chưa tác nghiệp mà
đã được. Cho nên vị lai không thành tựu. Đó gọi là đắc, là không
riêng có tâm bất tương ưng pháp gọi là đắc. Trái với đó gọi là bất
đắc. Và cũng không riêng có pháp bất đắc.
Vô tưởng định là không có pháp nhất định. Bởi vì sao ? Vì
phàm phu không có thể diệt tâm và tâm số pháp. Điều này sẽ nói
sau. Tâm và tâm số pháp nầy vi tế khó giác sát biết được, nên gọi
là vô tưởng. Vô tưởng xứ cũng như vậy.
Diệt tận định là tâm diệt không còn hành nữa nên gọi là diệt
tận, không có pháp riêng, giống như Nê-hoàn.
Thành Thật Luận Trang 217 Tuệ Quang Foundation
Mạng căn là vì nghiệp nhân duyên nên 5 ấm nối nhau gọi là
mạng. Mạng nầy lấy nghiệp làm căn bản nên gọi là mạng căn.
Sinh là 5 ấm ở đời hiện tại gọi là sinh.
Xả bỏ đời hiện tại gọi là diệt.
Nối nhau nên trụ.
Trụ nầy biến đổi khác nên gọi là dị. Không phải riêng có
pháp gọi là sinh trụ diệt.
Lại trong nghĩa sâu xa của Phật pháp, thì các duyên hòa hợp
là có pháp sinh. Cho nên không có pháp nào có thể sinh pháp
khác.
Lại nói nhãn, sắc v.v... làm nhân duyên cho nhãn thức. Trong
đó không nói có sinh, cho nên không sinh không có lỗi gì.
Lại nói sinh pháp v.v... đồng thời sinh. Nếu pháp đồng thời
sinh tức diệt. Trong đó sinh v.v... để làm gì ? Điều này cần suy
nghĩ.
Lại trong 12 nhân duyên Phật tự nói nghĩa sinh : Các chúng
sinh nơi nơi sinh, thụ các ấm là sinh. Cho nên trong đời hiện tại
trước tiên được các ấm gọi là sinh. Cũng nói 5 ấm lui mất gọi là
chết. Cũng nói các ấm suy hoại gọi là già, mà không riêng có
pháp già chết.
Danh chúng là do từ chữ sinh danh, tức tên gọi, như nói
người nào đó. Từ chữ thành nghĩa gọi là cú, tức là câu. Các chữ
gọi là chữ. Có người nói có các danh, cú, tự, là tâm bất tương ưng
hành. Điều này không đúng. Vì pháp nầy gồm trong pháp thuộc
về thanh.
Hỏi : Pháp phàm phu là tâm bất tương ưng hành. Việc này
vậy nào ?
Đáp : Pháp phàm phu không khác phàm phu. Nếu riêng có
pháp phàm phu, cũng phải chấp nhận riêng có pháp cái bình v.v....
Lại nữa số lượng, một khác, hợp ly, tốt xấu, v.v... pháp đều
phải có riêng. Trong kinh sách ngoại đạo nói cái bình khác, pháp
Thành Thật Luận Trang 218 Tuệ Quang Foundation
cái bình khác. Do pháp cái bình mới biết là sắc cái bình khác, sắc
của pháp khác. Điều này không đúng. Bởi vì sao ? Vì pháp là tự
thể. Nếu ông bảo pháp phàm phu khác, thì sắc không có tự thể,
phải đợi sắc pháp mới có. Điều này không đúng. Cho nên bởi ông
không nghĩ kỹ nên mới nói riêng có pháp phàm phu. Có các luận
sư học ngoại điển nên tạo luận A-tì-đàm nói riêng có pháp phàm
phu v.v.... Cũng có các luận sư khác nói riêng có pháp tính, chân
tế, nhân duyên v.v... các pháp vô vi. Cho nên phải suy nghĩ kỹ lý
nầy, đừng chỉ theo văn tự.
Xong nhóm khổ đế.
Phẩm 95 : Tướng của nghiệp
trong luận về nghiệp của nhóm tập đế
Luận giả nói : Đã nói xong về khổ đế, nay sẽ nói về tập đế.
Tập đế là các nghiệp và phiền não. Nghiệp nầy có 3 thứ :
thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp. Thân nghiệp là thân ra làm
gọi là thân nghiệp. Nghiệp này có 3 thứ : đoạt lấy sinh mạng
v.v... là bất thiện, đứng lên nghinh tiếp lễ bái v.v... là thiện, nhổ cỏ
v.v... là vô ký.
Hỏi : Nếu thân ra làm gọi là thân nghiệp, thì cái bình v.v...
các vật cũng phải có thân nghiệp, vì thân nó cũng có tác dụng vậy
?
Đáp : Cai bình v.v... là quả của thân nghiệp, chứ không phải
thân nghiệp, vì nhân quả khác.
Hỏi : Không nên có thân nghiệp. Bởi vì sao ? Vì thân khởi
động tác gọi thân nghiệp, mà pháp hữu vi diệt trong từng mỗi
niệm nên không phải có động tác.
Đáp : Điều này trong Phẩm niệm niệm diệt đã đáp, nghĩa là
pháp khi sinh ở các chỗ khác, làm tổn hại hoặc lợi ích cho người
khác, đó gọi là thân nghiệp.
Thành Thật Luận Trang 219 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Nếu như vậy thì thân tức là thân nghiệp, vì sinh các chỗ
khác, nên không phải thân ra làm gọi là thân nghiệp ?
Đáp : Thân là công cụ tác nghiệp. Thân khi sinh ở các chỗ
khác nhóm họp tội phúc gọi là nghiệp. Cho nên thân không phải
nghiệp.
Hỏi : Nhóm tội phúc là không làm, còn thân làm là vậy nào
?
Đáp : Khi sinh thân ở các chỗ khác có các tạo tác gọi là thân
làm.
Hỏi : Thân này ra làm hoặc thiện hoặc bất thiện, mà thân
không vậy. Cho nên không phải thân làm ?
Đáp : Tùy tâm lực nên khi sinh thân ở chỗ khác có thể nhóm
nghiệp. Cho nên hoặc nhóm thiện, bất thiện, không những là thân,
mà khẩu nghiệp cũng vậy, chẳng những âm thanh ngôn ngữ cũng
lấy tâm lực, tùy âm thanh ngôn ngữ mà nhóm thiện ác gọi là khẩu
nghiệp. Ý nghiệp cũng vậy, nếu tâm quyết định : Ta giết chúng
sinh nầy. Bây giờ nhóm tội phúc cũng như vậy.
Hỏi : Như từ thân khẩu riêng có nghiệp, ý với ý nghiệp là tức
chính nó hay là khác ?
Đáp : Hai thứ : Hoặc ý tức là ý nghiệp. Hoặc do từ ý sinh
nghiệp. Như ý quyết định giết chúng sinh, đó là ý bất thiện, mà
cũng là ý nghiệp. Nghiệp nầy có thể nhóm tội thắng hơn nghiệp
thân khẩu. Nếu tâm chưa quyết định, thì ý này khác với nghiệp.
Hỏi : Đã biết tướng tạo tác là do từ tạo tác mà sinh. Nhóm
nghiệp khác, cái nào là tướng ?
Đáp : Đó tức là không tạo tác.
Hỏi : Chỉ thân khẩu là không tạo tác, ý không có không tạo
tác sao ?
Đáp : Không phải vậy. Bởi vì sao ? Vì trong đó không có
nhân duyên, nên chỉ nghiệp thân khẩu có không tạo tác, mà ý
không có không tạo tác.
Thành Thật Luận Trang 220 Tuệ Quang Foundation
Lại trong kinh nói có 2 thứ nghiệp là tư nghiệp và tư dĩ
nghiệp. Tư nghiệp, nghĩa là nghĩ tức là ý nghiệp. Tư dĩ nghiệp,
nghĩa là nghiệp do đã nghĩ rồi. Có 2 thứ là do nghĩ nhóm họp
nghiệp và nghiệp thân khẩu. Ý nghiệp là quan trọng nhất, sau sẽ
đề cập. Do trọng nghiệp nhóm họp gọi là không tạo tác, vì thường
nối nhau sinh, nên biết ý nghiệp cũng có trạng thái không tạo tác.
Phẩm 96 : Không tạo tác
Hỏi : Pháp nào gọi là không tạo tác ?
Đáp : Do tâm sinh tội phúc. Ngủ mê, ngất xỉu v.v..., những
khi ấy thường sinh đó gọi là không tạo tác. Như trong kinh nói :
Nếu trồng cây gây vườn rừng, đào giếng, bắt cầu v.v.... Người nầy
tạo phúc ngày đêm thường tăng trưởng.
Hỏi : Có người bảo tác nghiệp hiện có thể thấy. Như bố thí,
lễ bái, sát sinh hại mạng v.v... là phải có. Còn không tác nghiệp, vì
không thể thấy nên không có. Xin làm rõ nghĩa nầy.
Đáp : Nếu không có sự không tạo tác, thì không có pháp lìa
sát sinh v.v....
Hỏi : Lìa là không làm, không làm thì không có pháp. Như
người khi không nói, thì không có pháp không nói sinh. Như khi
không thấy sắc cũng không có pháp không thấy
Đáp : Nhân lìa sát sinh v.v... được sinh lên trời. Nếu không
có pháp làm sao làm nhân ?
Hỏi : Không vì lìa nên sinh trời, mà vì thiện tâm vậy ?
Đáp : Không phải. Trong kinh nói : Người tinh tiến tùy theo
sống lâu được phúc nhiều. Vì tùy theo phúc nhiều nên được
hưởng vui cõi trời lâu dài. Nếu chỉ có thiện tâm làm sao có thể có
nhiều phúc ? Vì người ấy không thể thường có thiện tâm.
Lại nói trồng cây v.v..., phúc ngày đêm tăng trưởng.
Lại nói trì giới kiên cố. Nếu không có không tạo tác, làm sao
nói phúc thường tăng trưởng và trì giới kiên cố ?
Thành Thật Luận Trang 221 Tuệ Quang Foundation
Lại chẳng phải làm tức là sát sinh, làm tuần tự pháp sát sinh
mới sinh, rồi sau bị tội sát sinh. Như người sai bảo giết, tùy lúc sai
bảo, người sai bảo bị tội sát sinh. Cho nên biết có cái gọi là không
tạo tác.
Lại ý không có giới luật nghi. Bởi vì sao ? Vì người tâm ở
trong tâm bất thiện, vô ký, hoặc vô tâm, cũng gọi là trì giới. Cho
nên biết, lúc bấy giờ có cái không tạo tác. Bất thiện luật nghi cũng
như vậy.
Hỏi : Đã biết có pháp không tạo tác không phải tâm. Vậy nó
là sắc, hay là tâm bất tương ưng hành ?
Đáp : Đó là thuộc về hành ấm. Bởi vì sao ? Vì tướng tác khởi
là hành, không tạo tác là tướng tác khởi. Sắc là tướng não hoại,
không phải tướng tác khởi.
Hỏi: Trong kinh nói 6 thứ tư duy là hành ấm, mà không nói
tâm bất tương ưng hành ?
Đáp : Điều này trước đã nói rõ, nghĩa là có tâm không tương
ưng với tội phúc.
Hỏi : Nếu cái không tạo tác tác là sắc tướng thì có lỗi gì ?
Đáp : Năm pháp sắc thanh hương vị xúc, vì không phải tính
tội phúc, nên không lấy sắc tính cho là không tạo tác.
Lại Phật nói sắc là tướng não hoại. Trong cái không tạo tác
nầy không thể tìm được tướng não hoại, cho nên không phải sắc
tính.
Hỏi : Không tạo tác là tính của thân khẩu nghiệp; thân khẩu
nghiệp tức là sắc ?
Đáp : Không tạo tác chỉ gọi là thân khẩu nghiệp, mà thật
không phải thân khẩu làm ra, vì bởi thân khẩu mà ý nghiệp mới
sinh, cho nên mới nói thân khẩu ý nghiệp tính.
Lại hoặc chỉ do ý sinh cái không tạo tác, thì cái không tạo tác
nầy làm sao gọi sắc tính được ?
Thành Thật Luận Trang 222 Tuệ Quang Foundation
Lại trong cõi Vô sắc cũng có cái không tạo tác. Trong Vô sắc
thì làm sao có sắc ?
Hỏi : Làm những gì có thể sinh cái không tạo tác ?
Đáp : Do thiện bất thiện tác nghiệp có thể sinh cái không tạo
tác, chứ không phải vô ký, vì sức nó yếu.
Hỏi: Từ khi làm thì gian bao lâu sinh cái không tạo tác ?
Đáp : Từ đệ nhị tâm sinh. Tùy tâm thiện ác mạnh thì có thể
trụ lâu. Nếu tâm yếu thì trụ không lâu. Như thụ giới một ngày thì
trụ một ngày, thụ giới trọn đời trụ trọn đời.
Phẩm 97 : Cố ý và không cố ý
Hỏi: Trong kinh nói : Cố tác nghiệp không cố tác nghiệp.
Vậy nào là cố ý và không cố ý ?
Đáp : Trước đã biết mà cứ làm gọi là cố làm, trái lại gọi là
không cố làm.
Hỏi : Nếu không cố ý làm, không gọi là nghiệp ?
Đáp : Có nghiệp, nhưng chỉ có tâm cố ý làm thì nghiệp có
quả báo.
Lại tâm quyết định làm nghiệp gọi là cố ý. Tâm không quyết
định làm gọi là không cố ý. Như nói lỡ lời gọi là không cố ý,
không lỡ lời là cố ý. Như trong kinh nói : Ông có tội lỗi, ta sẽ kể
tội, nếu nói lỡ lời thì ta không kể. Hỏi như vậy 3 lần. Nếu trước
không có ý làm mà làm như người khi đi dẫm phải làm chết trùng,
đấy là không cố ý. Nghiệp không cố ý này, vì không nhóm, nên
không có thể sinh quả báo.
Nghiệp có 4 thứ : có làm không nhóm, có nhóm không làm,
có cũng làm cũng nhóm, có không làm không nhóm.
Làm mà không nhóm như làm nghiệp sát sinh v.v..., sau liền
sinh ăn năn làm nghiệp bố thí v.v... , về sau lòng cũng ăn năn và
làm nghiệp rồi sau tâm không nhớ. Đó gọi là làm mà không
nhóm.
Thành Thật Luận Trang 223 Tuệ Quang Foundation
Nhóm không làm là như người khác làm sát sinh v.v... mà
lòng minh sinh vui mừng, người khác làm bố thí v.v... lòng cũng
vui mừng.
Cũng làm cũng nhóm là như tự làm tội sát sinh v.v..., làm
phúc bố thí v.v..., tự sinh lòng vui mừng.
Không làm không nhóm là cũng không làm cũng không sinh
mừng. Trong đây, cũng làm cũng nhóm, nghiệp ấy quyết định
chịu quả báo. Như trong kinh nói nếu nghiệp cũng làm cũng nhóm
là nghiệp chắc chắn thụ quả báo. Cho nên nghiệp làm nhóm, hoặc
hiện đời chịu báo, hoặc đời sau chịu báo, hoặc sau đời sau nữa
chịu báo.
Hỏi : Nếu nghiệp có làm có nhóm quyết định chịu báo thì
không giải thoát ?
Đáp: Nghiệp tuy cố làm, nhưng vì được chân trí nên không còn
nhóm nữa, ví như rang hạt giống thì hạt giống không có thể sinh
lại.
Hỏi : Trong kinh Giám Lượng Phật nói : Có người tạo
nghiệp báo địa ngục mà hiện đời chịu nhẹ ?
Đáp : Nếu ác nghiệp nặng mà có thể hiện chịu nhẹ, cớ sao
không thể khiến hết sạch ư ? Nếu người không thể tu đầy đủ chân
trí, thì ác nghiệp được cơ hội trả báo, nên đời hiện tại ít chịu quả
báo.
Hỏi : A-la-hán tuy tu đủ chân trí mà cũng chịu ác báo ?
Đáp : Thâm nghiêm tu hành thiện pháp thì ngăn được bất
thiện. Cho nên, nếu người ở trong trăm ngàn đời tu nhóm giới
v.v... các nghiệp thiện, thì nghiệp bất thiện không thể sinh khởi
được, giống như chư Phật, bậc Nhất thiết trí. Còn những người
khác không thể như vậy, cho nên nghiệp bất thiện được cơ hội
phát sinh. Cho nên A-la-hán tuy tu đủ chân trí, nhưng vì nghiệp
đời trước nên cũng phải chịu ác báo.
Thành Thật Luận Trang 224 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Trong kinh cũng nói Phật cũng bị hủy báng v.v... các
nghiệp báo bất thiện ?
Đáp : Phật là bậc Nhất thiết trí, không còn ác nghiệp báo vì
đã dứt tất cả cội gốc các pháp bất thiện. Nhưng dùng vô lượng
thần thông, phương tiện thị hiện làm Phật sự không thể nghĩ bàn.
Như trong kinh Tăng Nhất A-hàm nói có 5 việc không thể nghĩ
bàn.
Nghiệp có 2 thứ : Định báo và Bất định báo. Nghiệp định
báo là hoặc nhiều hoặc ít quyết sẽ chịu quả báo. Nghiệp bất định
là có thể khiến tiêu hết.
Hỏi : Vậy nào gọi nghiệp định báo và những gì là nghiệp bất
định báo ?
Đáp : Trong kinh nói tội ngũ nghịch là nghiệp định báo.
Hỏi : Chỉ tội ngũ nghịch là nghiệp định báo, còn có tội gì
khác không ?
Đáp : Trong các nghiệp khác cũng có phần định báo, nhưng
không thể chỉ ra được. Hoặc vì sự trọng nên quyết định báo, như
đối với Phật và đệ tử Phật, hoặc cúng dường, hoặc khinh chê.
Hoặc vì tâm trọng nên có định báo, như người vì cố tâm giết hại
trùng kiến, nặng đến việc giết người. Những nghiệp như vậy v.v...
quyết chắc có định báo.
Hỏi : Nếu tội ngũ nghịch có thể khiến nhẹ bớt, Vì sao không
thể khiến tiêu hết ?
Đáp : Tội pháp nầy là như vậy, không thể làm tiêu hết được.
Như Tu-đà-hoàn dù giải đãi mấy cũng không đến 8 lần sinh.
Lại tội ngũ nghịch vì bền chắc nặng nề nên không thể làm
tiêu hết được. Như trong phép vua người bị trọng tội, có thể được
giảm khinh, chứ không tha bổng.
Phẩm 98 : Tội nhẹ nặng
Thành Thật Luận Trang 225 Tuệ Quang Foundation
Hỏi: Trong kinh nói có tội nghiệp nhẹ nặng. Vậy nào là nhẹ
nặng ?
Đáp : Nếu nghiệp có thể bị quả báo địa ngục A-tì, gọi là tội
nặng.
Hỏi : Những nghiệp gì có thể bị quả báo ấy ?
Đáp : Như nghiệp phá Tăng ắt chịu báo này. Bởi vì sao ? Vì
chia lìa ngôi Tam Bảo, khiến Tăng bảo lìa Phật bảo cũng phá
Pháp bảo nữa. Lại vì sinh tà kiến hạng nặng nên có thể khởi
nghiệp này. Cũng do rất ghét, giận Phật, nên khởi nghiệp này.
Cũng từ lâu tụ tập ác tính, rất tham lợi dưỡng, nên khởi nghiệp
này.
Lại người này nói phi pháp là pháp phải thời, ngăn nhiều
chúng sinh tu các thiện pháp, nên gọi là tội nặng.
Hỏi : Chỉ có tội phá Tăng bị báo địa ngục A-tì, còn các tội
khác ?
Đáp : Các nghiệp khác cũng có. Như nói không có tội phúc,
cúng dường cha mẹ và các người thiện không có quả báo. Các tà
kiến nầy cũng bị quả báo đó.
Lại làm cho người khác sa vào tà kiến nầy, khiến nhiều
chúng sinh tạo các ác nghiệp nên cũng bị báo đó.
Lại có thể trước tác các kinh sách tà kiến như vậy, như bọn
Phú-lan-na v.v... và các sư tà kiến, làm hại chính kiến, nên mở
đường nhân duyên cho nhiều chúng sinh làm ác.
Lại tội hủy báng hiền thánh cũng bị quả báo ấy, như nói một
bên hông chịu khổ 8 vạn 4 ngàn năm.
Lại như trong Kinh Pháp Cú nói :
Thánh sống lâu vì pháp,
Đem pháp ấy giáo hóa.
Độn căn nương ác kiến
Trái nghịch lời dạy đây,
Như tre gai sinh trái,
Thành Thật Luận Trang 226 Tuệ Quang Foundation
Thì tự hại thân hình,
Người nầy đọa địa ngục,
Đầu xuống chân ngược lên,
Người ác tâm ác khẩu,
Vì bài báng hiền thánh.
Người nầy đọa 10 vạn
Địa ngục Ni-la-phù,
Ba sáu vạn địa ngục,
Và 5 A-phù-đà.
Lại sát sinh v.v..., nếu sự trọng, tâm trọng, tội này cũng đọa
địa ngục A-tì. Trái lại với nặng là nhẹ, như là ở trong địa ngục
nhỏ bị nướng trên lửa nướng v.v... súc sinh, ngạ quỷ và trong
người trời chịu quả báo bất thiện, đó là tội nhẹ.
Phẩm 99 : Nghiệp lợi lớn nhỏ
Hỏi: Trong kinh nói có nghiệp lợi lớn nhỏ. Những gì là
nghiệp lợi lớn ?
Đáp : Tùy theo nghiệp nào có thể đưa đến A-nậu-đa-la Tammiệu
Tam-bồ-đề, đó là nghiệp báo lợi lớn nhất. Nghiệp kế tiếp là
có thể được quả Bich-chi-phật đạo. Nghiệp kế tiếp là được quả
Thanh Văn đạo. Nghiệp kế tiếp là được quả báo cõi Hữu đảnh, có
thọ mạng đến 8 vạn đại kiếp. Đây là nghiệp báo lớn nhất trong
sinh tử. Nghiệp kế tiếp là được quả báo cõi Vô sở hữu xứ, thọ
mạng 6 vạn kiếp. Cứ như vậy lần lượt cho đến cõi Phạm Vậy, thọ
mạng nửa kiếp. Tiếp đến trời Tha Hóa Tự Tại trong cõi Dục
hưởng số trời 1 vạn 6 ngàn tuổi. Cho đến trời Tứ Thiên Vương
hưởng số trời 5 trăm tuổi. Như vậy trong loài người 4 thiên hạ đều
tùy theo nghiệp mà thụ quả báo. Như vậy súc sinh, ngạ quỷ, địa
ngục cũng có nghiệp lợi nhỏ.
Hỏi : Những nghiệp nào có thể được A-nậu-đa-la Tam-miệu
Tam-bồ-đề ?
Thành Thật Luận Trang 227 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Bố thí v.v... đầy đủ sáu pháp Ba-la-mật, thì có thể được
A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Rồi từ thiện nghiệp nầy thứ
lớp càng mỏng dần được Bích-chi-phật Bồ-đề, càng mỏng dần
nữa được Thanh Văn Bồ-đề. Nếu tu tăng thượng 4 vô lượng tâm
thì được sinh về cõi Hữu đảnh. Tu 4 vô lượng thứ lớp mỏng dần,
kế là sinh về bậc dưới. Tu 4 vô lượng càng nhỏ mỏng nữa và tùy
nhân duyên giới định nên sinh cõi Sắc. Do nhân duyên tu bố thí trì
giới tu thiện nên sinh cõi Dục. Nghiệp bố thí v.v... nầy tùy theo
phúc điền dày mỏng nên có sai khác. Nếu tu trong phúc điền chư
Phật thì vượt trội hơn hết. Kế đến là trong phúc điền Bich-chiphật,
v.v... mà tu, thứ lớp càng ít dần.
Hỏi : Trí phúc điền hơn, hay đoạn phúc điền hơn ?
Đáp : Nếu trí có thể đạt tới pháp tướng nghĩa là rốt ráo
không, thì trí ấy hơn. Bởi vì sao ? Vì như Phật do trí nên trong
hàng đệ tử Phật là hơn, chứ không do đoạn. Như trong Tạp Bảo
Tạng nói : Nếu quét đất phòng Tăng rộng bằng một cõi Diêmphù-
đề, không bằng quét tháp Phật một chỗ bằng chừng một bàn
tay. Lại tất cả trí tuệ đều vì để đoạn. Như các Bồ-tát ở lâu trong
sinh tử đều là khéo đoạn. Khéo đoạn nghĩa là tự mình đoạn kết và
cũng đoạn kết cho chúng sinh. Các kết nầy đều dùng trí đoạn dần.
Cho nên biết trí tuệ phúc điền đối với đoạn là hơn.
Hỏi : Như Tu-đà-hoàn lợi căn, Tu-đà-hoàn độn căn, thì 2
phúc điền này đàng nào là hơn ?
Đáp : Lợi căn hơn, không phải độn căn.
Hỏi : Nói vậy không đúng. Như trong kinh nói : Cúng dường
trăm Tu-đà-hoàn, không bằng cúng dường một Tư-đà-hàm. Lại
nói : Cỏ dại hại lúa, tham dục vấy bẩn tâm. Cho nên bố thí người
vô dục, phải được phúc nhiều. Tư-đà-hàm có thể làm mỏng 3 độc,
Tu-đà-hoàn thì chưa, làm sao nói hơn được ?
Đáp : Kinh đó là không liễu nghĩa. Vì sao biết được ? Trong
kinh nầy nói : Thí cho súc sinh được lợi gấp trăm. Mà thật thí cho
Thành Thật Luận Trang 228 Tuệ Quang Foundation
chim chóc v.v... được quả báo hơn thí cho người ngoại đạo có 5
thần thông. Cho nên kinh nầy cần phải biện biệt rõ nghĩa lại. Kinh
nầy theo số nhiều nên mới nói như vậy, trừ lợi trí tuệ.
Lại Tu-đà-hoàn vì trí lực nên tuy thụ các dục mà cũng gọi
phúc điền, không phải phàm phu đoạn dục, cho đến người có thể
được định cõi Hữu đảnh.
Lại trí đa văn ở trong đạt phần còn hơn, chứ không phải định
Hữu đảnh phần không thông đạt.
Lại Bồ-tát Di-lặc tuy chưa được Phật quả, nhưng cũng được
các A-la-hán lễ kính.
Lại như người chỉ có thể phát tâm Bồ-đề suông liền được La-
Hán cung kính. Như có một Sa-di mang áo bát đi theo A-la-hán,
Sa-di nầy bỗng phát tâm vô thượng Bồ-đề, vị A-la-hán liền lấy áo
bát lại tự mang lấy và đi theo sau Sa-di. Như trong thí dụ có nói
rộng. Cho nên biết trí tuệ phúc điền là hơn hết.
Phẩm 100 : Ba nghiệp
Hỏi : Trong kinh nói 3 nghiệp : thiện, bất thiện, và vô ký.
Những gì là nghiệp thiện ?
Đáp : Tùy theo nghiệp nào đó có thể cho người khác việc tốt,
nghiệp đó là thiện. Nghiệp thiện nầy do pháp bố thí, trì giới, lòng
từ v.v… mà sinh, chứ không phải do tắm rửa v.v....
Hỏi : Sao gọi là tốt ?
Đáp : Làm cho người khác được vui, gọi là tốt. Cũng gọi là
thiện, cũng gọi là phúc.
Hỏi : Nếu làm cho người khác được vui gọi là phúc thì làm
cho người khác bị khổ phải có tội ? Vậy như thầy thuốc châm cứu
làm bệnh nhân đau đớn cũng phải đắc tội ?
Đáp : Thầy thuốc châm cứu là vì làm cho được vui nên
không đắc tội.
Thành Thật Luận Trang 229 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Nếu vì cho vui là được phúc, thì như dâm vợ người ta,
khiến họ sinh vui sướng cũng phải được phúc ?
Đáp : Dâm dục quyết định là bất thiện. Nếu ai khiến người
khác làm pháp bất thiện, thì đấy là khổ không phải vui. Nói vui, là
nay vui, sau cũng vui, chứ không phải chút vui hiện tại, mà vì đó
bị khổ lớn về sau.
Hỏi : Có người dùng nhân duyên ăn uống khiến người khác
sinh vui, hoặc ăn uống không tiêu khiến người kia đến chết, thì
người cho ăn nầy bị tội hay được phúc ?
Đáp : Người nầy tâm tốt cho ăn, không có tâm xấu, nên chỉ
được phúc mà không bị tội.
Hỏi : Dâm vợ người khác ấy cũng như vậy. Chỉ vì khoái lạc
nên cũng bị tội, và được phúc ?
Đáp : Điều này trước đã giải đáp. Nghĩa là dâm dục, quyết
định là bất thiện, vì sinh khổ lớn.
Lại trong bố thí ăn uống có phần phúc đức. Bởi vì sao ? Vì
người được ăn uống không phải ai cũng chết. Chúng sinh đều bởi
lòng tham nhiễm mà hành dâm dục, hoàn toàn không phải nhân
phúc, làm sao được phúc ?
Hỏi : Có người vì sát sinh mà lợi ích nhiều người, như người
phá giặc thì đất nước khỏi tại họa. Như giết thú dữ thì lợi nhân
dân. Các trường hợp này có thể dùng sát sinh mà được phúc
chăng ? Hoặc có người dùng nhân duyên trộm cướp mà cúng
dường cha mẹ, nhân duyên dâm dục sinh con cái tốt, nhân duyên
vọng ngữ hoặc cho mạng sống lâu, hoặc do ác khẩu v.v... khiến
người ta được lợi. Đó đều là thuộc về 10 ác, làm sao do đấy mà
được phúc ?
Đáp : Người nầy được phúc mà cũng bị tội. Vì lợi người
khác nên được phúc, vì hại người khác nên bị tội.
Thành Thật Luận Trang 230 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Thầy thuốc nầy trước làm cho người khổ vì đau đớn,
sau khiến được vui vì thiện bệnh, sao không bị tội và được phúc,
mà chỉ được phúc ?
Đáp : Thầy thuốc ấy vì thiện tâm mà châm cứu, không có ác
ý. Nếu hành nghiệp vì thiện ác nên khởi, thì có tội phúc cả hai.
Hỏi : Sát v.v... đều là được phúc. Bởi vì sao ? Vì nhân duyên
sát được việc sở dục. Như làm vua giết giặc được giàu sang. Do
nhân duyên phúc nên được tùy ý sở dục, sao sát sinh mà không
gọi là phúc ?
Lại người có thể sát thì được tiếng khen. Mà tiếng khen là
điều vui của người đời, mà điều vui của người đời là quả báo của
phúc đức.
Lại vì sát, nên được mừng vui, mà mừng vui cũng là quả báo
phúc đức.
Lại trong kinh sách nói : Nếu ra trận bị chết, được sinh lên
trời. Như bài kệ nói : Nếu người ra chiến trận bị chết, thì thiên nữ
tranh nhau làm chồng.
Lại nói : Tuy người thiện giàu sang, vì giặc mà xông ra trước
có thể giết giặc không bị tội, không giết giặc là bị tội.
Lại Kinh Vậy Pháp nói : Có 4 hạng người : Bà-la-môn, Sátlợi,
Tỳ-xá và Thủ-đà-la. Bốn hạng người nầy đều có pháp riêng.
