Thứ Năm, 16 tháng 1, 2014

THÀNH THẬT LUẬN từ quyển 4 đến quyển 6

THÀNH THẬT LUẬN
( Quyển 4 )
Ha-lê-bạt-ma tạo luận
Cưu-ma-la-thập dịch
Nguyên Hồng dịch tiếng Việt
Phẩm 45 : Căn giả danh
Hỏi : Mắt v.v... các căn với 4 đại là một hay khác ?
Đáp : Do nghiệp nhân duyên 4 đại thành mắt v.v... các căn.
Cho nên không khác 4 đại.
Lại Phật phân biệt mắt nói như thế nầy : Trong con mắt thịt
có cứng nương cứng gọi là địa chủng. Cho nên biết có căn tức là 4
đại. Sở dĩ vì sao ? Vì chỉ phân biệt cứng v.v... thì lại không có
mắt. Vì Phật muốn cho người đời biết con mắt là không, nên mới
nói như vậy. Nếu không phải vậy thì trong con mắt phải riêng có
cứng v.v..., hoặc trong cứng v.v... riêng có mắt ? Tùy có phân chia
cứng v.v..., cũng không ích gì. Cho nên các căn không khác 4 đại.
Lại như trong Kinh Lục Chủng nói 6 thứ là người. Nếu các
căn khác 4 đại, thì mắt v.v... không gọi nhân duyên tạo thành
người. Nhân sắc v.v… thành 4 đại. Thanh cũng là nhân duyên tạo
thành người. Chỉ trong 6 thứ giả danh là người, cho nên biết các
căn không khác 4 đại.
Lại có Tì-kheo hỏi Phật : Những gì là mắt ? Phật đáp : Bởi 4
đại thành sắc, không thể thấy mà có đối, đó là mắt. Cho nên biết
không khác 4 đại. Tì-kheo này có lợi căn trí tuệ, nên đối với mắt
Thành Thật Luận Trang 115 Tuệ Quang Foundation
v.v... các căn rất sinh nghi rằng người đời đều biết mắt thấy sắc,
cho đến cũng biết thân chạm xúc. Tì-kheo này với trong mắt v.v...
sinh nghi ngờ là có hay không có. Sở dĩ vì sao ? Vì có các sư hoặc
nói 5 tính là 5 căn, hoặc nói 1 tính. Tì-kheo này muốn thử xem
Phật pháp nói ra sao, nên mới hỏi Phật. Phật muốn chỉ rõ 5 căn
đều thuộc 4 đại, nên đáp bảo Tì-kheo rằng mắt này nhân 4 đại tạo
thành sắc, không thể thấy mà có đối. Nếu pháp có thật thì không
phải do nhân thành. Do pháp giả danh, lại thành giả danh, như do
cây thành rừng.
Hỏi : Hoặc có người nói sắc thành tựu gọi là mắt. Sự thật là
thế nào ?
Đáp : Hoặc thành tựu hay không thành tựu, 4 đại do nghiệp
nhân mà sinh gọi là mắt v.v... các căn. Nếu không phải vậy thì
nghi Tì-kheo này trong mắt v.v... các căn, rốt cuộc không thể dứt
nghi được. Tại vì sao ? Là Phật vì nói mắt v.v... các căn do 4 đại
tạo ra. Cho nên Tì-kheo nầy biết mắt không có thật pháp. Cho nên
biết mắt v.v... không khác 4 đại.
Lại nhiều chỗ Phật phân biệt 4 đại chỉ rõ mắt là không. Như
nói dùng tuệ không hí luận, nghĩa là quán thân nầy phân biệt 6 thứ
: Cứng và nương cứng gọi là địa v.v.... Như vậy chán lìa 5 thứ, chỉ
có một thức. Cũng như trong kinh nói thí dụ mổ bò, thí dụ voi
bước đi để phân biệt 4 đại.
Lại không có mắt, nếu riêng có mắt, lẽ nên phân biệt nữa.
Lại như các luận sư Hòa-ta v.v... cũng đều nói như thế đó
cho là không có lỗi. Nên phải tin chịu.
Hỏi : Năm căn khác với 4 đại. Sở dĩ vì sao ? Vì mắt v.v...
thuộc về nhãn nhập v.v…, 4 đại thuộc về xúc nhập.
Lại mắt v.v... là nội nhập, 4 đại là ngoại nhập. Mắt v.v... là
căn, 4 đại không phải căn.
Lại mắt v.v... là do tạo sắc thành tựu, 4 đại không phải vậy.
Cho nên biết các căn không phải là 4 đại ?
Thành Thật Luận Trang 116 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Tùy theo nhân duyên, tức nơi sự việc nên nói khác.
Như tín v.v... 5 căn cũng gọi là hành ấm. Nếu 4 đại do nghiệp sinh
nhiếp thuộc về mắt v.v… cũng gọi là nội nhập, cũng gọi là căn.
Lại 4 đại tức là thành tựu, như bánh xe v.v... làm thành xe,
bánh tức là xe. Điều này cũng vậy.
Hỏi : Không phải vậy. Như tâm thanh tịnh gọi là tín. Tín
khác với tâm, Điều này cũng vậy ?
Đáp : Không phải vậy. Như nhờ ngọc làm cho nước trong,
mà nước được trong. Trong sạch tức là nước. Cũng như vậy, nếu
được ngọc tín thì ao tâm trong sạch. Tâm trong sạch này tức là
tâm.
Lại nữa, trong luận nầy chúng tôi không nói do tâm có lòng
tin khác. Cho nên thí dụ này không đúng.
Lại căn là giả danh, với nhân thành giả danh không được nói
khác.
Hỏi : Cũng không được nói một ?
Đáp : Trong 4 đại thành tựu giả danh là căn cũng không chỉ
gọi 4 đại là căn. Cho nên biết các căn không khác 4 đại.
Phẩm 46 : Phân biệt căn
Hỏi : Trong các căn nầy đại nào nhiều hơn ?
Đáp : Không có đại nào nhiều hơn.
Hỏi : Nếu các đại đồng nhau, cớ sau có người có thể thấy
sắc, có người không thấy ?
Đáp : Đều do nghiệp sinh. Do nghiệp sinh thuộc về mắt, sức
4 đại có thể thấy sắc, các căn kia cũng vậy.
Hỏi : Nếu do nghiệp sinh, cớ sao không lấy một căn biết
khắp hết các trần ?
Đáp : Nghiệp nầy có 5 thứ sai khác. Có nghiệp có thể làm
nhân của thấy, như bố thí đèn đuốc, được quả báo nhãn căn.
Thanh v.v... cũng vậy. Vì nghiệp sai khác, nên sức căn cũng khác.
Thành Thật Luận Trang 117 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Nếu là sức nghiệp, cần gì nhờ các căn; chỉ cần do sức
nghiệp, thức cũng có thể thủ các trần ?
Đáp : Không phải vậy. Hiện thấy không căn thì thức không
sinh. Sở dĩ vì sao ? Vì như người mù không thấy, người điếc
không nghe. Trong việc hiện thấy nhân duyên vô dụng. Đó không
phải nạn vấn.
Lại pháp là phải như vậy. Nếu không các căn, thì thức không
sinh. Ngoại trừ 4 đại v.v..., không căn mà sinh. Pháp phải nhờ đó.
Lại các căn còn là trang nghiêm thân chúng sinh nữa, cho
nên do nghiệp mà sinh. Như vì nghiệp nhân duyên được lúa, nên
lúa sinh, mà cũng nhờ hạt giống rồi mộng, cọng, nhánh, lá thứ lớp
mà sinh. Thì điều này cũng vậy.
Hỏi : Vì sao tâm không phải vậy ? Như nhãn thức lấy nhãn
làm căn, cũng do diệt tâm thứ lớp; tâm chỉ lấy thứ lớp diệt tâm
làm căn, lại không chỗ ở như nhãn v.v... các căn, cần phải nói
nhân duyên ?
Đáp : Nhất định có 5 trần, nhất định có 5 thức, tâm không
phải như vậy.
Lại tâm pháp phải như vậy. Có điều là do thứ lớp diệt tâm
làm căn, lại không cần thứ gì khác. Như pháp quá khứ vị lai tuy
không mà ý có thể duyên, tâm pháp cũng như vậy. Điều này cũng
vậy.
Lại điều này cũng đồng với pháp ông. Trong pháp ông sắc
v.v... các trần, thức đợi căn mới sinh, đợi thứ lớp diệt tâm, ý thức
mới sinh được.
Hỏi : Nếu ý thức mà không căn thì nương vào đâu ?
Đáp : Nương thân tứ đại.
Hỏi : Nếu ở cõi vô sắc thì nương vào đâu ?
Đáp : Thức ở cõi vô sắc không chỗ nương. Pháp là như vậy,
không nương mà trụ. Sở dĩ vì sao ? Vì tướng sai khác, nên ý thức
có thể biết có không. Nếu có sắc thì nương, không sắc cũng vẫn
Thành Thật Luận Trang 118 Tuệ Quang Foundation
có thể trụ. Lại các duyên hòa hợp nên thức mới sinh. Như trong
kinh nói do ý duyên pháp thì ý thức sinh. Đó nương vào đâu ?
Đâu phải như người dựa vào vách v.v.... Tất cả các pháp đều trụ
nơi tự tính.
Phẩm 47 : Căn và đại đồng nhau
Hỏi : Các ngoại đạo nói 5 căn do 5 đại sinh. Sự thật như thế
nào ?
Đáp : Không. Sở dĩ vì sao ? Vì hư không là không có, điều
này đã nói rõ. Cho nên không do 5 đại sinh được.
Hỏi : Các ngoại đạo nói trong mắt nhiều hỏa đại. Sở dĩ vì sao
? Vì giống nghiệp nhân. Nhân bố thí ánh sáng nên được quả báo
mắt. Như trong kinh nói : Thí áo được sắc, thí ăn được sức, thí xe
được vui và thí đèn được mắt. Cho nên trong mắt hỏa đại nhiều.
Lại mắt nhờ sáng mới thấy, rời sáng thì không thấy. Cho nên
biết hỏa đại nhiều.
Lại lửa có thể soi xa, vì trong mắt có ánh sáng nên có thể xa
đối sắc.
Lại nói người chết mắt về lại mặt trời. Cho nên mặt trời là
bản tính.
Lại mắt nhất định có thể thấy sắc, vì sắc thuộc hỏa nên thấy
lại tự tính. Như vậy hư không, địa, thủy và phong v.v..., tùy theo
căn mà lệch nhiều. Người chết nhĩ căn trở về với hư không; tai
nhất định có thể nghe tiếng, tiếng thuộc hư không. Các căn khác
cũng như vậy. Cho nên các đại trong căn, phải có nhiều ít ?
Đáp : Ông nói giống nghiệp nhân. Điều này không đúng. Sở
dĩ vì sao ? Vì hoặc thấy có quả không giống nghiệp nhân. Như nói
bố thí ăn được 5 việc quả báo.
Lại nếu như trong mắt sáng nhiều, thì lẽ ra không nhờ sáng
bên ngoài như đèn đuốc v.v....
Thành Thật Luận Trang 119 Tuệ Quang Foundation
Lại như vì mắt nhờ sáng bên ngoài nên gọi hỏa nhiều thì
trong tai v.v... các căn, hư không v.v... cũng phải nhiều, không
cần nhờ hư không bên ngoài v.v...., mà thật thì phải nhờ ngoài.
Cho nên không phải nhân.
Lại nước có thể làm tốt cho mắt, như người rửa mắt, mắt liền
sáng tỏ, thì phải nước nhiều ?
Lại lửa có thể làm hại mắt, như ánh sáng mặt trời chẳng hạn.
Nếu là tự tính, không nên tự hại. Cho nên biết không phải trong
mắt hỏa nhiều vậy.
Lại thiên nhãn lìa sáng cũng có thể thấy sắc. Cho nên mắt
không phải thuộc hỏa.
Lại trong ánh sáng mặt trăng cũng được thấy sắc. Mặt trăng
không phải hỏa tính.
Lại nhãn pháp có thể như vậy. Hoặc có mắt đợi sáng mới có
thể thấy, có mắt không đợi sáng vẫn thấy. Như mắt được nhân
duyên hư không v.v... tuy không đến sắc mà có thể thấy từ xa.
Nhãn pháp là như vậy. Không nên nhớ tưởng phân biệt gọi hỏa
đại nhiều.
Lại ông nói lìa sáng thì không thấy, thì nếu lìa hư không, nhớ
nghĩ và sắc thì cũng không thấy được. Vậy thì hư không v.v...
cũng đều phải nhiều ?
Lại không phải tất cả mắt đều nhờ sáng bên ngoài, như loại
chim cú vọ, cú mèo v.v... loại thú mèo chồn v.v... không nhờ ánh
sáng bên ngoài cũng vẫn thấy được. Nên không phải hỏa nhiều.
Lại hỏa là soi sáng thường có tướng nóng, mắt đâu phải như
vậy ? Nếu ông nói mắt có ánh sáng có thể xa đối với sắc. Điều
này đã bị phá, vì mắt không có ánh sáng. Nếu nói trở về mặt trời
thì mắt là thường ?
Lại mặt trời v.v... không phải là căn, mắt làm sao trở về
được.
Thành Thật Luận Trang 120 Tuệ Quang Foundation
Lại như mặt trời chết thì căn của mặt trời và mặt trời lại trở
về đâu ? Cho nên không đúng.
Lại nữa, khi ở trên trời chết, mắt về chỗ nào ? Vì trên ấy
không có mặt trời.
Lại hư không là vô tác, thì chỗ đâu mà về ?
Lại các căn không đi, vì pháp hữu vi diệt trong từng mỗi
niệm.
Lại như ông nói mắt nhất định có thể thấy sắc, vì sắc thuộc
hỏa trở lại thấy tự tính. Điều này không đúng, vì là nhân vô dụng.
Tiếng thuộc hư không v.v... cũng như vậy. Vậy ông nói trong 5
căn các đại lệch nhiều. Điều này đã bị phá.
Hỏi : Có luận sư nói mỗi căn mỗi tính, vì trong địa nhiều
Cầu-na. Có hương có thể phát ra biết hương. Trong thủy, hỏa,
phong, vì có vị, sắc và xúc nên có thể phát ra biết vị sắc xúc. Sự
thật như thế nào ?
Đáp : Tôi trước đã nói không nhất định. Trong địa có hương
các vật khác cũng có. Cho nên không phải nhân.
Lại các đại hợp lại sinh, không thấy có địa lìa thủy v.v....
Nếu vì địa có hương nên có thể phát ra biết hương, thì lẽ ra cũng
phát ra biết sắc v.v...,vì trong địa có đủ 4 Cầu-na.
Hỏi : : Hương chỉ là địa vì có mũi thuộc địa nên xúc là có thể
biết hương ?
Đáp : Cầu-na trong địa chỉ là địa. Có mũi lẽ ra phải biết hết
các thứ.
Lại nước chỉ có xúc lạnh, lửa chỉ có xúc nóng, lẽ ra lấy lưỡi
mắt có thể biết, mà thật không đwocj như vậy.
Lại vì không có Đà-la-phiêu, tức không có căn.
Lại lực dụng các căn là cùng hợp lại với trần mới sinh biết.
Hòa hợp đã bị phá thì không căn dụng. Cho nên không có một
tính là một căn.
Thành Thật Luận Trang 121 Tuệ Quang Foundation
Phẩm 48 : Căn vô tri
Hỏi : Căc căn là đến với trần nên biết hay không đến mà biết
được ?
Đáp : Không phải căn có thể biết được. Sở dĩ vì sao ? Vì nếu
căn có thể biết trần thì có thể cùng một lúc biết hết các trần, mà
thật không thể được. Cho nên do thức mới có thể biết. Trong ý
ông hoặc bảo căn đợi thức cùng biết, vì căn không rời thức mà
biết thì điều này không đúng. Vì không có một pháp nào đợi các
pháp khác mới có sở tác. Nếu mắt có thể biết cần gì đợi thức.
Lại như căn có thể biết, thì cần phải phân biệt đây là nghiệp
của căn, đây là nghiệp của thức.
Hỏi : Chiếu soi là nghiệp của căn, biết là nghiệp của thức ?
Đáp : Đó không phải phân biệt thế nào là chiếu soi. Trong
pháp ông, tai v.v... các căn không phải hỏa tính, nên không thể
chiếu soi được. Nếu các căn đối với thức như đèn thì các căn lại
chiếu soi được, như đèn thì chiếu soi lại có chiếu soi, như vậy vô
cùng. Nếu lại không chiếu soi thì chỉ căn có thể chiếu soi thì cũng
không cần căn, chỉ thức có thể biết. Cho nên chiếu soi không phải
nghiệp của căn.
Lại căn không phải có thể biết, như đèn có thể soi mà không
có thể biết, chắc chắn có thể làm chỗ nương cho thức, mới gọi là
nghiệp của căn. Cho nên chỉ thức mới có thể biết chứ không phải
các căn. Nếu có thức thì biết, không thức thì không biết, như có
lửa thì nóng, không lửa thì không nóng. Phải biết do lửa có nóng.
Hỏi : Trong kinh nói : Dùng mắt thấy sắc, không nên thủ
tướng. Tai v.v... cũng vậy. Cho nên biết mắt có thể thủ sắc.
Lại mắt v.v... gọi là căn, nếu nó không thể biết sao gọi là căn
?
Lại trong kinh nói : Các đệ tử ta, với việc vi tế có thể biết
như mắt xem thấy. Nếu mắt không có thể thấy, thì các đệ tử Phật
Thành Thật Luận Trang 122 Tuệ Quang Foundation
không thấy gì cả. Điều này không thể được. Cho nên các căn nhất
định có thể thủ trần.
Lại vì căn thủ trần do thức phân biệt, vậy căn thức có khác
nhau ?
Đáp : Trong kinh Phật tự nói : Mắt là cửa vì làm cho thấy
sắc. Cho nên mắt không thấy sắc được, vì mắt là cửa, thức ở trong
đó thấy, cho nên nói mắt thấy.
Hỏi : Cũng nói ý là cửa, vì biết pháp. Có thể lấy ý làm cửa,
mà nó không phải biết sao ?
Đáp : Ý cũng do thứ tự diệt tâm làm cửa. Cho nên ý không
thể biết. Ý thức mới có thể biết.
Lại trong kinh Phật nói : Mắt muốn sắc đẹp. Mắt là sắc pháp,
vì không phân biệt, nên thật không muốn, mà là thức muốn.
Lại như Phật nói : Sắc là cái bị biết của mắt. Thức mới có thể
biết sắc, thật sự mắt không biết.
Lại người thế gian, vì thế tục nên mới nói mắt có thể thấy, tai
có thể nghe, Phật cũng tùy theo mà nói. Tại sao chỉ sắc có thể
thấy, ngoài ra không thể thấy ? Phật cũng nói thấy lỗi tham dục
v.v....
Lại người đời nói hết tháng, Phật cũng tùy theo đó mà nói.
Như người nghèo mà đặt tên là Phú Quý, Phật cũng theo tên đó
mà gọi. Ý Phật không muốn tranh cãi với người đời, như Ma-giàla
mẫu v.v.... Cho nên phải biết đó là tùy theo thế tục mà nói, cho
nên Phật mới nói mắt thấy.
Hỏi : Vì sao người đời nói những lời như vậy ?
Đáp : Tùy chỗ nhân mắt biết; trong nhân nầy gọi là thấy.