Bà-la-môn có 6 pháp, Sát-lợi 4 pháp; Tỳ-xá 3 pháp và Thủ-đà-la 1
pháp. Sáu pháp là : 1. Tự làm miếu thờ trời. 2. Làm thầy tế trời. 3.
Tự đọc kinh Vi-đà. 4. Cũng dạy người khác. 5. Bố thí. 6. Nhận
của thí. Bốn pháp là : 1. Tự làm miếu thờ trời mà không được làm
thầy tế. 2. Theo người khác thụ học kinh Vi-đà mà không được
dạy người. 3. Bố thí, không được nhận của thí. 4. Bảo vệ nhân
dân. Ba pháp là : 1. Làm miếu thờ trời mà không làm thầy tế. 2.
Tự học kinh Vi-đà mà không dạy người. 3. Tự bố thí mà không
nhận của ai thí. Một pháp là : Lo cung cấp 3 hạng người trên mà
Thành Thật Luận Trang 231 Tuệ Quang Foundation
thôi. Như hạng Sát-lợi vì bảo hộ nhân dân nên có quyền đoạt
mạng sống người khác mà chỉ có phúc không có tội.
Lại kinh Vi-đà nói sát sinh được phúc, như lấy thần chú
trong Vi-đà đọc mà giết dê, dê chết sinh lên trời. Kinh Vi-đà được
người đời tin.
Lại cũng kinh ấy nói nếu thật sự người đáng chết thì giết
không tội. Như tiên ngũ thông hay dùng thần chú giết người,
không thể nói là thần tiên có tội. Nhười có tội làm sao có thể
thành được điều này. Cho nên biết sát sinh được phúc.
Lại người hoặc có tâm lực có thể đoạt mạng sống thì được
phúc, mà thí cho mạng sống là đắc tội. Như người đem thiện tâm
mà sát sinh vì muốn khiến được an vui làm sao có tội ? Như
những người hàng thịt nuôi dưỡng bò dê, tuy thí mà vẫn phải tội.
Như vậy trong việc trộm v.v... cũng có phúc đức ?
Đáp : Ông nói sát sinh được sở dục nên gọi phúc đức. Điều
này không đúng. Bởi vì sao ? Vì do phúc đức nên được tùy ý sở
dục. Việc sở dục đó lại duyên sát sinh mà được. Bởi vì sao ? Vì
do đời trước tạo phúc bất tịnh. Như trong kinh nói : Cướp đoạt sát
hại được của dùng làm bố thí, khiến cho người khác buồn khóc,
và bất tịnh thí, thí như vậy v.v... gọi là bất tịnh. Phải do ác duyên
mới thụ quả báo.
Lại người nầy do đời trước có phúc mà cũng có nghiệp
duyên sát sinh, cho nên thân nay nhân sát mà thụ báo. Cũng có
chúng sinh phải đền của, đền mạng nên do sát hại mà được toại sở
dục.
Lại không phải tất cả chúng sinh đều do sát sinh mà được
giàu sang, như người đời nói : Người ấy bạc phúc, làm nhiều công
đức, mà không được quả. Tiếng khen, mừng vui cũng như vậy,
đều nhờ phúc đức nhân duyên nên được tiếng khen, được thân
mạnh mẽ và vui sướng. Chỉ vì phúc đó bất tịnh nên mới do sát mà
được.
Thành Thật Luận Trang 232 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Sư tử, cọp sói v.v... được thân khỏe mạnh đều từ tội
sinh, Dạ-xoa, La-sát v.v... được vui thân khỏe mạnh vui sướng
cũng do tội sinh ?
Đáp : Điều này như trước đã đáp. Cũng do phúc bất tịnh nên
nhờ tội duyên mà được. Ông nói trong kinh sách có nói nếu ra
trận bị chết, thì được sinh lên trời. Điều này không đúng. Bởi vì
sao ? Vì kinh ấy là lấy lời tà ngữ dụ dỗ người ngu, làm cho họ có
dũng khí. Vì sao biết được ? Vì phải do phúc sinh phúc, do tội
sinh tội. Trong đó hoàn toàn không có nhân của phúc thì do đâu
mà được quả phúc ? Ông nói 4 hạng chúng sinh đều tự có pháp
riêng. Hạng Sát-lợi vì bảo hộ người nên giết không tội. Điều này
cũng như gia pháp, như những người hàng thịt v.v... đời đời gia
truyền thường phải sát sinh mà cũng không khỏi tội. Hạng Sát-lợi
cũng vậy, tuy vương pháp, nhưng cũng phải đắc tội. Nếu Sát-lợi
vì vương pháp nên sát sinh không tội, thì những người thợ thịt,
thợ săn kia cũng phải không tội ? Chỉ hạng Sát-lợi đem lòng
thương xót vì dân trừ hoạn, do đó mà được phúc. Nếu trừ lý do
trên, mà đoạt mạng sống của người khác, thì có tội. Như người
cướp đoạt của cải người khác để nuôi cha mẹ mình, thì người nầy
đều phải chịu cả tội lẫn phúc.
Hỏi : Người nào trộm cướp về nuôi cha mẹ người ấy không
nên đắc tội. Như Kinh Vậy Pháp nói : Nếu thiếu ăn 7 ngày, theo
Thủ-đà-la mà cướp lấy thì không tội. Nếu mạng đói muốn chết,
thì được quyền theo Bà-la-môn mà lấy. Người ấy tuy dùng ác
nghiệp để nuôi mạng sống, nhưng không gọi là người phá giới, vì
lý do nguy cấp, giống hư không bụi đất không làm bẩn được.
Người nầy cũng vậy, không nhiễm bẩn vì tội ?
Đáp : Tức trong pháp Phạm Chí nói : Nếu khi cướp đoạt, tài
chủ đến bảo hộ, bấy giờ Phạm Chí cần phải so sánh tính toán giả
sử công đức của tài chủ không bằng thì nên giết đi. Bởi vì sao ?
Vì Phạm Chí ta là người thắng nhân có thể dùng nhiều phương
Thành Thật Luận Trang 233 Tuệ Quang Foundation
pháp sám hối mà trừ diệt tội nầy. Nếu công đức đôi bên ngang
nhau, thì tự giết giết người tội đó cũng ngang nhau, vì đó là trọng
tội khó trừ diệt. Nếu tài chủ đức thắng hơn, thì nên tự xả thân, vì
đó là trung tội, không thể trừ. Phân biệt như vậy, trong việc giết
người cướp đoạt cũng phải như vậy.
Lại nói dùng ác nghiệp nuôi sống, trong đó vì có ác nghiệp
làm sao gọi là phúc ? Ông nói người xông ra trước giết thì không
tội, không giết là đắc tội. Lời nầy đã bị phá. Bởi vì sao ? Vì nếu
đối phương đức hơn mình, thì nên tự xả thân. Nếu là không tội, cớ
sao phải như vậy ? Ông nói kinh Vi-đà nói sát sinh được phúc.
Lời nói nầy trước đã đáp, là giết thì không phúc… Ông nói người
thật đáng chết, thì giết không tội. Vậy thì giết những người oán
tặc cũng phải không tội ?
Lại tất cả chúng sinh đều là tội nhân, vì khởi tác nghiệp thụ
ấm thân. Vậy thì sát sinh không đắc tội. Điều này không thể được.
Hỏi : Nếu chúng sinh đời trước tự tạo sát duyên, nay giết lại
sao đắc tội. Nghiệp cướp trộm v.v... cũng đều như vậy?
Đáp : Nếu như vậy thì không có tội phúc. Bởi vì sao ? Vì
người ấy đời trước tự tạo duyên giết hại, nên giết nó không tội, thì
lìa sự sát sinh cũng không có phúc đức. Như vậy nếu bố thí người
khác cũng phải không có phúc, vì người thụ thí đời trước đã tự tu
nghiệp bố thí, nay tự được quả báo. Nhưng kỳ thật không thể
không có tội phúc. Nên phải biết chúng sinh tuy tự tạo nghiệp sát,
mà người sát sinh cũng vẫn đắc tội, vì khởi tham sân si các phiền
não. Các phiền não nầy gọi là tà điên đảo; sinh tâm tà điên đảo
còn đáng bị tội huống chi cố ý khởi nghiệp thân khẩu ? Bởi đó mà
khiến sinh tử vô cùng tận. Nếu không như vậy, thì khi các vị thần
tiên khởi phiền não tham sân v.v..., phải không liền bị mất thần
thông. Nếu đó không phải tội lỗi thì với pháp gì trái nhau mới gọi
là phúc đức ? Phải biết chúng sinh tuy đời trước tự tạo duyên sát
sinh, nhưng kẻ sát sinh vẫn phải có tội. Tuy ông nói tội nhân vô
Thành Thật Luận Trang 234 Tuệ Quang Foundation
sở có thể thành. Điều này không đúng. Vì hạng Chiên-đà-la v.v...
cũng có thể dùng chú thuật để giết người. Người tiên cũng vậy, vì
ác tâm nên tùy theo lời chú nên vẫn có thể thành tội.
Lại người này vì phúc lực nên có thể thành, bởi cướp đoạt
mạng sống nên bị tội. Ông nói hoặc có tâm lực do đoạt mạng sinh
phúc, thí mạng đắc tội. Điều này không đúng. Bởi vì sao ? Vì
phải do tâm lực và phúc nhân duyên nên mới được phúc, chứ
không những chỉ do tâm. Nếu đem thiện tâm dâm vợ của thầy,
giết Bà-la-môn có thể được phúc chăng ? Những người ở vùng
biên giới xa xôi như ở các xứ An-tức v.v... đem tâm phúc đức
dâm mẹ, dâm chị liệu có phúc chăng ? Cho nên biết do nhân
duyên phúc, mới có phúc sinh, chứ không phải chỉ có tâm mà
thôi. Cướp trộm v.v... cũng như vậy. Cho nên biết sát sinh v.v...
đều là bất thiện.
Lại sát sinh này v.v... chẳng phải vì lợi cho người khác nên
gọi là bất thiện, tuy với đời hiện nầy được chút vui chốc lát,
nhưng đời sau chịu khổ lớn, vì hại tổn người khác nên gọi là
tướng bất thiện.
Lại hiện thấy có nhiều chúng sinh gây những nghiệp sát sinh
v.v... cũng phần nhiều ở trong tam đồ và loài người chịu các khổ
não. Nên phải biết khổ não là kết quả của sát sinh v.v..., vì quả
giống nhân.
Lại trong 3 ác đạo tội khổ rất dữ dội. Cho nên biết vì nhân
duyên sát sinh v.v... mà sinh vào trong đó.
Hỏi : Trong người, trời cũng như vậy. Các trời cũng thường
cùng chiến tranh với A-tu-la, giết hại lẫn nhau. Trong loài người
cũng dùng hầm hào, lưới, thuốc độc, giết hại chúng sinh ?
Đáp : Trong cõi người, cõi trời có pháp lìa sát sinh v.v..., mà
trong 3 ác đạo không có. Phải biết trong đó, tội khổ rất lớn.
Lại trong loài người bởi nhân duyên sát sinh v.v... nên mất
những lợi lạc sống lâu v.v... Con người thời thượng cổ có thọ
Thành Thật Luận Trang 235 Tuệ Quang Foundation
mạng vô lượng, ánh sáng từ thân phóng ra, sáng như mặt trời mặt
trăng, bay đi tự tại; đất đều tự nhiên sinh các vật tùy ý, gạo thóc tự
nhiên sinh. Nhưng đều bởi phạm tội sát sinh v.v..., nên mất các
việc như vậy. Về sau, đến khi con người thọ mạng chỉ còn 10 tuổi,
lại mất các thứ như bơ, dầu, đường phèn, thóc lúa, bắp v.v..., tất
cả đều không có. Cho nên biết sát sinhv.v... là nghiệp bất thiện.
Lại nếu như lìa sát sinh v.v... được lợi lạc trở lại: Thọ mạng
tăng thêm như tuổi thọ đến 8 vạn tuổi và các sở dục đều tùy ý.
Cho nên biết sát sinh là bất thiện.
Lại như hiện nay, Châu Uất-đan-việt tự nhiên có gạo bắp, áo
mặc do cây sinh ra, đều do lìa sát sinh v.v... Nói tóm lại, chúng
sinh có tất cả những vui sướng gì đều do lìa sát sinh v.v... mà
được. Cho nên biết sát sinh v.v... là nghiệp bất thiện.
Lại pháp sát sinh v.v…là pháp những người thiện đã xả bỏ.
Như chư Phật, Bồ-tát, Duyên Giác, Thanh Văn và bao nhiêu
những người có công đức , v.v... đều lìa bỏ, cho nên biết là bất
thiện.
Hỏi : Sát sinh v.v... nầy, người thiện cũng cho phép. Như
trong Kinh Vi-đà nói : Vì cúng trời nên cho phép giết dê ?
Đáp : Đó không phải là người thiện. Người thiện là thường
cầu lợi tha, tu tâm từ bi, bình đẳng với kẻ oán, người thân. Những
người như vậy, đâu có cho phép sát sinh ? Người nói như vậy là
do lòng tham sân đục vẩn nên tự tạo kinh nầy để cầu sinh lên trời.
Chú chúng sinh kia, nhờ phúc lực nên có thể thành điều này.
Lại sát sinh v.v... nầy, người được giải thoát không bao giờ
làm. Cho nên biết là bất thiện.
Hỏi : Những người được giải thoát cũng không làm các việc
khác nữa, như ăn quá trưa v.v... Điều này cũng nên là bất thiện
sao ?
Đáp : Đó là nhân duyên sinh tội, nên người thiện cũng bỏ.
Nếu pháp không lỗi không nên lìa bỏ. Ăn quá giờ trưa v.v... có thể
Thành Thật Luận Trang 236 Tuệ Quang Foundation
hại hạnh tu hành, cho nên cũng bỏ. Có pháp vì thể tính bất thiện
nên bỏ, như sát sinh, trộm cắp v.v... Có pháp vì nhân duyên bất
thiện nên cũng bỏ, như uống rượu, ăn quá trưa v.v.... Cho nên biết
sát sinh thể tính bất thiện.
Lại người sát sinh bị nhiều người ghét như sư tử, cọp, sói,
các oán tặc và Chiên-đà-la v.v.... Nếu vì pháp nhân duyên nầy mà
bị nhiều người ghét gớm lẽ đâu chẳng phải bất thiện ?
Lại nếu người không sát sinh được nhiều người thương mến,
như các vị hiền thánh tu hạnh từ bi. Cho nên biết sát sinh là bất
thiện.
Hỏi : Có người sát sinh vì sức mạnh mẽ nên được người ưa,
như người vi vua giết các oán giặc thì được vua yêu mến ?
Đáp : Vì nhân duyên nên không phải yêu mến cho lắm. Như
nói nếu người đem ác nghiệp làm cho chủ vui lòng, nếu khi chủ
sinh chán, thì trở lại nghi người nầy. Nếu vì ác sự sinh nghi thì
làm sao gọi gọi là thứong mến ?
Lại những người làm điều bất thiện là tự không thương mình
huống chi người khác ? Cho nên biết sát sinh là pháp bất thiện.
Lại pháp sát v.v... là đánh phá sự trói buộc v.v… các nhân
khổ não. Cho nên biết là bất thiện.
Hỏi : Pháp bất sát v.v... cũng có nhân khổ, như vua ra lệnh
cho người phải giết giặc, nếu không giết chắc bị vua hại ?
Đáp : Nếu vì không giết bèn bị hại. Vậy thì những người
không giết đều bị hại chết ? Người nầy vì tự trái lệnh vua . Nếu
vua biết thâm tâm người nầy không giết, thì không gia hại mà lại
cúng dường. Cho nên biết giết v.v... là nhân duyên khổ, chứ
không phải không giết v.v....
Lại người làm sát sinh, khi sắp chết đều sinh tâm ăn năn.
Cho nên biết là bất thiện.
Lại làm việc sát sinh v.v... nên bị người không tin, trong
đồng bọn còn không tin nhau, huống chi người thiện.
Thành Thật Luận Trang 237 Tuệ Quang Foundation
Lại người làm việc sát sinh còn bị đồng bọn chê bai, huống
chi những người khác.
Lại người làm việc sát sinh v.v... người thiện lánh xa, như
những Chiên-đà-la, người hàng thịt, thợ săn v.v....
Lại những người làm việc sát sinh v.v... không gọi là người
vui, như người hàng thịt, thợ săn v.v... trọn đời không nhờ nghề
nghiệp đó mà được quý trọng.
Lại người thiện gắng công lìa bỏ sát sinh v.v.... Nếu không
phải bất thiện, cớ sao gắng công cầu lìa bỏ làm gì ?
Lại hiện thấy sát sinh v.v... có quả báo không ưa thích. Phải
biết đời sau cũng bị quả báo khổ.
Lại nếu sát sinh v.v... không phải bất thiện, thì còn có pháp
nào gọi bất thiện sao ?
Hỏi : Nếu pháp sát sinh v.v... là bất thiện, thì không có thân
người đẹp. Bởi vì sao ? Vì không có lúc nào không sát sinh. Như
những lúc đi đến, chân cất lên dẫm xuống, hằng thường giết hại
những chúng sinh vi tế. Cũng thường vì ý tưởng của mình mà lấy
vật của người khác. Cũng tùy ý tưởng của mình mà nói dối. Cho
nên chắc không có thân đẹp ?
Đáp : Cố ý làm thì bị tội, chứ không phải không cố ý. Như
trong kinh nói : Thật có chúng sinh, trong đó sinh tâm tưởng
chúng sinh, có tâm muốn giết, giết rồi bị tội giết. Trộm v.v... cũng
như vậy.
Hỏi : Như người ăn thứ độc, cố ý hay không cố ý đều có thể
chết người.
Lại như sa hầm lửa, biết cùng không biết đều có thể cháy
người. Dẫm gai v.v... cũng như vậy. Phải biết sát sinh cố ý hay
không cố ý đều phải bị tội ?
Đáp : Dụ nầy không đúng. Độc để giết hại thân nên chết, còn
tội phúc do tâm, làm sao đem ví dụ được.
Thành Thật Luận Trang 238 Tuệ Quang Foundation
Lại lửa gai v.v..., nếu không cảm giác, không thể sinh khổ.
Cho nên dụ này không đúng. Nếu không biết thì không cảm giác
đau, có biết mới có cảm giác. Như vậy nếu không cố tâm, thì tác
nghiệp không thành, cố tâm thì thành, dụ nầy mới đúng. Có cố thì
có tội; không cố thì không. Các nghiệp đều do tâm sai khác, nên
có thượng có hạ, nếu không cố tâm làm sao có thượng có hạ ?
Như thầy thuốc với không phải thầy thuốc, đều làm cho bệnh
nhân sinh khổ, nhưng vì tâm lực nên có tội phúc sai khác.
Lại như con sờ vú mẹ thì không bị tội, vì không nhiễm tâm.
Nếu nhiễm tâm mà sờ thì có tội. Nên phải biết tội phúc đều do
tâm sinh.
Lại nếu không cố tâm mà có tội, thì những người được giải
thoát cũng có không cố mà não hại chúng sinh thì phải bị tội, và
không có giải thoát, vì lẽ các tội nhân thì không giải thoát.
Lại nếu không cố mà có tội phúc, thì một hành nghiệp phải là
thiện và bất thiện. Như người làm phúc nghiệp lầm giết chúng
sinh, thì nghiệp nầy cũng tội mà cũng phúc ? Điều này không
đúng. Phải biết không cố, thì không nên có tội có phúc gì cả.
Lại nếu vô tâm mà có nghiệp báo, thì làm sao phân biệt được
đâu là thiện, đâu là bất thiện và đâu là vô ký ư ? Nên đều do tâm
mới có sai khác. Như có 3 người đồng đi nhiễu quanh tháp. Một
người nghĩ nhớ công đức Phật. Một người để lấy trộm đồ. Một
người vì dạo mát. Tuy thân nghiệp đồng mà có thiện, bất thiện và
vô ký khác nhau. Phải biết là do ở tâm.
Lại có nghiệp quyết định có quả báo; có nghiệp không quyết
định có quả báo. Có nghiệp thượng, trung, hạ. Có nghiệp có quả
báo hiện tại, có quả báo đời sau, có quả báo sau các đời sau nữa
v.v.... Nếu không do tâm mà có tội phúc thì sao có sai khác như
vậy ?
Lại nếu lìa tâm có nghiệp, thì chẳng phải chúng sinh cũng
phải có tội phúc. Như gió xô sập núi hại chết chúng sinh, gió cũng
Thành Thật Luận Trang 239 Tuệ Quang Foundation
phải có tội. Nếu thổi hoa thơm đến chùa tháp, gió cũng phải được
phúc. Điều đó không thể được. Cho nên biết lìa tâm không có tội
phúc.
Lại có ngoại đạo nói : Tu pháp nhịn ăn, nằm trên tro, đất,
chông gai v.v..., gieo mình xuống vực, nhảy vào lửa, tự lao mình
xuống núi v.v..., dùng những nhân duyên khổ mà có phúc đức.
Có người trí hỏi vặn lại rằng : Nếu vậy chúng sinh ở địa ngục
thường bị đốt nướng, loài ngạ quỷ bị đói khát, loài trùng thiêu
thân bay vào lửa, loài cá rùa ở nước, heo, dê, chó v.v... thường
nằm trên phân đất, Chúng cũng phải được phúc ? Ngoại đạo kia
đáp : Phải đem cố tâm chịu khổ não nầy mới có phúc đức, chứ
không phải không cố tâm mà được. Địa ngục v.v... không phải
dùng cố tâm chịu khổ đốt v.v... Nếu không do cố tâm nên không
có phúc, thì do không cố tâm nên không tội. Nếu do không cố tâm
mà có tội phúc, thì trong địa ngục v.v... cũng phải có phúc ? Có
những lỗi như vậy.
Lại nếu không cố tâm mà có tội phúc, thì đời không có người
thiện. Bởi vì sao ? Vì trong 4 oai nghi thường giết chúng sinh.
Điều này là không thể được. Phải biết không cố tâm, thì không tội
phúc.
Lại không được sinh nơi tốt đẹp là thường vì tội. Mà thật có
các Phạm vương có các thân hình tốt đẹp, cho nên biết nghiệp
không cố tâm là không tội phúc.
Lại trong pháp của các ông, ăn thức ăn bất tịnh, thì đều có
tội. Nếu suy nghĩ cho kỹ, tất cả đồ uống ăn đều là bất tịnh, ăn thức
ăn bất tịnh đều phải đắc tội. Như vậy đụng đến rượu v.v..., thì
không phải Bà-la-môn. Nếu không thấy nghe, đem tịnh tâm mà
ăn, bèn không tội. Phải biết lìa tâm, thì không tội phúc gì cả.
Lại trong việc cúng trời, đem phúc tâm nên giết dê, khiến dê
sinh lên trời. Vì phúc tâm mà giết nên có phúc. Nếu không phải
vậy, tất cả sát sinh đều được phúc mà cũng bị tội.
Thành Thật Luận Trang 240 Tuệ Quang Foundation
Lại như Bà-la-môn nói : Hoặc có khi trộm cướp mà không
tội. Như thiếu ăn bảy ngày được theo Thủ-đà-la mà lấy. Nếu đói
gần chết thì theo Bà-la-môn mà lấy. Cũng vì muốn sinh con đẹp
nên dâm dục không tội. Nếu không vì cố tâm, thì sẽ không có các
khác biệt này. Cho nên biết, nếu người không cố tâm ác ý mà cho
người khác uống độc, thì do đâu đắc tội ? Nếu cố tâm cho người
chất độc, mà độc trở lại làm thiện bệnh, thì phải được phúc ? Như
bố thí cho người ăn, thức ăn ấy không tiêu, khiến người phải chết,
vậy là đắc tội sao ? Nếu không cố tâm mà có tội phúc thì pháp
loạn.
Lại người đời, tất cả việc đều tin nơi tâm, như ngay một câu
nói có thể sinh vui hoặc giận. Đánh đập v.v... cũng vậy. Cho nên
biết các nghiệp đều do nơi tâm.
Lại ý nghiệp thắng hơn hết, phẩm sau sẽ nói, cho nên biết
các nghiệp tại tâm.
Lại như người trí tuệ tuy ở nơi ngũ dục mà không đắc tội,
đều nhờ sức của ý. Bởi vì sao ? Vì người trí thấy sắc không khởi
tâm tưởng tà vạy, nên không lỗi đắm sắc. Thanh v.v... cũng như
vậy. Nếu không khởi vọng tưởng mà có lỗi ấy, thì tất cả mọi thấy
nghe, phải đều có lỗi. Vậy thì ý nghiệp vô dụng. Người trí lấy trí
tuệ làm đầu, tuy thụ 5 dục mà không tham đắm. Ngũ dục tuy có
đấy, nhưng tâm nhàm chán nên có thể không đắm nhiễm, đó
không phải là sức của ý nghiệp ư ? Cho nên không có việc không
cố tâm mà đắc phúc hay đắc tội.
Hỏi : Ông nói tướng thiện và bất thiện là tổn hại hay lợi ích
cho người khác. Điều này không đúng. Bởi vì sao ? Vì nếu người
tự đem vật nuôi thân mà làm phúc nghiệp, người ấy tự ăn cũng
vẫn có phúc đức.
Lại tháp chùa, chẳng phải chúng sinh, tưới quét cũng được
phúc.
Thành Thật Luận Trang 241 Tuệ Quang Foundation
Lại lễ kính v.v... đối với người khác là vô ích. Chỉ tổn hại
công đức người khác, không nên có phúc.
Lại không chỉ phát tâm nên có phúc đức mà tùy đem áo cơm
lợi ích cho người khác bấy giờ mới được phúc. Như vậy thì người
tu hạnh từ bi, không nên có phúc.
Lại như tháp chùa v.v... nếu chẳng phải thuộc loài chúng
sinh, thì hoặc đoạt lấy của cải đồ vật, hoặc làm hư hại, phải không
có tội.
Lại không ra trước mặt mà ác khẩu mắng sau lưng người ta,
phải không có tội, vì người ta không nghe, đâu tổn giảm chi mà
tội ?
Lại đối với người khác, chỉ sinh ác tâm mà không động thân
mở miệng, thì đâu có hại gì, đó đều không phải tội.
Lại hoặc tự mắng mình hoặc tự sát, hoặc tự làm hạnh tà cũng
có khi đắc tội. Cho nên tướng thiện và bất thiện, không phải chỉ
có tổn hại hay lợi ích người khác.
Đáp : Ông nói tự đem đồ nuôi thân là có phúc đức. Điều này
không đúng. Nếu tự cúng dường cho mình mà có phúc đức, thì
không ai cúng dường người khác. Mà thật có người cúng dường
người khác để cầu phúc đức.
Lại do mình vị kỷ mà phúc trở nên mỏng, cho nên biết tự vì
mình thì không có phúc.
Lại ông nói tự ăn là làm phúc nghiệp. Nếu tự nuôi thân là lợi
ích cho người khác, đó là do nơi tâm mới có thể sinh phúc đức,
chứ không phải do tự nuôi mình mà được phúc.
Ông nói tháp chùa, là chẳng phải chúng sinh, tưới quét cũng
được phúc. Đó là người nầy nghĩ công đức của Phật, đối với trong
chúng sinh Phật là bậc cao cả, cho nên tưới quét. Điều này cũng
do chúng sinh nên được phúc.
Hỏi : Phật đã diệt độ, không gọi chúng sinh. Như trong kinh
nói : Phật không phải có, không phải không, cũng không phải có
Thành Thật Luận Trang 242 Tuệ Quang Foundation
không, cũng không phải không có không phải không không. Làm
sao gọi là chúng sinh được ?
Đáp : Nếu đã diệt độ không gọi chúng sinh. Người ấy nghĩ
Phật khi chưa diệt độ mà cúng dường, cho nên được phúc. Như
người thờ cúng cha mẹ là nghĩ tưởng lúc sinh thời. Nếu không
như vậy, không gọi là cúng cha mẹ. Việc này cũng vậy.
Ông nói lễ kính v.v... với người khác vô ích. Điều này
không đúng. Bởi vì sao ? Vì lễ kính v.v..., có nhiều lợi cho người
khác, là khiến cho người kia được trọng vọng, được người khác
cung kính, đó là lợi ích. Cũng khiến người khác bắt chước theo
cung kính, cũng được phúc đức.
Lại khi lễ kính người khác, tự mình phá bỏ được sự ngạo
mạn, vì phá được một phần bất thiện, nên được nhiều lợi ích.
Cũng để hiển dương công đức của người khác, nên lễ kính v.v...
có những lợi ích như vậy.
Lại ông nói lễ kính v.v... tổn công đức người khác. Điều này
không đúng. Đem hảo tâm mà lễ kính, không phải như ngoại đạo
muốn làm tổn người kia mà hành lễ kính.
Lại như bố thí, nếu người kia không tiêu, thì cũng tổn công
đức. Vậy thì bố thí cũng phải không có phúc. Nên khi lễ kính
v.v... cần phải suy nghĩ kỹ, có phúc thì làm. Như trong kính nói:
Có một Tì-kheo ở trong nhà tắm, đem tay thoa thân người khác.
Phật bảo các Tì-kheo rằng : Người cúng dường này là A-la-hán,
người thụ cúng dường là người phá giới. Các người nên học.
Không nên đem sư tử cúng dường chồn mèo v.v...
Ông nói không chỉ phát tâm mà được phúc. Tâm là gốc tất cả
công đức. Như người làm lợi mình và người, lợi đời nầy và đời
sau, đều lấy thiện tâm làm gốc. Như người làm tổn mình và
người, tổn hại đời nầy và đời sau, đều do tâm bất thiện làm gốc.
Lại người tu hạnh từ, lấy quả báo từ tâm làm lợi ích cho tất
cả. Như là gió mưa phải thời, nhật nguyệt tinh tú không sai lệch,
Thành Thật Luận Trang 243 Tuệ Quang Foundation
nước biển lớn không dâng cao, lửa dữ không thiêu đốt, gió mạnh
không làm đổ sập. Đây đều là quả báo của sức từ. Như trong kinh
nói : Nếu tất cả vậy gian đều làm hạnh từ tâm thì điều mong muốn
tự nhiên được.
Ông nói cướp lấy của tháp chùa không phải tội, người này
đem tâm chúng sinh mà cướp đoạt tùy theo tháp gì mà cướp đoạt
đây ? Do nhân duyên đó nên nếu có thể làm tổn hay nếu không
thể làm tổn đều là chủ nên đắc tội.
Nếu tâm ông bảo đối với Phật không thể sinh não cho nên vô
tội, thì dùng ác khẩu v.v… với A-la-hán không thể sinh khổ, cũng
phải không có tội.
Ông nói không ở trước mặt mắng nhiếc thì phải không có tội,
điều này không đúng. Người này dùng ác tâm với người. Bởi ác
tâm cho nên tuy người kia không nghe, nếu nghe ắt phải sinh khổ,
cho nên phải đắc tội.
Ông nói nếu sinh ác tâm mà không động thân mở miệng thì
không có tội, điều này cũng không đúng. Cái tâm xấu ác ô trược
này là vì não hại người mà sinh, nếu người kia biết ắt sinh khổ
não. Như giặc đến cướp của người, tuy không hay biết cũng làm
não hại người.
Ông nói tự sát, tự mắng nhiếc mình cũng bị tội, điều này
không đúng. Nếu tự làm khổ thân mà bị tội, thì không có ai được
sinh chỗ tốt. Bởi vì sao ? Con người trong 4 oai nghi thường bị
khổ thân. Vậy thì tất cả chúng sinh thường phải bị tội như não hại
người khác, cho nên không có ai được sinh chỗ tốt. Điều này
không đúng. Phải biết không do tự thân có tội phúc, mà vì đạo
nhân duyên, cho nên trong Tì-ni kết giới này. Nếu người ác tâm
mà tự sát, do phiền não nên bị tội.
Nghiệp vô ký, là nghiệp không phải thiện không phải bất
thiện. Đối với chúng sinh khác không làm tăng ích cũng không
tổn giảm gọi là vô ký.
Thành Thật Luận Trang 244 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Vì sao gọi là vô ký ?
Đáp : Đây là tên gọi của nghiệp này. Nếu nghiệp không phải
thiện, không phải bất thiện thì gọi là vô ký.
Lại, nghiệp thiện bất thiện đều có thể được quả báo, nghiệp
này không thể sinh quả báo nên gọi là vô ký. Bởi vì sao ? Nghiệp
thiện bất thiện là kiên cường, còn nghiệp này sức yếu. Ví như hạt
giống hỏng không thể nảy mầm.
Lại báo có 2 thứ, thiện được báo yêu thích, bất thiện bị báo
không không yêu thích, vô ký không có báo.
Hỏi : Trong đây có lấy chẳng phải yêu chẳng phải ghét là báo
vô ký. Nói vậy có lỗi gì ?
Đáp : Phật nói báo có 2 thứ. Tà thân mà làm, được báo
không yêu thích. Chính thân mà làm được quả báo ưa thích.
Không nói có báo thứ 3.
Lại quả báo phúc đức thì được yêu thích như ý muốn, mà
quả báo tội lỗi thì trái lại với trên.
Lại khổ, vui là quả báo của tội, phúc. Không khổ không vui
cũng là quả báo của thiện hành. Cho nên biết vô ký không có quả
báo.
Phẩm 101 : Tà hành
Phật nói 3 tà hành : Thân tà hành, miệng tà hành, ý tà hành.
Thân tạo tác ác nghiệp gọi là thân tà hành. Tà hành nầy có 2 thứ.
Một là nhiếp thuộc vào 10 bất thiện đạo, như giết, trộm, tà dâm.
Hai là không nhiếp, như roi, gậy, trói buộc, tự dâm vợ v.v... và bất
thiện đạo trước sau ác nghiệp.
Hỏi : Sát sinh v.v... nầy là 3 nghiệp bất thiện, chỉ là tính của
thân nghiệp ư ?
Đáp : Tội sát gọi sát bất thiện nghiệp. Tội nầy thân cũng có
thể tạo, tùy đem thân mình sát hại chúng sinh. Miệng cũng có thể
tạo, tùy đem lời sai bảo khiến người sát chúng sinh, hoặc đem tâm
Thành Thật Luận Trang 245 Tuệ Quang Foundation
rủa nộp mà sát cũng có thể tạo được. Có người phát tâm có thể
khiến người khác chết. Tội trộm, dâm cũng như vậy. Có điều tự
làm thì bị tội đầy đủ.
Lại thân nghiệp bất thiện, hoặc lấy thân làm tướng, hoặc
miệng làm tướng, hoặc phát tâm thì người khác biết, lấy nhân
duyên nầy cũng tạo được tội sát v.v.... Nhưng phần nhiều là do
thân tạo tác, nên thông thường gọi là thân nghiệp. Tà hành của
miệng cũng như vậy. Miệng gây ra ác nghiệp gọi là tà hành của
miệng. Trong đây cũng có 2 thứ. Như khi có người quyết định
hỏi, mà hiện trước mặt dối người ta, đó thuộc về bất thiện đạo.
Ngoài ra là không nhiếp thuộc. Tham sân tà kiến v.v... là tà hành
của ý.
Hỏi : Vì sao trong 10 bất thiện đạo nói là tà kiến ? Trong 3
bất thiện căn nói là si ?
Đáp : Tà kiến là tên khác của si. Si nầy tăng trưởng bền chắc
gọi là tà kiến. Si lại không có tướng riêng, chỉ lấy điên đảo tham
đắm, nên gọi là si.
Hỏi : Trong kinh nói : Các tà hành được quả báo bất ái, chính
hành được quả báo ái. Tướng ái và bất ái nầy không quyết định.
Như có một sắc, mà có ái và bất ái. Cho nên cần nói rõ tướng đó ?
Đáp: Vui là tướng ái. Như trong kinh nói : Phúc báo gọi là
vui. Khổ là tướng bất ái. Như trong kinh nói : Các ông đối với tội,
phải sinh lòng khiếp sợ, vì đó là nhân duyên khổ.
Hỏi : Nếu vui là tướng ái thì heo chó v.v..., ăn phân nhơ lấy
làm vui, đó là quả phúc đức sao ?
Đáp : Là phúc quả bất tịnh. Như Kinh Nghiệp nói : Nếu phi
thời thí, bất tịnh thí, tâm khinh khi, tâm đục vẩn mà bố thí nơi phi
phúc điền. Thí như vậy v.v... thì được quả báo ấy.
Hỏi : Như trong kinh nói chính hành được ái báo. Vì sao lại
nói do nhân duyên chính hành được sinh lên trời ?
Thành Thật Luận Trang 246 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Có những người tà hành cũng được sinh lên trời, hoặc
bảo sinh trời là quả báo tà hành. Nên trong kinh lại nói nhân
duyên chính hành mới sinh về nơi ấy.
Lại tà hành chính hành có thể được thân 2 đường thiện ác
khác nhau. Khi thụ thân rồi trong đó chịu những khổ vui. Như
nhân duyên tà hành trong ác đạo chịu khổ; nhân duyên chính hành
thì được hưởng vui cõi trời cõi người.
Phẩm 102 : Chính hành
Thân làm điều thiện gọi là thân chính hành. Miệng, ý cũng
như vậy. Lìa sát sinh v.v... 3 nghiệp bất thiện gọi là thân chính
hành. Miệng lìa 4 lỗi gọi là miệng chính hành. Ý lìa 3 bất thiện
gọi là ý chính hành. Ba thứ nầy nhiếp thuộc về Luật nghi. Như là
giới, định vô lậu luật nghi.
Lại có những lễ kính, bố thí v.v... là thiện nghiệp của thân,
đều gọi là thân chính hành. Như nói lời chân thật dịu dàng v.v...
đều gọi miệng chính hành. Ý nghiệp không tham v.v... đều gọi ý
chính hành. Gọi chung là 3 chính hành.
Hỏi : Ngoại đạo, thần tiên không có quả báo được giải thoát
giới, những người nầy có thể được giới luật nghi chăng ?
Đáp : Các ngoại đạo ấy từ nơi tâm sinh giới luật nghi, hoặc
cũng gọi giới khẩu thụ.
Lại các người đó v.v... cũng có thể được nhiếp thuộc về
chính hành giới luật nghi. Như khi loài người thọ mạng chỉ còn 10
tuổi mà nhờ thụ pháp bất sát thì đẻ con thọ mạng được 2 0 tuổi.
Hỏi : Trong kinh nói chính hành, tịnh hành và tịch diệt hành.
Có gì sai khác ?
Đáp : Có luận sư nói : Người phàm phu tu thiện nơi nghiệp
thân, miệng, ý gọi là chính hành. Học nhân đã đoạn kết thì ngay
nơi chính hành nầy gọi là tịnh hành. Vô học nhân đoạn kết, vì từ
không kết sinh lời nói, nên gọi là tịch diệt hành.
Thành Thật Luận Trang 247 Tuệ Quang Foundation
Lại vô học nhân rốt ráo không khởi nghiệp bất thiện nên gọi
là tịch diệt hành. Như nói thân tịch diệt, miệng tịch diệt, ý tịch
diệt.
Lại có người nói 3 thứ hành nầy nghĩa đồng mà tên khác. Chỉ
đẹp nơi chất trực nên gọi là chính. Lìa các phiền não nên gọi là
tịch. Lìa các bất thiện nên gọi là tịch diệt. Nên tuy có 3 tên mà
nghĩa không khác.
Hỏi : Có luận sư nói chỉ có tâm là tịch diệt hành chứ không
phải tư duy. Nghĩa ấy vậy nào ?
Đáp : Ba thứ hành nầy đều do tâm. Bởi vì sao ? Vì lìa tâm
không có tư duy, cũng không có nghiệp thân miệng.
Hỏi : Trong kinh nói: “Người thấy chính hành thành tựu, tức
là thấy trời. Nếu thấy số trời không phải tất cả người chính hành
đều sinh lên trời, sao nói quyết định như vậy ?
Đáp : Vì nói số trời nên điều này đã rõ. Những người chính
hành tuy không nhất thiết sinh lên trời, nhưng nếu sinh về nơi tôn
quý, thì cũng tương tự như trời, nên mới nói thấy số trời. Những
người chính hành đáng lẽ đều sinh lên trời mà hoặc bị các duyên
thừa phá hoại, cho nên không sinh, như là tà chính tạp hành. Vì tà
hành mạnh hơn nên không được sinh lên trời. Như trong kinh
Phật bảo A-nan rằng : Ta thấy có người tu 3 chính hành mà sinh
vào ác đạo. Đó là người quả báo tà hành đời trước đã chín mùi,
nay tuy tu chính hành nhưng chưa đầy đủ.
Lại có người khi sắp lâm chung khởi tâm tà kiến, nên bị đọa
ác đạo. Còn những người tà hành sinh về nơi thiện cũng như vậy.
Cho nên pháp phàm phu là không nên tin. Phải biết tùy theo
nghiệp lực mạnh nên thụ sinh có sai khác.
Phẩm 103 : Nghiệp buộc
Hỏi : Kinh nói có 3 thứ nghiệp: Nghiệp buộc cõi Dục, nghiệp
buộc cõi Sắc, nghiệp buộc cõi Vô sắc. Sao như vậy ?
Thành Thật Luận Trang 248 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Nếu nghiệp từ địa ngục đến cõi trời Tha Hóa Tự Tại,
trong đó chịu báo gọi là nghiệp buộc cõi Dục. Từ cõi Phạm Vậy
đến cõi trời A-ca-ni-tra, trong đó chịu báo gọi là nghiệp buộc cõi
Sắc. Từ Hư Không Xứ đến Phi Hữu Tưởng Phi Vô Tưởng Xứ,
trong đó chịu báo gọi là nghiệp buộc cõi Vô sắc.
Hỏi : Nghiệp vô ký và nghiệp bất định báo, không ở trong 3
thứ nầy sao ?
Đáp : Nghiệp nầy và quả báo đều gọi là buộc ở cõi Dục. Bởi
vì sao ? Vì pháp nầy là nghiệp quả báo cõi Dục.
Hỏi : Pháp cõi Dục, không phải tất cả đều là nghiệp báo, cho
nên không phải ?
Đáp : Tất cả pháp ở cõi Dục đều là nghiệp báo buộc ở cõi
Dục.
Hỏi : Nếu vậy thì ngoại đạo tà luận cho rằng tất cả những sự
thụ khổ vui đều là nghiệp nhân duyên đời trước ? Lại nghiệp quả
báo đời trước là thiện, bất thiện có báo không có báo ? Lại công
phu tinh tiến là không có chỗ dùng ? Nếu đều là nghiệp báo lại
cần gì nhọc công ? Và nếu các phiền não và nghiệp đều là nghiệp
báo, thì không giải thoát được, vì nghiệp báo không thể hết ?
Đáp : Ông nói là ngoại đạo tà luận. Điều này không trúng.
Ngoại đạo nói : Khổ vui tốt xấu chỉ là nghiệp quả báo đời trước.
Vậy thì không cần nhờ nhân duyên hiện tại. Mà thật thấy muôn
vật từ hiện tại duyên sinh, như hạt giống chẳng hạn. Cho nên
không được nói tất cả đều từ nghiệp nhân duyên đời trước.
Lại do nhân do duyên muôn vật mới được sinh, như lấy hạt
giống làm nhân, đất, nước, thời gian, không gian v.v... làm duyên.
Nhãn thức lấy nghiệp làm nhân, nhãn sắc v.v... làm duyên.. Cho
nên không đồng với tà luận ngoại đạo. Ông nói nghiệp quả báo
đời trước. Điều này không đúng. Vì hiện thấy do quả mới có quả
khác nối nhau sinh, như do lúa sinh lúa. Như vậy do báo sinh báo,
đâu có lỗi gì ?
Thành Thật Luận Trang 249 Tuệ Quang Foundation
Lại như người ái nam, và sự dâm dục của loại chim sẻ, chim
uyên ương v.v..., sự giận dữ của loại rắn độc v.v..., phải biết đều
là nghiệp quả báo đời trước.
Hỏi : Nếu từ báo sinh báo, vậy là vô cùng ?
Đáp : Tôi nói 3 thứ nghiệp báo : Thiện, bất thiện và vô ký.
Từ thiện và bất thiện sinh báo vô ký không sinh, nên không phải
vô cùng. Như từ lúa sinh lúa, trong đó từ hạt giống sinh mộng,
không từ bắp v.v... sinh. Như vậy từ quả báo thiện và bất thiện
mới có quả báo khác sinh không từ vô ký báo mà sinh. Ông nói
không cần nhọc công lao. Nhưng tuy từ nghiệp sinh báo cũng cần
phải gia công sau mới thành. Như nhờ được nghiệp lúa mới có lúa
sinh, nhưng cần phải gieo trồng v.v... mới được thành. Ông nói
không có giải thoát. Điều này không đúng. Được chân trí là ác
nghiệp diệt hết, cũng như hạt giống đã rang cháy không còn sinh
được, nên không bị lỗi không giải thoát.
Lại các pháp có sinh ra đều lấy nghiệp làm gốc. Nếu không
có nghiệp làm gốc làm sao có thể sinh.
Lại vạn pháp sinh ra đều có định phần, như pháp nầy quyết
từ thân người nầy sinh, mà không ở thân các người khác. Nếu
không có nghiệp làm gốc, thì làm sao quyết định sự sai khác.
Hỏi : Nếu pháp chỉ từ nhân mà sinh, như từ đậu sinh đậu có
lỗi gì ?
Đáp : Điều này cũng lấy nghiệp làm gốc, vì nghiệp nhân
duyên được đậu, nên mới có từ đậu sinh đậu. Làm sao biết được ?
Là thời kỳ thượng cổ người ta tu hạnh thiện, nên lúa thóc tự sinh,
cho nên biết nghiệp là gốc mới có đậu sinh đậu.
Hỏi : Vậy thì chúng sinh số, vật, từ nghiệp đời trước mà sinh
?
Đáp : Không phải, chẳng phải chúng sinh số, vật cũng lấy
nghiệp làm gốc. Tất cả chúng sinh có quả báo cộng nghiệp, nghĩa
là được chỗ ở, nhờ nghiệp nhân duyên nên có đất v.v..., nhờ
Thành Thật Luận Trang 250 Tuệ Quang Foundation
nghiệp nhân duyên sáng nên có mặt trời mặt trăng v.v.... Nên phải
biết vật sinh ra đều lấy nghiệp làm gốc.
Hỏi : Nếu pháp sinh ra đều do nghiệp làm gốc thì hữu vi và
vô lậu là vậy nào ?
Đáp : Cũng lấy nghiệp làm gốc. Bởi vì sao ? Vì là đời trước
đều có nguyên do của sức bố thí, trì giới v.v..., cho nên cũng từ
nghiệp v.v... sinh.
Hỏi : Nếu pháp vô lậu cũng từ nghiệp sinh, thì đó cũng là
pháp bị ràng buộc. Vậy thì không được, vì lẽ trong kinh nói có thụ
pháp không bị buộc kia mà ?
Đáp : Pháp vô lậu lấy chân trí làm nhân, lấy nghiệp làm
duyên, vì sức lớn mạnh nên gọi là không buộc.
Hỏi : Nghiệp nào thụ quả báo cõi Dục ? Nghiệp nào thụ quả
báo cõi Sắc, và cõi Vô sắc ?
Đáp : Nếu ở trong 3 cõi Dục, Sắc, Vô sắc khởi 10 nghiệp bất
thiện, thì thụ quả báo cõi Dục.
Hỏi : Nếu ở trong cõi Sắc, Vô sắc cũng có thể khởi nghiệp
bất thiện chăng ?
Đáp : Trong đó có thể khởi nghiệp bất thiện. Như trong kinh
nói trong kia có tà kiến. Tà kiến không phải bất thiện sao ?
Hỏi : Trong đó tà kiến là vô ký không phải bất thiện ?
Đáp : Không phải vô ký. Làm sao biết được ? Vì trong kinh
Phật nói : Tà kiến là nhân khổ não. Người tà kiến khởi các nghiệp
thân, khẩu, ý. Mọi tạo tác đều là quả báo khổ. Như trái mướp
đắng, toàn tứ đại đều một vị đắng. Như cõi Dục tà kiến bất thiện;
cõi Sắc và Vô sắc cũng lấy tướng nầy nên cũng gọi là bất thiện, vì
tướng đồng nhau. Như Phạm chí Bà-già bảo các Phạm kia rằng :
Các ông đừng đến Sa-môn Cù-đàm sa môn, ta ở đây có thể độ
thoát cho các ông. Đó là khởi tâm khẩu bất thiện ở cõi Sắc.
Lại có các Phạm thiên ở cõi kia nạn hỏi Phật. Có các việc
như vậy. Lại người ở cõi Sắc, Vô sắc bảo đó là Nê-hoàn. Đến khi
Thành Thật Luận Trang 251 Tuệ Quang Foundation
mạng chung thấy ấm thân ở trong cõi Dục, cõi Sắc liền sinh tà
kiến cho rằng không có Nê-hoàn, nên bài báng Pháp vô thượng.
Làm sao không phải bất thiện ư ? Vì những điều này nên biết
trong đó có nghiệp bất thiện.
Hỏi : Nếu ở trong đó khởi nghiệp bất thiện, nghiệp nầy bị
buộc nơi nào ?
Đáp : Nghiệp bât thiện nầy thụ quả báo cõi Dục, nên buộc ở
cõi Dục. Nghiệp thiện có 3 bậc: thượng, trung, hạ. Nghiệp hạ chịu
quả báo cõi Dục; trung, chịu quả báo cõi Sắc; thượng chịu quả
báo cõi Vô sắc.
Lại có người nói nghiệp thiện chịu báo ở cõi Sắc là nhiếp
thuộc về Tứ thiền, chịu báo cõi Vô sắc là nhiếp thuộc về Tứ Vô
sắc định. Ngoài ra tâm tán loạn khởi nghiệp thì chịu quả báo ở cõi
Dục.
Hỏi : Vì sao trong đó khởi nghiệp thiện mà chịu quả báo cõi
Dục ?
Đáp : Như trong đây nhiếp tâm khởi nghiệp thiện, thì trong
kia chịu báo. Như vậy trong kia tâm tán loạn khởi nghiệp thiện,
thì trong đây chịu báo.
Lại như cõi Sắc, Vô sắc khởi nghiệp bất thiện thì ở trong cõi
Dục chịu báo. Nghiệp thiện trong kia cũng như vậy.
Hỏi : Nếu ở cõi Sắc, Vô sắc không thể khởi nghiệp thiện
buộc về cõi Dục ?
Đáp : Trong đó không có nhân duyên nầy. Nếu ở cõi Dục có
thể khởi nghiệp thiện cõi Sắc, Vô sắc, mà ở cõi Sắc, Vô sắc lại
không có thể khởi nghiệp thiện cõi Dục sao ?
Lại các ông nói ở trong cõi Sắc có thể sinh tâm vô ký cõi
Dục. Nếu có thể sinh tâm vô ký, Vì sao không thể sinh tâm thiện
ư ?
Lại trong kinh, Phật bảo Thủ Thiên tử rằng : Phải niệm trụ
tâm thụ thô tướng. Thô tướng tức là tâm buộc cõi Dục. Người nầy
Thành Thật Luận Trang 252 Tuệ Quang Foundation
tùy đem thiện tâm nghe pháp lễ Phật, đều là buộc tâm ở cõi Dục.
Nếu không như vậy không gọi thô tướng.
Lại trong đó nghĩ cầu tài phúc. Như nói : Vậy Tôn ! Tôi đối
với 3 việc không chán đủ nên trong đây mạng chung sinh về cõi
trời Vô Nhiệt. Nghĩa là chiêm bái Phật, nghe Pháp, và cúng dường
Tăng mà nghĩ cầu tài phúc là buộc tâm về cõi Dục.
Lại trong đây có người niệm Phật v.v... mà không cầu tài
phúc nên phải biết có thiện buộc về cõi Dục.
LUẬN THÀNH THẬT
CÒN NỮA
LUẬN THÀNH THẬT
( Quyển 8 )
Ha-lê-bạt-ma tạo luận
Cưu-ma-la-thập dịch
Nguyên Hồng dịch tiếng Việt
Phẩm 104 : Ba nghiệp báo
Hỏi : Trong kinh Phật nói 3 thứ nghiệp báo : Nghiệp hiện
báo, nghiệp sinh báo, nghiệp hậu báo. Vậy là vậy nào ?
Đáp : Nếu thân này gây nghiệp tức ngay thân này chịu, gọi là
hiện báo. Đời nầy gây nghiệp đời sau chịu báo, gọi là sinh báo.
Đời nầy gây nghiệp, qua các đời sau nữa mới chịu báo, gọi là hậu
báo, vì qua sau đời sau nên gọi là hậu.
Hỏi : Báo nghiệp thân trung ấm chịu ở chỗ nào ?
Đáp : Chịu ở 2 chỗ. Nghiệp trung ấm thứ tự chịu ở chỗ sinh
báo, vì sinh có sai khác gọi trung ấm; nên nghiệp các trung ấm
khác chịu ở chỗ hậu báo.
Hỏi : Ba thứ nghiệp này là báo quyết định hay đời quyết định
?
Đáp : Có người nói báo quyết định. Nghiệp hiện báo ắt hiện
chịu báo. Hai thứ kia cũng vậy.
Thành Thật Luận Trang 253 Tuệ Quang Foundation
Tuy có thuyết nầy, nhưng nghĩa ấy không đúng. Bởi vì sao ?
Vì nếu như vậy không chỉ ngũ nghịch gọi là định báo mà trong
Lục Túc A-tì-đàm cũng nói ngũ nghịch là định báo.
Lại trong kinh Giám Lượng cũng nói bất định. Có nghiệp
phải chịu quả báo địa ngục mà người nầy vì tu thân giới tâm tuệ
nên có thể chịu quả báo đời hiện này. Cho nên 3 thứ nghiệp phải
là đời quyết định, vì báo nghiệp hiện đời không nhất thiết hiện
đời này chịu. Nếu chịu thì nên hiện chịu chứ không phải các chỗ
khác. Hai thứ nghiệp kia cũng như vậy.
Hỏi : Những nghiệp gì có thể thụ hiện báo ?
Đáp : Có người nói nghiệp nhanh nhạy chịu hiện báo. Như
đối với Phật các vị Thánh nhân và cha mẹ v.v... mà khởi nghiệp
thiện, ác là hiện chịu ngay quả báo. Nếu nghiệp không nhạy mà
nặng thì đời sau chịu báo. Như ngũ nghịch v.v.... vừa nhạy vừa
nặng, thì sau đời sau mới chịu. Như nghiệp Vua Chuyển luân,
hoặc nghiệp Bồ-tát.
Lại có người nói 3 thứ nghiệp này tùy thuận được quả báo.
Nếu nghiệp nguyện đời nay thụ tức là hiện thụ. Như bà Mạt Lỵ
phu nhân đem phần ăn của mình cúng dường Phật, nguyện hiện
đời được làm phu nhân của vua. Hai nghiệp kia cũng như vậy.
Lại tùy nghiệp nào chín muồi thì thụ trước.
Hỏi : Nghiệp quá khứ sao gọi là chín muồi ?
Đáp : Đầy đủ tướng nặng, thì gọi là chín muồi.
Hỏi : Liệu có một niệm khởi nghiệp, một niệm kế thụ báo
không ?
Đáp : Không có. Lần lượt rồi mới thụ, như hạt giống lần lượt
sinh mầm. Nghiệp pháp cũng như vậy.
Hỏi : Như những người còn ở trong thai, khi ngủ mê, hoặc
điên cuồng v.v..., có thể tụ tập nghiệp không ?
Đáp : Những trường hợp như vậy, hễ có suy nghĩ tư duy thì
có thể tụ tập nghiệp, nhưng không đầy đủ.
Thành Thật Luận Trang 254 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Nếu lìa địa vị cõi Dục nầy có thể khởi nghiệp địa vị
này không ?
Đáp : Người có ngã tâm đều tụ tập nghiệp này, nếu lìa ngã
tâm thì không tụ tập lại.
Hỏi : A-la-hán cũng kính lễ tu phúc v.v..., nghiệp nầy Vì sao
không tụ tập ?
Đáp : Vì tâm chúng sinh nên các nghiệp mới nhóm. A-la-hán
không ngã tâm nên các nghiệp không nhóm.
Lại A-la-hán tâm vô lậu, mà người vô lậu tâm không nhóm
các nghiệp.
Lại trong kinh nói dứt nghiệp tội phúc gọi là A-la-hán.
Người nầy không tụ tập nghiệp tội phúc và nghiệp bất động, thụ
nghiệp cũ đã xong, nghiệp mới không tạo.
Hỏi : Học nhân có nhóm các nghiệp không ?
Đáp : Cũng không còn tụ tập. Bởi vì sao ? Kinh nói : Người
nầy phá tan các nghiệp, không nhóm, không chứa, diệt hết v.v....
Có luận sư nói : Học nhân này có ngã mạn, nên cũng nhóm các
nghiệp, nhưng nhờ sức của trí vô ngã, nên bất tất chịu báo.
Hỏi : Ba thứ nghiệp nầy ở cõi nào có thể tạo ?
Đáp : Tất cả chỗ trong 3 cõi đều tạo được.
Hỏi : Có hay không có nghiệp bất định ?
Đáp : Có. Nếu nghiệp hoặc hiện báo, hoặc sinh báo, hoặc hậu
báo, đó gọi là bất định. Nghiệp như vậy nhiều.
Hỏi : Nếu biết 3 thứ nghiệp nầy được lợi gì ?
Đáp : Nếu có thể phân biệt 3 thứ nghiệp nầy thì sinh chính
kiến. Bởi vì sao ? Vì hiện thấy có người làm ác mà hưởng giàu có
sung sướng. Người hiền thiện lại chịu khổ. Đối với việc như vậy
hoặc sinh tà kiến cho rằng thiện ác không có quả báo. Nếu biết 3
nghiệp nầy sai khác như vậy, thì sinh chính kiến. Như kệ nói :
Làm ác thấy vui,
Vì ác chưa chín.
Thành Thật Luận Trang 255 Tuệ Quang Foundation
Đến lúc ác chín,
Tự thấy chịu khổ.
Làm thiện thấy khổ,
Vì thiện chưa chín.
Đến khi thiện chín,
Tự thấy hưởng vui.
Lại kinh Phân Biệt Đại Nghiệp nói : Người không đoạn sát
được sinh lên trời, là vì nếu người nầy đời trước có phúc, nên khi
mạng chung phát thiện tâm mạnh mẽ, có thể biết như vậy tức sinh
chính kiến. Cho nên phải biết tướng 3 thứ nghiệp này.
Phẩm 105 : Ba thứ nghiệp thụ báo
Hỏi : Trong kinh Phật nói 3 thứ báo nghiệp: Báo vui, báo
khổ và báo nghiệp không khổ không vui. Thứ nào như vậy nào ?
Đáp : Nghiệp thiện được báo vui. Nghiệp bất thiện bị báo
khổ. Nghiệp bất động được báo không khổ không vui. nghiệp nầy
không nhất thiết quyết định chịu, nếu chịu thì chịu báo vui, không
phải khổ v.v.... Hai nghiệp kia cũng như vậy.
Hỏi : Các nghiệp nầy cũng được báo sắc, Vì sao chỉ nói thụ
thôi ?
Đáp : Trong các quả báo, thụ là vượt trội hơn hết. Thụ là thật
báo, sắc v.v... là như đồ dụng cụ.
Lại trong cảnh duyên nói thụ, như nói lửa khổ lửa vui; hoặc
trong nhân có quả, như người thí thực gọi là thí 5 thứ lợi. Cũng
như nói ăn tiền v.v....
Hỏi : Từ cõi Dục đến trong Tam thiền có được thụ quả báo
không khổ không vui ư ?
Đáp : Được thụ.
Hỏi : Do nghiệp báo nào ?
Đáp : Là nghiệp báo hạ thiện. Nghiệp thượng thiện thì thụ
báo vui.
Thành Thật Luận Trang 256 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Nếu như vậy, Vì sao nói trong đệ Tứ thiền và Vô sắc
định ư ?
Đáp : Kia là tự địa. Bởi vì sao ? Vì trong đó chỉ có một thứ
quả báo nầy mà không có thụ nào khác, vì là tịch diệt vậy.
Hỏi : Có người nói buồn không phải nghiệp báo. Việc ấy vậy
nào ?
Đáp : Vì sao không phải ?
Hỏi : Buồn chỉ do tưởng phân biệt sinh, nghiệp báo không
phải là tưởng phân biệt.
Lại nếu buồn là nghiệp báo thì nghiệp báo nhẹ, nên không
phải báo.
Lại buồn nầy khi lìa dục là dứt, mà nghiệp báo khi lìa dục
không dứt. Cho nên biết buồn không phải nghiệp báo ?
Đáp : Ông nói buồn do tưởng phân biệt sinh nên không phải
báo, thì vui cũng là nghiệp báo. Vui nầy có 2 thứ : một là vui, hai
là mừng. Mà vui mừng cũng do tưởng phân biệt sinh, lẽ ra không
nên gọi là báo sao ? Ông nói nghiệp báo thì nhẹ. Buồn nầy nặng
hơn khổ. Bởi vì sao ? Vì buồn là người ngu, những người có trí
không buồn, cho nên khó trừ, cũng có thể sinh phiền não sâu đậm.
Lại trong Tứ Bách Quán nói : Tiểu nhân thân khổ, quân tử
tâm ưu.
Lại buồn lo nầy cần phải đem trí mới dứt được, thân khổ vui
cũng có thể trừ được.
Lại buồn có thể sinh khổ não trong 3 đời, như nói ta trước
khổ, nay khổ mai sau sẽ khổ.
Lại buồn là chỗ trú của các phiền não. Như trong kinh nói là
chỗ ở của phiền não. Nên nói 18 thứ ý hành, bởi trong 5 thức
không sinh phiền não.
Lại trong kinh nói buồn là 2 mũi tên, vì chịu khổ 2 lần, như
người bị 2 mũi tên đâm vào một chỗ thì chịu khổ gấp đôi. Như
Thành Thật Luận Trang 257 Tuệ Quang Foundation
vậy người ngu bị khổ bức bách lại càng thêm buồn lo, nên thân
tâm khổ não lắm hơn khổ thông thường.
Lại người ngu thường buồn lo. Bởi vì sao ? Vì người ấy trái
lìa ân ái, gặp gỡ oán ghét, tìm cầu không được v.v..., nên thường
lo buồn khổ não.
Lại buồn nầy do 2 nhân sinh : một là do hỷ sinh, hai là do ưu
sinh. Như mất vật mình yêu là do hỷ sinh, như trong kinh nói :
Phật hỏi vua Ba-tư-nặc rằng : Ông yêu nước Ca-thi-kiều-tát-la
không ?