Như nói người kia thấy, người nầy thấy. Như nói người làm tội
phúc v.v..., có chư Phật và trời thần thấy. Như nói mắt phải thấy,
mắt trái thấy.
Lại nói do mặt trời sáng thấy, mặt trăng sáng thấy, hoặc hư
không thấy hoặc hướng vào trong thấy, hoặc trong cửa trông ra
Thành Thật Luận Trang 123 Tuệ Quang Foundation
thấy. Như trong việc nấu đồ vật nói người nầy nấu, người kia nấu,
hoặc nói dùng cỏ củi cây nấu, phân bò nấu, dầu nấu, bơ nấu, lửa
nấu, mặt trời nấu. Sự thật là lửa nấu, các vật kia gọi tên mà thôi.
Như vậy chỉ có thức có thể thấy, mà mắt được tên.
Lại đây là lời bất tận, lẽ ra phải nói do cửa mắt thấy sắc.
Lại mắt là dụng cụ của người, người là giả danh tác giả cần
có dụng cụ.
Lại nhờ nhãn thức mà thấy, gọi là mắt thấy. Như người ngồi
trên giường cười gọi là giường cười.
Lại vì mắt liên hệ nghiệp của thức nên trong đó nói thức
nghiệp. Như tay chân v.v... liên hệ nơi người, nghiệp ở nơi người
gọi là nghiệp tay.
Lại nhãn thức làm nhân cho mắt, trong nhân nói quả. Như
nói người nào đó đốt xóm làng nào đó. Như nói ăn vàng, gọi ăn là
mạng. Cỏ là bò dê. Đều là trong nhân nói quả. Như vậy do mắt
sinh thức, vì có thể thấy sắc nên gọi là mắt thấy.
Lại thức gần mắt thấy sắc bèn gọi mắt thấy. Như lừa bò đến
gần nước bèn gọi bò ở nước. Lại vì mắt nên mới phân biệt nhãn
thức. Cho nên trong mắt giảm bớt nhãn thức nghiệp, như gậy Bàla-
môn.
Lại mắt có thể thành nhãn thức, cho nên trong đó nói nhãn
thức nghiệp, cũng như tốn hao của vật mà gọi người tốn hao, của
vật tăng trưởng, mà gọi người tăng trưởng.
Lại nhãn thức cùng với mắt hòa hợp, cho nên có thể thấy gọi
là mắt thấy. Như cây hợp cùng người mà có thể đánh, gọi là cây
đánh người. Như màu đen hợp nhuộm áo, nên gọi là áo đen.
Lại các pháp thay đổi nhau mà nói, như nói tuệ nghiệp trong
thụ v.v....
Lại phải nói do nhãn thức thấy sắc vì trong lời nói bớt cho
nên chỉ nói mắt thấy.
Lại như vị dược thạch tùy nhận một tên.
Thành Thật Luận Trang 124 Tuệ Quang Foundation
Ông nói nếu không có thể thấy sao gọi là căn. Nay sẽ đáp :
Mắt v.v... 5 pháp nầy hơn các sắc v.v... nên gọi là căn.
Hỏi : Mắt v.v... 5 pháp cùng các sắc v.v... là 10 pháp nầy đều
không biết trần, như lìa mắt v.v... thì thức không sinh. Nếu lìa sắc
v.v..., thức cũng không sinh, thì lấy gì gọi là hơn ?
Đáp : Vì các căn nên thức có sai khác, gọi nhãn thức nhĩthức
v.v.... Như trống với dùi hợp đánh mà có tiếng, vì trống hơn
dùi nên gọi tiếng trống, như đất cùng lúa v.v... hợp mà sinh mộng,
vì lúa hơn nên gọi mộng lúa. Các thức cũng vậy. Tùy nơi chỗ
nương, được tên khác nhau, không vì cảnh duyên mà hoặc gọi sắc
thức thì dễ sinh nghi cho đó là nhãn thức, hay là ý thức, hay là ý
thức duyên sắc.
Lại trong căn có thức, trong trần không thức.
Lại đối với trong mắt v.v... sinh tâm ngã si.
Lại chỗ sở y của thức là căn chứ không phải trần.
Lại trong danh số của tự thân là gọi căn chứ không phải gọi
trần.
Lại cái con người sử dụng là căn chứ không phải trần. Lại
căn là chúng sinh số chứ không phải trần.
Lại căn không thông lợi thì thức không sáng tỏ; nếu căn
thanh tịnh thì thức sáng suốt.
Lại vì các căn có thượng, trung, hạ, nên thức cũng tùy theo
mà có sai khác. Vì các lý do nầy nên gọi là thắng hơn.
Lại căn là không chung, chứ một trần có thể được nhiều
người chung sở hữu.
Lại căn và thức là một nghiệp quả báo, chứ trần không phải
như vậy.
Lại căn là nhân, trần là duyên. Sở dĩ vì sao ? Vì căn khác nên
thức mới có sai biệt, chứ không phải do trần. Như giống là nhân,
đất v.v... là duyên, tùy giống khác nên mới có sai khác. Vì nhân
thắng hơn duyên, nên được gọi là căn. Ông nói : Đệ tử ta đối với
Thành Thật Luận Trang 125 Tuệ Quang Foundation
việc vi tế, như mắt xem thấy. Đó là lời nói tùy tục. Vì người đời
nói trong mắt thấy, nên mới nói như mắt xem thấy. Như Phật nói
kệ :
Sáng suốt gần trí,
Như lưỡi biết vị.
Lưỡi tuy không biết,
Không đồng gáo bầu.
Ý nói nương nơi lưỡi sinh thiệt thức nên mới nói lưỡi biết
vị, nương nơi mắt sinh nhãn thức gọi là mắt thấy. Cho nên nói đệ
tử Phật như mắt xem thấy.
Ông nói do căn thủ trần, nhờ thức phân biệt. Điều này đã
đáp, vì căn là vô tri.
Lại các ông cũng không nói căn suy nghĩ biết ngã có tướng
sai khác. Cho nên các căn không thể thủ trần.
Lại biết của các ông không đợi căn sinh. Sở dĩ vì sao ? Vì đại
và ngã v.v..., trước có căn mà sau sinh.
Lại các đại v.v… các đế của các ông, vì không bản tính nên
lẽ ra đều không có. Bản tính của pháp ông biến làm đại v.v.... Bản
tính pháp là không. Điều này đã nói. Vậy thì không căn.
Phẩm 49 : Căn trần hợp nhau lìa nhau
Hỏi : Ông nói thức có thể biết chứ không phải căn biết. Điều
này đã thành. Nay vì là căn trần hợp nhau nên thức sinh, hay là lìa
nhau mà sinh ư ?
Đáp : Nhãn thức không đợi đến mới biết trần. Sở dĩ vì sao ?
Vì mặt trăng v.v... vật xa, cũng có thể thấy được; sắc của mặt
trăng không phải rời mặt trăng mà đi đến.
Lại nhờ hư không và ánh sáng nên thấy được sắc. Nếu mắt
đến sắc thì không có khoảng giữa trống không và ánh sáng, như
mắt bị đắp miếng thuốc dán, thì mắt không thấy được. Phải biết
nhãn thức không đến mà biết. Nhĩ thức 2 thứ hoặc đến nên biết
Thành Thật Luận Trang 126 Tuệ Quang Foundation
hoặc không đến mà cũng biết. Tai, tiếng kêu do đến nên biết,
tiếng sấm không đến mà cũng biết. Còn 3 thức kia đều đến căn
mới biết. Sở dĩ vì sao ? Vì hiện thấy 3 thức nầy căn với trần hòa
hợp mới có thể biết được. Ý căn vì không sắc nên không chỗ nào
không đến.
Hỏi : Ông nói nhãn thức không đến mà biết. Điều này không
đúng. Sở dĩ vì sao ? Vì trong mắt có ánh sáng; ánh sáng nầy có
thể đi thấy sắc. Ánh sáng là vật lửa. Mắt do hỏa sinh. Vì hỏa có
ánh sáng.
Lại nếu không đến có thể thấy, thì sao không thấy tất cả sắc ?
Vì nhãn quang đi có bị ngăn ngại không đến khắp nên không thấy
tất cả.
Lại trong kinh nói : Ba việc hòa hợp nên gọi là xúc. Nếu
không đến làm sao hòa hợp ?
Lại vì 5 căn đều là hữu đối. Bởi trần ngăn ngại nên gọi là
hữu đối. Mũi trong hương, lưỡi trong vị, thân trong xúc, mắt trong
sắc và tai trong tiếng nếu không đến thì không ngăn ngại.
Lại hiện tại biết sinh trong 5 trần. Cho nên 5 thức đến mới có
thể biết. Nếu không đến mà có thể biết, thì cũng phải biết sắc quá
khứ vị lai, mà thật không biết.
Lại do nhiều duyên hợp lại nên biết mới sinh. Cho nên nhãn
quang đi hợp với trần, vì nhãn quang đến sắc nên gọi là hòa hợp.
Tiếng cũng vì đến tai nên mới nghe. Sở dĩ vì sao ? Vì người ở chỗ
xa, nói nhỏ thì không nghe. Nếu tiếng giống như sắc không đến
mà biết, thì nói nhỏ tiếng, đáng lẽ cũng nghe được, mà thật không
nghe. Cho nên biết vì đến mới nghe.
Lại tiếng có thể nghe xa. Nếu không đến mà nghe thì không
có xa gần.
Lại tiếng vì bị vách ngăn, thì không nghe được. Nếu không
đến cũng nghe thì dù bị ngăn cũng phải nghe được.
Thành Thật Luận Trang 127 Tuệ Quang Foundation
Lại tiếng nghe xa thì không rõ, nghe gần thì rõ. Nếu không
đến mà nghe, thì không có sai khác. Vì đến tai nên có sai khác.
Cho nên biết có âm thanh đến nên mới nghe được.
Lại tiếng thuận gió thì nghe rõ, nghịch gió không rõ. Cho nên
biết có đến mới nghe được.
Lại tiếng có thể nghe hết, nếu không đến mà nghe, thì nghe
không hết. Như sắc không đến mà thấy nên thấy không hết. Vậy
mới biết tiếng không đồng như sắc. Nếu không đến vẫn nghe là
đồng với sắc. Như sắc thấy được một phần, thứ khác cũng đợi có
ánh sáng mới thấy. Tiếng lẽ ra cũng phải vậy, mà thật ra không
phải vậy. Cho nên không đến tai thì không nghe.
Ông nói tai v.v... căn trần không đến mà biết. Điều này
không đúng. Thanh, hương, vị và xúc, phải đi đến căn, nếu khiến
căn đi, thì điều này không đúng. Vì tai v.v... các căn không có ánh
sáng, chỉ một hỏa đại có ánh sáng cho nên không đi.
Lại tiếng nếu bị vật dày, đục và nước v.v... ngăn, tai cũng
vẫn nghe được. Nếu căn có ánh sáng thì không thể như vậy được.
Cho nên biết nhĩ căn không có ánh sáng.
Lại tai ở trong tối cũng biết trần được. Nếu căn có ánh sáng
thì tối không thể biết được.
Lại như căn có ánh sáng thì tối không thể biết được.
Lại như căn có ánh sáng, đợi có phương hướng mới biết,
thấy được một phương hướng, không thể đồng thời biết hết các
phương. Như người hướng về Đông, thì thấy sắc phương Đông,
không thấy các phương khác được.
Lại nói ý có thể đi, cho nên đến trần mới biết được. Như
trong kinh nói : Tâm này một mình đi xa, ẩn tàng không hình
dạng.
Lại tâm nầy tản đi như ánh sáng mặt trời chiếu. Lại tâm này
thường động, như cá mất nước.
Thành Thật Luận Trang 128 Tuệ Quang Foundation
Lại tâm này vốn tùy ý hành. Cho nên 6 trần đều đến mới biết
?
Đáp : Ông nói ánh sáng đi đến, điều này không đúng. Sở dĩ
vì sao ? Vì như người thấy xa thấy gốc cây trụi lá, nghi cho là
người. Nến ánh sáng đến, đâu có sinh nghi.
Lại như quá gần mắt thì không thấy được, như mắt đắp
miếng thuốc dán thì đâu thấy được. Cho nên dù cho ánh sáng đi
tới, nhưng vì quá gần nên cũng không thấy gì được.
Lại mắt lìa ánh sáng thì không thể thấy, quá gần thì ánh sáng
mất.
Lại nếu ánh sáng đến nơi kia, cớ sao thấy vật lớn mà không
thấy vật nhỏ ?
Lại trong v.v... sắc còn có phương hướng sai khác, nghĩa là
sắc phương Đông, phương Tây, cũng có xa gần sai khác nữa. Nếu
mắt đến nên biết, thì không sai khác. Sở dĩ vì sao ? Vì trong
hương, vị và xúc, không có sai khác đó. Cho nên ánh sáng mắt
không đến mà biết.
Lại ánh sáng mắt nếu đã thấy trước thì cần gì phải đi ? Nếu
trước không thấy thì đi đến chỗ nào ?
Lại sắc gần sắc xa đồng thời đều thấy đi, thì không thể như
vậy được. Cho nên ánh sáng mắt không đi.
Lại như ánh sáng đi, giữa đường lẽ phải thấy các sắc, mà thật
không thấy, cho nên biết là không đi.
Lại ánh sáng đi, ánh sáng ấy phải lìa thân, thì không gọi là
căn. Như ngón tay dứt lìa thân, thì không còn cảm giác của thân.
Lại không thấy có mắt nào có thể bỏ chỗ nương của mình, vì
không có giống loại thì không phải chỗ nương.
Lại ánh sáng mắt nầy không thể thấy gì, thì tức là không có.
Hỏi : Mắt nầy có ánh sáng, nhưng vì bị ánh sáng mặt trời làm
chói nên không thấy, như trong ánh sáng mặt trời các ngôi sao
không thể hiện ra được.
Thành Thật Luận Trang 129 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Nếu như vậy ban đêm phải thấy chứ ?
Hỏi : Sắc pháp cần nhờ sáng bên ngoài mới có thể thấy được.
Đêm không có ánh sáng ngoài, cho nên không thấy.
Đáp : Nếu ánh sáng nầy ngày đêm đều không thể có được,
vậy thì hoàn toàn không thấy rồi.
Hỏi : Mèo, chồn, chuột v.v... và các loại trùng đi đêm, ánh
sáng mắt nó có thể thấy mà ?
Đáp : Sắc có thể thấy nầy trụ ở trong mắt mèo v.v..., như sắc
sáng loài đom đóm là ở nơi thân, chứ không phải ánh sáng.
Lại như trùng đi đêm trong tối chúng có thể thấy mà người
không thấy được. Vậy thì chỉ các loài ấy có ánh sáng, các vật khác
không có. Pháp tự như vậy.
Lại ông nói : Nếu không đến có thể thấy, thì lẽ ra phải thấy
tất cả sắc. Nếu sắc ở trong cảnh của biết, thì thấy được. Như trong
kinh nói : Nếu mắt không hỏng, sắc ở trong cảnh của biết, như
vậy thì thấy.
Hỏi : Thế nào gọi là cảnh của biết ?
Đáp : Tùy theo lúc sắc và mắt hợp lại gọi là cảnh của biết.
Hỏi : Nếu mắt không đến, đâu có lúc nào hợp ?
Đáp : Điều này cũng đồng như ông nói mắt đi đến sắc, hoặc
có có thể thấy, hoặc không có thể thấy. Như mắt đi đến mặt trời
có thể thấy vầng mặt trời mà không thấy nghiệp của mặt trời. Tôi
cũng nói như vậy; mắt tuy không đi nếu sắc ở trong cảnh của biết
vậy là có thể thấy, nếu không ở cảnh của biết thì không thấy được.
Hỏi : Ánh sáng mắt đi xa, vì thế lực cùng tột nên không thấy
nghiệp của mặt trời ?
Đáp : Nếu vì thế cùng tột, nên không thấy nghiệp nhỏ, chứ
lượng của vầng mặt trời to, tại sao không thấy ? Điều này không
đúng.
Lại nếu ánh sáng đến kia có thể thấy thì cớ sao xa thấy vầng
mặt trời mà không thấy các làng nước gần Ba-liên-phất ư ? Nếu
Thành Thật Luận Trang 130 Tuệ Quang Foundation
trong ý ông cho rằng các làng ở Ba-liên-phất v.v... không ở cảnh
của biết nên không thấy, thì tôi cũng cho rằng mắt không đến,
cũng vì sắc không ở trong cảnh của biết cho nên không thấy được.
Hỏi : Đã biết các sắc ở trong cảnh của biết nên có thể thấy.
Nay tại vì sao thấy được và tại sao không thấy được ?
Đáp : Vì đời ngăn nên không thấy, như sắc quá khứ vị lai.
Vì ánh chói quá nên không thấy, như ánh sáng mặt trời che
các ngôi sao và ánh sáng ngọc lửa v.v....
Vì không hiển rõ nên không thấy được, như trong đêm có thể
thấy lửa, những thứ khác không thể thấy.
Vì thứ bậc hơn nên không thấy, như mắt Sơ thiền không thấy
sắc của Nhị thiền.
Vì tối ngăn nên không thấy, như tối trong bình.
Vì thần lực nên không thấy, như thân các loài quỷ.
Vì dày đục ngăn nên không thấy như sắc bên kia núi.
Vì xa nên không thấy, như các thế giớ.
Vì quá gần nên không thấy, như không tự thấy được lông mi.
Vì thứ lớp chưa đến nên không thấy, như bụi nhỏ trong ánh
sáng thấy được, ngoài sáng thì không thấy.
Vì nhỏ nên không thấy, như gốc cây trụi giống người không
phân biệt được.
Vì giống nhau nhiều nên không thấy, như cho một hạt gạo
vào trong đống gạo lớn. Và như một con quạ vào trong bầy quạ.
Trái lại với những cảnh như trên thì gọi là ở trong cảnh của biết.
Hỏi : Sao là gọi mắt hỏng ?
Đáp : Gió, nóng, lạnh v.v... các bệnh làm hỏng.
Như vì gió làm hỏng mắt thì thấy các sắc xanh đen xoay
tròn.
Nếu vì nóng làm hỏng mắt thì thấy các sắc vàng đỏ lửa cháy.
Nếu vì lạnh làm hỏng mắt thì thấy nước ao nhiều sắc trắng.
Nếu cực nhọc làm hỏng mắt thì thấy cây cối lay động.
Thành Thật Luận Trang 131 Tuệ Quang Foundation
Mệt mỏi làm hỏng mắt thì thấy sắc không rõ.
Dụi vào một mắt thì thấy 2 mặt trăng.
Bị quỉ quấy phá thì thấy việc quái lạ.
Vì sức của tội nghiệp thì thấy ác sắc. Vì sức của phúc nghiệp
thì thấy sắc tinh diệu.
Vì khí nóng hư mắt thì thấy các sắc đỏ lửa cháy.
Lại vì chúng sinh được mắt không hoàn toàn nên thấy không
đầy đủ.
Lại mắt kéo mây, che nên không thấy. Hoặc nhãn căn hỏng
nên không thấy. Đó gọi là mắt hỏng. Trái với trên, gọi là không
hỏng. Tai v.v... các căn cũng cần theo nghĩa này mà phân biệt.
Hỏi : : Đã hiểu 5 trần ở trong cảnh bị biết mới biết được. Pháp
trần thế nào gọi không ở cảnh biết?
Đáp : Vì bậc trên nên không biết, như tâm người Sơ thiền không
biết pháp Nhị thiền trở lên.
Vì căn vượt trội nên không biết, như tâm người độn căn
không biết pháp trong tâm người lợi căn.
Vì người vượt trội nên không biết, như Tu-đà-hoàn không
biết pháp trong tâm Tư-đà-hàm. Lực có sai khác nên không biết,
như có ý thức mà vô lực đối với pháp ấy. Bởi vì ý thức chăng biết
pháp nầy, như nhiếp tâm thì ý thức biết đối với pháp ấy.
Bởi vì ý thức không biết pháp nầy, như nhiếp tâm thì ý thức
biết được pháp. Loạn tâm ý thức không thể biết được, như ý thức
Bích-chi-phật biết được pháp, mà ý thức Thanh Văn không thể
biết được. Ý lực Phật biết được pháp, mà ý lực Thanh Văn và
Bích-chi-phật không thể biết được, như pháp thượng phẩm, ý thức
hạ phẩm không thể biết được.
Lại vì pháp trần vi tế nên không thể biết được, như trong Atì-
đàm nói : Những tâm nào có thể nghĩ ? Nghĩa là trước đã từng
trải dùng qua rõ ràng có thể nghĩ. Không phải không dùng qua,
như việc người chết sống. Pháp trước đã có dùng là có thể nghĩ,
Thành Thật Luận Trang 132 Tuệ Quang Foundation
mà chưa từng dùng thì không nghĩ được. Thánh nhân nếu đã dùng
qua, hoặc không từng dùng qua, v.v... đều có thể nghĩ biết, vì sức
Thánh trí. Lại vì thắng trần nên biết, như dùng tâm cõi Sắc, biết
pháp cõi Dục. Lại vì điên đảo chướng ngại nên không biết, như
thân kiến duyên 5 ấm không thấy vô ngã. Vô thường, khổ cũng
như vậy.
Lại vì sức mạnh chướng ngại nên không biết như người độn
căn bị người lợi căn làm chướng ngại, nên khiến tâm không biết.
Trái với trên, gọi là ở trong cảnh của biết.
Hỏi : Thế nào gọi là ý hỏng ?
Đáp : Điên cuồng quỉ ám, kiêu mạn, phóng túng, thất tâm,
hoặc say rượu, hoặc bị thuốc mê hôn muội loạn tâm. Hoặc có
tham giận v.v... các thứ phiền não bùng lên, phóng túng hư hoại
tâm, như thuật Bà-già, như người bắt cá vậy; hoặc bị bệnh Nanhã-
bà, có thể phá hoại tâm.
Lại như già bệnh chết cũng có thể phá hoại tâm. Nếu tâm ở
trong thiện pháp, hoặc không ẩn chìm trong pháp vô ký, gọi là
không hư hoại. Vì các nhân duyên như vậy, dù có trần cảnh, cũng
không biết được. Cho nên ông nói nếu không đến có thể thấy, cớ
sao không thấy tất cả sắc, điều này là không đúng.
Lại nữa ông nói 3 việc hòa hợp nên gọi là xúc, Đó là tùy theo
khi căn biết trần, thì gọi là xúc, không cần phải đến nhau. Sở dĩ vì
sao ? Vì ý căn cũng nói 3 việc hòa hợp, trong đó không do đến
nhau, mới gọi là xúc.
Lại ông nói vì đến nhau, nên gọi hữu đối, Điều này không
đúng. Vì đã nói không phải tướng đối vậy.
Lại ông nói hiện tại sinh biết thì thức thứ 6 cũng có, nhưng
chỉ biết hiện tại, như tha tâm trí.
Lại ông nói các duyên hợp nên biết sinh thì trong ý căn thứ 6
đã đáp. Nghĩa là tùy khi biết trần, gọi là hòa hợp, lại do ý duyên
pháp, ý thức sinh. Lời nói ấy chỉ là trống không, vì không đi đến.
Thành Thật Luận Trang 133 Tuệ Quang Foundation
Lại vì quyết định nên gọi là hòa hợp. Nhãn thức chỉ nương
mắt, không nương gì khác cũng không phải không nương, chỉ
duyên sắc, không duyên gì khác, cũng không phải không duyên.
Cho nên ý thức cũng như vậy.
Phẩm 50 : Thanh Văn
Ông nói người ở chỗ xa, nói nhỏ thì không nghe, nên biết
tiếng đến. Điều này không đúng. Sở dĩ vì sao ? Vì như ông nói :
Lời nói người ở chỗ xa là do tiếng, có tiếng nối nhau chuyển nhỏ
dần, rồi không sinh nữa, cho nên không nghe. Tôi cũng nói như
vậy. Mặc dầu tai không đến, nhưng tiếng nhỏ nên không nghe.
Lại như ông nói : Nhãn quang tuy đến mà chi thấy vầng mặt
trời, không thấy nghiệp của mặt trời. Tôi cũng nói như vậy. Tuy
tai không đến, vì tiếng lớn nên nghe được, nhỏ thì không nghe.
Lại như ông nói : Nhãn quang tuy đi xa, nhưng không thể
đến trăm ngàn vạn do-tuần. Tuy có thể thấysuốt sự ngăn ngại của
thủy tinh v.v..., mà sự ngăn ngại của vách v.v... thì không thấy
được. Và có thể thấy mặt trời mà không thấy nghiệp của mặt trời.
Tai tôi cũng như vậy, tiếng tuy không đến, vì to nên nghe được,
mà không phân biệt kỹ.
Lại ông nói thuận gió thì rõ. Điều này không đúng. Sở dĩ vì
sao ? Vì không có ai nghịch gió mà nghe được. Giống như hương
nghịch thì không nghe, tiếng cũng như vậy, nghịch gió lẽ ra
không nghe được chút nào, mà thật ra thì nghe được. Cho nên biết
tiếng không đến mà nghe. Nếu tiếng nghe được chút ít nhưng vì bị
gió ngăn.
Lại tiếng không phải như hương bị gió thổi, cần gì phải phân
biệt gió thuận hay nghịch ?
Lại như ông nói : Tiếng có thể nghe hết, cho nên biết đi đến
không đồng sắc. Điều này không đúng. Sở dĩ vì sao ? Vì lẽ thanh
pháp nghe hết, sắc pháp thì không. Muôn vật đều có đồng tướng
Thành Thật Luận Trang 134 Tuệ Quang Foundation
dị tướng; cho nên biết trần là đồng, biết hết không hết là dị, không
vì đến không đến mà cho là dị.
Lại nữa, tiếng của chuông linh có thể nghe trong chuông
linh. Làm sao biết ? Như người muốn nghe tiếng chuông linh, thì
đưa tai vào cái linh.
Lại tiếng là Cầu-na cho nên không đi, vì các Cầu-na là không
tác nghiệp.
Hỏi : Do tiếng nối nhau sinh Cầu-na của tiếng, như sóng
trong nước, gọi là tiếng đi ?
Đáp : Tiếng nầy cùng sóng dụ làm sao được ? Vì tướng nước
gió quạt động thì có sóng sinh, chứ ở trong tiếng lại có tiếng gì có
thể sinh tiếng khác ? Nếu ý ông bảo tiếng có thể sinh tiếng khác
thì cớ sao không tức nơi bản xứ mà sinh cũng không ở xứ khác
sinh ? Vì nước với nước đập vào nhau mới có sóng sinh. Nếu nói
rằng người là tạo tiếng, tai phải là nói, mà thật sự không phải. Cho
nên biết tiếng không nói mà đi.
Lại như tiếng chuông linh chuyển dần nối nhau sinh, mà cái
chuông linh không phải không tiếng. Nếu tiếng như sóng liên tục
sinh, thì trước tiên nước không có sóng. Như vậy do cái chuông
linh có tiếng, cái chuông linh phải không có tiếng, mà thật ra
không phải vậy. Cho nên biết tiếng ở trong cái chuông linh.
Lại như nắm cái linh thì tiếng dứt mất, nên biết tiếng thường
nương ở linh. Nếu tiếng nương nơi cái linh thì cũng lìa cái linh.
Vậy khi nắm cái linh tiếng phải diệt mất, khi buông tay nắm ra
tiếng phải còn.
Lại hiện trong lời nói không có như linh liên tục sinh, lại
trong tiếng có phương sai khác, nghĩa là tiếng phương Đông,
phương Tây, cũng có tiếng gần tiếng xa. Nếu tiếng đến tai, thì
không có việc sai khác nầy.
Lại nếu tiếng đến, thì thiên nhĩ vô dụng. Sở dĩ vì sao ? Vì
tiếng nhiều trăm ngàn thế giới làm sao đến được.
Thành Thật Luận Trang 135 Tuệ Quang Foundation
Lại như tiếng bắn, có thể trúng chỗ tiếng; nếu tiếng đến tai,
phải là tai tự bị bắn. Nếu không phải vậy, không gọi tiếng bắn.
Lại như tiếng xa gần có thể đều nghe được.
Lại vì tiếng niệm niệm diệt, nên không sinh tiếng khác,
không có thấy pháp nào niệm niệm diệt có thể sinh pháp khác
được ! Cho nên tiếng không sinh tiếng khác. Như nghiệp niệm
niệm diệt không sinh nghiệp khác được. Tiếng cũng như vậy,
niệm niện diệt nên chắng sinh tiếng khác. Nếu tiếng sinh tiếng
khác, nghiệp cũng phải sinh nghiệp khác. Vậy thì nghiệp không
sinh nghiệp, lời nói này hỏng.
Lại trong pháp của ông tiếng với tiếng khác trái nhau, trái
nhau vì đôi bên không ở đồng chỗ. Nếu tiếng với tiếng khác ở
đồng chỗ, thì không gọi trái nhau. Nếu không ở đồng chỗ, thì
tiếng trước diệt rồi, tiếng sau mới tự sinh. Cho nên tiếng không
sinh tiếng khác.
Lại tiếng là một pháp, làm sao có thể sinh tiếng khác; không
thấy một vật mà có có thể sinh.
Hỏi : Như hợp là một, có thể sinh thành vật, thì tiếng cũng
như vậy, tuy là một pháp, mà có thể sinh tiếng khác.
Đáp : Ông thấy hợp pháp là một, có thể có sinh được. Tiếng
cũng như vậy. Sắc cũng là một, lẽ ra phải sinh sắc khác. Hương vị
xúc cũng như vậy. Thế thì Đà-la-phiêu tức chủ vạn vật, hoặc có 5
tính 3 tính 2 tính.
Lại vì đồng nghiệp, nên tiếng với nghiệp đồng tướng. Như
nói tuy tiếng Cầu-na diệt cùng với nghiệp đồng, như lấy ngón tay
búng con dao, con dao động gọi là nghiệp, tức cũng có tiếng động
không rời con dao. Tiếng cũng như vậy, lấy tay nắm con dao thì
tiếng và động đều dứt. Cho nên biết nghiệp không sinh nghiệp
khác. Tiếng cũng phải không sinh tiếng khác được. Nếu ông phân
biệt do thế lực nghiệp ban đầu, lại sinh nghiệp sau. Như vậy cũng
từ tiếng ban đầu sinh thế lực, do thế lực đó sinh các nghiệp sau.
Thành Thật Luận Trang 136 Tuệ Quang Foundation
Trong đây không khác, do nghiệp có thể sinh thế lực, mà tiếng thì
không thể.
Lại vì nghiệp diệt nên không gọi là nhân Đà-la-phiêu. Sở dĩ
vì sao ? Vì nghiệp trước diệt rồi, Đà-la-phiêu mới sinh. Tiếng
cũng như vậy, tiếng trước diệt rồi tiếng sau mới tự sinh, tiếng sau
không nên có nhân. Nếu ông hãy còn bảo tiếng trước sinh tiếng
khác thì tiếng không gọi là niệm niệm diệt. Sở dĩ vì sao ? Vì khi
sinh tiếng nầy, là niệm thứ nhất, khi sinh tiếng khác là niệm thứ
hai, tiếng khác sinh rồi là niệm thứ ba, khi tiếng trước diệt là niệm
thứ tư. Cho nên không phải niệm niệm diệt.
Lại tiếng làm sao cùng tiếng khác trái nhau ? Hay là như độc
với thuốc độc trái nhau, thuốc với bệnh trái nhau ư ? Nếu không
như vậy, thì cái chuông linh không nên có 2 tiếng. Nếu trong một
niệm, chuông linh có 2 tiếng, thì trong ngàn niệm, cũng phải chỉ
có 2 tiếng.
Lại như không có Cầu-na, Đà-la-phiêu cùng lửa hợp lại mới
sinh, Cầu-na diệt, bản sắc đen lại sinh sắc đỏ. Tiếng cũng như
vậy, tướng trước diệt rồi, tiếng khác lại sinh. Nếu không phải vậy,
lẽ ra trong cái linh một niệm có 2 tiếng, mà thật không có 2 tiếng.
Cho nên không đúng.
Lại nếu tiếng sinh tiếng khác, thì không theo nhân. Mà thật
ra là do từ chuông linh sinh tiếng, vậy tức là theo nhân.
Lại tiếng khác nầy phải là tiếng chuông linh.
Lại tiếng khác nầy quyết không nên dứt, vì không có nhân
dứt.
Hỏi : Do từ tiếng ban đầu nầy, chuyển sinh tiếng nhỏ dần,
cho nên mới có dứt ?
Đáp : Vì sao chuyển sinh tiếng nhỏ dần ? Phải chăng tùy thế
đánh trúng, tùy trúng mới có tiếng đầu tiên. Phần các tiếng thứ 2
thứ 3 v.v..., cũng tùy đánh trúng sai khác mà có. Vì không nhân
Thành Thật Luận Trang 137 Tuệ Quang Foundation
đánh cho nên thế đánh giảm, vì thế đánh giảm nên tiếng chuyển
nhỏ dần.
Lại nếu nhân tiếng sinh tiếng khác thì cũng phải nhân sắc
sinh sắc trong bóng nước. Như vậy trăng dưới nước, tức gọi là
sắc. Vậy thì kinh của Vệ-thế sư, tất cả đều bị hủy bỏ.
Lại các ông nói do lìa sinh tiếng. Điều này cũng không đúng.
Sở dĩ vì sao ? Vì không phải do tay lìa sinh tiếng, mà hợp mới có
tiếng. Dùng dao, tre v.v... các phần đụng vào nhau, khi lìa sự
chạm nhau thì có tiếng.
Lại chúng tôi không nói hợp sinh tiếng. Sở dĩ vì sao ? Vì
ngón tay hợp với hư không thì không sinh tiếng. Nếu ngón tay
không chạm nhau cũng không sinh tiếng, cho nên không do hợp
mà sinh tiếng. Chỉ do 4 đại hoặc hợp hoặc lìa thì có tiếng sinh;
như các nghiệp của các đại thường còn, các đại không bỏ mà đi.
Phẩm 51 : Nghe mùi
Hỏi : Ông nói hương đến mũi thì nghe. Đó cũng không
đúng. Sở dĩ vì sao ? Vì nếu như tiếng có thể nghe xa, thì hương ở
chỗ xa cũng có thể nghe được. Trong ý ông hoặc bảo do vật có
hương này nối nhau sinh nhân của hương. Trong tiếng nối nhau,
đã nói lỗi ấy mà ?
Đáp : Hương làm sao nghe được ?
Hỏi : Phần rất nhỏ trong hoa bay đi, hương cũng nương nhờ
đó mà bay đi theo ?
Đáp : Không phải. Nếu phần của hoa bay đi, thì phần của hoa
là sắc, lẽ ra phải thấy được, mà thật sự không thấy, nên biết không
đi.
Hỏi : Phần sắc của hoa nầy vì vi tế nên không thấy ?
Đáp : Hương cũng vi tế nên không nghe được.
Thành Thật Luận Trang 138 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Thế lực hương lớn mạnh nên nghe được, như mùi
hưng-cừ trong bát canh, tuy không thấy sắc, nhưng nghe được
hương ?
Đáp : Nay hiện thấy sắc theo phần của hoa cũng nghe được
hương, phần vi tế trong sắc, cớ sao không thấy ?
Lại như đốt hoa, hương nó tăng thêm, sắc chỉ có diệt cho nên
hương không phải phần của hoa.
Lại nếu hương là phần của hoa, lẽ ra cũng nghe chút ít, mà
thật ra là không nghe.
Lại nếu là phần của hoa bay đi, thì hoa phải tổn giảm, mà
thật ra không giảm. Tại sao biết ? Vì như một cân uất kim, hương
thường bay đi, mà vẫn thường đủ một cân.
Hỏi : Chỗ tổn giảm ít nên không biết được, như nước trong
bình rơi đi một giọt, nào có biết giảm ?
Đáp : Nếu thường giảm, thì hoa cũng không còn huống là
không biết giảm.
Lại nếu hoa thường giảm thì không thấy nghe được, vì
thường giảm nên niệm niệm sinh diệt. Niệm niệm diệt cho nên
phải sinh ra Đà-la-phiêu khác, huống lại không sinh Cầu-na khác
ư ? Mà thật hoa nầy có thể thấy nghe được. Cho nên biết phần của
hoa không đi.
Hỏi : Nếu chỉ hương bay đi, hương cũng phải hết, vì thường
tổn.
Lại vì hương không phần nên lẽ ra phải hết cả.
Đáp : Chúng tôi cho phần của hoa đi theo gió, cũng không
cho gió thổi hoa hương đi. Chỉ bởi hương trong hoa, lại sinh
hương khác. Bởi gió hương này, lại sinh hương nữa, đi đến mũi
nghe, cho nên không có lỗi đây. Vì sao biết ? Như nghe hương
trong mè vừng không phải hương của phần của hoa, vì đem hoa
xông ướp. Nếu là phần của hoa, làm sao xông mè vừng được ?
Cho nên biết hương này không ở trong phần của hoa.
Thành Thật Luận Trang 139 Tuệ Quang Foundation
Lại hoa hương nầy hoặc xoa hoặc bóp, hoặc cho vào trong
nóng, thì hương kia diệt mất. Nếu ở trong mè, thì không mất
được.
Lại hoa hương này, chỉ ở trong dầu, không ở trong cặn, nên
không phải phần của hoa.
Lại hương này còn lâu trong mè, mà trong hoa không còn lâu
được. Nên không phải phần của hoa.
Hỏi : Nếu không phải phần của hoa thì hương của vật gì ?
Đáp : Là gọi hương mè, nhân hoa mà sinh, lìa mè không
được. Như vậy nhân gió hoa hương, lại sinh hương khác, Điều
này đã rõ.
Lại nữa, hoặc có gió nóng gió lạnh cảm giác được, mà sắc
lửa nước trong ấy không thể thấy được. Nên phải biết trong gió lại
sinh xúc khác, mà không phải thổi phần nước lửa đi. Nếu cảm xúc
nóng trong gió là thuộc lửa, xúc lạnh thuộc nước, xúc không
nóng, không lạnh, thì phải biết thuộc đất. Như sắc nước lửa không
thể được thì sắc đất vì vi tế nên cũng không thể được. Nếu như
vậy thì gió không có xúc, tức là có lỗi. Người ta cũng có thể nói
rằng vì như gió hợp với nước lửa nên mới có xúc lạnh nóng. Như
vậy vì gió hợp với đất nên có xúc không lạnh không nóng. Trong
đây không có nhân duyên quyết định phần nào nước, phần nào lửa
được theo gió mà đi, mà phần đất không đi. Như trong kinh ông
nói có xúc, xúc thân mà không phải là đất nước lửa. Cho nên biết
gió là tướng không thấy được. Vì lời nói nầy nên 3 thứ xúc đối
với gió hoặc là khách tạm hoặc không phải khách. Sở dĩ vì sao ?