Lại nói : Chư Thiên vui sắc, tham sắc, sắc nầy nếu hoại, thì
sinh buồn khổ. Đó là hỷ sinh.
Do ưu sinh là do việc ghét mà sinh, cũng do ganh ghét v.v...
sinh. Người chưa lìa dục ganh ghét v.v... các thứ kết thường não
hại nơi tâm. Như nói thiên nhân nhiều kết xan tham tật đố.
Lại nhiều chúng sinh bởi chọc tức người khác nên bị quả báo
buồn khổ, như nói tùy trồng giống sinh quả, cho nên biết buồn là
nghiệp báo. Ông nói khi lìa dục thì dứt nên không phải báo. Điều
này không đúng. Tu-đà-hoàn chưa ly dục cũng dứt được báo địa
ngục v.v.... Có thể cho các báo địa ngục là không phải quả báo sao
? Cho nên không thể cho ly dục dứt, mà liền gọi là không phải
quả báo.
Hỏi : Báo nghiệp không khổ không vui, gọi là bất động.
Nghiệp nầy là thiện, lẽ ra phải thụ báo vui, sao lại thụ báo không
khổ không vui ?
Đáp : Thụ nầy bất động nên thật vui. Vì tịch diệt nên gọi
không khổ không vui.
Lại trong kinh nói : Trong lạc thụ tham sai khiến. Trong đó
lòng tham ở trong thụ kia sai khiến nên biết là vui.
Phẩm 106 : Ba chướng
Thành Thật Luận Trang 258 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Trong kinh nói 3 chướng: Nghiệp chướng, phiền não
chướng, báo chướng. Thứ nào như vậy nào ?
Đáp : Nếu các nghiệp phiền não và báo, có thể chướng ngại
đạo giải thoát, thì gọi là chướng.
Hỏi : Có thể chướng pháp gì ?
Đáp : Tu thiện thí, giới hồi hướng 3 cõi, đây thường hay
chướng đạo.
Lại cũng là chướng báo nghiệp quyết định chịu. Như trong
kinh nói : Nếu người nầy quyết định nhóm chịu báo nghiệp, thì
không vào chính vị. Đó gọi là nghiệp chướng.
Lại nếu người phiền não sâu dày thường ở nơi tâm tăng
thượng một cách nhanh chóng, đó là phiền não chướng.
Lại như người phiền não không trừ khiển được, như dục tâm
của những người ái nam v.v..., cũng gọi là phiền não chướng.
Lại ở chỗ do tội ác sinh như địa ngục v.v..., và tùy những chỗ
sinh không thể tu đạo, đều gọi là báo chướng.
Hỏi : Có người trước không hiểu rõ đối tượng, không biết
người ấy là người thiện, nên không bố thí, vì nghĩ rằng người kia
nếu ta thí sẽ được điều kiện gây các việc ác, thì ta có phần trách
nhiệm. Như Phạm Chí v.v... người xuất gia. Cho nên các người
xuất gia, không nên bố thí vì nghiệp mới trói buộc chướng ngại
giải thoát ?
Đáp : Không phải vậy. Vì người khác tạo tội phúc với ta
không can hệ. Bởi vì sao ? Vì trong nhân duyên tội phúc có nhiều
tội lỗi. Bởi vì sao ? Như chúng sinh là nhân duyên sát, nếu không
chúng sinh làm sao có sát ? Vậy thì người chết lẽ ra phải có tội.
Lại như người giàu là nhân duyên của trộm cắp. Sắc đẹp là
nhân duyên của tà dâm. Người khác là nhân duyên của nói dối
v.v.... Ngụy xưng v.v... là nhân duyên của lường gạt. Người mua
lẽ ra cũng có tội ?
Thành Thật Luận Trang 259 Tuệ Quang Foundation
Lại người nhận làm nhân duyên của người thí, lẽ ra cũng
được phúc. Như người đào giếng đào ao v.v..., người dùng nước
lẽ ra đều được phúc ? Như vậy thì tự mình không cần làm phúc
đức. Mà thật không phải vậy. Cho nên trong nhân duyên không
nên có tội phúc.
Lại phúc phần của người nhận lẽ ra phải tiêu hết, thì người
ấy không nên theo người khác mà thụ thí. Bởi vì sao ? Vì đem
phần phúc đức của mình mà đổi lấy đồ uống ăn.
Lại người thí phải nhiều tội mà ít phúc. Bởi vì sao ? Vì đâu
có bao nhiêu người Bà-la-môn hay làm thiện. Phần nhiều đem tâm
3 độc vẩn đục chìm-đắm trong 5 dục, không siêng tu hành. Cho
nên người thí lẽ ra phải tội nhiều mà phúc ít.
Lại các Phạm Chí v.v... tự xưng là người thiện tu hành pháp
thiện. Mà sự thật những người ấy không thể nhiếp tâm chính quán
các pháp thiền định. Nếu lìa thiền định, thì khó điều phục tâm.
Cho nên người thí cho người chưa lìa dục lẽ ra phải bị tội nhiều ?
Lại như người cúng dường cha mẹ, cung cấp cho vợ con,
thân bằng quyến thuộc bè bạn đều phải bị tội, thì không có người
được phúc phần. Mà thật không phải vậy. Cho nên tội phúc không
ở trong nhân duyên.
Lại pháp trì giới v.v... cũng lợi cho người khác, vì người này
không sát sinh nên thí mạng sống cho tất cả, thì người trì giới bị
phần đại tội ? Vì không sát nên đối tượng được sống lâu làm các
điều ác, vậy lẽ ra người trì giới phải chịu một phần, như vậy thì
người cầu phúc nên sát sinh, chứ không nên trì giới ?
Lại như người thuyết pháp khiến cho người khác tu phúc,
nhờ nhân duyên tu phúc về sau được giàu sang; giàu sang thì kiêu
ngạo, phóng dật, kiêu ngạo phóng dật thì gây các việc ác; các ác
nầy người thuyết pháp đều phải có phần trách nhiệm ?
Lại nhân duyên thí khiến người khác giàu, vì nhân duyên
giàu gây làm các tội, vậy người thí cũng phải chịu một phần. Vậy
Thành Thật Luận Trang 260 Tuệ Quang Foundation
thì Phạm Chí không nên nhận thí, cũng không nên thí cho ai. Mà
nay Phạm Chí chỉ nhận thí mà không thí nên biết đó là tà đạo.
Lại như các vị vua đúng như pháp trị dân cũng phải có tội ?
Lại như con làm tội, cha mẹ phải có phần trách nhiệm, vậy
thì lẽ ra không nên sinh con ?
Lại như thầy thuốc giỏi chữa lành bệnh lẽ ra cũng phải tội, vì
người được sống sẽ làm nhiều tội lỗi.
Lại trời mưa đúng thời vụ, nuôi lớn ngũ cốc lẽ ra trời cũng
đắc tội, vì cứu sống và nuôi nhiều chúng sinh ác.
Lại người thí cho ăn lẽ ra cũng bị tội, vì người ăn nếu không
tiêu thức ăn khiến đến chết, và những người chưa lìa dục vì đắm
say thực vị, nên người thí lẽ ra cũng bị tội. Vậy thì người thí
thường phải buộc người nhận lập lời thề rằng : Nay ăn thức ăn của
ông, quyết sẽ không làm ác, rồi sau mới thí cho. Nếu không làm
vậy thì người thí mất hết cả hai.
Hỏi : Trong kinh cũng nói : Nếu Tì-kheo ăn cơm của thí chủ,
mặc áo của thí chủ, nhập vô lượng thiền định, nhờ nhân duyên
nầy nên thí chủ ấy được phúc vô lượng. Nếu nhờ nhân duyên nầy
mà được phúc ấy, thì sao lại không bị tội ?
Đáp : Nếu Tì-kheo ăn cơm của thí chủ, mặc áo của thí chủ,
nhập vô lượng thiền định, là phúc bố thí của thí chủ tự được tăng
trưởng, chứ không được phúc thiền định. Như ruộng tốt nên thu
hoạch nhiều, ruộng xấu thì thu hoạch ít. Như vậy ruộng phúc tốt
thì quả báo thí phúc nhiều, mà phúc điền xấu thì phúc ít, chứ
không phải do người nhận làm phúc làm tội mà người thí chịu ảnh
hưởng. Cho nên không bởi nhân duyên tội phúc mà bị tội hay
được phúc. Người kia tuy là nhân duyên, mà tội phúc phải do tự
mình khởi 3 nghiệp.
Hỏi : Người chưa lìa dục tâm không tự tại, ắt có tham đắm,
nên người xuất gia không nên tu thí ?
Thành Thật Luận Trang 261 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Nếu như vậy thì người xuất gia trì giới v.v... đều có
phúc đức, điều đó cũng nên bỏ, mà thật ra là không thể. Cho nên
bố thí cũng không nên bỏ, nhưng đừng hồi hướng 3 cõi mà phải vì
Nê-hoàn.
Lại chỉ nên xa lìa phiền não các nghiệp bất thiện. Bởi vì sao
? Vì các nghiệp nầy, trong nhân còn có thể đề phòng, mà đến khi
thành quả thì không thể làm gì hơn được ! Cho nên chư Phật
thường trong khi nhân nói pháp giáo hóa, không phải như Vua
Diêm Vương đến khi quả mới giáo hóa bằng quở trách.
Hỏi : Trong 3 nghiệp chướng nầy thứ nào nặng hơn ?
Đáp : Có người nói báo chướng nặng hơn, vì không giáo hóa
được. Có người nói bởi tùy người nên tất cả đều nặng.
Hỏi : Thứ nào có thể chuyển được ?
Đáp : Đều có thể khiến diệt được. Nếu có chuyển, thì đã
không gọi là chướng.
Phẩm 107 : Bốn nghiệp
Hỏi : Trong kinh Phật nói 4 thứ nghiệp : Báo nghiệp đen đen,
báo nghiệp trắng trắng, báo nghiệp đen trắng đen trắng, và không
báo nghiệp không đen không trắng vì đã diệt hết nghiệp. Thứ nào
như vậy nào ?
Đáp : Nghiệp báo đen đen là tùy theo nghiệp nào đó sinh về
nơi khổ não như địa ngục A-tì và các chỗ khổ não khác không báo
thiện, như súc sinh ngạ quỷ một phần ít. Trái nhau với đây, tức
nghiệp thứ hai. Tùy theo nghiệp nào đó sinh về nơi không khổ
não, như 2 cõi Sắc, Vô sắc và cõi Dục, người trời một phần ít, đen
trắng lẫn lộn, tức nghiệp thứ ba. Tùy theo nghiệp nào đó sinh về
nơi khổ não không khổ não, như địa ngục súc sinh ngạ quỷ người
trời một phần ít. Nghiệp thứ tư là vô lậu vì có khả năng diệt hết 3
nghiệp. Nếu nghiệp 2 đời bị quở trách là đời nay quở trách, đời
Thành Thật Luận Trang 262 Tuệ Quang Foundation
sau quở trách, là người bị tội đọa ở nơi tối đen, không có tiếng
tăm, nên gọi là đen.
Lại 2 đời khổ não là đời nay khổ, đời sau khổ nên gọi là đen.
Hỏi : Nghiệp nầy thứ nào có thể sinh về nơi hoàn toàn khổ
não ?
Đáp : Tâm nối nhau làm ác, không chút ăn năn, không có
điều thiện có thể tiêu diệt nghiệp ác, đó là có thể sinh nơi hoàn
toàn khổ não.
Lại đem tâm tà kiến gây các ác. Lại đối với người quan trọng
mà gây ác, như cha mẹ và các người thiện. Lại đối vói chúng sinh
làm ác không chút xót thương, như giết chúng sinh, hoặc cướp hết
của cải, hoặc nhốt nơi lao ngục mà lại không cho ăn, hoặc đánh
khảo nặng nề khiến không còn chút vui. Các nghiệp như vậy sinh
về nơi hoàn toàn khổ.
Nghiệp báo trắng trắng là như người thuần tụ tập các thiện,
không có gì bất thiện. Vậy lực 2 nghiệp này to lớn nhất, các
nghiệp khác không hơn được. Như khi chịu nghiệp báo đen thì
không dung nghiệp báo trắng, khi chịu nghiệp báo trắng thì không
dung nghiệp báo đen. Bởi vì sao ? Vì tất cả chúng sinh đều tụ tập
thiện, bất thiện, nghiệp lực chướng ngại nhau, nên không được
đồng chịu cùng lúc. Như 2 người cùng kéo giành một vật ai mạnh
lôi đi trước. Nghiệp thứ 3 báo yếu ớt, vì thiện, bất thiện lẫn lộn
cho nên chịu báo cùng thay nhau thắng hơn.
Hỏi: Có người nói nếu nghiệp bất thiện chịu báo ác đạo, đó
là nghiệp đầu tiên. Thiện buộc ở cõi Sắc, là nghiệp thứ hai. Trong
cõi Dục buộc người trời chịu nghiệp báo lẫn lộn, đó là nghiệp thứ
ba. Trong vô ngại đạo, 17 bậc học tư, là nghiệp thứ tư. Nghĩa này
như vậy nào ?
Đáp : Phật tự nói tướng các nghiệp nầy. Nghĩa là nếu người
khởi gây tội nơi thân khẩu ý, thì sinh về nơi khổ não, thân chịu
khổ não, và chịu lấy các thứ phải chịu đều không như ý muốn.
Thành Thật Luận Trang 263 Tuệ Quang Foundation
Cho nên tùy khiến chúng sinh về nơi hoàn toàn khổ, đó là nghiệp
đầu tiên. Cõi Sắc và Vô sắc thì hoàn toàn hưởng lạc. Trời người
cõi Dục cũng có người hoàn toàn hưởng lạc, như trong kinh nói :
Có người vui cũng có 6 thứ xúc, người trời cảm giác các thứ trần,
không gì không được tùy ý. Đó là nghiệp thứ hai. Gây nghiệp đen
trắng lẫn lộn, là nghiệp thứ ba. Tất cả nghiệp vô lậu là hết các
nghiệp, vì trái nhau, chứ không phải chỉ 17 bậc học tư gọi là
nghiệp thứ tư.
Hỏi : Vô lậu thật trắng, sao gọi là không trắng ?
Đáp : Tướng trắng nầy khác không giống trắng của nghiệp
thứ hai. Trắng nầy vượt trội hơn cả, vì không đối đãi nhau. Như
nói vị Chuyển Luân Thánh Vương thành tựu thanh tịnh quá hơn
mắt người trời. Thật mắt người nầy hơn các người khác nên gọi là
hơn người. Nghiệp nầy cũng vậy, hơn các nghiệp trắng khác nên
nói không trắng.
Lại có người nói : Lẽ ra phải nói là nghiệp báo không phải
đen trắng, vậy thì không lỗi.
Lại Nê-hoàn không là không phải trắng. Cho nên nghiệp nầy
phải gọi là không phải trắng.
Lại cũng phải nói không phải trắng không phải đen. Bởi vì
sao ? Vì Nê-hoàn là vô pháp. Nghiệp nầy là Nê-hoàn nên gọi
không đen không trắng.
Lại người đời quí trọng nghiệp thiện hữu lậu, nên gọi là
trắng. Và nghiệp thứ tư có thể bỏ nghiệp nầy, nên gọi không
trắng.
Lại nghiệp nầy không có tướng đen nên cũng không thể có
tướng trắng được.
Lại báo trắng nên nghiệp gọi cũng trắng. Nghiệp nầy không
báo nên không gọi trắng.
Phẩm 108 : Ngũ nghịch
Thành Thật Luận Trang 264 Tuệ Quang Foundation
Thân kế sau chịu quả báo nên gọi không gián đoạn. Nếu đời
hiện nầy chịu thì khổ não nhẹ, báo ít; vì nghiệp ấy nặng, nên theo
thứ lớp mau đọa vào địa ngục A-tì.
Ngũ nghịch là bởi phúc điền đức trọng, nên gọi là nghịch. Đó
là ác tâm phá Tăng, làm thân Phật chảy máu, giết A-la-hán, giết
cha mẹ. Vì không biết ơn dưỡng dục, nên gọi là nghịch. Nghịch
tội nầy chỉ trong đạo làm người có thể sinh khởi, không phải trong
các đạo khác, vì người có phân biệt hiểu biết.
Hỏi : Giết Thánh nhân khác có bị tội nghịch không ?
Đáp : Người giết Thánh nhân phần nhiều đọa địa ngục, nếu
giết A-la-hán chắc chắn phải đọa địa ngục. Nếu người đánh Phật
mà không chảy máu cũng bị trọng tội, vì cố tâm muốn hại Vậy
Tôn.
Hỏi : Nếu người gây một nghịch tội thì đọa địa ngục, hoặc
gây 2, 3, cũng nơi một thân đều chịu báo chăng ?
Đáp : Vì tội nầy nhiều nên chịu khổ nặng lâu. Ở trong đó
chết rồi lại sống lại trong đó.
Hỏi : Trong tội phá Tăng vì sao nặng ?
Đáp : Nếu phi pháp biết là phi pháp, pháp biết là pháp, với
tâm như vậy mà làm thì gọi là nặng. Nếu phi pháp bảo là pháp,
pháp bảo là phi pháp, là không như trước.
Lại như người ở chỗ Phật mà phá Tăng, tự xưng Đại sư đáng
cao cả trong trời người, đó cũng là nặng.
Hỏi : Nếu không phải Thánh nhân, phàm phu có thể phá sao
gọi trọng tội ?
Đáp : Vì chướng ngại chính pháp nên gọi trọng tội.
Hỏi : Pháp phá Tăng là bao lâu ?
Đáp : Pháp không trụ lâu, không trải qua một đêm. Trong đó,
các Phạm Vương, chư thiên, các đại đệ tử như Xá-lợi-phất v.v...,
liền hòa hợp trở lại. Có người nói 5 trăm vị Tì-kheo nầy, đời trước
Thành Thật Luận Trang 265 Tuệ Quang Foundation
vì nhân duyên ngăn thiện căn đắc đạo của người khác nên nay bị
quả báo nầy.
Lại nhân tâm phàm phu vội vã nên dễ có thể phá hoại, như
chỉ chứng được tâm không, vô ngã vậy gian còn không thể phá
được, huống chi bậc vô lậu ! Vì ác dục ở trong tâm, nên mới gây
nhân duyên phá Tăng. Cho nên người cầu phúc cần phải bỏ ác
dục.
Phẩm 109 : Năm giới
Phật nói Ưu-bà-tắc có 5 giới.
Hỏi : Có người nói thụ đầy đủ thì được giới luật nghi. Việc
ấy vậy nào ?
Đáp : Tùy thụ nhiều ít đều được luật nghi. Nhưng chỉ cần lấy
có 5.
Hỏi : Lìa trói buộc v.v... vì sao không gọi là giới, mà chỉ nói
bất sát v.v... ?
Đáp : Vì là bà con quyến thuộc.
Hỏi: Vì sao không nói đoạn dâm, mà chỉ nói không tà dâm ?
Đáp : Vì người còn ở vậy tục khó thường lìa bỏ. Lại như tự
dâm vợ mình không nhất thiết đọa các ác thú. Như Tu-đà-hoàn
v.v... cũng còn hành pháp nầy. Cho nên không nói hoàn toàn dứt
dâm dục.
Hỏi : Lìa 2 lưỡi v.v..., vì sao không gọi là giới?
Đáp : Việc nầy vi tế, khó giữ gìn được. Lại 2 lưỡi v.v... là
một phần của nói dối, nếu nói “nói dối” là đã nói chung tất cả.
Hỏi : Uống rượu là thật tội sao ?
Đáp : Không phải. Bởi vì sao ? Vì uống rượu không làm não
hại chúng sinh, chỉ làm nhân sinh tội. Nếu người uống rượu thì
mở cửa bất thiện. Cho nên, nếu dạy uống rượu thì đắc tội một
phần, vì có thể chướng ngại thiền định và các thiện pháp. Như
Thành Thật Luận Trang 266 Tuệ Quang Foundation
trồng cây ăn trái, ắt phải làm rào ngăn. Như vậy 4 pháp kia là thật
tội, lìa là thật phúc.Vì để bảo vệ nên mới kết giới rượu nầy.
Phẩm 110 : Sáu nghiệp
Nghiệp có 6 thứ. Nghiệp báo địa ngục, nghiệp báo súc sinh,
nghiệp báo ngạ quỷ, nghiệp báo làm người, nghiệp báo sinh về cõi
trời và nghiệp báo bất định.
Hỏi : Thứ nào như vậy nào ?
Đáp : Nghiệp báo địa ngục là như trong phần Lâu thán của
bộ Lục Túc A-tì-đàm có nói rộng.
Lại tội sát sinh v.v... đều là địa ngục. Như trong kinh nói
người ưa sát sinh, sinh trong địa ngục; nếu được làm người thì
chịu quả báo chết yểu. Cho đến tà kiến cũng như vậy.
Hỏi : Đã biết 10 bất thiện đạo chịu báo địa ngục và cũng sinh
trong súc sinh, ngạ quỉ và loài người, mà ông chỉ nói sinh trong
địa ngục và loài người. Nay phải nói riêng nghiệp nào chỉ chịu
báo địa ngục ?
Đáp : Tức tội nghiệp nầy, rất nặng là chịu báo địa ngục, nhỏ
nhẹ chịu báo súc sinh v.v....
Lại nếu đầy đủ 3 thứ tà hành tức là địa ngục, còn các nghiệp
khác không đầy đủ thì làm súc sinh v.v....
Lại cố ý gây trọng tội là địa ngục.
Lại người phá giới phá kiến, gây các ác nghiệp tức là địa
ngục.
Lại thâm tâm làm ác, tâm hoại, hành hoại, người nầy gây ác
nghiệp tức là địa ngục.
Lại gây nghiệp bất thiện vì giúp bất thiện là địa ngục.
Lại như đối với hiền thánh tạo nghiệp bất thiện là địa ngục.
Lại khởi nghiệp bất thiện, rồi tu nhóm bất thiện, về sau ngợi
khen khoái lạc không muốn bỏ lìa, là địa ngục.
Thành Thật Luận Trang 267 Tuệ Quang Foundation
Lại đem tâm ghét giận để gây tội nghiệp, thì là địa ngục. Nếu
vì của cải thì còn chịu báo thừa nữa.
Lại đem tâm tà kiến khởi nghiệp bất thiện, là địa ngục.
Lại người phá giới gây ra tội nghiệp, là địa ngục.
Lại người không hổ thẹn gây ra tội nghiệp, là địa ngục.
Lại người ác tính gây ra tội nghiệp, là địa ngục, ví như đất
ướt mưa ít cũng thành bùn.
Lại người thường làm bất thiện gây ra ác nghiệp, là địa ngục.
Lại nếu không duyên cớ cấp nạn mà gây ác nghiệp là địa
ngục.
Lại nếu người không được chút ít không vô ngã, vì nhiễm
đắm sâu đậm gây tội nghiệp là địa ngục.
Lại nếu người không tu thân giới tâm tuệ, gây ra ác nghiệp,
là địa ngục.
Lại nếu người phàm phu gây ra tội nghiệp là địa ngục. Bởi vì
sao ? Vì người nầy không biết các pháp; ấm, giới, các nhập và 12
nhân duyên v.v..., vì không biết nên làm việc không nên làm,
không làm việc nên làm, nói lời không nên nói, không nói lời nên
nói, nghĩ điều không nên nghĩ, không nghĩ điều nên nghĩ. Người
nầy gây ra tội nghiệp tuy ít nhưng cũng là địa ngục.
Lại nếu không thấy lỗi trong bất thiện, thì người nầy có thể
khởi tội nghiệp nặng, chịu quả báo địa ngục.
Lại nếu người làm tội mà không nương nơi thiện, tức là địa
ngục, như người mắc nợ không nương cậy vua, thì chủ nợ dễ đòi.
Lại nếu người nghiệp thiện yếu ớt gây ra tội ít cũng là địa
ngục, như trong thân người nhiệt lực kém ít, ăn phải thứ ăn khó
tiêu, thì không tiêu được.
Lại nếu người chỉ làm bất thiện, không xen chút thiện
nghiệp, tức là địa ngục. Như người làm giặc, nặng nhẹ đều bị trói.
Lại nếu lìa bỏ tất cả thiện căn, như khi voi chiến ra trận
không giữ tiếc cái đầu, người ấy gây tội tức là địa ngục.
Thành Thật Luận Trang 268 Tuệ Quang Foundation
Lại nếu hành tiểu pháp, thụ học tiểu sư, người ấy tạo tội tức
là địa ngục. Như người nghèo hèn mắc nợ, bị người giàu lôi kéo.
Lại nếu người thường trưởng dưỡng bất thiện, như mắc nợ
ngày một sinh lời. Như hành nghiệp của những người hàng thịt,
thợ săn v.v..., là địa ngục.
Lại nếu che giấu tội lỗi, tức là địa ngục, như mụt nhọt chảy
mủ.
Lại nếu người bất thiện ở lâu trong tâm, không thể mau dứt,
tức là địa ngục. Như bị trị độc liền có thể giết người.
Lại như người tự làm bất thiện, cũng đem dạy người khác, vì
mở nhiều cửa đau khổ cho chúng sinh, tức là địa ngục. Như các
quốc vương và nhiều người tri thức làm ác tà hạnh khiến nhiều
người học theo, như bọn Phú-lan-na v.v....
Lại nếu gây ra nghiệp hại nhiều chúng sinh, như đốt rừng
v.v..., lại dạy nhiều người khác, khiến sa vào phi pháp, như làm
thợ săn v.v..., lLại nếu người dùng ác nghiệp làm nghề sinh sống,
như làm đầu sỏ đảng giặc cướp, thợ thịt, thợ săn v.v..., lại người
rốt ráo phá giới gây tạo tội nghiệp, tức là địa ngục. Đến chết
không bỏ nên gọi là rốt ráo. Như kệ nói :
Người rốt ráo phá giới
Như dây mây quấn cây.
Tự khiến oán toại nguyện,
Lại vô cớ mà giận.
Lại vô cớ mà nổi giận dữ, vì tâm giận dữ này mà gây tội
nghiệp tức là địa ngục. Nếu có cớ sự mà giận thì tội không đến
như vậy.
Lại vì giận khởi nghiệp là kết nặng, tức là địa ngục. Như
trong kinh nói : Giận là tội nặng mà dễ trừ diệt.
Lại nếu ác tâm thành tính, tức là địa ngục. Nếu vì nhân
duyên mà khởi tội nghiệp thì yếu nhẹ.
Thành Thật Luận Trang 269 Tuệ Quang Foundation
Lại như người phóng túng tạo các ác nghiệp, tức là địa ngục.
Nếu được bạn tri thức ủng hộ thì được sinh lên trời. Như chủ hàng
thịt tên Tá-bà khi sắp lâm chung được Xá-lợi-phất đến tại chỗ,
người ấy liền đưa mắt dữ tợn nhìn Xá-lợi-phất, mà không thể làm
gì được, liền hô lên : Lại đây một chút. Rồi thở dài và thấy sắc
hào quang của Xá-lợi-phất rực rỡ, bền nảy ý nghĩ rằng : Người
này hơn ta, không thể giết. Liền đem tịnh tâm nhìn lên nhìn xuống
Xá-lợi-phất 7 lần như vậy. Nhờ nhân duyên ấy mà được 7 phen
sinh lên trời, bảy phen sinh trong loài người. Về sau tu chứng
được quả Bích-chi-phật.
Lại như Ương-quật-ma-la đã gây nhiều tội nghiệp còn muốn
toan giết mẹ, vì nhờ Phật là vị thiện tri thức, nên liền được giải
thoát.
Lại như người thí việc dùng hầm lửa, cơm độc, muốn Phật
trúng độc và hại Phật. Phật là vị thiện tri thức, nên cũng được giải
thoát. Những người như vậy tuy có ác nghiệp mà không đọa địa
ngục, cho nên mới nói: Nếu người phóng túng tạo các ác nghiệp,
tức là địa ngục.
Lại nếu dứt mất thiện căn không còn chữa được, như Điềuđạt
v.v..., giống như bệnh nhân tướng chết đã hiện, người ấy tạo
tội, tức là địa ngục.
Lại nếu người không thường làm thiện, đến khi mạng sắp
chết thiện tâm khó sinh, người này tâm ăn năn nên đọa địa ngục.
Lại nếu đến khi chết khởi tâm tà kiến, người này bởi trước
lấy bất thiện làm nhân, tà kiến làm duyên, nên đọa địa ngục. Như
vậy có nhiều các nghiệp quả báo địa ngục.
Lại có luận sư nói : Tất cả bất thiện đều là nhân duyên địa
ngục. Ngoài ra dư báo bất thiện sinh trong các loài súc sinh v.v…
Như trong kinh nói : Phật bảo Tì-kheo rằng : Các ông đã thấy
chúng sinh thân tà hành, khẩu tà hành, ý tà hành. Phải biết đó là
thấy người trong địa ngục.
Thành Thật Luận Trang 270 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Đã biết báo nghiệp địa ngục. Còn báo nghiệp súc sinh
là vậy nào ?
Đáp : Nếu người thiện không thuần, khởi nghiệp bât thiện,
nên đọa súc sinh.
Lại kết sử bùng phát mạnh nên đọa súc sinh. Như dâm dục
thịnh nên sinh trong loại chim sẻ, chim cù dục, uyên ương v.v...,
giận dữ thịnh nên sinh trong loại rắn, rết, bò cạp loài có nọc độc
v.v..., ngu si thịnh nên sinh trong loài heo dê v.v..., kiêu ngạo
thịnh nên sinh trong loài sư tử, cọp, sói v.v..., hiếu động thịnh nên
sinh trong loài vượn khỉ v.v..., ganh ghét v.v...thịnh nên sinh trong
loài chó v.v.... Như vậy, các loại phiền não khác thịnh, nên sinh
trong nhiều loài súc sinh khác. Nếu người có chút phần bố thí, tuy
sinh trong súc sinh cũng được hưởng vui, như loài chim cánh
vàng, rồng, voi ngựa v.v....
Lại khẩu nghiệp báo, phần nhiều đọa súc sinh, như người
không biết, không tin nghiệp quả báo, nên khởi các thứ khẩu
nghiệp. Như nói : Người ấy hiếu động như vượn khỉ thì sinh trong
loài vượn khỉ, như nói tham ăn như quạ, nói như chó sủa, hãi như
heo dê, tiếng như lừa kêu, đi như lạc đà, tự cao như voi, hung dữ
như trâu hoang, dâm như chim sẻ, sợ như chồn mèo, nịnh hót như
dã can, hung tợn như dê đen, nhiều như lông bò. Sinh khởi ác
khẩu nghiệp như vậy v.v..., nên phải theo nghiệp mà chịu quả báo.
Lại chúng sinh vì ham muốn nên phát nhiều thứ nguyện ước,
như ham muốn dâm dục thì sinh trong loài chim sẻ v.v.... Nếu
nghe các loài rồng, chim cánh vàng v.v... có vậy lực, nên muốn
sinh trong các loài ấy.
Lại như trong kinh nói : Nếu chết ở chỗ chật hẹp, nguyện
được ở chỗ rộng rãi, thì sinh trong loài chim. Nếu chết vì khát,
cầu nước nên sinh trong loài ở nước, chết vì đói, tham ăn nên sinh
trong nhà xí v.v....
Thành Thật Luận Trang 271 Tuệ Quang Foundation
Lại từ ngu si khởi nghiệp nhẹ yếu, vì thiện lẫn lộn, nên sinh
trong các loài bọ chét, rận, rệp, trùng, kiến v.v....