Vì 3 thứ xúc nầy, nếu tướng không thấy thì là gió.
Lại trong ý ông nếu cho rằng vì thấy có xúc lạnh nóng trong
nước lửa là không phải phần của gió. Như vậy vì thấy có xúc
không lạnh không nóng trong đất thì lẽ ra cũng không phải là
phần của gió. Nếu trước riêng thấy có xúc gió không hợp với đất
thì lẽ ra nên nói xúc nầy thuộc gió, mà thật bam đầu không thấy,
Thành Thật Luận Trang 140 Tuệ Quang Foundation
làm sao được biết không lạnh không nóng chỉ là xúc gió mà
không phải phần của đất ư ?
Lại chúng tôi cũng nói sắc hương vị xúc chỉ là vật đất chứ
không phải nước v.v... mà có được. Ý ông nếu cho rằng thấy trong
nước v.v... có sắc v.v... , vì cùng hợp với đất, nên ở trong nước
v.v... thấy không phải trong nước v.v... có được, như tướng nóng
trong nước. Trong đó không có nhân quyết định. Vì nước hợp với
lửa nên có tướng nóng, mà hợp với đất thì không có tướng sắc
v.v.... Ban đầu không từng thấy riêng có nước v.v... không hợp
với đất, nếu đã từng thấy thì nên nói sắc nầy thuộc nước, chứ
không phải thuộc đất mà có, lẽ ra cũng phải phân biệt nước v.v...
như vậy.
Hỏi : Tại sao trong gió sinh được hương khác, mà không sinh
được xúc của sắc vị khác ?
Đáp : Pháp của gió là phải vậy. Pháp có nhiều thứ không thể
nghĩ bàn. Các vật khác sinh được xúc của sắc vị. Như hoa xông
mè sinh vị cay đắng. Quả A-ma-lặc ngâm vào sữa, tức trở thành
quả ngọt. Yến chi xông hột Ma-đầu-lâu-già thì sinh lá đỏ. Màu
xanh pha với thư hoàng thì thành màu lục. Màu xanh đỏ hợp lại
biến thành sắc tím v.v... như vậy với các vật khác, sinh mùi sắc
khác.
Hỏi : Ông nói trong gió lại sinh hương khác. Điều này không
đúng. Sở dĩ vì sao ? Như trong nhà không có gió mà nghe được
hương ở xa.
Lại hương ngược gió nghe được, như mùi cây thiên thụ Balê-
chất-đa. Cho nên biết trong gió không sinh hương khác, chỉ là
do hương lại sinh hương khác.
Đáp : Do có 2 thứ hương. Nếu trong gió lại sinh hương gió,
nếu không gió thì nhân hương sinh hương. Đây nào có lỗi chi ?
Trước ông nói vì hương có thể nghe xa nên không phải đến. Điều
Thành Thật Luận Trang 141 Tuệ Quang Foundation
này không đúng. Sở dĩ vì sao ? Vì không đồng sắc vậy. Nếu
không đến mà nghe thì cùng đồng với sắc không đến mà nghe.
Lại như xa thấy khói hương, thì không nghe được, khi đến
mới nghe. Cho nên biết không đến thì không nghe.
Lại vì không có phép thiên tỹ, nên biết có đến mới nghe. Nếu
không đến mà nghe, thì phải có thiên tỹ như thiên nhãn vậy.
Phẩm 52 : Biết xúc
Hỏi : Xúc cũng phải không đến mà biết được ? Sở dĩ vì sao ?
Vì mặt trời xúc ở xa.
Đáp : Mặt trời xúc làm sao biết được ?
Hỏi : Phần của hỏa từ mặt trời đi đến thân mới biết.
Đáp : Nếu từ mặt trời có phần của hỏa đi đến, khi trời lặn
phần của hỏa phải còn, mà thật không còn. Nên biết không đến.
Hỏi : Mặt trời tuy lặn mà nóng hãy còn, vì xúc nên biết.
Đáp : Nếu như vậy, thì hỏa không sắc. Trong kinh ông không
có hỏa không sắc, đó tức là lỗi.
Hỏi : Trong ấy có sắc vi tế.
Đáp : Hỏa sắc nhiều mà xúc ít, như thấy sắc đèn mà chưa
cảm biết xúc được.
Hỏi : Xúc quyết định đến mới biết hay sao ?
Đáp : Xúc quyết định đến mới biết. Sở dĩ vì sao ? Vì như
nhân hương trong gió, có hương khác sinh. Như vậy nhân mặt trời
lại có hỏa sinh.
Hỏi : Mặt trời lặn sao không thấy hỏa sắc ?
Đáp : Hoặc có hỏa chỉ xúc mà không sắc, như khí nóng khi
mặt trời đã lặn, như người bị bệnh sốt hỏa nương nơi thân, như
hơi ấm trong nhà khi hỏa đã diệt. Các nóng trong nước sôi lửa
v.v..., đều có xúc mà không sắc. Cho nên hỏa hoặc có sắc không
sắc, phải tin nhận điều này.
Thành Thật Luận Trang 142 Tuệ Quang Foundation
Phẩm 53 : Về ý
Ông nói ý đi. Điều này không đúng. Sở dĩ vì sao ? Vì ý niệm
niệm sinh diệt, như gió như nghiệp. Pháp mà niệm niệm diệt, thì
không có tướng đi.
Lại như ý đi, thì nếu đã biết rồi đi, hay không biết rồi đi, cả
2 đều không đúng. Nếu trước đã biết rồi thì cần gì phải đi, nếu
không biết mà đi, thì đi đến nơi nào ?
Lại nếu tâm ở nơi mắt, làm sao lại đến nơi tai được ? Nếu
tâm sinh ý niệm rằng ta sẽ đến tai, tức là ý nghĩ tai rồi. Nếu nói
muốn nghe tiếng, như vậy tức là ý niệm về tiếng. Nếu tâm ở nơi
mắt thì không sinh ý niệm được. Ở các căn khác cũng vậy. Cho
nên biết ý không đi.
Lại như người trước đã từng thấy thành thị xóm làng v.v...,
nay nghĩ theo việc đã thấy thuở trước, mà không biết hiện tại, nên
biết ý không đi.
Lại nếu pháp mà đi, thì phải trước gần sau xa, nhưng nay xa
gần đều nghĩ đến, cho nên biết là không đi.
Lại nếu pháp mà đi thì giữa đường phải biết các trần, như
người đi trên đường biết sắc các vật, mà ý thì không phải vậy.
Lại như tâm có thể biết không, nghĩa là quá khứ, vị lai, sừng
thỏ, lông rùa, chân rắn, sắc màu của gió, mùi thơm của muối
v.v..., cũng biết đều không đi đến. Cho nên biết không có đi.
Lại nếu tâm đến duyên, thì không nên có không biết, biết
nghi, biết tà, mà thật ra là có. Cho nên biết không đi đến.
Lại tâm duyên Nê-hoàn, nếu tâm đi đến, thế là đem hữu vi
đến trong vô vi, vậy là không đúng. Rồi lại từ vô vi ra nhập vào
trong hữu vi, đó cũng không đúng.
Lại nếu sinh tâm nghĩ có đời sau, tâm liền đến đời sau, thì
thân này phải chết, không còn sống lại được. Cho nên không đi.
Lại tâm nghĩ vị lai, tức đến vị lai, không thể đem phép hiện
tại mà làm vị lai.
Thành Thật Luận Trang 143 Tuệ Quang Foundation
Lại tâm nghĩ quá khứ tức ở quá khứ, không thể đem pháp
quá khứ và vị lai mà làm hiện tại. Nên biết không đi.
Lại do dục tâm mà sắc mặt biến khác, tâm giận giữ v.v...
cũng vậy. Nếu tâm đến chỗ khác, thì sắc mặt phải không khác.
Nên biết không đi.
Lại tâm đang ở trong cảnh duyên, gọi đó là thụ. Ba thứ thụ
nầy, hoặc khổ hoặc vui hoặc không khổ không vui. Nếu tâm đến
chỗ khác, thì không có mấy thứ thụ nầy. Cho nên biết không đi.
Lại tâm nương nơi thân, như trong kinh nói : Tâm nương
danh sắc. Cho nên không rời thân đi đến chỗ khác.
Lại thân hợp với thức nên gọi là thân. Nếu tâm ở chỗ khác,
thì thân không thức. Cảnh duyên hợp với thức mới gọi là có thức.
Cho nên không đi.
Hỏi : Tâm trong chiêm bao đi đến các phương ?
Đáp : Không phải. Như hành vi mộng tinh trong chiêm bao
và các việc v.v... là đều do thân điên đảo nghĩa là ở nơi nào đó,
mà thật ra không đi đâu.
Lại hành vi trong chiêm bao đều là hư vọng, như người nằm
mơ thấy uống nước mà hoàn toàn không trừ được khát. Lại chiêm
bao hành dục v.v... không gọi là đọa. Cho nên biết trong giấc mơ
ý cũng không đi.
Lại tâm chỉ ở trong pháp đã từng thấy nghe hay biết, chứ
không đi đến pháp nào khác. Nếu có đi đến, chắc cũng phải biết
pháp khác.
Hỏi : Có vị thần nào sai khiến ý có thể đi đến các phương
khác ?
Đáp : Điều này ra sao trong Phẩm phá thần sẽ phân biệt rõ.
Cho nên biết ý không đi.
THÀNH THẬT LUẬN
CÒN NỮA


 THÀNH THẬT LUẬN ( Quyển 5 )

Thành Thật Luận Trang 144 Tuệ Quang Foundation
Ha-lê-bạt-ma tạo luận
Cưu-ma-la-thập dịch
Nguyên Hồng dịch tiếng Việt
Phẩm 54 : Căn không quyết định
Hỏi : Các căn là quyết định, hay không quyết định ?
Đáp : Thế nào là quyết định, thế nào là không quyết định ?
Hỏi : Do cảnh sở tri, và nhân của mắt v.v... các căn, gọi là
quyết định ?
Đáp : Nếu như vậy căn không quyết định. Sở dĩ vì sao ? Vì
các căn không phải cảnh sở tri và nhân của mắt v.v… .
Hỏi : Tròng mắt lưỡi và thân, dùng mắt thấy được; còn tai và
mũi ở trong nên không thể thấy được.
Đáp : Người chết cũng có tròng mắt lưỡi thân mà thật không
có căn.
Hỏi : Tròng mắt có 2 thứ : căn và phi căn. Người chết diệt
mất căn có tròng, phi căn còn lại.
Đáp : Căn có tròng không thể thấy nó được. Cho nên không
phải sở đắc của mắt v.v.... Như trong kinh nói : Năm căn là sắc
không thể thấy mà có đối. Nếu như có thể thấy thì có thể phân
biệt được tròng mắt này là căn, tròng mắt này là phi căn.
Hỏi : Nếu trong kinh nói : Do 4 đại thành sắc thanh tịnh, gọi
là 5 căn. Thế sao lại nói 5 căn là sắc không thể thấy mà có đối ư ?
Đáp : Vì cho nên có thể nghi nghiệp lực là không thể nghĩ
bàn. Vì nghiệp lực nên 4 đại biến thành căn. Phật sợ các đệ tử cho
rằng 5 căn này do từ nghiệp sinh, nên mới nói đó là sắc.
Lại vì ngoại đạo nói 5 căn từ ngã mà sinh. Ngã tức không
phải sắc.
Lại nói 5 căn biết lớn biết nhỏ, nên không quyết định. Người
đó cũng cho vô sắc là căn, cho nên Phật nói các căn là sắc, do sắc
Thành Thật Luận Trang 145 Tuệ Quang Foundation
v.v... làm thành. Hoặc bảo do sắc v.v... mà thành, thì phải thấy
được, nên mới nói không thể thấy, cũng không phải sở đắc của tai
v.v... các căn. Hoặc bảo nếu vậy thì lẽ ra không có đối, cho nên
nói là có đối, là đối với các trần. Nếu sắc có hình có đối, thì đó là
thô sắc, chỉ bị thấy của mắt.
Lại vì ngoại đạo nói : Các số lượng, một khác, hợp lìa, tốt
xấu, tướng chung tướng riêng các tác nghiệp, và Đà-la-phiêu tuy
không phải sắc pháp, nhưng cũng là thấy được. Cho nên Phật nói
rằng : Trong những thứ ấy, chỉ có sắc thấy được mà thôi, ngoải ra
không gì thấy được. Ngăn ngại nơi tay v.v..., gọi là có đối.
Hỏi : Nếu như vậy đều phải bị xúc ?
Đáp : Tuy đều ngăn ngại, nhưng không phải tất cả chỗ đều
sinh. Thân thức tùy theo mà sinh biết, nên phân biệt được các căn.
Lại nữa, các căn thật không quyết định. Sở dĩ vì sao ? Vì
pháp nếu quyết định, như tay lấy vật, chỉ một tay lấy, còn mắt có
thể thấy lớn nhỏ, cho nên không phải quyết định.
Lại nếu vật quyết định, thì tiếp xúc là có tác dụng, như chạm
lửa thì cháy, chạm dao thì đứt, còn mắt ở xa có thể thấy, nên
không phải quyết định.
Lại nếu pháp quyết định, thì ngăn pháp quyết định, như tay
ngăn tay, mà mắt đối với trong thủy tinh, mây mù v.v..., cũng
không ngăn ngại, nên không quyết định.
Lại căn nếu như quyết định, thì phải ở trong thân, vì ở trong
thân nên tuy hợp với ý, cũng phải không thấy trần cảnh bên ngoài,
mà thật ra thì có thể thấy, nên không quyết định.
Lại pháp nếu quyết định, thì có thể đếm là 5 căn, nhưng mắt
tai mũi đều có 2, với lưỡi và thân thành có 8, nên không quyết
định. Chỉ có xứ là nhất định, mà căn không nhất định.
Lại mắt trái thấy, mắt phải cũng biết, không phải thấy khác
biết khác, vì căn không tướng trái phải, nên không quyết định.
Thành Thật Luận Trang 146 Tuệ Quang Foundation
Lại vì pháp căn trần hợp, là không thể được, nên không
quyết định.
Lại được quyết định thì sắc v.v... các pháp không có thể biết
được căn, mà căn thì biết được pháp, nên không quyết định.
Hỏi : Nhãn quang có thể thấy lớn nhỏ và cũng có thể đi xa
thấy sắc không bị ngăn ngại, giống như ánh sáng mặt trời lìa thân
có thể thấy. Ánh sáng do chỗ quyết định của 2 mắt nên hợp làm
một, mới có thể thấy sắc.
Lại mắt là một, tai mũi ở tại trong, nên không thể phân biệt.
Cho nên ông nói thấy khác biết khác, lời nầy bị hỏng.
Lại thần biết chứ không phải căn, căn chỉ là chỗ dùng mà
thôi.
Lại ông nói pháp hợp không thể được. Điều này đã đáp rồi,
nghĩa là ánh sáng mặt trời v.v..., tai v.v... các căn, vì hòa hợp chặt
chẽ, nên cũng không thể được. Như cây ghép sát kín, xem không
biết được là ghép.
Lại vì do thần nên biết không phải các căn; và căn do 4 đại
mà thành, vì 4 đại không biết nên các căn cũng không biết. Lại
như cái bình do vi trần mà thành, vì vi trần không tri giác nên
bình cũng không tri giác.
Lại không biết khác với trần, cho nên biết không có tri giác.
Đáp : Ông nói vì ánh sáng đi, nên căn là quyết định. Ông cho
ánh sáng là căn, nhưng ánh sáng không phải quyết định nên căn
cũng không quyết định.
Lại ánh sáng nầy không có, đoạn trước đã phá rồi.
Lại ông nói một mắt. Điều này không đúng. Một mắt thấy
khác 2 mắt thấy khác. Nếu hỏng một mắt thì thấy không rõ ràng.
Mắt trái mắt phải này trước đã giải đáp rồi.
Hỏi : Nếu một mắt có thể sinh thức, thì 2 mắt chỉ nên cần
một mắt, dùng mắt thứ 2 làm gì ?
Thành Thật Luận Trang 147 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Vì sống mũi ngăn cách nên không được là một, dù
không ngăn cách cũng không được một, như các ngón tay v.v....
Ông nói là chỗ dùng của thần. Điều này trước bác bỏ rồi. Thần
không dùng được. Ánh sáng mặt trời v.v..., trước cũng bác rồi.
Người nói hòa hợp chặt chẽ nên không thấy. Điều này cũng
không đúng. Sở dĩ vì sao ? Vì pháp nếu quyết định thì không hòa
hợp, vì thể khác nhau, như ghép cây tuy kín mà cũng vẫn thấy
đường ghép. Căn trần hòa hợp không thấy như vậy. Ông nói vì
thần nên tri giác. Sẽ nói về vô thần. Ông nói các đại thành căn.
Điều này không đúng. Nghiệp lực biến đại làm căn thì có sai
khác.
Hỏi : Căn là quyết định. Sở dĩ vì sao ? Vì 4 đại làm thành mà
4 đại là quyết định nên căn cũng quyết định.
Lại vì mắt v.v... các căn là quyết định, nên đại v.v... có thể
làm lợi ích.
Lại đại biến làm căn, vì đại quyết định nên pháp bị biến cũng
phải là quyết định.
Lại tương đương căn có trần, tương đương trần có căn. Nếu
không quyết định, thì không tương đương nhau được. Phải như ý
pháp, nên biết quyết định.
Lại người đời đối với tròng mắt v.v... trong pháp quyết định
gọi là các căn.
Lại căn biết 5 thứ pháp quyết định, không phải như ý v.v...,
nên gọi là quyết định.
Lại căn biết hiện lượng, nên gọi quyết định.
Lại căn biết hiện tại, ngoài ra đều do so sánh mà biết, cho
nên gọi là quyết định.
Lại căn biết có duyên, ý cũng không duyên, như biết quá khứ
v.v…
Lại căn trần hòa hợp mới sinh căn biết pháp, nên phải dùng
căn quyết định đôi trần quyết định. Cho nên biết là quyết định.
Thành Thật Luận Trang 148 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Ông nói căn do đại làm thành gọi là quyết định. Tuy
đều do các đại mà có căn và phi căn, như vậy là hoặc có quyết
định hoặc không quyết định. Ông nói lợi ích. Lợi ích là đối với cái
biết, chứ không phải giúp cho căn.
Lại nói đại biến thành căn. Biến cũng là biết, chứ không phải
lợi ích cho căn.
Lại 4 đại thanh tịnh gọi là căn, nên không quyết định. Ông
nói căn trần tương đương nhau cũng là ý. Chắc chắn căn không
phải cái biết. Cho nên các thứ kia đều là sức của ý khác nhau.
Lại tuy nói 6 thức, nhưng chủ chốt do ý thức quyết định. Như
khi thấy 4 đế hiện biết các pháp, mà chính quán pháp tính đều do
ý thức.
Lại như vòng lửa xoay tròn, trò huyễn hóa lửa cháy thành
Càn-thát-bà đều là không mà vọng thấy có. Thấy sắc cũng vậy.
Cho nên mắt v.v... đều là tà duyên. Ông nói : Căn trần hợp nên
sinh ra cái biết. Hoặc đến nên biết, hay không đến mà biết, đều
trước đã giải đáp rồi.
Phẩm 55 : Tướng của sắc nhập
Lại nói xanh vàng các sắc gọi là sắc nhập. Như trong kinh
nói : Nhãn nhập diệt sắc tướng lìa, chỗ nầy cần biết.
Hỏi : Có người nói nghiệp lượng cũng là sắc nhập. Sở dĩ vì
sao ? Như trong kinh nói đen trắng dài ngắn, thô tế các sắc ?
Đáp : Hình v.v... là sai biệt của sắc. Vì sao biết được ? Vì
nếu lìa sắc thì không sinh tâm biết hình lượng v.v.... Nếu hình
v.v... khác màu, lìa sắc cũng phải sinh tâm, mà thật ra không sinh.
Cho nên biết không khác.
Hỏi : Trước sinh tâm biết sắc, sau mới sinh tâm biết hình. Sở
dĩ vì sao ? Vì tâm biết đen trắng vuông tròn không sinh đồng thời
?
Thành Thật Luận Trang 149 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Vì các tướng dài ngắn đều duyên nơi sắc nên sinh
trong ý thức, như trước thấy sắc nhiên hậu ý thức mới sinh nghiệp
tướng nam nữ. Cũng vì các pháp hữu vi niệm niệm diệt nên không
có diệt pháp nào không đi, vì đi nên gọi là nghiệp.
Hỏi : Đi gọi là thân nghiệp, nếu không đi thì không thân
nghiệp ?
Đáp : Vì danh tự thế tục nên có thân nghiệp, chứ không phải
đệ nhất nghĩa.
Hỏi : Nếu trong đệ nhất nghĩa không có thân nghiệp, thì
trong đệ nhất nghĩa cũng không có tội phúc. Vì không tội phúc
nên cũng không quả báo ?
Đáp : Pháp khi khởi ở chỗ khác, hoặc lợi hoặc hại người
khác nên thành có tội phúc, không nên nạn vấn như vậy.
Phẩm 56 : Tướng của tiếng
Hỏi : Vì sao không nói do tiếng thành đại ?
Đáp : Tiếng rời sắc v.v..., sắc v.v... không rời nhau, cho nên
không nói. Lại tiếng không như sắc v.v... thường nối nhau, lại
cũng không cùng sắc v.v... đồng sinh.
Lại cùng sắc v.v... sinh khác. Sở dĩ vì sao ? Vì sắc v.v... sinh
lẫn nhau lần lượt rễ mộng tuần tự mà có. Tiếng thì không như
vậy.
Lại tiếng từ vật được tên, như nói tiếng cái bình, không nói
tiếng trong bình.
Lại người hoặc nói thấy cái bình, hoặc nói thấy màu sắc cái
bình. Ban đầu không nói nghe cái bình, mà chỉ nói nghe tiếng cái
bình.
Lại nữa, vì đời trước chúng sinh trồng nghiệp nhân yên lặng.
Nếu muôn vật đều thường có tiếng động, thì không lúc nào tạm
thời yên lặng. Cho nên tiếng không phải thành nhân các đại.
Thành Thật Luận Trang 150 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Vật đều có tiếng. Tại sao biết ? Vì động thì tiếng phát,
các đại thường động nhau, nên tất cả đều phải có tiếng ?
Đáp : Không phải muôn vật động nhau đều là nhân của tiếng.
Sở dĩ vì sao ? Vì mắt thấy 2 ngón tay động nhau mà không sinh
tiếng được.
Hỏi : Trong đó có sinh tiếng, vì nhỏ nên không biết ?
Đáp : Không sinh, cho đến tiếng nhỏ cũng không nghe. Nếu
nói có tiếng, thì không hiện tín. Người ta cũng có thể nói trong
nước có tiếng, vì nhỏ nên không nghe. Trong lửa có vị, trong gió
trong không, đều có sắc v.v... mà thật ra không có. Cho nên không
phải tất cả động nhau đều có thể sinh tiếng.
Hỏi : Người đời thường nói tiếng là Cầu-na của hư không.
Nay do đâu mà biết từ 4 đại sinh ?
Đáp : Nay hiện thấy tiếng sinh từ 4 đại, nên chúng tôi chỉ tin
hiện thấy.
Lại nói tiếng chuông tiếng trống, cho nên biết là tiếng
chuông trống.
Lại vì 4 đại khác nên có tiếng sai khác, như tiếng chuông
trống.
Lại vì 4 đại khác nên có tiếng sai khác, như tiếng chuông
trống khác nhau.
Lại như đánh đồ bằng đồng thì đều có tiếng động, tay nắm
thì đều dứt tiếng, nên phải biết tiếng đồ vật động cũng như vậy.
Lại sắp muốn có tiếng, tất chuẩn bị chất tượng 4 đại. Cho
nên biết tiếng từ 4 đại sinh ra.
Lại vì nghiệp nhân duyên nên tiếng có sai khác, như tiếng
chúng sinh hoặc hay hoặc dở, không nên vì nghiệp duyên mà sinh
Cầu-na hư không. Cho nên không phải. Lại vì tướng của nhân.
Tướng của nhân là tùy theo pháp nào đó nên mới có, tức gọi là
nhân. Như vậy nhân nơi đại mà có tiếng, không thì không tiếng.
Như có lửa thì nóng, không lửa không nóng; phải biết do lửa có
Thành Thật Luận Trang 151 Tuệ Quang Foundation
nóng; do đại sinh tiếng cũng như vậy. Như hư không có nóng, hư
không vẫn tồn tại, mà khi nóng hoặc khi không. Phải biết hư
không không phải nhân của nóng, tiếng cũng như vậy. Như có hư
không có tiếng, hư không vẫn tồn tại, mà tiếng hoặc có khi không
có. Cho nên biết không phải nhân.
Lại tiếng là hư không Cầu-na, đây không thể tin được, vì
trong hiện sự, trước không thấy nhân của tiếng, với hư không
cũng không lấy gì so sánh để biết, vì trong đó không so sánh
được.
Lại trong các kinh sách phần nhiều cũng trái nhau, như vậy
không một điều nào đáng tin, cho nên biết không đúng.
Phẩm 57 : Tướng của hương
Hỏi : Đa-ma-la-bạt v.v... là các hương hợp lại nên hương
khác với hương gốc. Vậy nên các hương nầy lại sinh hương khác
chăng ?
Đáp : Bởi hòa hợp nên sinh hương khác, như màu xanh vàng
pha vào nhau lại sinh màu lục.
Lại vì nhiều thứ nghiệp nhân duyên, nên sinh nhiều thứ
hương.
Hỏi : Đệ tử phái Ưu-lâu-khư bảo hương chỉ là Cầu-na của
địa. Điều này thế nào ?
Đáp : Không có Đà-la-phiêu, điều này đã nói rõ, nên biết là
không đúng.
Lại như người phái Vệ-thế sư bảo hợp kim chì thiếc, chì,
thiếc, vàng, bạc, đồng v.v..., đều là hỏa vật, mà trong đó có
hương. Cho nên biết không phải chỉ địa mới có.
Hỏi : Hợp kim chì thiếc, các thứ hợp cùng với địa, nên có
hương ?
Đáp : Không phải khách hương. Sở dĩ vì sao ? Vì trong các
vật kia trước ngửi không nghe thấy hương. Nếu đã từng nghe nên
Thành Thật Luận Trang 152 Tuệ Quang Foundation
nói là khách, như trước nghe hương hoa, sau nghe trong áo, nên
gọi là khách, mà hương hợp kim chì thiếc v.v... không phải như
vậy. Cho nên không phải nhân.
Lại hợp kim chì thiếc v.v... lúc không hương không nên nói
là khách.
Lại chúng tôi cũng có thể nói trong nước v.v... không có màu
sắc v.v..., chỉ cùng đất hợp nên mới có màu sắc v.v.... Nếu ông nói
trong nước v.v... tự có màu sắc. Chúng tôi cũng nói trong hợp kim
chì thiếc tự có hương.
Lại như trong vật có pháp không rời nhau, tức vật ấy có. Cho
nên hương tùy theo chỗ không rời nhau, gtức hương của vật này.
Lại trong nước v.v..., nếu có hương, mà vì nhỏ nhiệm cho
nên không biết có, thì có lỗi gì ? Như nói trong mặt trăng có lửa,
lửa quyết định nóng.
Lại ông nói hơi ấm trong nhà là do lửa diệt, còn thừa khí
nóng nên có chút sắc vi tế, cũng nói trong nước nóng có chút
tướng lạnh vi tế, hương trong nước cũng vậy. Trong đó không có
nhân quyết định nói nước không hương.
Lại các Đà-la-phiêu của ông không có tướng quyết định. Sở
dĩ vì sao ? Vì ông tự nói trong đất có hương, mà kim cương, pha
lê v.v... đốt thì biến đổi khác, nên đều là vật của đất, mà đều
không có hương.
Lại ông nói tướng nước quyết định lạnh, tướng sữa v.v...
cũng như vậy, mà bơ v.v... có hương, nên gọi là vật của đất.
Lại nói lửa quyết định là nóng, vì hợp kim chì thiếc là hỏa
vật, mà trong đó không nhất định là nóng.
Lại mặt trăng v.v... thật lạnh mà ông nói là vật của lửa. Vì
các cớ nầy, nên các Đà-la-phiêu không có tướng quyết định. Cho
nên hương chỉ đất có, điều này không đúng. Ông cho hợp kim chì
thiếc v.v... là vật của lửa. Đó cũng không phải nữa. Sở dĩ vì sao ?
Thành Thật Luận Trang 153 Tuệ Quang Foundation
Vì không có nhất định nóng. Các đệ tử phái Ưu-lâu-khư nói lửa
nhất định nóng, mà hợp kim chì thiếc v.v... không nóng.
Hỏi : Vật hợp kim chì thiếc v.v... nóng ở trong quả, không ở
trong xúc ?
Đáp : Bơ quả lạnh, cho nên phải là vật của nước, mà ông
quyết định có hương, nên gọi là vật của đất, cho nên không gọi là
nhân của dụng.
Lại như quả Ha-lê-lặc, khi còn là quả nhất định nóng nên là
vật của lửa, mà thật có hương, có 5 vị nên không gọi vật của lửa,
vì nói quả không phải là nhân. Hợp kim chì thiếc v.v... không phải
vật của lửa.
Lại nữa tướng lửa nhẹ, hợp kim chì thiếc v.v... nặng. Sắc lửa
trắng mà hợp kim chì thiếc v.v... sắc khác.
Lại hợp kim chì thiếc v.v... không đồng tướng với lửa có thể
biết được là vật của lửa.
Lại hợp kim chì thiếc v.v... với lửa trái nhau. Sở dĩ vì sao ?
Vì gặp nóng là tiêu. Nếu là vật của lửa, gặp được lửa phải tăng
thêm, mà thật không tăng, nên không phải vật của lửa. Các ông
không khéo suy nghĩ nên cho hương chỉ là vật của đất. Mà hương
nầy là đều ở trong 4 thứ.
Phẩm 58 : Tướng của vị
Vị là ngọt, chua, mặn, cay, đắng và nhạt. Sáu vị nầy đều tùy
theo vật mà khác nhau, không bởi 4 đại lệch nhiều mà có. Như nói
đất nước nhiều thì ngọt. Điều nầy không đúng. Vì vị ngọt có vô
số sai khác. Phải biết vật sinh tự có sai khác nhau.
Hỏi : Thầy thuốc nói chỉ có 6 vị. Điều này thế nào ?
Đáp : Chẳng hạn định trong 6 vị. Bởi vì sao ? Hoặc 2 vị hợp
lại, hoặc 3 hoặc 4, như vậy nhiều vô lượng. Không bởi ngọt chua
hợp mà gọi vị chua ngọt. Ngọt chua hòa hợp lại sinh một vị khác.
Như vậy nhiều vô lượng.
Thành Thật Luận Trang 154 Tuệ Quang Foundation
Lại vì tùy thế tục nên các vị sai khác, như người cho ngọt gọi
là ngọt.
Lại khi các vị chín đều làm nhân cho nhau, như khi vị ngọt
chín thì hoặc ngọt hoặc biến đổi khác. Các vị khác cũng vậy. Cho
nên biết các pháp có sức như vậy.
Phẩm 59 : Tướng của xúc
Xúc là cứng, mềm, nặng, nhẹ, mạnh, yếu, lạnh, nóng, ráp,
trơn, khô, ướt, khoái vui, mệt mỏi, không mệt mỏi, bệnh hoạn,
lành mạnh, thân nhanh nhẹn, thân chậm lụt, biếng nhác, tối tăm,
nhức đầu, tê thấp, rên rỉ, đói khát, no nê, thèm thuồng, không
thèm thuồng, mờ mịt v.v....
Hỏi : Có người nói xúc có 3 thứ là lạnh, nóng, không lạnh
không nóng. Điều này thế nào ?
Đáp : Trong cứng v.v... sinh biết, nếu lìa cứng v.v... thì
không biết lạnh nóng.
Hỏi : Ưu-lâu-khư nói xúc vào đất là không lạnh không nóng,
xúc gió cũng vậy, xúc nước lạnh, xúc lửa nóng. Việc ấy thế nào ?
Đáp : Trước đã nói không có quyết định, nghĩa là bơ v.v...
định là lạnh, hợp kim chì thiếc v.v... không nóng.
Lại trước nói 3 xúc, nếu gió là khách, thì gió không có xúc
riêng, nên không có tướng quyết định.
Lại trong nước nóng không thể được tướng lạnh, nên nước
không phải quyết định tướng lạnh.
Hỏi : Trong nước nóng tướng lạnh có ít vì lửa thắng nên
không biết. Vì sao biết được? Vì nếu khi thế lửa hết thì nước trở
lại lạnh như thường ?
Đáp : Hợp kim chì thiếc v.v..., bơ v.v... vật cứng hợp cùng
lửa thì chảy. Nếu tướng cứng không mất, mà có tướng chảy, thì
tướng cứng tức là tướng chảy. Nếu mất tướng cứng mà có tướng
chảy, ấy là xúc lạnh diệt rồi lại sinh xúc lạnh, như xúc đất là
Thành Thật Luận Trang 155 Tuệ Quang Foundation
không lạnh không nóng, khi hợp cùng lửa, xúc nếu không mất thì
không gọi chín thì biến đổi. Nếu mất xúc nầy, lại sinh xúc khác.
Như vậy thì xúc lạnh mất rồi lại sinh xúc lạnh. Như vậy các Cầuna
trong nước cũng phải chín thì biến đổi. Ông có lỗi nói tráo trở,
lại sinh pháp mâu thuẫn, cho nên phải biết các tướng vô thường,
như lửa hợp thì tướng cỏ v.v... diệt mất. Nếu bảo xúc nóng che
xúc lạnh thì người ta cũng có thể nói tướng sữa không mất, chỉ bị
tướng bơ che. Cho nên không thể được. Nếu ông bảo không thấy
sữa thành lại sữa. Vậy thì không có chín thì biến đổi. Sở dĩ vì sao
? Vì từ trong vô thủy sinh tử đến nay, vật gì mà không bị lửa dốt
cháy !
Lại cũng tìm thấy được trong lòng đất có bùn đen. Phải biết
đó cũng do chín thì biến đổi mà có lại. Như vậy thì xúc lạnh mất,
lại sinh xúc lạnh. Hoặc có vật hợp cùng với lửa nên sắc đen diệt
mất, sinh lại sắc đen, sắc đỏ mất, sinh lại sắc đỏ. Như vậy xúc
lạnh diệt rồi, lửa sinh lại, điều đó nào có lỗi ?
Lại như người phái Vệ-thế sư nói chỉ có đất có tướng chín thì
biến đổi, nước v.v... thì không có. Mà các thầy thuốc nói, nếu
uống thuốc lúc nóng thì được kết quả khác. Nếu trong nước nóng
sắc v.v... không mất, thì đâu có kết quả khác. Cho nên biết nước
v.v... cũng chín thì biến đổi. Như vì lửa đốt vật cháy mất bản
tướng, nên mới có tướng khác. Cho nên biết vật có tướng khác,
nước cũng như vậy.
Lại các tướng nầy mâu thuẫn nhau nên vô thường, như nước
có thể diệt lửa, lửa có thể tiêu nước; sức lửa không vật gì không
làm tiêu, huống là hợp với nước mà xúc lạnh không diệt ? Cho
nên kinh Vệ-thế sư nói nước quyết định lạnh. Điều này không
đúng.
Phẩm 60 : Lập vô số nhóm khổ đế trong thức luận
Thành Thật Luận Trang 156 Tuệ Quang Foundation
Tâm, ý, và thức một thể mà khác tên. Nếu pháp có thể duyên
thì gọi là tâm.
Hỏi : Nếu vậy thì thụ, tưởng, hành v.v... và các tâm số pháp,
cũng gọi là tâm ? Vì đều có thể duyên ?
Đáp : Thụ tưởng hành v.v... đều là tên khác nhau của tâm.
Như trong Phẩm Đạo nói một niệm có 5 tên là niệm xứ, niệm căn,
niệm lực, niệm giác chính và niệm tinh tiến v.v... cũng như vậy.
Lại một vô lậu tuệ mà có khổ tập trí v.v... nhiều tên sai khác.
Lại trong một Định pháp mà cũng gọi là thiền, giải thoát, trừ
nhập. Như vậy tâm một, chỉ vì tùy thời nên có tên sai khác. Cho
nên biết chỉ là một tâm. Sở dĩ vì sao ? Vì như trong kinh nói :
Người nầy tâm dục lậu được giải thoát, tâm hữu lậu, vô minh lậu
được giải thoát. Nếu riêng có tâm số, thì phải nói tâm số được giải
thoát.
Lại trong kinh nói : Phật nếu biết chúng sinh tâm hoan hỷ,
tâm nhu nhuyến, tâm điều hòa, kham nổi được giải thoát, nhiên
hậu mới vì nói 4 pháp chân đế. Trong đây không nói đến tâm số.
Lại trong kinh nói : Vì tâm cấu bẩn nên chúng sinh cấu bẩn,
lại vì tâm thanh tịnh nên chúng sinh thanh tịnh.
Lại nói : Nếu Tì-kheo vào trong tứ thiền được tâm thanh tịnh
bất động, nhiên hậu như thật biết khổ thánh đế, tập diệt đạo đế.
Lại trong 12 nhân duyên nói hành duyên thức.
Lại nói 6 thứ là người.
Lại nói nhẹ nhõm dễ chuyển không gì bằng tâm.
Lại trong kinh nói : Sứ giả đến chủ thành tấu bày sự thật, tấu
rồi trở về. Chủ thành tức là tâm.
Lại nói trong có thức thân ngoài có danh sắc, danh đó là 2.
Lại chỉ nói có thức thân, không nói có tâm số.
Lại nói vì 3 thứ hòa hợp nên gọi là xúc. Nếu có tâm số thì
không gọi là 3, mà thật có nói 3. Cho nên biết chỉ có tâm, không
riêng có tâm số.
Thành Thật Luận Trang 157 Tuệ Quang Foundation
Phẩm 61 : Lập hữu số
Hỏi : Tâm khác, tâm số pháp khác. Sở dĩ vì sao ? Vì tâm và
tâm số pháp cùng tương ưng nhau. Nếu không có tâm số thì
không có tương ưng, mà thật có tương ưng. Cho nên biết có tâm
số pháp.
Trong ý ông, nếu bảo tâm cùng các tâm khác tương ưng.
Điều này không đúng. Sở dĩ vì sao ? Vì trong kinh nói : Tâm đi
riêng, đi xa, ẩn kín, không hình. Trong đây chỉ ngăn đồng tính,
tuy với tâm số cùng đi, nhưng cũng gọi là đi riêng. Như nói Tìkheo
ở riêng, tuy có loài trùng thú, nhưng vì không đồng loại nên
cũng gọi ở riêng một mình. Cho nên biết tâm không cùng tâm
khác tương ưng, mà thật có tương ưng. Cho nên biết có tâm số.