Lại nếu dạy người khác khiến đọa trong tà pháp thì sinh chỗ
không trí, mù bẩm sinh, mù suốt đời, sinh làm côn trùng trong
thây chết.
Lại gây nghiệp lẫn lộn, nên sinh trong súc sinh. Như trong
kinh nói : Các súc sinh tùy nhiều thứ tâm, được nhiều thứ hình.
Lại nếu khởi nghiệp phải ăn cỏ, như người vọng ngữ, tự trù
ẻo thề rằng : Nếu ăn thứ ăn nầy khiến ta ăn cỏ, hoặc nói ta ăn đất
v.v....
Lại nếu người ác khẩu mắng rằng : Sao ngươi không ăn cỏ,
ăn đất cho rồi ! Người ấy tùy theo lời nói mà thụ sinh ăn cỏ ăn đất
v.v....
Lại người tu bất tịnh thí, thì bị quả báo ăn cỏ v.v....
Lại nếu người mắc nợ không trả đọa trong các loài bò, dê,
cheo, nai, lừa, ngựa v.v... để đền nợ xưa. Các nghiệp như vậy
v.v... đọa trong súc sinh.
Hỏi : Đã biết báo nghiệp trong súc sinh, còn nghiệp nào đọa
trong loài ngạ quỉ ?
Đáp : Đối với ăn uống sinh tâm tham lam, nên đọa ngạ quỉ.
Hỏi : Nếu người có vật của mình không cho ai, sao lại bị tội
?
Đáp : Vì người tham lam keo kiệt nầy, nếu có ai theo xin, thì
tham tiếc mà sinh giận dữ. Do tội nầy nên sinh trong ngạ quỷ.
Lại người tham lam keo kiệt nầy nếu có ai theo xin có mà nói
không, vì vọng ngữ nên đọa trong ngạ quỷ.
Lại người nầy lâu nay tụ tập lòng keo kiệt, thấy người khác
được lợi thì sinh lòng ganh ghét, nên đọa ngạ quỷ.
Lại người tham lam keo kiệt nầy, thấy người khác tu thí thì
ghét giận thí chủ, rồi nói : Người xin nầy vì quen xin được, nên
chắc sẽ lại theo ta xin.
Thành Thật Luận Trang 272 Tuệ Quang Foundation
Lại đã từ lâu tụ tập lòng keo kiệt, nên đã tự không thí lại còn
ngăn người khác thí.
Lại nếu là của chung như vật của chúng Tăng trong chùa và
vật của Bà-la-môn trong các miếu thờ trời, có người độc quyền
chiếm lấy, lẫn tiếc không muốn thí cho người khác nên đọa vào
ngạ quỷ.
Lại nếu người vì cướp đoạt phá hoại đồ uống ăn của người
khác, nên sinh về chỗ không có vật uống ăn.
Lại nếu người không có phúc bố thí, nên không được báo
sinh theo chỗ mong muốn, mà còn bị trách mắng là nghiệp ăn xin,
nên chịu khổ trong đó.
Lại người keo kiệt nầy thấy người đói khát, không lòng
thương tưởng, nên sinh về nơi thường bị đói khát. Nếu nhờ lòng
từ bi được sinh lên trời. Như vậy bởi lòng giận hờn, nên sinh
trong đường ác.
Lại tham đắm thân thuộc, yêu thích nơi ở nên đọa vào loài
chim Ca-lăng-già v.v.... Sinh trong ngạ quỷ, vì tham ái làm nhân
duyên sinh. Như vậy v.v..., như trong Kinh Nghiệp Báo có nói
rộng.
Hỏi : Đã biết 3 ác báo nghiệp, còn do nghiệp gì sinh trong
loài người và trời ?
Đáp : Nếu tu nghiệp thiện như bố thí, trì giới v.v..., bậc
thượng sinh trời, trung, hạ sinh trong loài người.
Lại người lợi căn thì sinh trong loài người, vì có thể tu hành
pháp làm người nên gọi là người.
Lại nghiệp thiện lẫn lộn nên sinh trong người. Nghiệp này có
thượng trung hạ, nhất tâm bất nhất tâm, tịnh bất tịnh v.v.... Vì sao
biết được ? Vì người có nhiều phẩm cách sai khác bất đồng. Như
trong kinh nói: Sát sinh thì đoản mạng, trộm cướp thì bần cùng, tà
dâm thì gia đình không trinh lương, nói dối thì thường bị bài báng
đâm thọc thì dòng họ bất hòa, ác khẩu thì thường nghe tiếng dữ,
Thành Thật Luận Trang 273 Tuệ Quang Foundation
lời thêu dệt thì người không tin, tham lam tật đố thì nhiều dâm
dục, giận dữ thì nhiều tính ác, tà kiến thì nhiều ngu si, kiêu mạn
thì sinh làm người hạ tiện, tự cao thì sinh lùn thấp, ganh ghét thì
không uy đức, keo kiệt thì bần hàn, giận dữ thì thân xấu xí, não
hại người thì nhiều tật bệnh, tạp tâm bố thí thì thèm những thứ
không mỹ vị, bố thí phi thời thì không được quả vừa ý, nghi hối
thì sinh ở biên địa, hành bất tịnh thí thì từ việc khổ mới được quả
báo, phi đạo hành dâm thì sinh thân bất nam. Trong loài người có
nghiệp bất thiện pha tạp như vậy v.v.... Nghiệp thiện thì trái lại
với trên, như không sát sinh thì mạng được sống lâu v.v.... Trong
loài người có nhiều thứ bất đồng như vậy v.v..., cho nên biết là
nghiệp báo xen tạp.
Lại vì nguyện nên sinh trong loài người.
Lại người không ưa phóng túng, cũng không nhiều dục, mà
ưa thích trí tuệ, phát nguyện muốn được thân người, thì sinh trong
loài người.
Lại nếu người ưa thích cúng dường cha mẹ và các bậc tôn
trưởng, cũng biết cúng dường Sa-môn Bà-la-môn v.v... ưa vui làm
sự nghiệp, cũng ưa thích tu phúc, thì sinh loài người, ở trong loài
người hoặc tu nhân duyên tịnh nghiệp, thì sinh về Uất-đan-việt.
Lại nếu người chán ghét ruộng vườn nhà cửa và các ngã sở
sai khác, thì cũng sinh Uất-đan-việt.
Lại nếu, người tu chính hành bạch nghiệp, không não hại
người khác, dùng của để bố thí, cũng không tham đắm, tự trì giới
hạnh lại không phá các giới quyến thuộc trước sau, thì sinh Uấtđan-
việt. Làm điều thiện nhỏ yếu, thì sinh về Câu-da-ni. Lại nhỏ
mà không bằng điều trên, thì sinh về Phất-vu-đãi. Nghiệp báo cõi
trời là giới, thí thiện, thanh tịnh bậc thượng nên sinh về cõi trời.
Lại nếu người được một phần trí tuệ, uốn dẹp được các kết,
nên sinh lên cõi trời.
Thành Thật Luận Trang 274 Tuệ Quang Foundation
Lại cũng tùy tạp nghiệp nên có sai khác, như đã nói trong
phần về loài người.
Lại vì nguyện, như nghe nói nhân duyên hưởng vui trên trời,
rồi ra làm nghiệp thiện, nguyện vãng sinh, như đã nói trong 8 nơi
có phúc được sinh về. Nếu tu từ bi hỷ xả thì sinh cõi Phạm Vậy
cho đến cõi Hữu-Đảnh. Trong đó phẩm loại thiền định có sai
khác, nên quả báo cũng sai khác. Như không khéo dứt trừ sự ngủ
nghỉ vui chơi v.v..., thì ánh sáng nơi thân người nầy đục, nếu khéo
thì dứt thì ánh sáng trong sáng.
Lại thượng thiện nghiệp báo thì sinh lên trời, được các thứ sở
dục, nghĩ là liền được. Nếu lìa sắc tướng thì được Vô sắc định,
sinh Vô sắc xứ. Như vậy v.v... gọi là nghiệp báo thiện. Nghiệp
báo bất định là nghiệp thiện bậc thấp và nghiệp bất thiện. Nghiệp
nầy chịu quả báo hoặc trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người,
trời.
Hỏi: Trong 4 đạo kia khá được thiện nghiệp báo, còn địa ngục thì
sao?
Đáp : Nếu trong địa ngục nhỏ có tạm nghỉ ngơi, như từ địa
ngục lửa tự thoát ra, xa thấy rừng cây lòng mừng chạy đến vào
trong rừng ấy, gió mát cây động, dao gươm chưa rơi xuống, bấy
giờ tạm vui. Hoặc thấy sông nước mặn tưởng là nước ngọt, vội
chạy thẳng đến cũng được chút vui. Như vậy v.v... là phần nghiệp
báo thiện trong địa ngục. Đó gọi là nghiệp báo bất định.
Phẩm 111 : Bảy bất thiện luật nghi
Bảy bất thiện luật nghi là : giết, trộm, tà dâm, đâm thọc, ác
khẩu, nói dối, nói thêu dệt. Nếu người với 7 điều này, hoặc đầy
đủ, hoặc không đầy đủ, đều gọi là người bất thiện luật nghi.
Hỏi : Những gì thành tựu bất thiện luật nghi ?
Đáp: Thành tựu giết bất thiện luật nghi, là những người hàng
thịt, thợ săn v.v.... Thành tựu trộm, là trộm cướp v.v.... Thành tựu
Thành Thật Luận Trang 275 Tuệ Quang Foundation
tà dâm, là hành dâm không phải đạo và dâm nữ v.v.... Thành tựu
nói dối là những con hát, ca vũ kỹ v.v.... Thành tựu đâm thọc là
ưa sàm báng và độc tụng những kinh sách nhảm nhí, cấu hợp
quốc sự v.v.... Thành tựu ác khẩu là quỉ ngục tốt v.v..., cũng dùng
ác khẩu tự sinh sống v.v.... Thành tựu lời nói thêu dệt là hợp tập
những ngôn từ khiến người cười chơi v.v.... Có người nói các
vương hầu tể tướng trị việc vua, thường thành tựu bất thiện luật
nghi này. Điều này không đúng. Bởi vì sao ? Vì nếu người gây
tội nối nhau không dứt, đó mới gọi thành tựu bất thiện luật nghi,
chứ vương hầu v.v... không phải vậy.
Hỏi : Làm sao được bất thiện luật nghi nầy ?
Đáp : Tùy khi làm ác nghiệp mà được.
Hỏi : Là do giết một chúng sinh được luật nghi nầy, hay do
tất cả chúng sinh mà được ?
Đáp : Do tất cả chúng sinh mà được. Như người trì giới đối
với tất cả chúng sinh mà được thiện luật nghi. Bất thiện luật nghi
cũng như vậy. Như tùy giết chúng sinh được 2 thứ vô tác : một là
thuộc về tội giết, hai là thuộc về bất thiện luật nghi.
Hỏi : Bất thiện luật nghi nầy thành tựu thời gian bao lâu ?
Đáp : Cho đến khi chưa được xả tâm thì thường thành tựu.
Hỏi : Nếu người do tâm hạ nhuyễn, được bất thiện luật nghi,
nếu tâm tham v.v... được, người ấy thường thành tựu như vậy, hay
là lại được nữa ư ?
Đáp : Tùy tâm tùy phiền não nhân duyên, lại được bất thiện
luật nghi nầy nữa, vì trong niệm niệm thường được. Đối với tất cả
chúng sinh được khởi 7 thứ. Bảy thứ nầy có thượng trung hạ nên
lại có 21 thứ. Như vậy trong mỗi niệm thường đối bên tất cả
chúng sinh mà được.
Hỏi : Làm sao xả bỏ được bất thiện luật nghi này ?
Đáp : Tùy khi thụ thiện luật nghi là bỏ được, khi chết cũng
bỏ.
Thành Thật Luận Trang 276 Tuệ Quang Foundation
Lại phát thâm tâm từ nay không còn tái phạm, bấy giờ cũng
bỏ. Có luận sư nói khi nào chuyển căn là bỏ. Điều này không
đúng. Bởi vì sao ? Vì những người ái nam cũng được thành tựu.
Trong Luật Tì-ni cũng nói: Nếu Tì-kheo chuyển căn không mất
luật nghi. Nên phải biết không vì chuyển căn mà bỏ được.
Hỏi : Trong ngũ đạo, chúng sinh trong đạo nào thành tựu bất
thiện luật nghi ?
Đáp : Chỉ đạo làm người thành tựu, không phải các đạo khác.
Có người nói sư tử cọp sói v.v... thường sinh sống bằng nghiệp ác
cũng phải thành tựu.
Phẩm 112 : Bảy thiện luật nghi
Bảy thiện luật nghi là không giết cho đến không nói lời thêu
dệt.
Hỏi : Đối với phi chúng sinh số, có được thiện luât nghi nầy
không ?
Đáp : Nhưng cần phải nhân nơi chúng sinh, thiện luật nghi
nầy có 3 thứ là giới luật nghi, thiền luật nghi, và định luật nghi.
Hỏi : Vì sao không gọi vô lậu luật nghi ?
Đáp : Vô lậu luật nghi gồm trong 2 thứ sau, nên không nói
riêng. Có luận sư nói : Lại có đoạn luật nghi. Nghĩa là khi lìa cõi
Dục được thiện luật nghi. Vì đoạn dứt phá giới v.v... các điều ác
nên gọi là đoạn. Mà thật ra tất cả luật nghi đều gồm trong 3 thứ.
Hỏi : Các ngoại đạo được giới luật nghi nầy không ?
Đáp : Được vì người nầy cũng nhờ thâm tâm lìa các ác, nên
giới sư dạy rằng : Người từ ngày nay không nên khởi giết v.v...
các tội.
Hỏi : Các đạo chúng sinh khác có được giới luật nghi nầy
không.
Đáp : Trong kinh nói các loại rồng v.v... cũng có thể thụ giới
tu một ngày. Nên biết là có.
Thành Thật Luận Trang 277 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Có người nói có những người không đủ nam căn không
được giới luật nghi nầy. Việc ấy vậy nào ?
Đáp : Giới luật nghi nầy do tâm mà được sinh. Người ái nam
cũng có thiện tâm Vì sao không được !
Hỏi : Vậy sao không cho làm Tì-kheo ?
Đáp : Vì người nầy kết sử sâu dày khó mà đắc đạo. Lại
người nầy không ở trong hàng ngũ Tì-kheo, cũng không thuộc
hàng ngũ Tì-kheo-ni, cho nên không cho.
Lại trong đó cũng có ngăn không cho các người khác nữa,
như lé mắt v.v.... Người ấy cũng được thiện luật nghi nầy.
Hỏi : Trong Luật Tì-ni ngăn cấm người nghịch tội, người tặc
trú và người làm ô uế Tì-kheo-ni v.v... không cho làm Tì-kheo.
Nhưng các người ấy cũng có thiện luật nghi chứ ?
Đáp : Những người ấy nếu là người vậy gian có thể được
thiện luật nghi, như không ngăn những người ấy tu bố thí từ bi các
pháp thiện. Như vậy nếu có vậy gian giới luật nghi, đâu có lỗi gì.
Nhưng vì người ấy bị ác nghiệp làm bẩn cũng chướng ngại Thánh
đạo nữa, cho nên không cho xuất gia.
Hỏi : Là do chúng sinh có thể giết v.v... mà được thiện luật
nghi hay là với tất cả chúng sinh mà được ?
Đáp : Đều đối với tất cả chúng sinh mà được. Nếu không
phải vậy, thì luật nghi có giới hạn, mà có giới hạn là không đầy
đủ.
Lại luật nghi ấy có thể tăng giảm. Vậy là cũng đồng với pháp
của Ni-kiền tử, nghĩa là trong phạm vi một trăm do-tuần không sát
sinh v.v.... Có các lỗi ấy, cho nên luật nghi không có phân biệt.
Nếu có người nói : Ta đối với người ấy lìa giết, mà người ấy
không lìa, người ấy không được luật nghi nầy. Có luận sư nói :
Nếu phân biệt bố thí tu từ tâm v.v... cũng có phúc đức. Giới cũng
như vậy, như giữ một giới cũng được phúc một giới. Như vậy đối
với một chúng sinh cũng được luật nghi.
Thành Thật Luận Trang 278 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Giới luật nghi nầy có 2 thứ : một là trọn đời, hai là một
ngày đêm. Trọn đời như giới Tì-kheo, Ưu-bà-tắc. Một ngày đêm
như thụ 8 giới một ngày đêm, việc ấy vậy nào ?
Đáp : Việc ấy vô định. Hoặc một ngày một đêm, hoặc chỉ
một ngày, hoặc chỉ một đêm; hoặc nửa ngày, hoặc nửa đêm. Tùy
lúc có thể lãnh thụ được. Xuất gia thì chỉ nên trọn đời. Nếu nói tôi
chỉ thụ 1 tháng hay 2 tháng, hoặc chỉ 1 năm thì không gọi là được
pháp xuất gia. Năm giới cũng như vậy.
Hỏi : Nếu được thiện luật nghi trở lại phá, có mất luật nghi
chăng ?
Đáp : Không mất. Chỉ do bất thiện pháp làm bẩn luật nghi
nầy.
Hỏi : Chỉ đối với chúng sinh hiện tại được giới luật nghi hay
là chúng sinh 3 đời được chăng ?
Đáp : Đều phải đối với chúng sinh 3 đời được. Như người
cúng dường Chư Tôn quá khứ cũng có phúc đức.. Luật nghi cũng
như vậy. Cho nên tất cả Chư Phật đồng một giới phẩm. Luật nghi
nầy nhiều vô lượng, như đối với một chúng sinh được khởi 7 thứ,
như do thiện căn không tham v.v... mà khởi, cũng do tâm thượng
trung hạ mà khởi, nên có nhiều thứ. Như một người, hay tất cả
chúng sinh cũng như vậy, trong mỗi niệm thường được, nên có vô
lượng.
Hỏi : Giới luật nghi, thì gian bao lâu mới được ?
Đáp : Có người thụ giới một ngày, là sơ luật nghi. Ngay ngày
thụ giới Ưu-bà-tắc, là luật nghi thứ hai. Ngay ngày xuất gia làm
Sa-di, là luật nghi thứ ba. Ngay ngày thụ giới Cụ túc là luật nghi
thứ tư. Ngay ngày thiền định, là luật nghi thứ năm. Ngay ngày
được Vô sắc định, là luật nghi thứ sáu. Ngay ngày được vô lậu, là
luật nghi thứ bảy. Tùy chỗ được đạo quả lại được luật nghi nữa,
mà những luật nghi đã được từ trước không mất. Chỉ thứ nào
thắng hơn thì được tên gọi. Như vậy là phúc đức càng tăng thêm,
Thành Thật Luận Trang 279 Tuệ Quang Foundation
vì giới luật nghi nầy đối với tất cả chúng sinh trong mỗi niệm
thường được. Cho nên nói giới luật nghi một ngày nầy, 4 kho báu
lớn không bằng 1 trong 16 phần. Thiền luật nghi, vô lậu luật nghi
tùy tâm hành, mà giới luật nghi không tùy tâm hành.
Hỏi : Có người nói khi nhập định có thiền luật nghi, mà xuất
định thì không có. Việc ấy vậy nào ?
Đáp : Xuất nhập đều thường có. Vì người nầy thật được pháp
không tạo ác, và trái với phá giới, thường không làm ác, thiện tâm
càng vượt trội, nên phải thường có.
Hỏi : Như thiền trong cõi Vô sắc, không có pháp phá giới thì
lấy gì trái nhau mà gọi là thiện luật nghi ?
Đáp : Pháp phải như vậy. Các tiên, thánh đều được thiện luật
nghi. Nếu phải lấy trái nhau với phá giới mới có luật nghi, thì chỉ
do nên não hại chúng sinh mới được thiện luật nghi. Có những lỗi
như vây, cho nên không đúng.
Phẩm 113 : Tám giới trai
Tám giới trai gọi là Ưu-bà-ta, nhà Tần dịch là thiện túc, là
người ấy thiện tâm lìa được phá giới một đêm nên gọi là thiện túc.
Hỏi : Vì sao chỉ nói lìa 8 việc ấy ư ?
Đáp : Đây là 8 cửa. Do 8 pháp nầy lìa tất cả ác. Trong đó có
4 pháp thật ác là ụống rượu là cửa của ác; 3 pháp kia là nhân
duyên phóng dật. Người nầy lìa 5 thứ ác là nhân duyên của phúc,
lìa 3 thứ kia là nhân duyên của đạo. Người vậy gian phần nhiều
thiện pháp yếu ớt, chỉ có thể khởi nhân duyên của đạo nhờ 8 pháp
nầy mà thành tựu pháp ngũ thừa.
Hỏi : Tám phần trai giới chỉ nên thụ đầy đủ, hay thụ một
phần nào cũng được ?
Đáp : Tùy sức có thể giữ. Có người nói pháp nầy chỉ trai giới
một ngày đêm. Điều này không đúng. Tùy thụ giới nhiều ít, hoặc
có thể nửa ngày cho đến một tháng, đâu có lỗi chi ? Có người nói
Thành Thật Luận Trang 280 Tuệ Quang Foundation
cần phải theo người khác mà thụ. Đó cũng không nhất định. Nếu
khi không người truyền thì chỉ tâm niệm miệng nói : Tôi giữ 8
giới. Giới nầy có 5 thứ thanh tịnh :
1. Tu 10 thiện đạo
2. Dứt các khổ trước sau
3. Không bị ác tâm não hại
4. Cần nghĩ nhớ giữ gìn
5. Hồi hướng về Niết-bàn.
Có thể được trai giới như vậy, thì 4 kho báu lớn không bì kịp
một phần, phúc báo Thiên Vương cũng không bì kịp. Đế Thích
nói kệ, Phật quở rằng nếu người hết lậu tâm mới nên nói kệ nầy.
Kệ rằng :
Lục trai tháng thần túc,
Vâng tu 8 giới pháp.
Người nầy được phúc đức,
Thì cùng tôi ngang nhau.
Nếu ngày trai người nào thụ trai giới thì phúc như Đế Thích.
Vì thụ trai pháp nầy ứng với quả Nê-hoàn, nên những người hết
lậu tâm mới nên nói kệ nầy. Trong phép thụ trai pháp, có bị trói
buộc, gông cùm đều được tháo xả; cũng cắt đứt được tất cả nhân
duyên bất thiện, nên gọi là thanh tịnh.
Hỏi : Chuyển Luân Thánh Vương muốn thụ trai pháp nầy, thì
nhờ ai truyền dạy ?
Đáp : Đại Thiên Thần là người đã từng yết kiến Phật sẽ dạy
cho thụ.
Phẩm 114 : Tám thứ lời nói
Tám thứ lời nói có 4 thứ bất tịnh 4 thứ tịnh. Bốn thứ bất tịnh
là : Nếu người thấy nói không thấy, không thấy nói thấy, không
thấy tự bảo thấy, nhưng hỏi thì nói không thấy; thấy tự bảo không
thấy, nhưng hỏi thì nói thấy. Như vậy là sự trái ngược tâm cũng
Thành Thật Luận Trang 281 Tuệ Quang Foundation
trái ngược, nên gọi là bất tịnh. Bốn thứ tịnh là : Nếu thấy nói thấy,
không thấy nói không thấy, thấy tự bảo không thấy, hỏi thì nói
không thấy, không thấy tự bảo thấy, hỏi thì nói thấy. Sự thật tâm
cũng thật, nên gọi là tịnh. Nghe, hiểu, biết, cũng như vậy.
Hỏi : Thấy, nghe, hiểu, biết có sai khác gì không?
Đáp : Có 3 thứ tin : Thấy là tin hiện tại; nghe là tin lời hiền
thánh, biết là so sánh biết, hiểu là phân biệt. Là 3 thứ tin tuệ. Ba
thứ tuệ nầy, hoặc đều là thật, hoặc đều là trái ngược. Bậc thượng
nhân không khởi bất tịnh, chỉ nói lời tịnh ngữ. Cho nên lời nói của
kẻ hạ nhân dùng là bất tịnh. Lời nói của thượng nhân mới gọi là
tịnh. Có người nói trong nghĩa nầy, các người chính trí đều gọi là
thượng vì không những chỉ có người đắc đạo mà người phàm phu
cũng có tịnh ngữ.
Phẩm 115 : Nghiệp
Có 9 thứ nghiệp. Nghiệp buộc cõi Dục có 3 thứ là tạo tác,
không tạo tác, không phải tạo tác, không phải không tạo tác.
Nghiệp buộc cõi Sắc cũng vậy. Cõi Vô sắc 2 thứ và nghiệp vô lậu.
Nghiệp do thân khẩu gây ra gọi là tạo tác. Bởi tạo tác nên
nhóm các tội phúc thường bám theo, đó là pháp tâm bất tương
ưng, gọi là không tạo tác. Cũng có không tạo tác chỉ do tâm sinh.
Không phải tạo tác không phải không tạo tác; tức là ý. Ý tức là ý
nghĩ, ý nghĩ là nghiệp. Cho nên nếu ý tìm cầu thân sau, thì đó gọi
là ý nghiệp, cũng gọi là ý nghĩ. Tư duy nghĩ về thân sau nên gọi là
nghiệp.
Hỏi : Nếu như vậy thì không có tư duy vô lậu ?
Đáp : Nếu cho đó là tư duy, tức là tư duy vô lậu.
Hỏi : Không tạo tác nầy tuy từ thân sinh, nhưng phải có
nhiều ít sai khác chăng ?
Đáp : Tất cả thân phần đều khởi tác nghiệp, nhân đó nhóm
họp nhiều không tạo tác, được quả báo lớn.
Thành Thật Luận Trang 282 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Không tạo tác nầy ở chỗ nào ?
Đáp : Thể của nghiệp đạo quyết định nhóm không tạo tác.
Tạo tác hoặc có hoặc không, các thứ khác thì phải đợi tâm. Nếu
tâm mạnh thì có, tâm yếu thì không.
Lại không tạo tác này cũng từ nguyện sinh, nếu người phát
nguyện : Tôi cần phải bố thí hoặc xây tháp cất chùa. Người ấy
quyết định được không tạo tác.
Hỏi : Không tạo tác này thời gian bao lâu mới được, thời
gian bao lâu thì mất ?
Đáp : Tùy việc làm ra tồn tại, như tạo lập vườn tược tháp
chùa v.v... thí tùy vật thí không hư, bấy giờ thường còn.
Lại tùy tâm không dứt, như người phát tâm : Ta phải thường
làm điều này. Hoặc hội đồng hoặc cúng áo, những việc như vậy ở
nơi tâm không dứt, bấy giờ thường được.
Lại tùy mạng sống chưa qua đời, như người thụ giới xuất gia,
bấy giờ thường được.
Hỏi : Có người nói chỉ trong cõi Dục do tạo tác sinh không
tạo tác mà trong cõi Sắc thì không có. Việc ấy vậy nào ?
Đáp : Hai cõi đều có cả. Bởi vì sao ? Vì chư thiên ở cõi Sắc
cũng có thể thuyết pháp, kính lễ Phật và Tăng. Những người như
vậy v.v..., Vì sao không do tác nghiệp sinh vô tác ư ?
Lại có người nói ẩn mất, vô ký, nên không có không tạo tác.
Điều này không đúng. Ẩn mất, vô ký là phiền não nặng. Phiền
não nầy nhóm họp, gọi là sử, nhưng khong ẩn mất, vô ký thì
không có không tạo tác. Bởi vì sao ? Vì tâm ấy mềm yếu, không
thể khởi nhóm, như hoa có thể ướp mè chứ không phải cỏ cây
v.v.... Có người nói : Vượt lên trên cõi Phạm Vậy không có tâm
có thể khởi tác nghiệp. Bởi vì sao ? Vì có giác quán mới có thể
khởi khẩu nghiệp, kia không có giác quán, chỉ dùng tâm Phạm
Vậy có thể khởi khẩu nghiệp. Điều này không đúng. Chúng sinh
tùy nghiệp thụ thân, nếu được sinh lên bậc trên, thì không được
Thành Thật Luận Trang 283 Tuệ Quang Foundation
dùng báo trong cõi Phạm Vậy. Cho nên biết dùng tâm từ cõi mình
có thể khởi khẩu nghiệp.
Lại ông nói kia không giác quán, ra sau sẽ nói có.
Hỏi : Thánh nhân đoạn các kết chưa hết có thể khởi tác
nghiệp không ?
Đáp : Thánh nhân không thể khởi nghiệp thật tội.
Hỏi : Âm thanh chúng sinh như tiếng chó sủa v.v... có phải
khẩu nghiệp chăng ?
Đáp : Tùy không có ngôn từ sai biệt, nhưng vì do tâm khởi
nên cũng gọi là nghiệp.
Lại như hiện tướng hoặc hiệu lệnh, hoặc tiếng đàn sáo v.v...,
đều gọi khẩu nghiệp. Nghiệp thân khẩu nầy cần có ý thức mới có
thể khởi, chứ không phải các thức khác. Cho nên người có tự thấy
thân nghiệp, tự nghe khẩu nghiệp, dùng ý thức sinh khởi nghiệp,
nối nhau không dứt nên tự thấy nghe.
Phẩm 116 : Mười con đường bất thiện
Trong kinh Phật nói 10 con đường bất thiện là sát sinh v.v....
Năm ấm hòa hợp gọi là chúng sinh. Dứt mạng sống nầy là sát
sinh.
Hỏi : Nếu 5 ấm ấy thường diệt trong từng mỗi niệm thì lấy gì
mà sát ?
Đáp : Năm ấm tuy mỗi niệm diệt mà lại nối nhau sinh. Cắt
đứt sự nối nhau gọi là sát sinh.
Lại vì người ấy có cố tâm sát, nên bị tội sát.
Hỏi : Vì dứt 5 ấm hiện tại mà gọi là sát hay sao?
Đáp : Trong 5 ấm nối nhau có tên chúng sinh. Vì hoại sự nối
nhau nầy nên gọi sát sinh, chứ không bởi trong mỗi niệm diệt có
tên chúng sinh.
Thành Thật Luận Trang 284 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Có người dựa theo cựu pháp của quan mà sát hại chúng
sinh, hoặc vì sức mạnh ép bức sát chúng sinh, tự bảo không có tội.
Việc ấy vậy nào ?
Đáp : Lẽ ra cũng bị tội. Bởi vì sao ? Vì người ấy đầy đủ nhân
duyên sát tội. Do 4 duyên bị tội sát sinh : 1. Có chúng sinh. 2. Biết
là chúng sinh. 3. Có tâm muốn sát. 4. Dứt mạng sống của nó.
Người ấy đủ 4 nhân nầy làm sao mà không tội ?
Gọi là trộm, là nếu vật ấy thật thuộc của người ấy mà cướp
trộm đấy gọi là trộm. Trong đó cũng có 4 thứ nhân duyên : 1. Là
vật thật thuộc người khác. 2. Biết là thuộc người khác. 3. Có tâm
cướp trộm. 4. Cướp trộm lấy xong.
Hỏi : Có người nói của vật ẩn tàng là thuộc của vua, nếu lấy
vật ấy thì đắc tội với vua. Việc ấy vậy nào ?
Đáp : Bất luận vật gì trong đất, chỉ vật trên mặt đất thuộc của
vua. Bởi vì sao ? Vì như Cấp-cô-độc chẳng hạn, là Thánh nhân
mà cũng lấy vật ấy, nên biết không tội.
Lại như tự nhiên được của không gọi trộm cướp.