Lại tâm nhiếp thuộc 7 giới 1 nhập 1 ấm. Còn tâm số nhiếp
thuộc 1 giới 1 nhập 3 ấm.
Lại tâm làm chỗ nương ở cho tâm số. Như trong kinh nói :
Tâm số pháp nầy đều nương tâm hành.
Lại nếu không tâm số thì không 5 ấm, vậy là không thể được.
Lại 2 tâm nầy sinh khác nhau. Do từ 2 sinh tâm, từ 3 sinh số.
Như trong kinh nói : Do nhãn duyên sắc sinh nhãn thức. Ba việc
hòa hợp gọi là xúc. Xúc nhân duyên sinh thụ.
Lại nói : Danh sắc nhóm nên thức nhóm, xúc nhóm nên thụ
nhóm.
Lại tâm số pháp tương ưng với chỗ bị nương, vì đồng chung
một cảnh duyên, trong một đời. Tâm không phải như vậy vì sai
khác. Cho nên biết tâm khác, tâm số pháp khác.
Lại trong 4 y nói : Y trí không y thức. Trí nếu là thức, làm
sao nói y ? Cho nên biết trí không phải thức.
Lại Phật tự nói tâm số pháp, nếu từ tâm sinh, nương nơi tâm
thì gọi là tâm số.
Thành Thật Luận Trang 158 Tuệ Quang Foundation
Lại Phật không nói nghĩa này là chỉ độc có tâm, là không có
tâm số. Người ta cũng có thể nói chỉ có tâm số mà không có tâm.
Nếu ông đem danh tự để phá tâm số, thì tôi cũng đem danh
tự mà phá lại tâm.
Lại vì chỗ sở tác khác, nên tướng các pháp khác, như nước
có thể thấm ướt, lửa có thể đốt cháy. Như vậy thụ v.v... vì sở tác
khác nên biết có tướng khác.
Lại trong các kinh đều nói : Trong tâm sinh giác. Nên biết
tâm số khác với tâm. Vì không lẽ trong tâm tự sinh tâm.
Lại như nói vì tâm cấu uế nên chúng sinh cấu uế. Tâm thanh
tịnh nên chúng sinh thanh tịnh. Nếu chỉ là tâm, thì không nhân
đâu mà có cấu uế hay thanh tịnh. Người nầy không vì vô minh
nên cấu uế, tuệ minh nên thanh tịnh. Cái lý tự cấu uế tự thanh tịnh
là không thể được. Cho nên có tâm số pháp.
Phẩm 62 : Không phải không số
Tuy ông nói cái có thể duyên pháp gọi là tâm. Tâm sai khác
gọi là số, như trong Phẩm Đạo nói. Điều này không đúng. Sở dĩ
vì sao ? Vì trong kinh nói : Tướng tâm khác, tướng tâm số khác.
Có thể nhận thức là tướng của thức. Cảm giác khổ vui là tướng
của thụ. Biết riêng là tướng của tưởng. Khởi tạo tác là tướng của
hành. Cho nên biết tâm khác, tâm số cũng khác. Ông nói tâm
được giải thoát. Điều này không đúng. Vì trong các kinh đều nói
lìa vô minh, nên tuệ được giải thoát, cho nên không chỉ nói tâm
được giải thoát.
Lại vì tâm thắng nên chỉ nói tâm.
Lại vì người đời phần nhiều đều biết tâm, mà không biết tâm
số pháp, nên Phật nói tâm nhiều hơn.
Lại trong kinh Phật có những lời không nói hết, chính là lời
này vậy.
Thành Thật Luận Trang 159 Tuệ Quang Foundation
Lại như trong kinh nói : Các Tì-kheo ! Có thể dứt một pháp,
ta bảo đảm các ông được đạo A-na-hàm. Nói tham dục, mà thật
không phải chỉ riêng dứt tham dục. Điều này cũng vậy. Tâm hoan
hỷ v.v... đều lấy đây đáp. Ông nói trong ngoài 2 pháp. Điều này
cũng không đúng. Nói ngoài có danh sắc, tức nói tâm số, vì nhiếp
từ ngoài vào nên gọi là ngoài.
Lại trong đây Phật nói 3 việc : Trong có thức thân, tức nói
thức và căn, ngoài có danh sắc, tức là nói trần. Ông nói có thức
thân. Điều nầy cũng không đúng. Trong kinh nầy nói : Tất cả
tướng ngoài, tức là tâm số. Ông nói 3 thứ hòa hợp gọi là xúc. Điều
này không đúng. Xúc với thụ v.v... làm nhân cho tâm số, cho nên
nói riêng.
Phẩm 63 : Không phải có số
Đáp : Ông nói vì tương ưng nên có tâm số pháp. Điều nầy
không đúng. Sở dĩ vì sao ? Vì các pháp độc hành, sau sẽ nói rộng,
cho nên không có tương ưng. Tâm này độc hành cũng lấy đây mà
đáp. Không phải ngăn đồng tính mà ngăn tâm số pháp. Ông nói
nhiếp thuộc khác, nên có tâm số. Người làm ra kinh nầy, tự lập
danh tự, chứ trong kinh Phật không nói nhiếp thuộc nhau, cho nên
không đúng. Ông nói chỗ y, như ý ông nói thức y nơi tâm, không
phải vì y mà gọi là tâm số. Như vậy thì tâm y nơi tâm không được
gọi tên khác. Ông nói không có 5 ấm. Điều nầy không đúng. Tôi
cho rằng vì tâm sai khác nên có gọi là thụ, có gọi là tưởng v.v....
Ông lấy tâm số phân biệt làm 3 ấm. Tôi cũng lấy tâm phân biệt
làm 3 ấm. Ông nói sinh khác. Điều nầy không đúng. Vì nếu tâm
với tâm số pháp cùng sinh, sao còn nói 2 sinh tâm, 3 sinh tâm số ?
Nếu chỉ nói tâm thì còn có lý. Sở dĩ vì sao ? Vì người nầy khi
trước nói thức, sau mới nói tưởng v.v.... Ông nói tương ưng duyên
đời, nên biết có khác. Điều nầy trước đã phá rồi, vì không phù
hợp. Ông nói y trí chứ không phải y thức. Tôi nói tâm có 2 thứ :
Thành Thật Luận Trang 160 Tuệ Quang Foundation
một gọi là trí, hai gọi là thức. Cho nên tâm y trí, không y thức.
Ông nói Phật nói y tâm sinh pháp gọi là tâm số. Tâm sinh ra pháp
gọi là tâm số, vì tâm do tâm sinh nên gọi là tâm số.
Ông nói Phật cũng không nói không tâm số. Tôi cũng không
nói không tâm số pháp, nhưng chỉ nói vì tâm sai biệt nên gọi là
tâm số.
Lại nếu có cái đạo lý : không thể nói cũng gọi là nói, thì nếu
không có cái đạo lý ấy dù có nói cũng như không nói. Cho nên
không thể lấy cái nói làm nhân.
Lại chúng tôi sẽ nói nghĩa của danh tự tâm tâm số pháp. Vì
tập khởi nên gọi là tâm. Thụ v.v… cũng có thể tập khởi thân đời
sau. Vì tương đồng với tâm, nên cũng gọi là tâm.
Lại tâm với tâm số vì đều do tâm sinh, nên gọi là tâm số.
Nếu người nói chỉ có tâm số pháp, thì người ấy cần phải thuyết
minh danh nghĩa của tâm số pháp, mà thật ra không thể thuyết
minh được, cho nên không phải nhân.
Ông nói tạo tác khác và tâm sinh giác, đều lấy đây mà giải
đáp. Sở dĩ vì sao ? Vì tôi cho rằng tâm sai biệt nên nghiệp tạo tác
khác, rồi cũng trong tâm sinh tâm, gọi là tâm sinh giác. Ông nói
cấu uế thanh tịnh không có nhân. Điều nầy không đúng. Tuy
không có tâm số pháp, mà có cấu uế thanh tịnh.
Lại vì không tướng khác nên không có tâm số pháp. Sở dĩ vì
sao ? Vì ông lấy tâm tương ưng cho là tâm số, mà pháp tương ưng
thì không có, sau sẽ nói rộng, cho nên không do tâm riêng có tâm
số pháp.
Phẩm 64 : Thuyết minh không số
Ông nói tướng khác nên có tâm số. Điều này không đúng Sở
dĩ vì sao ? Vì hoặc thức hoặc giác là các tướng đồng đẳng không
có sai biệt. Như tâm nhận thức sắc, tức gọi là giác, cũng gọi là
tưởng v.v.... Như người đời nói ông rõ người này tức gọi là biết.
Thành Thật Luận Trang 161 Tuệ Quang Foundation
Do cảm thụ khổ vui cũng tức là biết. Phải biết nhận thức tức là thụ
tưởng. Nếu các pháp này nhất định có tướng khác nhau, nay cần
phải nói, mà thật không nói được, cho nên không có tướng khác.
Ông nói tuệ được giải thoát. Điều này không đúng, vì không
nhân duyên. Tùy tâm có nhiễm cũng có vô minh, tâm này trong
nhóm nhiễm và vô minh đều cùng tương ưng với nhau. Nếu nói
vô minh làm nhơ tuệ, nhiễm làm bẩn tâm thì không có nhân
duyên. Như vậy vì lìa vô minh nên tuệ được giải thoát. Vì lìa
nhiễm bẩn nên tâm được giải thoát, cũng đều không có nhân
duyên.
Lại gọi kinh nầy là không liễu nghĩa. Như trong kinh nói : Vì
lìa 3 thứ lậu nên tâm được giải thoát. Cho nên biết cũng từ vô
minh tâm được giải thoát. Nếu như nói từ nhiễm tâm được giải
thoát, lời này là ngăn đoạn. Nói từ vô minh tuệ được giải thoát, là
rốt ráo đoạn. Nếu do từ nhiễm nên tâm được giải thoát, từ vô
minh nên nên tuệ được giải thoát. Vậy nếu từ giận dữ v.v... thì vật
gì được giải thoát ? Điều này cần phải đáp. Phải biết lìa tâm
không được giải thoát, cho nên chỉ có tâm.
Ông nói vì tâm vượt trội nên chỉ nói tâm. Tâm có nghĩa gì
mà vượt trội còn tuệ v.v... các pháp lại không có ?
Ông nói người đời phần nhiều biết tâm, nên chỉ nói tâm.
Người đời cũng biết nhiều khổ vui, cần phải nói thụ v.v....
Ông nói có các kinh cớ sao không chỉ nói tâm số, mà chỉ nói
tâm. Ông nói chỉ đoạn một pháp, lời nầy có duyên, vì Phật tùy
chúng sinh nào phiền não nhiều hơn, hoặc thường che nơi tâm,
mới nói một pháp nầy, vì đoạn được pháp ấy, thì các pháp kia tự
đoạn. Cho nên không phải nhân.
Ông nói vì nói danh tướng tức là nói tâm số. Ông tự nhớ
tưởng phân biệt, chứ kinh nầy không nói nghĩa ấy. Nếu ông tự
sinh nhớ tưởng phân biệt, sao không nói bởi danh tướng nên nói
tâm duyên, thì có lý.
Thành Thật Luận Trang 162 Tuệ Quang Foundation
Ông nói xúc và thụ v.v... làm nhân cho tâm số. Lời nói nầy bị
nhiều lỗi, vì đều là pháp tương ưng mà nói xúc làm nhân thụ
v.v..., chứ không phải thụ v.v... làm nhân cho xúc. Có các lỗi như
vậy cho nên biết chỉ có tâm, mà không riêng có tâm số.
Phẩm 65 : Không tương ưng
Không có pháp tương ưng. Sở dĩ vì sao ? Vì không có tâm số
pháp thì tâm tương ưng với cái gì ?
Lại các tướng thụ v.v... không được đồng thời.
Lại nhân quả không cùng lúc. Thức là nhân của tưởng v.v...
các pháp. Pháp nầy không phải đồng có một lúc, nên không có
tương ưng.
Lại Phật nói trong pháp nhân duyên rất sâu. Vì việc này sinh
nên việc kia được sinh.
Lại như hạt giống, mộng, cây, nhánh, lá, hoa, quả v.v..., hiện
thấy nhân quả lần lượt nhau. Cho nên thức v.v... cũng cần theo
thứ tự sinh. Nếu ý ông bảo tham v.v... các phiền não cùng sắc
cùng chung nhân nên đồng sinh, điều này không đúng. Vì sắc
không có tính hiểu biết, nên không có thể duyên. Còn tâm và tâm
số có duyên có hiểu biết, cho nên một lúc không được cùng có, vì
không có nhiều hiểu biết.
Lại do một thân gọi là chúng sinh, vì một hiểu biết. Nếu
trong một niệm có nhiều tâm số pháp, thì có nhiều hiểu biết, vì có
nhiều hiểu biết nên phải là nhiều người, việc ấy không thể được.
Cho nên trong một niệm không có các pháp thụ v.v....
Lại vì sao 6 thức không cùng sinh một lúc ?
Hỏi : Các thức đều đợi tuần tự duyên sinh, nên không một
lúc ?
Đáp : Bởi các chướng ngăn nên duyên một thứ lớp không
được, mà thứ lớp sinh 6 thức ư ? Phải biết vì nhân trước quả sau
thứ lớp mà sinh.
Thành Thật Luận Trang 163 Tuệ Quang Foundation
Lại trong kinh nói : Mắt thấy sắc không lấy tướng. Lấy tướng
tức là nghiệp của tưởng. Nếu như Phật cho nghiệp thức mà ngăn
nghiệp tưởng, thì phải biết hoặc có thức mà không có tưởng. Nếu
ai lấy tướng, là thấy khi đã lấy, chứ không phải lúc thấy, cho nên
biết thức v.v... sinh theo thứ lớp.
Lại trong kinh nói : Mắt thấy sắc rồi tùy theo vui vẻ suy nghĩ.
Trong đó cũng trước nói nghiệp thức sau nói thụ v.v....
Lại trong kinh nói : Thấy cái thấy v.v.... Cho nên biết không
phải tất cả tâm đều có thụ v.v....
Lại bởi tướng 5 thức. Điều này có thể rõ. Sở dĩ vì sao ? Vì
nếu người trong nhãn thức không thể lấy tướng người oan, người
thân và tướng bình đẳng, tức là không có tưởng, cũng không buồn
vui, vì không phân biệt. Hoặc có người nói : Trong đó cũng không
có tham v.v... các phiền não. Cho nên biết không suy nghĩ. Vì có
thể tìm cầu thân đời sau, nên gọi là suy nghĩ. Điều này sẽ nói sau,
cho nên biết 5 thức cũng không suy nghĩ.
Lại các ông nói 5 thức không thể phân biệt. Trong đó làm
sao mà có giác quán ? Vì suy nghĩ phân biệt trước thô sau tế, nên
gọi là giác quán.
Lại nếu trong 5 thức có giác quán, như nói muốn ta biết ông,
là vốn đều do nghĩ giác sinh ra. Vậy thì khi giác không muốn, khi
biết làm sao có giác ? Hoặc có người nói trong 5 thức có tưởng
không có giác, giác này do tưởng sinh thì làm sao khi tưởng có
giác ? Cho nên phải chấp nhận 5 thức không tưởng, không giác,
không quán. Sở dĩ vì sao ? Vì trong 5 thức không có phân biệt là
nam nữ, cũng không phân biệt thụ v.v..., thì trong đây phân biệt
những gì ?
Lại các ông nói 5 thức thứ lớp ắt sinh ý thức, vì 5 thức không
phân biệt. Nếu trong 5 thức có phân biệt thì cần gì thứ lớp sinh ý
thức ư ?
Thành Thật Luận Trang 164 Tuệ Quang Foundation
Lại giác quán không phải sinh trong một tâm niệm, vì thô tế
trái nhau. Ví như rung chuông linh, tiếng đầu là giác, các tiếng
tiếp sau là quán. Dụ kia cũng vậy. Nếu trong 5 thức có giác quán,
thì phải nói hành nghiệp của nó, mà thật không nói được. Phải
biết tâm và tâm số pháp sinh theo thứ lớp.
Lại si và tuệ trái nhau phải không hiện hữu cùng một lúc.
Vậy làm sao trong một niệm có cũng biết, cũng không biết.
Lại trong một tâm niệm không dung có nghi. Sở dĩ vì sao ?
Vì hoặc là cây trơ trụi hoặc là người, không được cùng hiện hành
trong một tâm niệm. Vì nghiệp của tâm không có có thể lực này.
Lại có người nói trong tâm số pháp ký ức đi duyên đời quá
khứ, thì tâm hiện tại làm sao hiện hữu được ?
Lại như nghĩ người nầy là bạn tri thức của ta, vì đã từng làm
lợi ích cho ta, nghĩ rồi sinh vui. Việc ấy làm sao ở trong một tâm
niệm ?
Lại muốn, không muốn làm sao ở trong một tâm niệm ? Như
trong kinh nói : Nếu các Tì-kheo ưa thích pháp ta, thì pháp tăng
trưởng, nếu không ưa thích thì pháp tổn giảm. Làm sao ở trong
một tâm niệm ?
Lại như trong một tâm niệm có tâm số pháp thì pháp sẽ thác
loạn. Sở dĩ vì sao ? Vì trong một tâm mà có biết không biết, nghi
không nghi, tin không tin, tinh tiến, biếng nhác… các lỗi như vậy.
Lại tất cả tâm số nên đều ở trong một tâm, lấy cái gì ngăn,
mà khổ vui tham giận v.v... không ở trong một tâm ? Nếu ông bảo
vì khổ vui v.v... trái nhau nên không ở trong một tâm, thì biết và
không biết v.v... cũng trái nhau, lẽ ra cũng phải không ở trong một
tâm ? Cho nên không tương ưng.
Lại trong Kinh Thất Bồ-đề Phần, Phật thứ lớp nói tâm số
pháp : Nếu Tì-kheo tu 4 niệm xứ; bấy giờ mới tu tập niệm Bồ-đề
phần được. Tâm ở trong niệm, chọn lựa các pháp. Do chọn lựa
các pháp nên sinh tinh tiến. Do sức tinh tiến nên có thể nhóm họp
Thành Thật Luận Trang 165 Tuệ Quang Foundation
pháp lành. Tâm sinh hoan hỷ thanh tịnh. Do tâm hoan hỷ nên
được khoan khoái. Do được khoan khoái nên giữ được tâm. Do
giữ được tâm nên được định. Do được định nên có thể bỏ tham
dục ưu phiền. Do bỏ tham dục ưu phiền nên mới biết tâm số thứ
lớp sinh.
Lại trong Kinh Bát Đạo Phần cũng thứ lớp nói : Nếu được
chính kiến, thì từ chính kiến sinh chính tư duy cho đến chính định.
Lại trong kinh thứ lớp Phật bảo A-nan rằng : Người trì giới
không nên cầu tâm không lo buồn, ăn năn. Vì tâm pháp người trì
giới là không lo buồn ăn năn. Người không lo buồn ăn năn, không
nên cầu tâm được vui tươi. Tâm không lo buồn ăn năn pháp tự vui
tươi. Vui tươi thì tâm hoan hỷ. Tâm hoan hỷ thì thân được khoan
khoái. Thân khoan khoái thì cảm thụ vui. Thụ vui thì tâm nhiếp.