Hỏi: Nếu tất cả muôn vật đều là cọng nghiệp sinh, thì trộm
cướp Vì sao bị tội ?
Đáp : Tuy do nhân cọng nghiệp sinh, nhưng nhân có mạnh
yếu, nếu người có sức nghiệp nhân mạnh, lại siêng có thể gia công
thì vật ấy mới thuộc quyền sở hữu.
Hỏi : Nếu người cướp lấy ruộng đất nhà cửa đồ vật v.v... của
tháp, chùa, chúng Tăng thì đắc tội với ai ?
Đáp : Tuy Phật và Tăng đối với vật không có tâm cho là của
mình, nhưng cũng đắc tội, vì vật nầy nhất định thuộc Phật Tăng.
Trong đó sinh ác tâm hoặc cướp hoặc trộm, cho nên đắc tội.
Gọi tà dâm, là nếu hành dâm với người không phải vợ mình
thì gọi là tà dâm.
Lại tuy là vợ mà hành dâm chỗ phi đạo cũng gọi là tà dâm.
Thành Thật Luận Trang 285 Tuệ Quang Foundation
Lại tất cả nữ nhân đều có người giám hộ, như cha mẹ, anh
em, người chồng, dâu con v.v....Nữ nhân xuất gia được vua v.v...
làm giám hộ ?
Hỏi : Hành dâm với gái giang hồ là người không phải vợ, có
phải tà dâm không ?
Đáp : Là vợ thời gian ngắn. Như trong Luật Tì-ni có nói : Đó
là vợ một thời gian ngắn, cho đến lấy một sợi tóc ngăn.
Hỏi : Nếu gái không chồng, tự đến cầu xin làm vợ, việc ấy
vậy nào ?
Đáp : Nếu thật không chồng mà đối trước công chúng đúng
như pháp đến cầu, thì không gọi tà dâm.
Hỏi : Nếu người xuất gia lấy vợ miễn tà dâm chăng ?
Đáp : Không miễn được. Bởi vì sao ? Vì không có pháp nầy.
Pháp người xuất gia là thường lìa dâm dục. Nhưng tội nhẹ hơn
phạm vợ người khác.
Vọng ngữ là, nếu thân khẩu ý dối gạt chúng sinh khác, khiến
hiểu sai lạc, gọi là vọng ngữ. Phật vì trọng tội nên nói trong chúng
định hỏi là vọng ngữ. Cho đến khi một người hỏi cũng gọi vọng
ngữ, đâu cần phải nhiều người.
Lại tùy chỗ muốn dối gạt người thì đắc tội với người đó. Nếu
ai bảo với người khác rằng tôi đã nói với người nào đó việc như
vậy. Việc tuy không thật mà không gọi là vọng ngữ.
Lại vọng ngữ tùy theo ý tưởng. Nếu thấy tưởng không thấy,
hỏi thì nói không thấy, là không bị tội vọng ngữ. Như trong Luật
Tì-ni đã nói.
Hỏi: Nếu người, việc điên đảo không thấy nói thấy, Vì sao
không phải vọng ngữ ?
Đáp : Tất cả tội phúc đều do tâm sinh. Người ấy với việc
không thấy mà sinh tưởng thấy, cho nên không tội. Như với thật
chúng sinh tưởng không chúng sinh, trong phi chúng sinh tưởng
chúng sinh, thì không bị tội sát.
Thành Thật Luận Trang 286 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Như thật có chúng sinh, sinh tưởng chúng sinh mới bị
tội sát. Như vậy nếu thấy sinh thấy tưởng, thì phải không tội,
không phải không thấy thấy tưởng mà được không tội ?
Đáp : Sinh tội là do tâm, do chúng sinh. Cho nên tuy có
chúng sinh mà tưởng không chúng sinh thì không bị tội, vì vô
tâm. Nếu không chúng sinh mà tưởng có chúng sinh, vì chúng
sinh không nên cũng không bị tội. Nếu có chúng sinh tưởng có
chúng sinh, vì đã đủ nhân duyên nên mới bị tội sát sinh. Nếu trong
việc thấy sinh tưởng không thấy, hỏi thì nói không thấy; người ấy
nghĩ tưởng không điên đảo, nên không dối chúng sinh, tuy là việc
điên đảo, nhưng cũng gọi là thật. Nếu trong việc không thấy mà
sinh tưởng thấy, hỏi thì nói không thấy, người ấy tưởng điên đảo
dối gạt chúng sinh; việc tuy không điên đảo, nhưng cũng gọi vọng
ngữ.
Đâm thọc, là nếu người muốn chia rẽ người khác nên khởi
khẩu nghiệp, gọi là đâm thọc. Nếu không cố tâm chia rẽ, mà
người kia nghe tự hoại, thì không đắc tội. Nếu đem thiện tâm giáo
hóa khiến lìa người ác, tuy là chia lìa, nhưng cũng không đắc tội.
Nếu không bởi kết sử trược tâm tuy là miệng nói cũng không đắc
tội.
Ác khẩu, là nếu người đem lời khó nghe mà không có lợi ích
chỉ muốn não hại người khác, gọi là ác khẩu. Nếu vì lòng thương
xót muốn làm lợi ích, nên phải dùng lời khó nghe, thì không có
tội. Như vô sự mà gia hại thì có tội. Y theo phương pháp châm
cứu chữa bênh, tuy làm đau đớn mà không phải tội. Khổ ngôn
cũng vậy, Chư Phật, hiền thánh cũng vì việc ấy, nên như nói :
Ông là người ngu si ! v.v....
Lại nếu không kết sử trược tâm, tuy là khổ ngôn mà không
gọi là tội, như người ly dục v.v.... Nếu vì thiện tâm, trong khổ
ngôn mà khởi phiền não là lập tức đắc tội.
Thành Thật Luận Trang 287 Tuệ Quang Foundation
Lời thêu dệt, là nếu không phải thật, ngữ nghĩa bất chính, gọi
là lời thêu dệt.
Lại tuy là thật ngữ vì phi thời, nên cũng gọi lời thêu dệt.
Lại tuy thật và phải thời, vì tùy thuận suy não không lợi ích,
nên cũng gọi là lời thêu dệt.
Lại tuy lời thật và phải thời, cũng có lợi ích, nhưng vì nói
nghĩa lý không đầu đuôi, không thứ tự, nên cũng gọi lời thêu dệt.
Lại vì si v.v... các phiền não tán tâm mà nói, gọi là lời thêu
dệt. Thân ý bất chính cũng gọi nghiệp nói thêu dệt. Chỉ đa phần
do miệng nói, cũng tùy vậy tục mà nói, nên gọi là lời thêu dệt.
Còn 3 khẩu nghiệp kia lời thêu dệt đều xen lẫn không thể rời
nhau. Nếu vọng ngữ mà không khổ ngôn, cũng không chia lìa thì
có 2 thứ là vọng ngữ và thêu dệt. Nếu là vọng ngữ cũng muốn
chia rẽ, mà không khổ ngôn thì có 3 thứ là vọng ngữ, đâm thọc và
thêu dệt. Nếu vọng ngữ, khổ ngôn, không muốn chia lìa, thì đủ 4
thứ. Nếu không vọng ngữ, khổ ngôn, cũng không chia lìa, nhưng
là lời phi thời, lời vô ích, lời vô nghĩa, thì chỉ là lời thêu dệt. Lời
thêu dệt nầy vi tế khó lìa bỏ, chỉ Chư Phật mới có thể dứt tận gốc.
Cho nên chỉ có Chư Phật độc xưng Vậy Tôn, vì nói là tin thụ, kỳ
dư không ai sánh kịp được.
Hỏi : Đã nói 7 thứ nghiệp đạo, cần gì lại nói 3 ý nghiệp ?
Đáp : Có người bảo tội phúc chỉ cần do thân khẩu, chứ
không phải do tâm. Cho nên mới nói tâm cũng là nghiệp đạo.
Lại 3 thứ nầy ý nghiệp có sức mạnh, nên thân khẩu mới khởi
ác nghiệp. Ba thứ này tuy đều quan trọng, nhưng vì ý nghiệp vi tế
nên phải nói ở sau. Mặc dù tất cả phiền não có thể khởi ác nghiệp,
mà chỉ 3 thứ này làm não hại chúng sinh nhiều hơn, nên mới gọi
là nghiệp đạo bất thiện. Nếu lòng tham ở mức trung, hạ không gọi
là nghiệp đạo. Lòng tham nầy tăng thượng sâu đắm của người
khác khi có phương tiện muốn não hại là có thể khởi nghiệp thân
Thành Thật Luận Trang 288 Tuệ Quang Foundation
khẩu, cho nên lấy tham lam tật đố làm nghiệp đạo. Giận si cũng
vậy.
Lại nếu nói si tức đã nói tất cả phiền não. Trong đây chỉ vì có
thể khởi nghiệp thân khẩu xâm hại chúng sinh nên nói 3 thứ.
Hỏi : Vì sao gọi si là tà kiến ?
Đáp : Si có nhiều thứ sai khác. Bởi vì sao ? Vì không phải tất
cả si đều là bất thiện. Nếu si tăng thượng trở thành tà kiến, thì gọi
nghiệp đạo bất thiện. Tất cả bất thiện đều do 3 cửa này : Như
người vì tài lợi nên khởi nghiệp bất thiện. Như vì tiền bạc tàn sát
chúng sinh. Hoặc vì sân nên sát như giết oán tặc. Hoặc không vì
tại lợi, cũng không giận dữ, chỉ vì sức si không biết tốt xấu nên
giết chúng sinh.
Hỏi : Trong kinh nói nhân duyên ác đạo có 4 thứ hành : Do
tham, do giận, do sợ sệt và do si nên đọa các ác đạo. Nay trong
đây Vì sao không nói do sợ sệt khởi ác nghiệp ?
Đáp : Sợ là gồm trong si. Nếu nói do sợ tức là do si. Bởi vì
sao ? Vì người trí cho đến gặp phải nhân duyên mất mạng vẫn
không khởi ác nghiệp. Lại điều này trước đã đáp. Nghĩa là phiền
não tăng trưởng có thể khởi nghiệp thân khẩu, bấy giờ gọi bất
thiện đạo. Vì 3 thứ nầy phần nhiều khởi bất thiện.
Hỏi : Vì sao gọi là nghiệp đạo ?
Đáp : Ý tức là nghiệp; đi ở trong đó nên gọi là nghiệp đạo.
Trước đi trong 3 thứ sau, sau đi trong 7 thứ trước. Trong 3 nghiệp
là đạo, chứ không phải nghiệp, 7 nghiệp vừa là nghiệp vừa là đạo.
Hỏi: Cũng có roi, gậy và uống rượu v.v... các nghiệp bất thiện, Vì
sao chỉ nói 10 thứ ấy ?
Đáp : Mười tội nầy nặng nên nói.
Lại roi, gậy v.v... đều là quyến thuộc trước sau. Uống rượu
không phải thật tội cũng không làm hại người khác, dù cho có hại
người khác đi nữa cũng không phải chỉ rượu.
Hỏi : Bất thiện đạo nầy là ở chỗ nào ?
Thành Thật Luận Trang 289 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Đều ở trong 5 đạo. Chỉ Uất-đn-việt không tà dâm do 3
việc khởi bởi tham dục mà thành, ngoài ra 3 việc khởi cũng bởi 3
việc thành.
Hỏi : Thánh nhân có thể khởi bất thiện nghiệp chăng ?
Đáp : Cũng khởi ý bất thiện nghiệp, chứ không khởi thân
khẩu.
Lại trong ý nghiệp cũng chỉ khởi tâm sân chứ không khởi
tâm sát.
Hỏi : Trong kinh nói bậc học nhân rủa người tiêu diệt, khiến
người dứt giống. Việc ấy vậy nào ?
Đáp : Cũng có kinh nói A-la-hán rủa. Là người lậu tận, dứt
gốc phiền não còn không khởi tâm, huống nữa là rủa. Nói học
nhân rủa cũng như vậy.
Lại Thánh nhân đối với nghiệp bất thiện được bất tác luật
nghi, thì làm sao còn tác bất thiện ?
Lại Thánh nhân này không đọa ác đạo, nếu có thể khởi bất
thiện, thì cũng phải đọa.
Hỏi : Nếu các Thánh nhân đời nay không gây nghiệp bất
thiện, nên không đọa ác đạo, chứ trong đời quá khứ có nghiệp bất
thiện Vì sao không đọa ?
Đáp : Tâm Thánh nhân này khi trí trung thật sinh, các ác đạo
nghiệp đều bị yếu ớt, như hạt giống hư không còn mọc được.
Lại 3 độc có 2 thứ : Thứ có thể gây ác đạo, thứ không có thể
gây, Thánh nhân đã dứt hết. Vì nghiệp phiền não, nên được thụ
thân, Thánh nhân tuy có các nghiệp phiền não mà không đầy đủ,
cho nên không đọa.
Lại người này nương đại vậy lực, như Tam Bảo có thể tiêu
trừ đại ác, như người nương vua, chủ nợ không dám quấy rầy.
Lại người này trí tuệ sáng suốt linh lợi có thể tiêu ác nghiệp,
như nhiệt lực trong người thịnh nên có thể tiêu thứ ăn khó tiêu.
Lại người này có nhiều phương tiện: hoặc niệm chư Phật, hoặc
Thành Thật Luận Trang 290 Tuệ Quang Foundation
niệm từ bi các nghiệp thiện, nên được thoát khỏi các ác, như gian
tặc nhiều phương kế, nương các chỗ hiểm nạn thì không thể làm
gì được.
Lại Thánh nhân này đã biết được đạo giải thoát, như con bò
chúa đi, như chim nương hư không.
Lại vì thời gian dài lâu tu tập các pháp thiện, nên không đọa
ác đạo. Như trong kinh nói : Nếu người thường tu thân giới tâm
tuệ, thì quả báo địa ngục có thể hiện chịu nhẹ.
Lại như kệ nói :
Tu tâm từ bi,
Vô lượng vô ngại.
Có các nghiệp nặng,
Sẽ không đến thân.
Lại Thánh nhân nầy tâm bất thiện nghiệp không thể bền
chắc, như một giọt nước rơi trên tấm sắt nóng.
Lại Thánh nhân nầy nghiệp thiện sâu xa, như rễ cây Hoànthù-
la.
Lại Thánh nhân nầy nhiều thiện ít ác. Ác ít mà ở trong thiện
nhiều thì không có sức mạnh, như bỏ xuống sông Hằng một lượng
muối, không thể làm hoại vị nước được.
Lại Thánh nhân nầy giàu của tín v.v... Như người nghèo
cùng vì một đồng tiền mà bị tội, người giàu có tuy là trăm ngàn
cũng không đắc tội.
Lại vì vào Thánh đạo nên được cao quý, như người tôn quý
tuy bị tội mà không vào lao ngục.
Lại như cọp sói chó dê, lớn nhỏ giành nhau, con lớn đắc
thắng.
Lại Thánh nhân nầy tâm ngụ nơi Thánh đạo, các tội ác đạo
không thể hại được, như vua ngủ nhà trống, những người khác
không thể vào được.
Thành Thật Luận Trang 291 Tuệ Quang Foundation
Lại Thánh nhân này đi chỗ tự đi, tội nghiệp ác đạo không
làm gì được, như thí dụ chim ưng.
Lại Thánh nhân tâm buộc 4 niệm xứ, nên nghiệp các ác đạo
không làm gì được, như bình tròn đã đặt vào đài.
Lại đủ 2 thứ kết mới vào ác đạo theo nghiệp chịu báo,
Thánh nhân dứt được một thứ, nên không đọa ác đạo.
Lại người nầy thường hưởng quả báo nghiệp thiện, nên các
nghiệp ác đạo không làm gì được.
Lại như trong phẩm Lục nghiệp trước đã nói nghiệp tướng
địa ngục. Thánh nhân không nhân duyên không đọa ác đạo.
CÒN NỮA
LUẬN THÀNH THẬT
( Quyển 9 )
Ha-lê-bạt-ma tạo luận
Cưu-ma-la-thập dịch
Nguyên Hồng dịch tiếng Việt
Phẩm 117 : Mười thiện đạo
Mười thiện nghiệp đạo, là lìa sát cho đến chính kiến là 10
điều nhiếp thuộc vào trong giới luật nghi. Một thời được nhiếp
thuộc về thiền Vô sắc luật nghi, và một thời được lìa gọi là thiện
nghiệp đạo, tức là vô tác.
Hỏi : Các phúc như lễ kính, bố thí v.v... là thiện nghiệp đạo,
sao chỉ nói lìa là nghiệp đạo ?
Đáp : Vì lìa là hơn, nên 10 thứ nghiệp nầy đối với thí v.v... là
hơn. Bởi vì sao ? Vì bố thí v.v... được phúc báo không bằng trì
giới. Như đến khi con người chỉ còn 10 tuổi, nhờ nhân duyên lìa
giết mà thọ mạng được tăng lên.
Lại 10 nghiệp bất thiện là thật tội, nên lìa được gọi là thật
phúc.
Thành Thật Luận Trang 292 Tuệ Quang Foundation
Lại 3 thứ thiện nghiệp sau là gốc các thiện, cho nên các thiện
bố thí v.v... đều gồm trong nghiệp đạo.
Lại nghiệp đạo nầy có lìa roi gậy v.v..., vì trước sau hợp nói,
nên tất cả các thiện đều thuộc vào trong ấy.
Phẩm 118 : Tội lỗi
Hỏi : Nghiệp bất thiện có những tội lỗi gì ?
Đáp : Do nghiệp bất thiện nên chịu các khổ địa ngục. Như
trong kinh nói : Vì nhân duyên sát sinh nên đọa địa ngục. Nếu
được sinh trong loài người, thì chịu quả báo chết yểu. Như vậy
cho đến tà kiến.
Lại vì nhân duyên nghiệp bất thiện, nên chịu khổ não lâu,
như địa ngục A-tì trải vô lượng tuổi mà thọ mạng không hết.
Lại chúng sinh có tất cả các điều ác bại hoại suy não, đều bởi
nghiệp bất thiện.
Lại chưa từng thấy bất thiện mà có lợi ích lớn, như những
người hàng thịt, thợ săn v.v..., không bao giờ nhờ nghiệp ấy mà
được tôn quý. Hoặc ý ông bảo : Nhờ nhân duyên phá giặc mà
được giàu sang. Điều này trong phẩm Ba nghiệp ở trước đã giải
đáp.
Lại người làm việc bất thiện, bị quở trách và các phần khổ
não.
Lại khiến người khác phải ra làm việc ác, gọi là hung bạo.
Cho nên cần phải lìa nghiệp bất thiện nầy.
Lại trong kinh nói giết có 5 lỗi : Người không tin dùng, bị
mang tiếng ác, xa thiện gần ác, khi chết sinh hối, sau đọa ác đạo.
Lại nhân duyên sát sinh, vui ít khổ nhiều.
Lại làm nghiệp bất thiện, nhiễm ô tâm con người, chất chứa
lâu đời khó mà chữa được.
Lại người làm điều bất thiện, từ chỗ tối vào chỗ tối lưu
chuyển trong tam đồ vĩnh viễn không ngày ra khỏi.
Thành Thật Luận Trang 293 Tuệ Quang Foundation
Lại người làm bất thiện, uổng một đời người, như vào núi
Tuyết tìm thuốc mà hái phải cỏ độc, thật là rất ngu.
Như vậy nhờ 10 thiện đạo nầy mới được làm thân người, có
điều là không làm thiện đã là một lỗi lớn, huống chi còn khởi ác
nghiệp !
Lại người làm bất thiện tuy tự yêu thân mà thật không tự yêu
được; tuy tự hộ thân mà thật không phải tự hộ. Vì nhân duyên
khởi nghiệp mà tự não hại.
Lại người nầy thụ thân giống như người oán tặc tự làm khổ
vậy.
Lại nếu làm bất thiện là mình gây giặc cho bản thân, huống
chi người khác ư ?
Lại làm nghiệp bất thiện, nay tuy không hiện quả báo mà đã
mắc phải. Cho nên tuy ít cũng không thể không tin. Như chất độc
tuy ít có thể hại người; như nợ tuy ít dần dần sinh lợi tức.
Lại làm ác với người, người thường không quên. Cho nên
gây nghiệp tuy lâu xa mà không thể không tin.
Lại người làm bất thiện gọi là mất vui, nghĩa là vì làm bất
thiện nên mất quả vui người trời. Không vui điều đáng vui là
người ngu lắm vậy.
Lại người làm bất thiện là bị khổ dữ dội đáng thương. Hiện
tâm bị ăn năn các khổ, sau chịu khổ nơi ác đạo.
Lại quả báo của nghiệp bất thiện dù bay lên hư không, hay
lặn dưới biển cũng không chỗ trốn thoát được, như cây giáo vàng
truy đuổi theo Phật.
Lại tất cả nghiệp bất thiện đều do si khởi, cho nên người có
trí không nên tùy theo.
Lại trong kinh nói : Phóng túng như người oán, có thể hại
các pháp thiện, nên không đáng theo.
Thành Thật Luận Trang 294 Tuệ Quang Foundation
Lại nghiệp bất thiện, Chư Phật, Bồ-tát các thánh hiền ứng
chân, thần tiên có 5 thần thông và những người rõ thấu tội phúc
không ai không quở trách, cho nên không nên tạo.
Lại hiện thấy người ác tâm mạnh mẽ thì ý chí mờ tối rối loạn
buồn bực khổ đau, nên sắc mặt biến khác, người không muốn
thấy, huống là khởi nghiệp thân khẩu. Vì các duyên do nầy, nên
biết nghiệp bất thiện có tội lỗi nhiều vô lượng.
Phẩm 119 : Ba nghiệp nhẹ nặng
Trong 3 nghiệp, nghiệp nào nặng hơn : thân nghiệp, khẩu
nghiệp, hay ý nghiệp ?
Hỏi : Có người nói 2 nghiệp thân khẩu nặng, chứ không phải
ý nghiệp. Bởi vì sao ? Vì nghiệp thân khẩu định thật. Như tội ngũ
nghịch đều bởi thân khẩu gây nên.
Lại thân khẩu có thể thành xong việc, như người sinh lòng
muốn giết chúng sinh nầy, cần đem thân khẩu có thể hoàn thành
việc ấy, không phải chỉ ý nghiệp gây được tội sát sinh. Cũng
không phải chỉ phát tâm xây chùa tháp mà được phúc đức.
Lại nếu không có thân khẩu, chỉ ý nghiệp thì không quả báo,
như người phát tâm rằng ta phải bố thí, mà thật không bố thí, thì
không có thí phúc.
Lại không chỉ tùy nghiệp mà việc được thành xong, như
người phát nghiệp mở hội Đại thí, mà thật không thí, thì không
hội phúc. Nếu tâm nghiệp lớn thì phải được thí phúc, vậy thì
nghiệp báo lộn xộn.
Lại trong Luật Tì-ni, ý không phạm tội. Nếu ý nghiệp là
trọng đại Vì sao không phạm ?
Lại nếu phát tâm liền được phúc, thì phúc dễ được, Vì sao
hành giả bỏ nghiệp dễ nầy mà tu thí v.v... là những hạnh nghiệp
khó tu ư ?
Thành Thật Luận Trang 295 Tuệ Quang Foundation
Lại nếu như vậy, thì phúc vô tận, như người chỉ phát tâm
suông hoàn toàn không đâu thì chỗ dùng làm sao cho hết được ?
Vì tài vật có hạn nên phúc mới có thể hết.
Lại không chỉ phát tâm mà có thể làm tổn hại hay lợi ích cho
người khác. Như chúng sinh đói khát cần phải cơm nước, chứ đâu
phải tâm nghiệp có thể trừ được đói khát.
Lại người đời rất quan trọng việc suy tổn hay lợi ích, vì tâm
nhẹ nhàng mau lẹ khó chế phục, nên không điều ác nào không
khởi, thì mình chịu việc suy tổn nặng nề. Nếu phát thiện tâm
muốn gây phúc nghiệp, thì mình được lợi lớn, vậy là quá lắm.
Lại nếu ý nghiệp lớn phát tâm muốn sát sinh thì đọa địa
ngục. Như vậy tuy lâu tụ tập giới v.v... đâu có ích gì !
Lại tu trì giới v.v... các công đức thiện không có an ổn. Bởi
vì sao ? Vì chỉ một khi phát tâm liền bị tội.
Lại trong kinh nói : Nghiệp thân khẩu thô nên dứt trước. Vì
dứt phiền não thô nên tâm được định.
Lại nếu phát dâm tâm làm dâm rồi, liền phải phạm giới. Nếu
phát tâm mà không gọi là dâm, thì lìa dâm tâm nầy lại có pháp gì
gọi là dâm ư ?
Lại có bao nhiêu sinh khởi tác nghiệp đều do thân khẩu,
không phải do ý nghiệp, như dối gạt người khác ắt do khẩu nghiệp
mới bị tội vọng ngữ.
Lại như trước đã nói đủ 4 thứ nhân duyên mới bị tội sát sinh
là : có chúng sinh, có tâm tưởng chúng sinh, có tâm muốn sát, dứt
mạng sống nó. Do 4 việc thành tội, nên phải biết không do ý
nghiệp là trọng.
Lại như Phật nói : Như đứa trẻ nhỏ tập lòng từ từ nhỏ, có thể
khởi ác nghiệp, nghĩ ác nghiệp ư ? Cho nên biết chỉ là thân khẩu
nghiệp ác, chứ không phải ý nghiệp ?
Đáp : Ông nói nghiệp thân khẩu nặng, không phải nghiệp ý,
điều này không đúng. Bởi vì sao ? Trong kinh Phật nói : Tâm là
Thành Thật Luận Trang 296 Tuệ Quang Foundation
gốc các pháp. Tâm cao tột, tâm dẫn đường, tâm nghĩ thiện ác. Tức
nói tức làm. Cho nên biết ý nghiệp là quan trọng.
Lại ý có sai biệt nên nghiệp thân khẩu mới có sai biệt, như
thượng, trung, hạ v.v... Lìa tâm không có thân khẩu nghiệp.
Lại trong kinh nói : Cho nên khởi tác nghiệp ắt phải chịu
báo.
Lại nói bảy thứ tịnh phúc, có 3 thứ chỉ dùng ý nghiệp. Bảy
tịnh phúc nầy, với tài phúc của là hơn.
Lại lòng từ là ý nghiệp, nên kinh nói từ tâm được quả báo
lớn. Như kinh nói : Xưa, ta lên bảy tuổi, nhờ tu tập tâm từ nên ở
trong 7 đại kiếp, không trở lại vậy gian nầy. Cho nên biết ý nghiệp
là quan trọng. Vì quan trọng mới có thể che khắp tất cả vậy giới.
Lại ý nghiệp là trọng, như quả báo ý nghiệp nên sống lâu
được 8 vạn đại kiếp.
Lại vậy lực của ý nghiệp thắng hơn thân khẩu nghiệp, như
người tu thiện khi mạng sắp chết sinh lòng tà kiến, thì đọa địa
ngục. Người làm bất thiện khi sắp chết khởi tâm chính kiến, thì
sinh lên trời. Nên phải biết ý nghiệp là quan trọng.
Lại trong kinh nói: Trong các tội, tà kiến là nặng nhất.
Lại nói : Nếu người được vậy gian thượng chính kiến, tuy
qua lại trong sinh tử cho đến trăm ngàn năm hoàn toàn không đọa
ác đạo.
Lại sức của ý nghiệp vượt trội hơn thân khẩu nghiệp. Như
trong Kinh Hòa Lợi nói : Ngoại đạo thần tiên một khi nổi giận,
liền diệt nước Na-la-vu-đà. Như Đàn-đặc v.v... các chỗ hiểm nạn
đều do người tiên nổi giận gây nên.
Lại ý nghiệp có thể mau được quả báo, như trong kinh nói :
Nếu người nầy nay chết lập tức vào địa ngục, lập tức sinh lên trời,
như cây giáo mau lẹ lìa khỏi tay.
Lại ý nghiệp nầy chứa nhóm pháp nhơ bẩn cho đến đọa vào
địa ngục A-tì, chứa nhóm pháp thiện cho đến được Nê-hoàn.
Thành Thật Luận Trang 297 Tuệ Quang Foundation
Lại tâm có quả báo nên thân khẩu mới có quả báo, vì nghiệp
không cố ý không có quả báo.
Lại không lìa ý nghiệp mà có báo nghiệp thân khẩu, nếu ý
nương nơi thân khẩu làm thiện hay bất thiện, gọi là thân khẩu
nghiệp. Lìa thân khẩu nghiệp, thì ý nghiệp có quả báo; mà lìa ý
nghiệp thân khẩu không quả báo. Cho nên biết ý nghiệp là quan
trọng, chứ không phải thân khẩu nghiệp.
Tuy ông nói thân khẩu nghiệp là định thật, như tội ngũ
nghịch đều do thân khẩu gây nên, cho nên gọi là nặng. Điều này
không đúng. Vì nghĩ nặng, sự nặng nên nghiệp mới nặng, không
phải thân khẩu nặng nên nặng.
Lại vì tâm quyết định nên nghiệp mới định thật, như chỉ
dùng tâm lực vào ngôi vị chính pháp, cũng vì tâm lực có thể đủ
nghịch tội. Nếu người vô tâm dù giết phải cha mẹ cũng không bị
nghịch tội. Nên biết thân khẩu là không có sức.
Ông nói thân khẩu có thể làm xong việc. Điều đó cũng không
đúng. Vì việc rồi gọi là xong. Như cướp mạng sống người khác
rồi, mới bị tội sát sinh, không phải khi khởi nghiệp thân khẩu. Khi
xong việc còn phải cần dùng đến tâm lực nữa, cho nên không phải
thân khẩu.
Ông nói chỉ phát tâm suông không quả báo. Điều này không
đúng. Như trong kinh nói : Phát tâm mạnh nên lập tức sinh lên
trời, lập tức vào địa ngục. Sao nói ý nghiệp không quả báo ư ?
Ông nói không chỉ nhờ nguyện có thể thành sự. Điều đó
cũng không đúng. Vì có người phát thiện tâm sâu, được phúc
thắng hơn đại thí hội.
Ông nói ý không phạm tội, Điều đó cũng không đúng. Nếu
phát ác tâm tức thì bị tội. Như Phật nói có 3 thứ tội là thân, khẩu,
ý. Nên biết chỉ phát ác tâm không được vô tội. Có điều là không
kết giới vì khó hành trì. Thô tội trì giới có thể ngăn được. Tế tội
thì thiền định v.v... mới trừ được.
Thành Thật Luận Trang 298 Tuệ Quang Foundation
Ông nói tội phúc dễ. Điều này không đúng. Bởi người tâm
lực yếu nên bỏ việc dễ, làm việc khó. Như từ tâm v.v... được phúc
rất nhiều, không phải bố thí được như vậy. Chỉ vì chúng sinh trí
lực yếu ớt không thể tu ý nghiệp từ bi v.v.. , nên mới tu bố thí
v.v..., đem các thứ hương hoa và dụng cụ cúng dường, vì tịnh tâm
khó được.
Ông nói phúc vô tận. Cũng lấy đây mà đáp. Người nầy nếu
có trí lực thì có thể được pháp thiện vô tận.
Ông nói ý nghiệp không làm tổn ích. Điều này không đúng.
Vì thân khẩu nghiệp đều do ý nghiệp dẫn đường nên không gọi là
thắng. Vì tùy theo sức tự khởi được mới gọi là thắng.