Tâm nhiếp thì được thật trí. Được thật trí thì chán lìa. Chán lìa thì
giải thoát. Cho nên mới biết tâm pháp theo thứ lớp sinh.
Lại trong Kinh Bát Đại Nhân Giác cũng thứ lớp nói : Nếu Tìkheo
tu thiểu dục thì tri túc. Tri túc thì xa lìa. Xa lìa thì tinh tiến.
Tinh tiến thì nghĩ nhớ chân chính. Nghĩ nhớ chân chính thì tâm
nhiếp. Tâm nhiếp thì được tuệ. Được tuệ thì dứt hí luận.
Lại trong Kinh Thất Tịnh cũng thứ lớp nói : Giới tịnh là tâm
tịnh. Tâm-tịnh là kiến tịnh. Kiến tịnh là độ nghi tịnh. Độ nghi tịnh
là đạo phi đạo tri kiến tịnh. Đạo phi đạo tri kiến tịnh là hành tri
kiến tịnh. Hành tri kiến tịnh là hành đoạn tri kiến tịnh.
Lại trong Kinh Nhân Duyên cũng thứ lớp nói : Do mắt duyên
sắc mới sinh si nghi phần và nghĩ nhớ ô trược. Trong đây si phần
là vô minh. Chỗ tìm cầu của người si là ái. Chỗ tạo tác của người
ái là nghiệp. Tất cả là như vậy.
Lại trong Kinh Đại Nhân cũng thứ lớp nói : Ái đứng đầu
trong 9 pháp. Do ái sinh tìm kiếm, do tìm cầu nên được, do được
nên so sánh, do so sánh nên sinh nhiễm, do nhiễm nên tham đắm,
do tham đắm nên lấy, do lấy sinh lòng tham đắm, do tham đắm
Thành Thật Luận Trang 166 Tuệ Quang Foundation
nên giữ gìn, do giữ gìn nên mới có roi gậy tranh kiện bao nhiêu
khổ não.
Lại trong pháp Tu-đà-hoàn cũng thứ lớp nói : Nên gần gũi
người lành được nghe chính pháp, vì nghe chính pháp nên có thể
sinh chính niệm, nhờ nhân duyên chính niệm có thể tu hành đạo.
Lại trong kinh nói : Do mắt duyên sắc sinh nhãn thức. Ba thứ
hòa hợp gọi là xúc. Nếu nói tâm và tâm số pháp sinh cùng một
lúc, thì không có 3 thứ hòa hợp. Nếu nói mỗi mỗi sinh riêng thì có
3 thứ hòa hợp. Vì các lý do trên đây nên không có tương ưng.
Phẩm 66 : Có tương ưng
Hỏi : Có pháp tương ưng. Sở dĩ vì sao ? Nếu như người thấy
thụ là thần, thức tâm nương vào đó, vì có tương ưng. Tưởng ấm
v.v... cũng như vậy. Nếu không tương ưng, do đâu có như vây ?
Lại trong kinh ông nói : Do mắt duyên sắc sinh nhãn thức.
Ba thứ hòa hợp sinh xúc, cùng sinh thụ, tưởng, hành v.v.... Trong
pháp này có nhiều thứ tên, như là chúng sinh, trời, người, trai, giá,
lớn, nhỏ. Các tên ấy đều do các ấm. Nếu nói tâm và tâm số pháp
thứ lớp sinh thì nhân 2 ấm. Có người cho rằng không nên nhân 5
ấm. Sở dĩ vì sao ? Vì không thể nhân các ấm quá khứ vị lai mà gọi
là người. Ông nói hiện tại không có 5 ấm, thì làm sao nói nhân 5
ấm gọi trời người v.v.... mà trong đó nói nhân các ấm, chứ không
phải chỉ có 2. Cho nên nhân 5 ấm có tên chúng sinh.
Lại trong kinh nói có lời tương ưng, nghĩa là có căn trí tương
ưng tín.
Lại trong kinh nói xúc tức cùng với thụ tưởng tư cùng sinh.
Lại nói 5 chi Sơ thiền. Cũng nói thụ v.v... là chỗ trụ của thức.
Nếu thức không tương ưng làm sao thức trụ trong pháp thụ v.v...
được ? Gọi trụ nầy là nương dựa mà trụ. Sở dĩ vì sao ? Vì không
nói thức là chỗ thức trụ.
Thành Thật Luận Trang 167 Tuệ Quang Foundation
Lại trong kinh nói : Tâm cùng pháp nầy đều từ tâm sinh, rồi
nương đậu nơi tâm.
Lại nói tâm chúng sinh trong đêm dài bị tham giận v.v... làm
ô nhiễm. Nếu không tương ưng làm sao nhiễm được !
Lại vì tâm và tâm số pháp tính yếu ớt, nên nương nhau mới
duyên được, thí dụ như bó tre nương nhau mới đứng vững.
Lại trong kinh nói : Khi tâm chao động không nên tu 3 thứ
giác là : trạch pháp, tinh tiến và hỷ, vì lại động thêm, mà nên tu 3
thứ giác là : thư thái, định và xả, vì ngăn sự phát động. Còn niệm
thì có thể điều hòa khắp. Nếu tâm mỏi mệt lặn chìm thì không nên
tu 3 thứ giác là : thư thái, định và xả, vì càng lặn chìm. Cho nên
cần tu 3 giác là : trạch pháp, tinh tiến và hỷ, vì có thể làm tâm
phấn chấn. Niệm có thể điều hòa khắp.
Lại có luận sư nói : Nên đồng tu tập pháp trợ Bồ-đề, không
được lìa nhau. Cho nên biết có tương ưng.
Phẩm 67 : Không phải tương ưng
Ông nói thấy thụ là thần, điều này không đúng. Người phàm
phu si mê, vọng sinh thấy đó, không có thể phân biệt đó là thụ, đó
là thức nương đậu. Người này, nếu có thể phân biệt được như vậy,
cũng có thể vào được lý không. Người này thấy tâm tương tục
không phân biệt được, chỉ chấp lấy lời nói, nên mới nói như vậy,
đó là lời si mê lầm lạc không thể tin được.
Ông nói do các ấm nên gọi là người. Là do 5 ấm nối nhau gọi
là người, nên nói là các ấm. Như người đời nói : người vui, người
khổ và người không vui khổ, không đồng thời có 3 thụ cùng một
lúc. Các ấm cũng vậy.
Ông nói có căn trí tương ưng với tín. Trong kinh cũng nói
các việc tương ưng. Như nói 2 Tì-kheo tương ưng với trong một
việc làm.
Thành Thật Luận Trang 168 Tuệ Quang Foundation
Lại nói oán ghét tương ưng thì khổ, yêu thương chia lìa thì
khổ. Trong pháp của ông sắc không tương ưng, mà đây vì thế tục,
nên cũng gọi tương ưng. Trí tín cũng vậy. Tín có thể tin vô
thường v.v...; tuệ tùy theo hiểu biết, chung thành một việc, nên
gọi tương ưng.
Ông nói do xúc liền có thụ v.v... cùng sinh. Điều này không
đúng. Thế gian có việc tuy có chút trái nhau, cũng gọi là cùng
chung, như bảo đệ tử cùng đi, cũng như nói vua Đảnh Sinh, sinh
tâm nghĩ, liền lên đến trời. Điều này cũng vậy. Phàm phu khi thức
đến duyên cảnh, 4 pháp ắt thứ lớp sinh thức, tiếp đến sinh tưởng;
kế tưởng sinh thụ, kế thụ sinh suy nghĩ, rồi suy nghĩ rồi lo buồn,
mừng vui v.v... Từ đó sinh tham, giận, si. Cho nên nói liền sinh.
Ông nói 5 chi Sơ thiền. Tức là trong bậc thiền này có 5 chi,
không phải nhất thời, như cõi Dục có 3 thứ thụ. Sở dĩ vì sao ? Vì
trước nói pháp, sau nói đến bậc.
Lại giác quán không tương ưng nhau được, trước đã đáp rồi.
Ông nói thức xứ. Trong kinh nầy nói thức duyên xứ, không
nói y xứ. vì sao biết được ? Tức trong kinh này nói thức duyên sắc
vui nhuận nên mới trụ.
Ông tuy nói nếu thức duyên thức trụ, thì phải có 5 thức xứ.
Điều này không đúng. Sở dĩ vì sao ? Là vì khi thức biết sơ qua,
thức biết việc rồi tâm mới sinh tưởng v.v... Rồi trong đó khởi ái,
do nhân duyên khởi ái mới nói là thức xứ. Cho nên không nên nói
thức là thức xứ.
Lại trong 7 thức xứ cũng nói thức là thức xứ.
Lại phải suy nghĩ kinh này, đừng chỉ theo lời nói, như nói tin
có thể vượt qua sông, là lời nói bất tận, mà thật nhờ tuệ mới vượt
qua được. Điều này cũng phải như vậy.
Ông nói tâm số nương nơi tâm. Điều này không đúng. Tâm
trước biết việc sau sinh tưởng v.v....
Thành Thật Luận Trang 169 Tuệ Quang Foundation
Lại trong kinh nói : Thụ v.v... nương nơi tâm. Chứ không
phải như bức vẽ nương nơi vách mà gọi là tâm số nương tâm.
Ông nói tâm số nương nhau như bó tre. Điều này trái với các
kinh. Nếu cùng tương ưng, tại sao tâm số nương tâm, mà tâm
không nương tâm số ?
Nếu ông bảo vì tâm sinh trước lớn nên tâm số pháp phải
nương vào, vậy là thành nghĩa của tôi rồi, vì khi tâm sinh không
có tâm số pháp.
Ông nói vì phiền não nhiễm tâm nên biết có tương ưng. Điều
này không có đạo lý. Nếu tâm trước sạch mà bị tham v.v... đến
làm nhiễm bẩn, tức là tịnh pháp có thể bẩn, tức hại pháp tướng.
Cũng như trước có nói tâm tính vốn sạch mà bị khách trần đến
làm bẩn, vì tâm tịnh nên chúng sinh tịnh. Vậy thì chúng sinh cũng
cần tương ưng ? Nếu chúng sinh không tương ưng được, thì tham
v.v... cũng không tương ưng được. Vì hiện hành trong tâm nối
nhau sinh bẩn v.v... tâm bẩn nối nhau, nên mới nói nhiễm tâm.
Như nói từ nhiễm tâm được giải thoát. Trong tâm nối nhau nầy,
nếu tịnh tâm sinh được gọi giải thoát. Điều này cũng vậy. Như
mây mù v.v... tuy không tương ưng với mặt trời mặt trăng, nhưng
cũng có thể làm mờ. Tham v.v... cũng vậy, tuy không tương ưng
với tâm, nhưng cũng có thể làm ô nhiễm.
Lại vì khói mây mù v.v... có thể che mặt trời mặt trăng nên
gọi là mờ. Tham v.v... cũng vậy, có thể chướng tịnh tâm nên gọi
là bẩn.
Hỏi : Mây mù mặt trời mặt trăng chỉ là nhất thời, còn phiền
não với tâm thì không như vậy, cho nên dụ nầy không đúng ?
Đáp : Vì cùng chướng ngại. Điều này đã thành, nên không có
lỗi. Phiền não nầy có thể làm bẩn cái tâm tương tục, nên gọi là
nhiễm.
Ông nói tâm số từ tâm sinh rồi nương tựa nơi tâm. Điều này
trước đã giải đáp.
Thành Thật Luận Trang 170 Tuệ Quang Foundation
Ông nói tâm và tâm số pháp tính yếu ớt ấy. Vì niệm niệm
diệt, nên gọi yếu ớt, chứ không phải giúp nhau mới có thể hiện
hành nơi cảnh duyên. Nếu giúp nhau thì phải tạm trụ lại, mà thật
không thấy có sức tương trợ cần gì phải tương ưng ?
Ông nói giác ý hợp nhau. Lời nói nầy là tùy lúc nên tu 3 giác,
không phải trong một niệm. Như Xá-lợi-phất nói : Trong 7 giác
tôi có thể vào tự tại. Nếu tâm chao động, bấy giờ nên tu thư thái
v.v... 3 giác.
Lại Phật cũng nói thứ lớp của giác pháp.
Ông nói đồng thời tu Bồ-đề phần. Điều này không đúng.
Nếu đồng thời tu 37 phẩm thì nên đồng thời tu 2 thứ tín và 5 niệm
v.v.... Nếu ý ông bảo tùy được chỗ tu tức là lìa tu.
Lại tùy theo người khác tu được như Nhị thiền v.v..., nên gọi
là không lìa.
Lại đồng thời 37 phẩm thì không có đạo lý ấy. Sở dĩ vì sao ?
Vì trong một niệm không thể tu được nhiều pháp như vậy.
Phẩm 68 : Nhiều tâm
Hỏi : Đã biết không có riêng tâm số, cũng không có tương
ưng. Vậy tâm này là một hay là nhiều ? Có người bảo tâm là một,
mà tùy sinh nên nhiều ?
Đáp : Nhiều tâm. Sở dĩ vì sao ? Vì biết gọi là tâm, mà sắc thì
biết khác, hương v.v... biết khác, cho nên có nhiều tâm.
Lại nhãn thức sinh khác, nghĩa là đợi có ánh sáng, hư không
và các duyên. Nhĩ thức thì không phải vậy. Ba thức trần đến mới
sinh. Ý thức thì do nhiều duyên sinh. Cho nên biết không phải
một.
Lại thức biết tướng của trần thường như vậy, thì làm sao biết
thứ trần khác ? Nếu nhiều tâm sinh thì mới có thể biết được nhiều,
như tà chính biết khác. Hoặc quyết định hoặc nghi ngờ, hoặc
thiện, bất thiện, hoặc vô ký đều biết sai khác. Trong thiện lại có
Thành Thật Luận Trang 171 Tuệ Quang Foundation
thiền định, giải thoát, 4 vô lượng, thần thông v.v... khác nhau.
Trong bất thiện cũng có tham dục, giận dữ, ngu si v.v... khác
nhau. Trong vô ký cũng có đi đến v.v... khác. Có thức có thể khởi
thân nghiệp khẩu nghiệp, có khởi oai nghi, hoặc hợp hoặc ly, bởi
thứ lớp duyên tăng thưọng, mỗi mỗi sai khác, nên các tâm cũng
khác.
Lại sạch không sạch các thụ sai khác, nên tâm cũng khác.
Lại sở tác sai khác nên tâm có khác.
Lại sạch không sạch tâm tính đều khác; nếu tâm tính sạch thì
không bị bẩn, như ánh sáng mặt nhật vốn sạch quyết không bẩn
được. Nếu tính không sạch không thể khiến sạch, như lông của
những thú đen đều không thể khiến trắng. Mà trong bố thí v.v...
thật có tịnh tâm. Trong pháp sát-sinh v.v... thật có bất tịnh tâm.
Cho nên tâm không phải một.
Lại tùy các thụ khổ vui sai khác, nên tâm cũng không phải
một. Như nói Tì-kheo dùng thức để biết việc gì đó, nghĩa là biết
khổ vui và không khổ vui.
Lại nếu tâm là một, thì một thức nên có thể thủ lấy tất cả
trần. Mà nói nhiều tâm, là tùy căn sinh thức, cho nên không thể
thủ lấy tất cả trần. Nếu tâm là một, thì vì cái gì ngăn mà không thủ
lấy tất cả trần được ? Cho nên biết nhiều tâm.
Lại pháp có thể bị lấy khác, nên có thể lấy cũng khác. Như
người nói hoặc tự biết tâm mình, làm sao tự biết tự thể được ?
Như mắt không tự thấy, dao không tự cắt, ngón tay không tự xúc,
nên tâm không một.
Lại trong Kinh Viên Dụ nói : Ví như con khỉ con vượn bỏ
một nhánh liền vịn một nhánh khác. Tâm cũng như vậy, sinh diệt
mới luôn.
Lại nếu tâm là một, mà nói có cả sáu thức, thì lời nầy hỏng.
Lại trong kinh nói : Thân hoặc trụ 10 năm, mà tâm thì niệm
niệm sinh diệt.
Thành Thật Luận Trang 172 Tuệ Quang Foundation
Lại nói : Phải quán trụ tâm vô thường. Tâm này mà nói là
trụ, vì nối nhau niệm niệm không dừng.
Lại như một nghiệp không thể lấy lần thứ 2, thức cũng như
vậy, không trùng tại duyên cảnh.
Lại như lửa cỏ không dời được đến củi. Cũng như vậy nhãn
thức không đến trong tai. Cho nên biết có nhiều tâm.
Phẩm 69 : Một tâm
Hỏi : Tâm là một. Sở dĩ vì sao ? Như trong kinh nói : Tâm
nầy thời gian lâu tăm tối bị tham v.v... làm ô nhiễm. Nếu tâm khác
áy, không gọi là thường ô nhiễm.
Lại trong Kinh Anh Lạc nói : Nếu tâm thường tu tín, giới,
thí, văn và tuệ, thì chết sinh lên cõi trên.
Lại trong Kinh Thiền nói : Người được Sơ thiền, vì tâm điều
hòa nhu nhuyến, nên có thể từ Sơ thiền đến Đệ nhị thiền.
Lại trong Phẩm Tâm nói : Tâm nầy thường động, như cá mất
nước, cho nên các ông phải phá quân ma. Cho nên biết tâm một,
động ở đây đến nơi kia.
Lại trong Tạp Tạng Tì-kheo, nói : Trong hang 5 cửa, khỉ đột
nhảy múa, khỉ tạm đứng yên, đừng cho như xưa. Cho nên biết một
tâm, ở trong hang thân, 5 căn cửa cựa động, nay tức là xưa, cho
nên mới nói : Đừng cho như xưa.
Lại nói tâm này đi khắp như ánh sáng mặt trời soi. Người trí
có thể chế ngự, như cái móc điều khiển con voi. Cho nên biết tâm
là một, chạy rông duyên trong các cảnh.
Lại vì vô ngã, nên tâm mới khởi nghiệp, vì tâm là một nên có
thể khởi các nghiệp, rồi tự chịu quả báo; tâm chết tâm sống, tâm
buộc mở, vốn tự chịu lấy. Tâm có thể nghĩ nhớ, nên biết tâm một.
Lại vì tâm là một, nên có thể tu nhóm, nếu niệm niệm diệt,
thì không sức nhóm họp.
Thành Thật Luận Trang 173 Tuệ Quang Foundation
Lại Phật pháp là vô ngã, vì tâm một nên gọi tướng chúng
sinh. Nếu tâm nhiều thì không phải tướng chúng sinh.
Lại bên tả thấy bên hữu biết, không lẽ thấy khác biết khác ?
Cho nên biết tâm một, tự thấy tự biết.
Phẩm 70 : Không phải nhiều tâm
Ông tuy nói sắc v.v... biết khác, nhưng điều này không
đúng. Sở dĩ vì sao ? Vì nếu tâm là một, làm nhiều thứ nghiệp thủ
lấy sắc hương v.v…, như một người ở trong nhà có 5 hướng, khắp
chỗ lấy trần, tức là tâm này trụ ở trong mắt, đợi các duyên sáng
v.v... mới có thể thấy sắc. Như người nầy, ở chỗ khác đợi bạn, tức
là tâm nầy chỗ biết sai khác. Như người này, trước là người biết,
sau lại không biết. Như vậy biết tà lại là biết chính. Như người
này, trước là người tịnh, sau lại bất tịnh. Như vậy biết nghi ngờ
tức là biết quyết định. Như người nầy, trước là người nghi, sau lại
người quyết định. Là tâm bất thiện tức lại là thiện, cũng là vô ký.