Lại các điều lợi ích đều do tu từ tâm. Sở dĩ vì sao ? Vì sức tu
hành từ bi nên được mưa thuận gió hòa trăm thứ lúa được thành
thục. Như thời đại kiếp sơ, gạo thóc tự sinh. Đến khi con người
thọ chỉ còn 10 tuổi thì những điều ấy đều mất hết, làm sao nói từ
tâm không lợi ích ư ?
Lại người tu tâm từ, có thể trừ hết tất cả gốc nghiệp bất
thiện. Vì nghiệp bất thiện có các điều suy não, làm sao nói tu tâm
từ không có lợi ích lớn ? Nếu tất cả chúng sinh tu tâm từ thì đều
sinh chỗ thiện, tất cả thụ dụng tự nhiên mà có, không cần gia
công. Cho nên biết phúc của từ là sâu dày hơn hết.
Lại, hoặc có khi vì từ tâm bố thí lợi ích chúng sinh, hoặc chỉ
do từ tâm mà lợi ích.
Lại người tu từ tâm, nếu chúng sinh chạm đến thân phần,
hoặc vào trong bóng của thân đều được an vui. Nên phải biết phúc
của từ tâm thắng hơn phúc đức của bố thí.
Ông nói suy lợi rất lắm. Trước đã đáp việc ấy rồi nghĩa là
dùng sức của ý làm tổn hại hoặc lợi ích chúng sinh, cho nên biết ý
nghiệp là quan trọng.
Ông nói thời gian lâu tụ tập giới v.v... không có ích gì. Điều
này không đúng. Bởi vì sao ? Vì ý tịnh nên trì giỡi mới tịnh. Nếu
Thành Thật Luận Trang 299 Tuệ Quang Foundation
ý bất tịnh, giới cũng bất tịnh như trong Kinh Thất Chủng Dâm
nói.
Lại giới thanh tịnh được quả báo lớn, như trong kinh nói
người trì giới được sở nguyện tùy ý, là vì giới tịnh vậy.
Lại nếu thanh tịnh trì giỡi, thì tâm được yên ổn, chứ không
phải pháp nào khác.
Ông nói nghiệp thân khẩu thô nên dứt trước. Điều này không
đúng. Vì thiện vi tế mới được quả báo lớn, như ý nghĩ trong thiền
định.
Ông nói nếu phát dâm tâm liền bị phá giới. Điều này không
đúng. Nếu người ý nghiệp không tịnh thì giới cũng không tịnh.
Lại được tội phúc khác, phép kết giới khác.
Ông nói khởi ra tác nghiệp là do thân khẩu. Điều này đã giải
đáp chung rồi. Nghĩa là thân khẩu nghiệp pháp khác, ý nghiệp
pháp khác. Nghiệp thân khẩu cần do tác thành, như do 4 nhân
duyên thành tội sát sinh, không lìa tâm nghiệp.
Lại vậy gian chúng sinh cho nghiệp thân khẩu là ác, mà ý
nghiệp không như vậy.
Lại ý nghiệp không gia hại với người, cũng không thể được
là có.
Lại trước đã nói tướng tội phúc vì bởi tướng nầy nên chỉ ý
nghiệp là quan trọng chứ không phải thân khẩu.
Phẩm 120 : Nói rõ nghiệp nhân
Luận giả nói : Đã lược nói các nghiệp. Nghiệp là nhân duyên
thụ thân. Thân là bản tính khổ nên phải diệt trừ. Muốn diệt thân
nầy phải dứt nghiệp nhân, vì nhân diệt nên quả cũng diệt, như
nhân hình có bóng, hình diệt thì bóng diệt. Cho nên, nếu muốn
diệt khổ phải siêng năng tinh tiến dứt nghiệp nhân nầy.
Hỏi : Do nghiệp thụ thân, điều này cần hiểu rõ. Bởi vì sao ?
Hoặc có người nói : Thân do Bà-la-già-đề sinh; có người nói do
Thành Thật Luận Trang 300 Tuệ Quang Foundation
trời Tự Tại sinh, hoặc nói do Đại nhân sinh, hoặc nói do tự nhiên
sinh. Cho nên phải nói lý do Vì sao biết do nghiệp sinh ?
Đáp : Điều này đã dùng nhìều thứ nhân duyên phá rồi. Phải
biết do nghiệp thụ thân.
Lại muôn vật có nhiều thứ tạp loại, nên biết nhân cũng sai
khác, như thấy lúa bắp v.v... khác, biết giống không đồng, thì trời
Tự tại vì không sai khác, nên phải biết không phải nhân. Nghiệp
vì có vô lượng sai khác, nên mới thụ nhiều thứ thân khác nhau.
Lại các người thiện đều tin bởi nghiệp nên thụ thân. Bởi vì
sao ? Vì những người nầy thường tu các pháp thiện như thí, giới,
nhẫn v.v..., lìa các pháp bất thiện như sát sinh v.v... Nên biết do
nghiệp thụ thân.
Lại nếu bởi nghiệp thụ thân thì là có thể trở lại được chân trí,
dứt tà trí. Vì tà trí dứt, nên tham sân v.v... các phiền não đều dứt.
Vì các phiền não dứt, nên nghiệp nặng khởi thân sau cũng dứt. Đó
gọi là có thể trở lại. Trong nhân Tự Tại v.v... thì không trở lại
được, vi Tự Tại v.v... không dứt được, nên biết do nghiệp thụ
thân.
Lại hiện thấy quả cùng nhân giống nhau, như do bắp sinh
bắp, do lúa sinh lúa. Như vậy do nghiệp bất thiện được báo không
ưa thích, do nghiệp thiện được quả báo ưa thích. Trong nhân Tự
Tại v.v... không có giống nhau nầy. Cho nên nghiệp là gốc của
thân, chứ không phải trời Tự Tại v.v....
Lại nay hiện thấy muôn vật đều do nghiệp sinh, vì nhân ác
nghiệp nên bị chịu đánh, bắt, trói, nhốt, roi, gậy chết v.v... các
khổ; nhân thiện nghiệp được tiếng khen, lợi dưỡng v.v... vui
sướng. Người tùy ý nói lời ái ngữ, thì được hưởng quả báo tùy ý,
nên biết do nghiệp thụ thân, không phải Tự Tại v.v....
Lại người đời tự biết muôn vật do nghiệp nhân sinh nên khởi
làm các sự nghiệp cấy lúa mạ, và cũng tu thí, giới, nhẫn v.v... các
Thành Thật Luận Trang 301 Tuệ Quang Foundation
nghiệp phúc, không ai ngồi yên mà trông ông trời Tự Tại ban cho
điều mình muốn, nên biết do nghiệp được quả báo.
Lại như những người tuy nói do Tự Tại mà họ cũng phải
nương nhờ các nghiệp, nghĩa là tự khổ thân và thụ trai pháp v.v....
nên biết lấy nghiệp làm nhân.
Lại nếu việc không hiện có, phải theo người khác mà thụ
giáo, nghĩa là chỗ sở hành của Thánh nhân, tất cả Thánh Hiền nhờ
giới v.v... các pháp thiện, nên biết vì do nghiệp nhân mới có vậy
gian pháp. Nếu lìa giới v.v... cũng không có Thánh nhân, nếu
không Thánh giáo thì hành nghiệp trái lỗi, cho nên biết do nghiệp
thụ thân.
Lại tu giới v.v... các nghiệp thiện, nên có thể thành các việc
thần thông biến hóa, nên biết lấy nghiệp làm nhân.
Lại địa ngục v.v... trong các ác thú, sân não v.v... nhiều, cho
nên biết do sân não v.v... mà có các ác thú, như thấy quả trên cây
biết cây là nhân, cho nên biết nghiệp là gốc của thân.
Lại trong ác đạo do sức mạnh của si v.v..., nên phải biết
phiền não là nhân ác đạo, vì tất cả bất thiện đều do si.
Lại sinh các ác đạo thì nhiều, mà sinh về chỗ thiện thì ít. Mắt
thấy người giết v.v... người làm ác nhiều, người làm thiện ít. Nên
biết việc giết v.v... là nhân ác đạo.
Lại việc giết v.v... bị người thiện quở bỏ không làm, vì người
thiện biết giết v.v... chắc chắn có quả báo, nên mới quở bỏ không
làm. Nếu biết không quả báo ác thì Vì sao bỏ ?
Lại tâm của các người thiện nếu khởi ác tức liền siêng năng
ngăn chận, vì sợ ác báo. Nên phải biết giết v.v... chắc chắn có ác
báo. Nếu không phải vậy, thì tùy ý tung hoành là vui sướng thì
chúng sinh ăn được cứ giết ăn, của cải người cứ cướp, vợ người
cứ dâm, cũng đều cho là vui sướng cả. Vì sợ khổ báo đời sau nên
mới xa lìa các việc ấy, nên biết do nghiệp có thân.
Thành Thật Luận Trang 302 Tuệ Quang Foundation
Lại tu tập chính trí nên dứt hết nghiệp hữu lậu thì không thụ
thân, nên biết nghiệp là cội gốc.
Lại A-la-hán tuy có các nghiệp hữu lậu, vì tu chính trí nên
nghiệp không nhóm, nên biết nghiệp là nhân thụ thân. Vì nhân
của thân diệt nên thân cũng diệt theo.
Lại vì nhờ biết 4 đế nên nhờ 4 đế mà phiền não vĩnh viễn
không sinh khởi lại nữa. Vì không khởi nên không có thân. Người
trí suy nghĩ như vậy, nên muốn biết 4 đế. Cho nên biết nghiệp là
nhân của thân.
Lại nếu nhân duyên không đủ thì không thụ thân, như đất
khô giống hư thì tất cả mộng không mọc được. Như vậy nơi đất
thức mà không có nước ái thấm nhuần hạt giống nghiệp bị chân trí
làm hư, thì thân sau là mộng không nảy sinh được. Người trí vì
biết điều này nên muốn làm khô đất thức, làm hư hạt giống
nghiệp, nên mới siêng năng gia công tinh tiến. Cho nên biết
nghiệp là nhân duyên thụ thân.
Xong phần luận về nghiệp.
Phẩm 121 : Tướng của phiền não,
trong luận về phiền não của nhóm tập đế
Luận giả nói : Đã nói các nghiệp, các phiền não, nay sẽ nói
làm bẩn tâm gọi là phiền não.
Hỏi : Sao gọi là bẩn ?
Đáp : Nếu tâm có thể khiến sinh tử nối nhau luôn, đó gọi là
bẩn. Sự sai khác của tâm bẩn là : tham, sân, si v.v..., tâm bẩn nầy
gọi là phiền não, cũng gọi pháp tội, cũng gọi pháp thoái lui, cũng
gọi là pháp ẩn chìm, cũng gọi là pháp nóng và cũng gọi là pháp ăn
năn. Có các tên như vậy. Tâm bẩn nầy tu nhóm gọi là sử, không
phải chỉ khi tâm bẩn sinh gọi là sử.
Phiền não là tham, sân, si, nghi, kiêu mạn và 5 thứ kiến. Do
10 thứ sai khác nầy nên mới có 98 thứ sử. Tham là mừng vui 3
Thành Thật Luận Trang 303 Tuệ Quang Foundation
cõi, cũng mừng vui vô hữu gọi là tham. Như trong kinh nói : Dục
ái, hữu ái, vô hữu ái. Vô hữu gọi là đoạn diệt. Chúng sinh bị khổ
ép ngặt, nên muốn diệt ấm thân cho cái không đó là vui.
Hỏi : Mừng vui là tướng thụ, chứ không phải tướng tham.
Như trong kinh nói nghĩa nay mừng, sau mừng là nói đời nay thụ
vui, sau cũng thụ vui.
Lại nói nghĩa nay buồn sau buồn là nói đời này chịu khổ, đời
sau cũng chịu khổ.
Lại như trong lời trời hỏi rằng có con thì mừng. Phật đáp :
Có con thì lo. Các việc như vậy ?
Đáp : Tham là một phần của mừng. Như trong kinh nói : Thụ
làm nhân duyên cho ưa vui, trong thụ tham sai khiến, trong đoàn
thực có mừng có tham, mừng hết nên tham cũng hết. Cho nên biết
tham là một phần của mừng. Vậy là không lỗi. Vì sao biết được ?
Như trong kinh nói : Tập đế : Nghĩa là khao khát. Khao khát là
vậy nào ? Là muốn được thân sau. Hành tướng vậy nào ? Là
nương dựa lòng tham muốn được đủ thứ.
Hỏi : Nếu nói muốn được thân sau là tướng khao khát, Vì
sao nói nương dựa lòng tham muốn được đủ thứ ?
Đáp : Lại còn có tướng khao khát, như nói muốn được đủ thứ
là nói tướng chung; muốn được thân sau là nói tướng riêng.
Người lìa dục cũng có muốn được các thứ như khi khát muốn
được nước v.v..., đó không phải nhiếp vào tập đế. Nếu nương dựa
lòng tham muốn được thân sau, khao khát nầy mói gọi là nhiếp
vào tập đế.
Hỏi : Nếu như khao khát cũng là mừng, tham cũng là mừng
vì sao nói nương dựa lòng tham ?
Đáp : Mới sinh gọi khát, tăng trưởng gọi là tham, nên nói
nương dựa. Như trong kinh nói : Ưa thích trói buộc trong vậy
gian. Cho nên mừng tức là tham.
Thành Thật Luận Trang 304 Tuệ Quang Foundation
Lại trong kinh nói : Diệt trừ tham buồn các pháp bất thiện.
Trong đó tham tức là mừng, buồn tức là giận. Như nói giận là
buồn thì biết cũng nói mừng là tham. Cho nên trong 18 ý hành,
không nói phiền não, mà chi nói các thứ thụ, nên biết phần mừng
là tham.
Lại phàm phu lìa tham không thể thụ vui, lìa giận không thể
thụ khổ, lìa si không thể thụ không khổ không vui. Làm sao biết
được ? Trong thụ thứ 3 nói : Người phàm phu trong thụ này,
không biết tập nhân, không biết diệt trừ, không biết ý vị, không
biết tội lỗi, không biết xuất ly; nên với trong thụ không khổ không
vui bị vô minh sử sai khiến. Người phàm phu ấy thường không
biết 5 pháp nầy, nên thường đối với trong thụ không khổ không
vui bị vô minh sử sai khiến. Vô minh sử tức là tính không biết của
thụ hành. Như vậy phàm phu tâm hành khổ vui cũng tức là tham
giận.
Lại như bắt đầu đến tại tâm gọi là thụ, tăng trưởng minh liễu
gọi là phiền não.
Lại tâm mềm xuống gọi là thụ, cũng tức tâm ấy tăng lên gọi
là phiền não.
Phẩm 122 : Tướng của tham
Luận giả nói : Tham này trong 9 thứ kết buộc cả 3 cõi gọi là
ái. Trong 7 sử chia làm 2 thứ là dục tham và hữu tham. Bởi vì sao
? Vì có người đối với 2 cõi trên sinh tưởng giải thoát. Cho nên
Phật mới nói nơi đó gọi là hữu. Hữu gọi là sinh. Nếu không tham
thì không sinh. Cho nên đặc biệt nói hữu tham. không phải chỉ có
dục tham. Hoặc nói chỉ dục tham là phiền não, hết dục tham gọi là
được giải thoát. Cho nên Phật nói : Thiền trong Vô sắc cũng có
hữu tham. Phật chỉ rõ trong đó có trói buộc vi tế. Cho nên đặc biệt
nói tham này, ở trong 10 đường bất thiện và trong 4 trói buộc gọi
là tham dục. Tham dục mà gọi là dục, vì muốn được vật của người
Thành Thật Luận Trang 305 Tuệ Quang Foundation
khác. Ở trong 5 thứ cái và trong hạ phần kết gọi là dục dục. Dục
dục mà gọi là dục, vì ở trong 5 dục. Trong 3 bất thiện căn gọi là
tham bất thiện căn. Tham bất thiện căn là có thể sinh trưởng các
pháp bất thiện. Tham nầy, nếu tham phi pháp gọi là ác tham, như
trộm cướp vật của người khác, cho đến lấy vật của tháp, chùa,
Tăng chúng; hoặc chúng sinh chưa chết mà muốn ăn thịt, hoặc
muốn dâm mẹ, chị, em gái, vợ của thầy, người xuất gia và vợ của
mình mà dâm chỗ phi đạo, đều gọi là ác tham.
Nếu vật của mình không muốn xả cho, gọi là xan, xan tức là
tham.
Nếu thật không công đức, mà muốn khiến người ta bảo là có,
gọi là ác dục.
Nếu thật có công đức, mà muốn cho người ta biết gọi là phát
dục.
Nếu muốn được thí nhiều, được nhiều vật, gọi là đa dục.
Nếu được thí ít, ít vật, mà cầu thứ tốt không biết chán gọi là
bất tri túc.
Nếu chấp đắm sâu về chủng tính, dòng họ, danh sắc, của cải,
tuổi trẻ, tuổi thọ v.v..., gọi là kiêu dật.
Nếu tham 4 vật cúng dường, gọi là tứ ái.
Lại tham này có 2 thứ một là dục tham, hai là cụ tham.
Lại có 2 thứ một là ngã tham, hai là ngã sở tham. Một duyên
nội, hai duyên ngoại. Tham 2 cõi trên một bề duyên nội.
Lại có 5 thứ : 1. Tham sắc. 2. Tham hình. 3. Tham xúc. 4.
Tham oai nghi ngôn ngữ. 5. Tham tất cả.
Lại tham sắc, thanh, hương, vị, xúc gọi là tham 5 dục.
Lại với 6 thứ xúc sinh ái gọi là tham 6 trần.
Lại tham ở trong 3 thứ thụ : Trong lạc thụ có tham muốn
được, có tham giữ gìn. Trong khổ thụ có tham không muốn được,
có tham muốn mất. Trong bất khổ bất lạc thụ có tham si.
Thành Thật Luận Trang 306 Tuệ Quang Foundation
Lại tham này có 9 phần, như trong Kinh Đại Nhân nói : Do
ái nên tìm cầu chỗ mong muốn. Như người bị điều này làm khổ
thì tìm việc khác, như nói người vui không cầu, người khổ nhiều
cầu. Tham nầy tăng trưởng gọi là cầu. Khi cầu, nếu được gọi là
đắc. Ưa thích nhân được thì trù tính là nên lấy hay không nên lấy.
Nếu tâm quyết định gọi là nhân trù tính nên ưa muốn, nhân ưa
muốn nên tham đắm, tham đắm gọi là thâm ái. Nhân tham đắm
duyên thủ, thủ gọi là thụ, nhân thụ sinh keo kiệt, nhân keo kiệt
nên giữ gìn, nhân giữ gìn nên mới sắm đủ thứ roi, gậy, dao, xà
mâu v.v.... Đó gọi là 9 phần.
Lại có 9 phần nữa là tham tùy thời, nên có thượng, trung, hạ
là hạ hạ, hạ trung, hạ thượng; trung hạ, trung trung, trung thượng,
thượng hạ, thượng trung, thượng thượng.
Lại vậy gian chia tham nầy làm 10 thứ : 1. Như khi thấy sắc
đẹp trước tiên tâm cho là được. 2. Tiếp đó sinh muốn. 3. Phát
nguyện. 4. Nghĩ nhớ. 5. Theo bắt chước làm. 6. Quên xấu hổ. 7.
Thường ám ảnh trước mắt. 8. Phóng dật. 9. Cuồng si. 10. Chết
ngất. Đó là tướng tham.
Phẩm 123 : Nhân của tham
Hỏi : Tham đó sinh như vậy nào ?
Đáp : Như trong cảnh duyên nữ sắc v.v... sinh nghĩ nhớ tà
vạy như hoặc sắc, hoặc hình, hoặc xúc, hoặc điệu bộ nói năng là
sinh tham dục.
Lại nếu không giữ gìn các cửa mắt tai thì sinh tham dục.
Lại như với việc ăn uống không biết độ lượng là sinh tham
dục.
Lại gần gũi nữ sắc thì sinh tham dục.
Lại hưởng các thú vui thì sinh tham dục.
Lại vì ngu si nên sinh tham dục như với bất tịnh tưởng là
tịnh.
Thành Thật Luận Trang 307 Tuệ Quang Foundation
Lại bởi ác tri thức nên sinh tham dục, như đem khăn nhơ
nhớp mà gói áo sạch sẽ.
Lại vì cộng sự với người đa dục, nên sinh tham dục.
Lại đối với thân thụ v.v... 4 pháp sinh nghĩ nhớ vọng tưởng
là bị tham dục lôi kéo, như bình tròn không đế, như hoa không xỏ
xâu.
Lại như biếng nhác không siêng tu thiện thì tham dục dễ
sinh.
Lại đi chỗ không nên đi, thì bị tham xâm nhập, như là nơi
dâm nữ, quán rượu, hàng thịt v.v..., ví như loài chim ưng, đai
bàng.
Lại quán bất tịnh v.v... chưa có thể phá hoại được cảnh
duyên thì tham dục đắc vậy.
Lại từ lâu xa đến giờ, thường quen tham dục, thành tham sử
nên dễ sinh.
Lại với cảnh duyên nữ sắc v.v... ưa thủ tướng, thủ liễu. Thủ
tướng là lấy các tướng tay, chân, mặt, mắt, lời nói, giỡn cười, nhìn
ngắm, khóc lóc v.v.... Thủ liễu là phân biệt trai gái hình trạng sai
khác. Như vậy thủ lấy, thủ lấy rồi nghĩ nhớ phân biệt thì sinh
tham dục.
Lại tâm nghĩ lường yếu ớt nên cứ chạy theo cảnh duyên
không thể ngăn chận được, thì sinh tham dục.
Lại nếu sinh tham dục nhẫn chịu không bỏ, thì ngày càng
tăng thêm từ hạ sinh trung, từ trung sinh thượng.
Lại trong tham dục chỉ thấy say đắm mùi lợi lạc mà không
biết tội lỗi, thì sinh tham dục.
Lại vì thời tiết nên sinh tham dục, như mùa xuân v.v....
Lại vì nơi chỗ nên sinh tham dục, như có địa phương từ xưa
nay nhiều thói dâm dục.
Lại tùy theo thể lực, nên sinh tham dục, như tuổi trẻ, không
bệnh hoạn và đồ nuôi sống đầy đủ.
Thành Thật Luận Trang 308 Tuệ Quang Foundation
Lại vì lực có thể nên sinh tham dục, như uống thuốc tăng lực
v.v....
Lại được tịnh diệu tùy ý ngũ dục thì sinh tham dục. Nghĩa là
thấy sắc đẹp hoa ao, vườn rừng, sum sê xanh tốt, nước suối chảy
mát mẽ, mây đẹp, điện chớp sáng, gió đưa hương đến, hoặc nghe
tiếng kêu áo não của chim chóc hòa nhau, và nữ nhân trang điểm
dáng điệu dịu dàng, nói năng cử chỉ v.v....
Lại vì nghiệp nhân duyên nên sinh tham dục, như người
thanh tịnh thí thì hay ưa thích tịnh diệu ngũ dục, mà người tội lỗi
thì ưa bất tịnh.
Lại vì từng loại nên sinh tham dục, như người thì tham dục
người.
Lại đắm sâu giả danh thì sinh tham dục. Người nầy đối bên
trong sinh tướng sĩ phu, bên ngoài sinh tướng nữ lưu và áo mặc,
người oan, người thân các tướng.
Lại vì chưa được không tâm, nên trong thấy chúng sinh,
ngoài thấy sắc v.v... thì sinh tham dục.
Lại nếu tham sử chưa diệt hết, ái duyên hiện tiền, trong đó
sinh nghĩ nhớ tà vạy. Những nhân duyên như vậy v.v... tức sinh
tham dục.
Phẩm 124 : Lỗi của tham
Hỏi : Tham dục có những lỗi gì nên muốn dứt ư ?
Đáp : Tham dục thật khổ, phàm phu điên đảo vọng sinh
tưởng vui, người trí thấy khổ, thấy khổ thì phải dứt.
Lại thụ dục thì không bao giờ biết chán, như uống nước mặn,
càng uống càng khát. Vì càng khát thì làm sao được vui ?
Lại vì thụ dục nên các ác đều tụ tập và có dao gậy v.v... xảy
ra đều bởi tham dục.
Lại trong kinh nói : Tham tội nhẹ mà khỏ bỏ. Vì đối với giận
dữ nên gọi là tội nhẹ, kỳ thật là nặng.
Thành Thật Luận Trang 309 Tuệ Quang Foundation
Lại tham làm nhân duyên cho thân sau, như nói ái làm nhân
duyên cho thủ, cho đến tụ tập thành khổ lớn.
Lại nói nhân khổ là ái.
Lại nói Tì-kheo phải suy nghĩ kỹ xem có bao nhiêu các khổ
và do đâu mà có ? Phải biết đều lấy thân làm nhân duyên, thân là
nhân nơi ái.
Lại nói trong đoàn thực có hỷ có tham, cho nên thức sinh
trong đó. Phải biết ái làm nhân duyên của sự thụ thân.
Lại tham này thường hành động trong bất tịnh, như nữ nhân
v.v.... Thân tâm nữ nhân là bất tịnh, như cục phân được bọc lại, có
thể làm ô uế, như rắn độc có thể cắn hại.
Lại tham dục này thường hành động trong si, như trong kinh
nói : Ví như chó gặm xương khô dính máu, vì nước dãi thấm vào,
nên tưởng cho là ngon. Người tham cũng vậy, trong cái dục vô vị,
mà vì sức tà điên đảo cho là có hương vị.
Lại như miếng thịt v.v... có 7 thứ ví dụ.
Hoặc có người bảo với việc trong quá khứ vị lai mà sinh
tham dục cho nên biết thường hành động trong si.
Lại chúng sinh vì nhân duyên tham dục nên vui ít khổ nhiều.
Bởi vì sao ? Vì như hưởng giàu sang thì ít, mà lúc tán hoại thì
nhiều.
Lại người ái dục là vì nhân vui nên chịu đủ các thứ khổ.
Nghĩa là khi tìm cầu khổ, khi giữ gìn khổ, khi thụ dụng cũng khổ
luôn. Như trồng lúa, buôn bán, chinh chiến, làm quan v.v.... Khi
tìm cầu là khổ. Khi giữ gìn lo sợ mất mát nên khổ, hiện tại không
chán nên khổ.
Lại đoàn tụ vui yêu ít, ly biệt khổ nhiều. Cho nên biết tham
dục có nhiều tội lỗi.
Lại như Phật nói ái dục có 5 thứ tội lỗi : 1. Ý vị ít mà lỗi
nhiều. 2. Các kết bùng phát. 3. Đến chết không chán. 4. Bị Thánh
trách bỏ. 5. Không ác nào không tạo.
Thành Thật Luận Trang 310 Tuệ Quang Foundation
Lại tham dục nầy thường khiến chúng sinh thuận theo dòng
sinh tử, xa lìa Nê-hoàn. Có các tội lỗi như vậy nhiều vô lượng.
Nên phải biết tham dục là nhiều tội lỗi.
Lại sinh các phiền não đều bởi tham dục, như tham thân nên
khởi các phiền não về thân.
Lại không nhổ gốc ái sử thì thường xuyên bị khổ, như không
chặt cây độc thì thường hại người.
Lại tham có thể khiến chúng sinh gánh gánh nặng.
Lại trong kinh nói : Tham ái là trói buộc, như bò đen bò
trắng tự không buộc nhau, chỉ bởi dây buộc. Như vậy mắt không
buộc sắc, sắc không buộc mắt, mà tham dục ở trong đó buộc. Nếu
duyên là buộc, thì không được giải thoát.
Lại trong kinh nói : Chúng sinh bị vô minh che khuất bị ái
kết trói buộc, qua lại trong sinh tử không cùng tận.
Lại trong kinh nói : Tham dứt nên sắc dứt, cho đến thức cũng
dứt. Tham nầy nhờ quán vô thường v.v... mới dứt được. Dứt được
tham dục nầy thì tâm được giải thoát. Sắc tham dứt thì không sắc.
Không sắc thì khổ diệt, cho đến thức cũng như vậy. Cho nên biết
tham dục là trói buộc bền chắc.
Lại tham dục như giặc mà chúng sinh không thấy cái ác của
nó.
Lại tham dục thường hành động trong sự mềm dịu đẹp đẽ
nên gọi là thâm ác.
Lại tâm chúng sinh ưa khởi tham dục, cho đến loài muỗi,
kiến cũng đều ở trong uống ăn, dâm dục mà khởi.
Lại tham dục nầy có nhiều thứ nhân duyên có thể buộc lòng
người, như là cha mẹ, anh em, chị em vợ con và của cải v.v....
Lại chúng sinh vì tham dục ăn uống, dâm dục v.v…che tâm
nên mới có thể thụ sinh. Nếu tham thiền định thì sinh cõi trên.
Thành Thật Luận Trang 311 Tuệ Quang Foundation
Lại tham dục nầy có thể làm hòa hợp tất cả sở thích khác
nhau của vậy gian. Tham dục làm hòa hợp lại, giống như cát trộn
với nước là dính nhau lại.
Lại trong sinh tử lấy tham ái làm khí vị, như nói trong sắc
đắm vị. Nghĩa là do sắc sinh hoặc mừng hoặc vui. Nếu không
tham thì không có khí vị, không khí vị thì có thể mau dứt sinh tử.
Lại tham dục nầy trái nhau với giải thoát. Bởi vì sao ? Vì
chúng sinh vì tham đắm vui dục lạc, vui thiền định nên không vui
muốn giải thoát.
Lại tùy dứt được một phần tham, tức được biến thành một
phần vui, như nói tùy chỗ lìa dục chuyển thàh vui sâu sắc.
Lại nói : Nếu muốn được các vui, phải bỏ tất cả dục. Bỏ tất
cả dục nên được rốt ráo thường vui. Nếu muốn được cái vui lớn,
phải lìa bỏ cái vui nhỏ. Bỏ cái vui nhỏ nên có thể được cái vui vô
lượng.
Lại nói : Người trí không có cái lợi nào khác bằng lìa lìa bỏ
tâm tham ái. Tùy tâm lìa tham ái thì diệt các khổ não.
Lại tham dục nầy làm hại thiện pháp. Bởi vì sao ? Vì người
nặng tham đắm thì bất chấp giới luật, chủng tính, giáo pháp, oai
nghi, danh dự, không lĩnh thụ giáo hóa, không thấy sự suy bại,
không coi tội phúc ra gì, như cuồng như say không biết tốt xấu;
cũng như người mù không thấy phúc lợi. Như nói : Tham dục
không thấy lợi; tham dục không biết phân biệt phải trái, giống như
mù lòa không biết, vì không diệt trừ tham dục.
Lại nói : Tham dục là biển cả, không bờ cũng không đáy,
sóng mòi xoáy sâu, ác trùng và quỉ La-sát, các hiểm nạn như vậy,
không ai quá khỏi được, chỉ có ở trong thuyền tịnh giới, nhờ sức
gió chính kiến, Phật là vị thuyền trưởng có thể chỉ dẫn đường
chính, như nói mà tu hành, thì mới qua được.
Lại trong các phiền não không có tưởng nhớ phân biệt khí vị
nào bằng tham dục.
Thành Thật Luận Trang 312 Tuệ Quang Foundation
Lại tham dục này là khó dứt, như trong kinh nói có 2 thứ ước
muốn khó dứt : một là muốn được, hai là muốn sống lâu.
Hỏi : Tham dục có những lỗi như vậy, làm sao biết được
tướng của người tham dục ?
Đáp : Người nhiều tham dục thì ưa vui nữ sắc và hoa hương,
đồ trang sức, ca nhạc, múa hát; thường đến nhà dâm nữ nhóm
họp, ăn uống; ưa tụ họp đông đảo và các đồ dụng cụ vui chơi, ưa
đem lời ái ngữ, tâm thường vui mừng, sắc diện tươi hòa, gợi ý hỏi
han, cười cười nói nói, khó giận dễ vui, để tâm chiếu cố, thân thể
mau lẹ, tính tình tháo vát, tự chấp chặt bản ngã. Những tướng như
vậy gọi là tướng nhiều tham dục. Tướng nầy cùng với tính trói
buộc đều thuận nhau, cho nên khó dứt.
Lại tất cả tham dục rốt ráo đều khổ. Bởi vì sao ? Vì những
việc tham ái, được thì chắc chắn phải có lìa tan, lìa tan ắt có buồn
khổ. Như nói người, trời đều thích sắc, tham sắc, ưa sắc, đắm sắc.
Khi sắc nầy hoại thì tâm ăn năn buồn rầu. Thụ, tưởng, hành, thức
cũng đều như vậy.
Lại trong các kinh Phật nói nhiều ví dụ để quở trách tham
dục nầy. Nghĩa là có thể hại tuệ mạng, nên nói là độc. Ở trong tâm
thì đau nên gọi là gai, có thể dứt thiện căn nên gọi là dao, có thể
đốt thân tâm nên gọi là lửa, có thể sinh các khổ nên gọi là oán, từ
trong tâm sinh ra nên gọi là giặc bên trong, vì khó nhổ nên gọi là
rễ sâu, có thể làm bẩn danh dự nên gọi là đất bùn, ngăn trở đường
thiện nên gọi là chướng ngại, đau bên trong nên gọi là mũi tên
đâm trong tim, khởi các ác nên gọi là bất thiệncăn, chẩy vào biển
sinh tử nên gọi là sông, trộm cướp của thiện nên gọi là giặc. Tham
dục có vô lượng tội lỗi như vậy cho nên cần phải dứt.
Phẩm 125 : Dứt trừ tham
Hỏi : Tham dục có những lỗi như vậy, làm sao dứt ?
Thành Thật Luận Trang 313 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Lấy bất tịnh quán v.v... mà ngăn, vô thường quán v.v...
mà dứt.
Hỏi : Có người biết vô thường nên càng tăng tham dục, việc
ấy thế nào ?
Đáp : Nếu người có thể biết tất cả vô thường thì không tham
dục. Như trong kinh nói : Khéo tu tưởng vô thường nên có thể phá
hoại được tất cả tham dục. tham sắc, tham vô sắc, tất cả hí lộng,
kiêu mạn và vô minh.
Lại nếu người có thể thấy thế gian đều khổ, khổ bởi nhân
duyên tham, thì tham nầy dứt.
Lại nếu người thường nghĩ rằng mình chắc phải chịu khổ
sinh lão bệnh tử, thì tham nầy dứt.
Lại như được cái lạc thanh tịnh thì bỏ cái lạc bất tịnh. Như
được Sơ thiền thì bỏ dục ái.
Lại thấy lỗi của tham dục là có thể dứt được. Lỗi như trước
đã nói.
Lại vì đa văn v.v... trí tuệ tăng trưởng nên có thể dứt tham
dục vì tính trí tuệ phá phiền não.
Lại nhờ nhân duyên thiện đầy đủ, thì tham dục dứt, nghĩa là
tịnh trì giới v.v..., và 11 thứ định cụ. Điều này sẽ nói trong đạo đế.
Lại sắc trí v.v..., pháp trí v.v... các phương tiện, Phật là vị
thầy thuốc lớn, các đồng học là những người sai khiến, chính pháp
là thuốc, tự như nói mà làm đúng, thì bệnh tham dục. Như có
người biết bệnh và đầy đủ 3 việc ấy thì bệnh khỏi tức thì.
Hỏi : Như trong kinh nói dùng bất tịnh quán để trừ tham dục.
Vì sao nói bất tịnh v.v... và vô thường v.v...?
Đáp : Tất cả Phật pháp đều vì phá các phiền não. Nhưng đều
có sức thắng riêng. Trước tiên dùng bất tịnh quán để ngăn tham
dục, sau mới lấy trí vô thường mà dứt.
Thành Thật Luận Trang 314 Tuệ Quang Foundation
Lại dùng bất tịnh để trừ tham dục thô, điều đó được nhiều
người biết, còn tham sử thì vi tế nên phải dùng vô thường mới dứt
được.
Lại chỉ trong một kinh đó nói như vậy, chứ trong các kinh
khác cũng nói các pháp khác cũng có thể dứt. Nhân duyên như
vậy thì tham dục dứt.
Phẩm 126 : Sân nhuế
Luận giả nói tướng giận dữ là như giận người nầy muốn
khiến nó diệt mất, nhờ người khác trói đánh giết hại, nhất quyết
trừ bỏ không muốn thấy. Giận này gọi là Ba-la-đề-già, nghĩa là
giận hạng nặng. Có thứ giận chỉ muốn mắng nhiếc đánh đập
người khác gọi là Vi-hân-bà, là giận hạng trung. Có thứ giận
không muốn bỏ rời như bởi ghét, yêu vợ con mà sinh, gọi là Câulô-
đà; là giận hạng nhẹ. Có thứ giận thường nhiễm ô tâm, gọi là
Ma-xoa, là không trả thù. Có thứ giận ở mãi nơi tâm không bỏ,
cần muốn trả thù, gọi là Ưu-bà-na-ha, là trả thù. Có thứ giận vội
chấp một việc, dù nhiều lời khuyên nhủ quyết không muốn bỏ,
như sư tử muốn qua sông, cứ nhắm đến bờ bên kia, chết cũng
không nao núng, gọi là Ba-la-đà-xá, nghĩa là chấp chặt. Có thứ
giận thấy người ta được lợi, tâm sinh ganh ghét, gọi là I-sa. Có
thứ giận thường ưa tranh tụng, tâm khẩu cương cường, gọi là
Tam-lam-ba, nghĩa là giận tranh giành. Có thứ giận, hoặc sư
trưởng dạy dỗ mà nghịch chống lại, gọi là Đầu-hòa-già, nghĩa là
phàn kháng. Có thứ giận như được việc chút ít không vừa lòng thì
tâm sinh bối rối gọi là A-sằn-đề, nghĩa là không nhẫn nhịn. Có thứ
giận nói lời không nhỏ nhẹ thường hay nhăn nhó không có sắc
mặt hòa dịu. Nói năng cướp lời trước, gọi là A-bà-cật-lược, nghĩa
là không vui lòng. Có thứ giận đối với người ở chung thường hay
mắng nhiếc, gọi là A-tảo-la-cô, nghĩa là không thuận hòa. Có thứ
giận dùng thân khẩu ý xúc não người đồng học, gọi là thắng kỳ,
Thành Thật Luận Trang 315 Tuệ Quang Foundation
nghĩa là xúc hại. Có thứ giận thường hay càu nhàu và chê bai đủ
thứ, gọi là Đăng-đan-na-tha, nghĩa là khó tính.
Hai thứ giận này, hoặc nhân chúng sinh hoặc không nhân
chúng sinh. Nhân chúng sinh gọi là tội nặng.
Lại có thượng, trung, hạ phân biệt làm 9 phẩm.
Lại nhân 9 thứ phiền não phân biệt làm 9, và vô sự nổi giận
ngang ấy là thứ 10.
Hỏi : Giận nầy làm sao sinh ?
Đáp : Từ việc không vừa ý khổ não mà sinh.
Lại vì không biết dúng cái tính của khổ thụ, nên sinh giận dữ.
Hoặc từ quở mắng roi vọt v.v... mà sinh.
Hoặc cùng làm việc với người ác mà sinh giận dữ, như hàng
thịt, thợ săn v.v....
Hoặc vì do trí lực yếu ớt nên sinh giận dữ như cành nhánh
cây bị gió làm lay.
Hoặc tích chứa giận dữ lâu ngày đến nỗi thành tính nên sinh
giận dữ.
Hoặc gốc từ dòng hàng thịt, thợ săn và loài rắn độc lai sinh
làm người thì sinh giận dữ.
Hoặc ưa nhớ lỗi của người khác nên sinh giận dữ, như trong
9 thứ phiền não đã nói.
Hoặc tùy thời tiết nên sinh giận dữ, như đến khi người chỉ
còn 10 tuổi v.v....
Hoặc bởi loài giống nên sinh giận dữ, như loài rắn độc v.v....
Hoặc bởi địa phương nên sinh giận dữ, như người nước
Khương Cù v.v....
Lại như trước đã nói nhân duyên sinh tham, cùng mâu thuẫn
với tham thì sinh giận dữ.
Lại tâm chấp ngã, kiêu mạn bùng phát mạnh và say đắm tài
vật một cách sâu đậm, các nhân duyên như vậy v.v..., thì sinh giận
dữ.
Thành Thật Luận Trang 316 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Giận nầy có những tội lỗi gì ?
Đáp : Trong kinh nói giận là tội nặng đối với tham dục. Cho
nên nói là dễ cởi bỏ, mà kỳ thật là khó gỡ. Có điều là không bằng
tham đeo bám lâu nơi tâm.
Lại giận tạo ra 2 cái phiền não. Trước đốt hại nơi mình, sau
đốt hại nơi người.
Lại giận chắc chắn là địa ngục, vì do giận đa phần khởi
nghiệp đọa địa ngục.
Lại giận có thể phá hoại phúc thiện, nghĩ là thí, giới, nhẫn 3
pháp nầy đều do tâm từ v.v... sinh ra, giận thì mâu thuẫn với tâm
từ nên nói là có thể phá hoại.
Lại do giận khởi nghiệp đều bị tiếng xấu.
Lại do giận khởi nghiệp về sau tâm phải ăn năn.
Lại người hay giận hờn, là người không có lòng thương yêu,
nên gọi là người hung bạo, vì chúng sinh đã thường khổ mà lại vì
giận làm hại thêm, như ung nhọt, như lửa.
Lại trong kinh tự nói lỗi của giận là người nhiều giận thì hình
sắc xấu xí, ngủ thức không yên vì tâm thường lo sợ bị người khác
không tin v.v....
Hỏi : Người nhiều giận dữ có những tướng ra sao ?
Đáp : Tâm khẩu cương cường thường không vui vẻ, mặt mày
nhăn nhó, sắc diện không khoan hòa khó gần gũi, dễ nổi xung khó
bỏ, thường hay giận hờn, ưa cãi cọ, hay sắm sửa binh khí, kết bè
đảng với bạn ác, lại ganh ghét người thiện, là người thô kệch
không suy nghĩ kỹ, ít khi biết hổ thẹn. Có những điều như vậy gọi
là tướng giận dữ. Các tướng nầy đều vì ganh ghét người khác mà
sinh, cho nên cần phải dứt.
Hỏi : Phải dứt như thế nào ?
Đáp : Thường tu từ bi hỷ xả thì giận dữ dứt.
Lại phải thấy tội lỗi của giận dữ thì mới dứt được.
Lại được chân trí thì giận dữ dứt.
Thành Thật Luận Trang 317 Tuệ Quang Foundation
Lại phải nhờ sức nhẫn nhục, giận dữ mới dứt được.
Hỏi : Sao gọi là sức nhẫn ?
Đáp : Nếu có thể nhẫn các khổ do người khác mắng nhiếc là
người nầy được phúc của pháp thiện. Cũng không nên do không
nhẫn mà sinh hung ác. Đó gọi là sức nhẫn nhục.
Lại người tu nhẫn gọi là Sa-môn, vì nhẫn nhục là cửa ngõ
đầu tiên vào đạo. Pháp Sa-môn là giận dữ không đáp trả bằng giận
dữ, bị mắng không mắng trả, bị đánh không đánh lại.
Lại nếu Tì-kheo nhẫn được là đúng với pháp xuất gia.
Lại người giận dữ là không phải phép của người xuất gia.
Phép người xuất gia là nhẫn nhục.
Lại nếu Tì-kheo thân mặc áo khác tục mà tâm còn giận dữ
đồng với người là không hợp.
Lại như người tu nhẫn nhục tức là đã đủ công đức từ bi.
Lại người tu nhẫn nhục có thể thành tựu tự lợi. Bởi vì sao ?
Vì những người giận dữ muốn não hại người, mà trở thành tự hại.
Đem hết thân khẩu để thêm ác cho người, mà tự mình bị ác quá
hơn trăm ngàn lần. Cho nên biết giận là tự tổn hại nặng nhất. Vì
vậy người trí muốn mình và người đều được khỏi khổ lớn và tội
lớn, cần phải tu nhẫn nhục.
Hỏi : Làm sao có thể chịu nổi cái khổ bị mắng nhiếc ?
Đáp : Nếu người khéo tu vô thường, rõ thấu các pháp niệm
niệm sinh diệt, thì biết rằng người mắng, người bị mắng đều diệt
từng mỗi niệm, trong đó có chỗ nào đáng sinh giận dữ ?
Lại khéo tu không tâm, mới có thể nhẫn nhục được. Nên
nghĩ như vầy : Các pháp là thật không, có ai là người mắng, có ai
là người bị mắng.
Lại sự việc nếu thật, thì nên nhẫn nhục, vì ta thật có lỗi,
người kia nói thật lời, sao lại giận ? Nếu sự không thật, thì người
kia tự phải bị quả báo vọng ngữ, ta giận làm gì ?
Thành Thật Luận Trang 318 Tuệ Quang Foundation
Lại nếu nghe lời mắng ác, phải nghĩ như vầy : Tất cả thế gian
đều theo nghiệp chịu báo, ta xưa chắc đã gây nghiệp ác này, nay
nên đền trả chứ sao lại giận ?
Lại nếu nghe mắng ác, tự phải xét lỗi mình. Bởi ta thụ thân,
mà thân là đồ đựng các nỗi khổ, nên phải chịu mắng.
Lại người tu nhẫn nhục nên suy nghĩ như vầy : Vạn vật đều
do nhiều nhân duyên sinh. Cái khổ mắng ác nầy, là do nhĩ thức, ý
thức và âm thanh v.v... sinh ra. Trong đó tự ta có 2 phần, người
kia chỉ có âm thanh, vậy là tội ta nhiều hơn, sao lại giận ? Và vì ta
chấp lấy tướng phân biệt của âm thanh kia, nên sinh phiền não tức
là ta lỗi.
Lại người nhẫn nhục không nên bắt lỗi người khác. Bởi vì
sao ? Vì tội tham sân si nầy không phải lỗi của chúng sinh mà do
tâm bệnh của chúng sinh phát sinh ra nên không được tự tại. Như
thầy trị quỷ, chữa người bị quỷ ám, thì chỉ nên giận quỷ mà không
nên giận bệnh nhân.
Lại người nầy vì siêng tu tinh tiến thích tập pháp thiện nên
không chấp lời người khác.
Lại nghĩ nhớ chư Phật, các Hiền thánh còn không khỏi bị
mắng. Như người Bà-la-môn xảo quyệt v.v... mắng Phật nhiều
điều. Như Xá-lợi-phất v.v... bị Bà-la-môn gia hại các thứ nhục
mạ, huống chi chúng ta là hạng người bạc phúc ư ?
Lại nghĩ như thế này : Thế gian nhiều ác mà không đoạt
mạng ta đã là rất may mắn lắm rồi huống chi là đánh mắng ?
Lại nghĩ thế nầy : Các thứ mắng ác nầy với ta không khổ, có
thể dễ nhẫn chịu. Như Phật dạy Tì-kheo dẫu cho cưa sắt xẻ mình,
cũng nên nhẫn chịu, huống chi mắng nhiếc.
Lại người tu hạnh này thường chán sinh tử nếu bị mạ nhục
thì chứng nghiệm rõ ràng lại càng thêm chán lìa, bỏi ác tu thiện.
Lại người này biết không nhẫn nhục sau chịu khổ báo, mới
nghĩ như vầy : Thà bị khinh mắng, chớ đọa địa ngục.
Thành Thật Luận Trang 319 Tuệ Quang Foundation
Lại người này ôm sâu lòng hổ thẹn. Ta là đệ tử Thế Tôn, bậc
Đại nhân, là người tu đạo, làm sao lại khởi thân khẩu là nghiệp
không đáng khởi ư ?
Lại được nghe Bồ-tát tu nhẫn nhục và Đế Thích v.v... mà
được sức nhẫn. Cho nên phải tu nhẫn.
Phẩm 127 : Vô minh
Luận giả nói chạy theo giả danh gọi là vô minh. Như nói
phàm phu theo tiếng ngã. Trong đó thật không có ngã và ngã sở.
Chỉ có các pháp hòa hợp giả gọi tên là người. Phàm phu không
thể phân biệt nên sinh ngã tâm. Ngã tâm sinh tức là vô minh.
Hỏi : Trong kinh Phật nói không biết đời quá khứ v.v... gọi là
vô minh. Vì sao chỉ nói ngã tâm ?
Đáp : Vì trong quá khứ nhiều người sai lầm, nên nói trong đó
không biết gọi là vô minh.
Lại trong kinh giải thích nghĩa chữ minh là có chỗ hiểu biết
mới gọi là minh. Biết những pháp gì ? Là sắc ấm vô thường, như
thật biết vô thường. Thụ, tưởng, hành thức các ấm vô thường, như
thật biết vô thường. Trái lại với minh gọi là vô minh. Vậy thì
không rõ như thật nên gọi là vô minh.
Hỏi : Nếu không rõ như thật gọi là vô minh thì gỗ đá v.v...
các pháp lẽ ra cũng phải gọi là vô minh? Vì chúng không rõ như
thật ?
Đáp : Không phải vậy. Gỗ đá vô tâm không phân biệt được
đời quá khứ v.v..., vô minh phân biệt được nên không đồng gỗ đá.
Hỏi : Vô minh gọi là vô pháp, như người mắt không thấy sắc
không có pháp không thấy. Cho nên chỉ minh là không có, nên
gọi là vô minh, chứ không có pháp khác ?
Đáp : Không phải vậy. Nếu không có vô minh thì trong 5 ấm
vọng chấp có người, và trong gạch đá sinh tưởng vàng bạc, gọi là
Thành Thật Luận Trang 320 Tuệ Quang Foundation
thứ gì ? Cho nên phải biết tính tà phân biệt gọi là vô minh, chứ
không phải vì không có minh mà gọi là vô minh.
Lại từ vô minh nhân duyên mới có các hành v.v... nối nhau
sinh; nếu là vô pháp thì làm sao sinh được ?
Hỏi : Nếu không phải minh gọi là vô minh thì nay chỉ trừ
minh, tất cả các pháp còn lại đều là vô minh. Cho nên không lấy
một pháp gọi là vô minh ?
Đáp : Vô minh nầy là nói trong tự tướng, chứ không nói các
pháp. Như nói bất thiện tức là nói cái thể bất thiện, chứ không nói
vô ký. Vô minh cũng vậy. Tuy mang thân hình người, mà không
có hành động như con người, nên mới gọi là không phải người.
Như vậy cái minh nầy tuy có phân biệt mà không biết như thật,
nên mới gọi vô minh. Còn gỗ đá không phải vậy.
Hỏi : Nếu nói vô sắc, vô đối, vô lậu, vô vi đều là các thuyết,
vì sao vô minh không phải như vậy ?
Đáp : Hoặc giả có lý nầy, nhưng trong bất thiện v.v... thì
không như vậy.
Hỏi : Có người nói chỉ vì không có minh nên gọi vô minh,
như trong nhà không ánh sáng nên gọi là tối ?
Đáp : Thế gian có 2 lối nói : Hoặc không có sáng nên nói là
không sáng, hoặc sáng không đúng cũng nói là không sáng.
Không có sáng nên nói là không sáng, là như thế gian nói mù
không thấy sắc, điếc không nghe tiếng. Sáng không đúng cũng nói
là không sáng như đêm thấy cây trơ trụi sinh tưởng là người, thấy
người tưởng là cây trơ trụi.
Lại người không thể thật biết việc đó nên gọi là không biết.
Lại tà tâm gọi là phiền não. Các hành nghiệp nhân duyên
nầy, A-la-hán đã dứt nên không có vô minh làm nhân duyên cho
các hành. Nếu không phải minh gọi là vô minh thì nay A-la-hán
không minh trong Phật pháp, lẽ ra phải gọi vô minh ? Mà nếu có
vô minh thì không phải A-la-hán. Cho nên phải biết rằng nói có
Thành Thật Luận Trang 321 Tuệ Quang Foundation
thể tính vô minh riêng tức là tà tâm. Tà tâm nầy là vô minh phân
ra tất cả phiền não. Bởi vì sao ? Vì tất cả phiền não đều là tà hành.
Lại tất cả phiền não che tâm người, đều là đui mù. Như nói
tham dục không thấy pháp, tham dục không thấy phúc. Người
năng thụ tham nầy đều gọi là đui mù. Sân si cũng như vậy.
Lại từ tất cả phiền não sinh các hành nghiệp, nên trong kinh
nói từ vô minh sinh hành. Cho nên biết tất cả phiền não đều là vô
minh.
Lại người không thấy không, thường có vô minh. Chỉ cáu
bẩn vô minh là nhân duyên các hành.
Lại vì tà minh nên nói là vô minh. Người thưa thấy không,
thường là tà minh. Cho nên biết vô minh phân ra tất cả phiền não.
Hỏi : Vô minh sinh như thế nào ?
Đáp : Nếu nghe, nghĩ tà nhân thì sinh vô minh. Như cho có
Đà-la-phiêu, có hữu phần, có tinh thần, các pháp niệm niệm
không diệt, không có thân sau, âm thanh và Thần là thường còn,
cỏ cây v.v... có tâm, rồi muốn thành lập các tà chấp như vậy, thì
sinh vô minh.
Hoặc do tà nhân nên sinh vô minh là gần gũi bạn tà ác, nghe
tà pháp, rồi nghĩ tà và làm tà. Vì 4 tà nhân đó nên sinh vô minh.
Lại nhân duyên sinh các phiền não khác, đều là nhân sinh vô
minh.
Lại do nhân vô minh nên sinh vô minh, như từ bắp sinh bắp,
từ lúa sinh lúa. Như vậy từ chấp của chúng sinh, thì sinh vô minh.
Lại trong kinh nói : Từ nhân duyên tà niệm mà sinh vô minh.
Tà niệm là một biệt danh của vô minh, như thấy có người, trước
tâm sinh ý niệm về người, sau nghĩ rõ ràng, nên gọi là vô minh.
Hai hiện tượng trước sau nầy tương trợ tương sinh, như từ cây
sinh trái, từ trái lại sinh cây.
Hỏi : Vô minh có những lỗi gì ?
Thành Thật Luận Trang 322 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Tất cả tổn hại đều bởi vô minh. Bởi vì sao ? Vì từ vô
minh sinh tham v.v... các phiền não; từ phiền não khởi nghiệp bất
thiện; từ nghiệp thụ thân. Nhân duyên thụ thân, mới bị các thứ tổn
hại. Như trong kinh nói : Vô minh che khuất ái kết trói buộc, thụ
thân các hữu.
Lại trong kinh Sư Tử Hống nói : Các thủ, đều do vô minh
làm gốc. Lại kệ nói :
Có các chỗ tội ác
Đời nay hoặc đời sau,
Đều vô minh làm gốc,
Nên từ tham dục khởi
Tất cả lỗi phiền não
Đều bởi vô minh có,
Vì từ vô minh sinh
Tất cả phiền não đó.
Lại phàm phu vì vô minh nên chịu thân 5 ấm nầy là bất tịnh,
vô thường, khổ, không, vô ngã, làm gì có người trí chịu các khổ
này !
Lại vì nhờ chính tư duy nên có thể xả 5 ấm. Như trong kinh
nói : Nếu biết tâm ta là tà điên đảo, thì không sinh trở lại. Cho nên
biết do vô minh nhân duyên nên bị trói buộc, minh nhân duyên
nên giải thoát.
Lại thế gian chúng sinh vì vô minh nên tham cầu một chút
khí vị mà không thấy nhiều tội lỗi, như con thiêu thân tự gieo
mình vào lửa, như cá nuốt mồi câu. Chúng sinh cũng vậy, hiện
tham chút khí vị mà bất cố nhiều tội lỗi.
Lại kinh điển ngoại đạo sinh tà kiến nói không có tội phúc
v.v..., đều là vô minh.
Lại các ác đạo đều do bất thiện. Bất thiện đều là vô minh.
Lại các tà kiến khởi nghiệp phần nhiều đọa địa ngục. Tà
kiến đều do vô minh sinh.
Thành Thật Luận Trang 323 Tuệ Quang Foundation
Lại Phật là đấng Thế Tôn, là bậc Nhất thiết trí, là Đại sư của
3 cõi, là người chân tịnh tu hành và Thánh đệ tử v.v.... mà các
ngoại đạo không phân biệt biết được, như người mù vất bỏ viên
ngọc châu báu. Đó đều là lỗi vô minh.
Lại tất cả chúng sinh có bao nhiêu việc tổn não bại hoại
v.v..., đều do vô minh, tất cả lợi ích thành tựu tăng trưởng đều nhờ
minh mẫn. Nếu tăng trưởng vô minh rốt ráo quyết đọa địa ngục
A-tì. Như kiếp sơ con người không biết khí vị là hư vọng, mới
sinh tham đắm, nên mất sắc lực thọ mạng các việc v.v.... Phải biết
đều bởi vô minh làm mất các điều lợi.
Lại vô minh nầy chỉ có chân trí mới dứt được, còn tham v.v...
thì không vậy.
Lại trong tâm tham không có giận, trong tâm giận không có
tham, còn vô minh thì có mặt trong tất cả tâm; và người không tu
tuệ thì vô minh thường trực ở trong tâm.
Lại trong các phiền não vô minh là rất mạnh, như trong kinh
nói vô minh tội nặng cũng khó giải trừ.
Lại vô minh là cội rễ của 12 nhân duyên, nếu không có vô
minh thì các nghiệp không nhóm không thành. Vì sao biết được ?
Các A-la-hán không có tướng chúng sinh, vì không vô minh nên
các nghiệp không thể nhóm thành. Nghiệp không nhóm nên thức
v.v... các chi phần không sinh lại được. Cho nên biết vô minh là
gốc của các khổ.
Lại hiện thấy tham đắm thân bất tịnh nầy cũng đối với vô
thường sinh tưởng là thường, giống như nắm tay không để gạt trẻ
nít; cũng nhà ảo thuật có thể diễn trò ảo thuật khiến người xem
thấy đất là vàng.
Lại tục nói người ngu hiện có thể gia thêm tội mà cũng có
thể dùng lời nói gạt. Thế gian cũng vậy, mắt thấy bất tịnh mà vẫn
để bị gạt.
Thành Thật Luận Trang 324 Tuệ Quang Foundation
Lại các tâm pháp niệm niệm diệt hết, vì chấp lấy tướng nên
sinh. Sắc diệt hết rồi, vì si nên chấp lấy tướng. Với âm thanh
v.v… cũng như vậy. Cho nên khó giải trừ. Đó là lỗi của vô minh.
Hỏi : Người nhiều vô minh có những tướng gì ?
Đáp : Người nầy với chỗ đáng sợ không sợ, chỗ nên vui
không vui, ganh ghét người thiện, ưa thích người ác, lấy ngược ý
người, thường ưa trái chống, chấp cứng việc tà, thiếu lòng hổ
thẹn, bất cố hiềm nghi, không hay làm cho người vui, tự mình
cũng khó được vui, không hay gần ai, ai cũng khó gần; ngu hãi
không hiểu, ưa mặc áo bẩn, ưa vào chỗ tối, và chỗ bất tịnh, tự cao
tự đại, hay khinh dễ người không cần đạo lý, tự khoe công đức,
lỗi không biết lỗi, lợi không biết lợi; không thích sạch sẽ, cũng
không oai nghi, nói năng vụng về, thường hay hờn giận, lấy trộm
pháp người, mà sâu tham đắm; học tụng khó được, được rồi dễ
mất, dẫu có sở đắc, không thể hiểu nghĩa, dẫu có hiểu nghĩa, thì
cũng hiểu sai. Tất cả tướng đó đều do vô minh. Cho nên biết vô
minh có vô lượng tội lỗi cần phải dứt trừ.
Hỏi : Làm sao dứt được ?
Đáp : Khéo tu chân trí thì dứt được.
Hỏi : Biết ấm giới v.v... cũng gọi là chân trí. Vì sao trong
kinh nói thuốc chữa vô minh là, hoặc nhân duyên, hoặc quán nhân
duyên ?
Đáp : Các ngoại đạo phần nhiều hiểu lầm nhân trong sự vật,
vì hiểu lầm nhân, nên nói trời Tự tại v.v... tạo ra thế gian. Vì lầm
nhân trong sự vật, nên nói có Đà-la-phiêu có hữu phần v.v....
Quán pháp nhân duyên, thì dứt 2 sai lầm nầy.
Hỏi : Nhân duyên gọi là thuốc chữa vô minh. Vì sao nói 2
thứ ?
Đáp : Vì muốn thu gom hết các trí. Nếu quán ấm, giới, nhập
v.v... cũng phá được vô minh. Nhưng vô minh nặng là tà kiến. Tà
kiến nhờ nhân duyên dứt, nên nói 2 thứ. Tham giận cũng như vậy.
Thành Thật Luận Trang 325 Tuệ Quang Foundation
Lại thế gian phần nhiều sai lầm đối với tên gọi cái bình v.v...
Như nghe tên cái bình thì sinh nghi sắc v.v... là cái bình hay rời
sắc v.v... lại riêng có cái bình ? Như vậy 5 ấm là người hay rời 5
ấm lại riêng có người ? Nếu tâm quyết định thì sa vào nhị biên là
đoạn và thường. Thân tức là Thần, hay thân khác Thần khác cũng
như vậy. Nếu người biết cái bình từ các duyên sinh, do sắc,
hương, vị, xúc mà thành, vậy sắc v.v... các ấm có thể hiểu là
người, thì có thể lìa bỏ sự sinh từ tên gọi. Cái tên gọi này có thể
che khuất thật nghĩa các pháp. Như trong Kinh Thiên Vấn nói :
Tên gọi hơn tất cả pháp, mà không có gì có thể hơn được. Tên gọi
nầy tất cả các pháp đều theo.
Lại nói : Thấy thế gian tập thì dứt được chấp không thấy thế
gian diệt thì dứt được chấp có.
Lại nói : Vì các hành nối nhau luôn nên nói 5 ấm sinh tử. Đó
đều là tội lỗi của vô minh, quán Nhân duyên thì dứt.
Lại trong kinh nói : Nếu ai thấy nhân duyên là người đó thấy
pháp. Nếu thấy pháp tức thấy Phật. Như vậy nếu ai có thể dứt sự
sinh nghi do tên gọi thì người đó mới thật thấy Phật, mà không
phải theo ai học. Cho nên nhờ chính trí thì hết vô minh. Vì nhờ
biết đúng pháp nhân duyên nên mới có được chính trí.
Lại lược nói trong 8 vạn 4 ngàn pháp tạng có bao nhiêu trí
tuệ đều để diệt trừ vô minh, vì vô minh làm cội rễ tất cả phiền não
và giúp phát triển tất cả phiền não. Nhân duyên như vậy thì dứt
được vô minh.
THÀNH THẬT LUẬN
CÒN NỮA