Như người này, hoặc nghĩ thiện, hoặc nghĩ bất thiện, hoặc nghĩ vô
ký. Tức là tâm nầy có thể làm oai nghi đến đi sai khác. Như người
này, làm các hành nghiệp đi đến các oai nghi. Như vậy tịnh tâm
tức là bất tịnh, bất tịnh tức là tịnh. Như người này trước là thanh
tịnh, sau lại bất tịnh. Tức là tâm này tương ưng với vui, sau lại
tương ưng với khổ. Như người này trước là người vui, sau lại là
người khổ. Cho nên nói tâm là một dùng làm nhiều nghiệp.
Ông nói 1 thức không lấy 6 trần, nên không phải 1 tâm. Điều
này không đúng. Tôi cho vì căn sai khác nên thức mới có sai
khác. Nếu thức trụ trong mắt, chỉ có thể lấy sắc mà không lấy trần
khác, các thức khác cũng vậy.
Ông nói thủ và khả thủ khác. Điều này không đúng. Tâm
pháp có thể biết tự thế; như đèn tự chiếu sáng và chiếu sáng các
vật; như người tính toán cũng có thể tính toán mình, và tính toán
Thành Thật Luận Trang 174 Tuệ Quang Foundation
cho người khác. Như vậy tâm một có thể biết tự thể, cũng biết
người khác.
Ông nói ví dụ con khỉ. Điều này không đúng. Như một con
khỉ bỏ một nhánh lại liền bắt lấy một nhánh khác. Tâm cũng vậy
bỏ một cảnh duyên, lại lấy một duyên. Ngoài ra lời ông đã nói :
Có thể tự khởi nghiệp, tự chịu quả báo đều đã đáp chung. Sở dĩ vì
sao ? Vì nếu tâm khác, thì phải làm khác, chịu khác, chết khác, và
sống khác, có các lỗi như vậy, cho nên biết một tâm.
Phẩm 71 : Không phải một tâm
Đáp : Ông nói tâm một, bị tham v.v... làm bẩn dài lâu. Điều
này không phải vậy. Trong cái tâm luôn nối nhau thấy là một
tướng. Như nói gió chiều qua tức là gió sáng nay. Sông ngày nay
tức sông ngày xưa. Đèn buối sáng nay tức là đèn ngày hôm qua.
Như cái răng mọc gọi là tái sinh, mà cái răng cũ thật không tái
sinh. Vì giống nhau ấy nên gọi là tái sinh. Cũng như vậy, tâm
khác nhưng vì nối nhau liên tục nên bảo là một tâm.
Ông nói nghĩ nhớ, là người hoặc tự nghĩ bản tâm, nếu bản
tâm đến nay nghĩ việc gì ?
Lại làm sao đem tâm nầy mà nghĩ tâm này ? Không có một
trí nào có thể biết tự thể, cho nên không phải một tâm.
Ông nói tu nhóm. Nếu tâm thường một, tu sao được ích ?
Nếu có nhiều tâm thì hạ, trung, thượng thứ lớp nối nhau sinh, nên
mới có tu nhóm.
Ông nói tâm là một tướng. Nếu tâm là một tướng, tức đó là
thường, thường tức chân ngã. Sở dĩ vì sao ? Vì nay làm, sau làm,
thường một không biến đổi nên mới cho là ngã.
Lại không thể biết tướng sai biệt của tâm nên cho là một.
Như rót nước liên tục nối nhau luôn, trong tâm cho là một. Như
người bệnh mắt thấy đùm tóc cho là một. Nếu trong việc này,
người có thể phân biệt thì biết kia là khác.
Thành Thật Luận Trang 175 Tuệ Quang Foundation
Lại người có trí sâu sắc có thể biết tâm khác. Sở dĩ vì sao ?
Vì các Phạm Vương v.v... ở trong cơn mê muội thốt nói như vầy :
Thân nầy vô thường, mà tâm thức nầy là thường. Nếu các Phạm
Vương v.v... mà hãy còn mê muội, huống chi người khác mà
không chấp trước là thường ư ? Cho nên phải khéo suy nghĩ các
pháp duyên sinh, thì ý nghĩ điên đảo cho là thường kia mới diệt.
Ông nói bên tả thấy bên hữu biết là sức của trí, cho nên thấy
khác biết khác, như người nầy làm sách nhiều người khác c ó thể
biết.
Lại như các người đã được là Thánh nhân có thể biết những
việc vị lai chưa sinh, chưa có mà Thánh trí có thể biết.
Lại việc quá khứ không nghĩ nhớ, nên biết chưa đến chưa có
mà trí lực có thể biết. Điều này ra sau sẽ nói rộng.
Phẩm 72 : Nói rõ nhiều tâm
Ông nói tâm một dùng làm nhiều nghiệp. Điều này không
đúng. Sở dĩ vì sao ? Vì chính lấy nghĩa rõ biết là tâm. Mà rõ biết
sắc khác, rõ biết thanh khác, tâm làm sao một được ?
Lại như nghiệp tay cầm bình, thì chính tay nầy không cầm
được vật khác nữa. Như vậy vì tùy tâm nào lấy sắc, thì chính tâm
ấy không còn nghe tiếng được.
Lại nhãn thức này lấy nhãn căn làm chỗ nương, lấy sắc làm
cảnh duyên, 2 thứ nầy là vô thường niệm niệm sinh diệt, thì nhãn
thức làm sao tránh khỏi niệm niệm diệt được ? Ví như không có
cây, bóng cũng không có. Như vậy vì nhãn sắc niệm niệm diệt,
nên chỗ bị nương để sinh thức cũng niệm niệm diệt; pháp niệm
niệm diệt không có sức đi.
Lại trước đã có các lời đáp trong Phẩm Ý, nên ý không đi.
Tuy ông nói thức trụ trong mắt, đợi sáng có thể thấy, như người
nầy có thể thấy nghe v.v.... Điều này không đúng. Sở dĩ vì sao ?
Thành Thật Luận Trang 176 Tuệ Quang Foundation
Vì nay trong luận này tìm thật nghĩa của pháp, còn người là giả
danh không nên đem làm thí dụ.
Lại nếu cần tìm tướng người, thì tôi nói các ấm là người,
cũng nói nghi, biết v.v..., khác với các biết quyết định. Không
đem các nghi, biết, mà cho là các biết quyết định. Như vậy tất cả.
Ông nói vì căn sai khác nên thức mới có sai khác. Điều này
không đúng. Căn là nhân duyên sinh thức. Nếu thức là một, thì
nhiều căn để làm gì ?
Ông đem cái đèn, người tính toán làm thí dụ. Thí dụ nầy
không đúng. Như vì không soi đốt đèn mà thể đèn không phải
không soi, nên không tự soi, nhờ đèn mà thể đèn không phải
không soi, cho nên không tự soi. Vì đèn phá tối, nhãn thức được
sinh; nhãn thức sinh rồi cũng có thể thấy đèn và bình v.v... các
vật.
Lại người tính toán, có thể biết sắc mình, cũng biết sắc người
khác, nên gọi biết nhau.
Ông nói nghiệp v.v.... Trong vấn nạn về nghiệp v.v... đã giải
đáp rồi, nên không lỗi này.
Lại nếu tâm thường một thì không nghiệp không báo. Sở dĩ
vì sao ? Chính vì tâm và chỗ sỏ y là nghiệp. Nếu tâm là một, đâu
có nghiệp báo ? Buộc hay mở v.v... đều như vậy.
Lại ông nói làm khác chịu khác. Đó cũng không đúng. Vì các
ấm nối nhau luôn, không phải một, không phải khác, vì sa vào nhị
biên.
Lại thế tục danh tự nói các nghiệp v.v… không phải
nghĩa chân thật nên trong ấm tương tục nói các danh tự kia thì
không lỗi. Cho nên biết có nhiều tâm.
Phẩm 73 : Thức tạm trụ
Hỏi : Đã rõ biết nhiều tâm. Nay các tâm là niệm niệm diệt
hay là có trụ một thời gian ngắn ? Có người nói : Tâm trụ một
Thành Thật Luận Trang 177 Tuệ Quang Foundation
thời gian ngắn. Sở dĩ vì sao ? Vì rõ biết sắc v.v.... Nếu niệm niệm
diệt, thì không thể rõ biết được. Cho nên không phải không trụ.
Lại nếu niệm niệm diệt thì quyết không biết được các sắc
v.v...các pháp. Sở dĩ vì sao ? Vì như điện sáng tạm trụ còn không
nhận biết được, huống là niệm niệm diệt mà rõ được ư ? Nay thật
có rõ biết nên mới biết các thức không phải niệm niệm diệt.
Lại nhãn thức nương nhãn căn duyên sắc, 2 thứ nầy không
khác, thức cũng không khác.
Lại tâm đủ có thể lực lấy xanh v.v... các màu sắc, nên biết
không phải niệm niệm diệt. Nếu ý ông bảo vì nối nhau liên tục,
nên có thể quyết rõ. Điều đó cũng không đúng. Vì nếu mỗi tâm
không thể định rõ, thì dù cho nối nhau liên tục cũng không rõ biết
được. Như một người mù không thể thấy sắc, thì nhiều người mù
cũng không thấy gì. Nếu ông lại bảo : Như mỗi mỗi sợi chỉ không
thể buộc voi, nhóm lại nhiều sợi thì được. Như vậy một tâm
không thể quyết rõ, mà nối nhau thì được. Đó cũng không đúng.
Vì trong mỗi mỗi sợi chỉ đều có chút sức mạnh, hòa hợp thì có
thể. Tâm trong một niệm không có chút sức mạnh rõ biết. Cho
nên nối nhau liên tục cũng phải không thể hiểu rõ, mà thật có hiểu
rõ. Cho nên biết không phải niệm niệm diệt.
Lại nếu tâm niệm niệm diệt, thì các hành nghiệp quá khứ vị
lai đều thành vô dụng, vì có chút thì gian ngắn tạm trụ, nên mới
có thể khiến thành hữu dụng. Cho nên biết tâm không phải niệm
niệm diệt. Tuy là vô thường phải có trụ một thời gian ngắn.
Phẩm 74 : Thức không trụ
Đáp : Ông nói vì tâm có rõ biết, nên không phải niệm niệm
diệt. Điều này không đúng. Vì sức các tướng tại tâm có khả năng
quyết rõ, chứ không phải vì trụ lại. Nếu không phải vậy, thì trong
âm thanh cũng không thể quyết rõ được. Sở dĩ vì sao ? Vì hiện
Thành Thật Luận Trang 178 Tuệ Quang Foundation
thấy điều này niệm niệm diệt, mà thật ra thì có quyết rõ. Cho nên
biết không phải vì tạm trụ mà có thể hiểu rõ.
Lại chính vì biết rõ là tâm, như biết xanh tức không phải biết
vàng; Cho nên dù tạm trụ đi nữa, biết xanh cũng không thể rõ biết
vàng được.
Lại khi biết xanh khác, khi biết không phải xanh khác. Một
pháp không nên 2 thời, là pháp với thời cùng lúc, thời với pháp
cũng vậy.
Lại nhận lấy có 2 cách : một là quyết rõ, hai là không quyết
rõ. Nếu thức không niệm niệm diệt, thì tất cả những gì nhận lấy
đều phải quyết rõ. Tôi cho là tùy thức sinh nhiều nối nhau, thì sự
nhận lấy mới rõ ràng. Nếu ít nối nhau thì không rõ.
Lại thức lấy trần, hoặc chậm hoặc nhanh tâm không nhất
định.
Ông nói nương cảnh duyên không khác. Nghĩa nầy đã thành.
Sắc niệm niệm diệt, nên nương duyên cũng khác.
Ông nói có thể lấy đầy đủ, là thức có thể lấy khắp thân phần,
nên gọi là lấy đầy đủ. Cho nên không có một thức có thể lấy khắp.
Sở dĩ vì sao ? Vì chưa lấy đầy đủ tâm đã diệt theo, thì đâu được có
tâm có thể lấy tất cả ?
Ông nói tác nghiệp vô dụng. Điều này không đúng. Như đèn
tuy niệm niệm diệt nhưng có tác dụng chiếu soi. Các nghiệp và
gió tuy niệm niệm diệt, cũng có thể lay động các vật. Thức nầy
cũng vậy.
Lại như đèn v.v... tuy niệm niệm diệt, cũng có thể lấy được.
Thức cũng như vậy, tuy niệm niệm diệt, cũng có thể lấy được.
Lại nữa, các tâm ý thức đều niệm niệm diệt. Sở dĩ vì sao ? Vì
xanh v.v... các màu sắc nhóm hiện tại trước mặt mà có thể mau
sinh diệt, nên biết không trụ.
Lại người hoặc khi sinh tâm tự bảo một lúc có thể lấy các
cảnh, cho nên thức không trụ. Nếu thức tạm trụ, thì người kia
Thành Thật Luận Trang 179 Tuệ Quang Foundation
không thể sinh tâm nghĩ lầm nầy. Sở dĩ vì sao ? Vì như giống rễ
nối nhau mới có tạm trụ, cho nên người kia trong đó không sinh ý
nghĩ sai lầm cho là mầm, thân v.v... đồng thời mà có. Cho nên biết
thức niệm niệm diệt.
Lại như người thấy cái bình liền sinh nhớ cái bình, vì thấy rồi
mới sinh nhớ, cho nên niệm niệm diệt.
Lại nếu các thức không niệm niệm diệt, thì một trí cũng phải
là tà cũng là chính. Như thấy người này, nhận là người, cũng nhận
là không phải người. Như vậy lấy nghi ngờ tức cũng lấy quyết
định là không được. Cho nên biết niệm niệm diệt.
Lại các phân biệt v.v… các nhân duyên, cho nên biết niệm
niệm diệt.
Lại tướng âm thanh nối nhau niệm niệm diệt, trong đó sinh
biết. Cho nên biết tâm niệm niệm diệt.
Phẩm 75 : Thức cùng sinh
Hỏi : Đã rõ tâm niệm niệm diệt. Nay các thức là đồng thời
cùng sinh hay là thứ lớp sinh ? Có luận sư nói thức đồng thời
cùng sinh. Sở dĩ vì sao ? Vì có người đồng thời có thể lấy các trần
như người thấy bình cũng nghe tiếng nhạc, mũi ngửi hoa thơm
miệng cũng ngậm vị thơm, gió thổi xúc thân, cũng suy nghĩ âm
điệu khúc hát. Cho nên biết đồng thời có thể lấy các trần.
Lại nếu một thức ở trong thân có thể khắp biết khổ vui. Vậy
thì đem một nhãn thức cũng có thể lấy các cây. Điều này là không
thể. Vì làm sao một thức đều biết rễ, cộng, nhánh, lá, hoa quả ?
Cho nên biết nhiều thức đồng thời cùng sinh khắp lấy các xúc.
Lại trong nhiều thứ màu sắc đồng thời sinh biết, mà biết
xanh tức không phải biết vàng. Cho nên biết đồng thời nhiều thức
cùng sinh.
Lại các phần trong thân có thể mau sinh biết, khi lấy một
phần tức có thể khắp lấy.
Thành Thật Luận Trang 180 Tuệ Quang Foundation
Lại trong Phật pháp không có hữu phần, không thể một thức
khắp lấy các phần. Cho nên biết đồng thời có thể sinh nhiều thức
khắp lấy các phần.
Phẩm 76 : Thức không đồng thời cùng sinh
Đáp : Ông nói các thức đồng thời cùng sinh. Điều này không
đúng. Sở dĩ vì sao ? Vì thức đợi nghĩ mới sinh. Như trong kinh
nói : Nếu mắt nhập vào sắc không hoại, nhập trong cảnh biết mà
nếu không nghĩ có thể sinh thức, thì nhãn thức không sinh. Cho
nên biết các thức vì đợi nghĩ vậy, chứ không phải đồng thời sinh.
Lại tất cả pháp sinh đều thuộc nghịêp nhân, vì tâm mỗi mỗi
sinh nên quả báo địa ngục v.v... không phải đồng thời thụ báo.
Nếu nhiều tâm cùng sinh, thì phải đồng chịu quả báo một lúc, mà
thật ra là không thể. Cho nên biết các thức không phải đồng một
thời sinh.
Lại thức có thể mau lấy cảnh duyên, như vòng lửa quay tròn,
vì quay nhanh nên không thấy ranh giới. Các thức cũng vậy, vì
thời gian trụ ngắn nên không phân biệt được.
Lại các thức nếu đồng thời sinh thì tất cả pháp sinh đều có
thể một niệm một thời cùng sinh, có gì ngăn ngại ? Vậy thì tất cả
pháp sinh không cần công đức, không cần tạo nghiệp công đức
cũng vẫn được giải thoát ? Điều này là không thể được. Cho nên
biết các thức không phải một thời sinh.
Lại thân bị tâm sai khiến, nếu các tâm đồng sinh thì thân bị
tan nát, vì các tâm đi lại một thời sinh, mà thật thân không hư
hoại, cho nên biết các thức không phải một thời sinh.
Lại mắt thấy vật bên ngoài như giống, rễ, mộng v.v... và
trạng thái Ca-la-la lúc mới đậu thai v.v... rồi đến hình hài thiếu,
tráng, lão tuần tự mà có, tâm cũng phải như vậy.
Lại như trong kinh nói : Nếu khi thụ vui, thì 2 thụ diệt, đó là
khổ thụ và bất khổ bất lạc thụ. Và như vậy v.v.... Nếu thức đồng
Thành Thật Luận Trang 181 Tuệ Quang Foundation
thời sinh thì phải sinh 3 thứ thụ cùng một lúc, mà thật đâu phải
vậy. Cho nên biết các thức không một thời sinh.
Lại vì trong một thân một tâm sinh, nên gọi là một người.
Nếu thức đồng sinh thì một thân phải có nhiều người mà thật đâu
phải. Cho nên trong một thân thức không cùng sinh một lúc.
Lại nếu thức cùng sinh, thì phải một lúc biết, biết tất cả pháp.
Sở dĩ vì sao ? Vì trong mắt có vô lượng trăm ngàn thức sinh. Cho
đến trong ý cũng đều như vậy. Như vậy thì phải biết tất cả pháp,
mà thật đâu phải. Cho nên biết các thức không sinh cùng một lúc.
Hỏi : Các thức vì sao phải thứ tự sinh ?
Đáp : Vì một thứ lớp duyên, nên mỗi mỗi thức sinh.
Hỏi : Cớ sao chỉ có một thứ lớp duyên ?
Đáp : Pháp phải như vậy. Như một thần một ý của ông, tôi
cũng như vậy, một ý một thứ lớp duyên. Như mộng thuộc hạt
giống, cần phải thứ lớp sinh mộng, mà không sinh cộng v.v....
Cũng như vậy pháp nào tùy thuộc tâm, cần phải kế tâm đó mà
sinh, không sinh các pháp khác.
Lại tướng thức quyết định, mỗi mỗi khởi diệt thứ lớp thuộc
nhau, như tướng lửa và nóng. Cho nên các thức phải thứ lớp
sinh. ( còn tiếp)

THÀNH THẬT LUẬN
( Quyển 6 )
Ha-lê-bạt-ma tạo luận
Cưu-ma-la-thập dịch
Nguyên Hồng dịch tiếng Việt
Phẩm 77 : Tưởng ấm trong nhóm khổ đế
Hỏi: Pháp gì là tưởng ?
Đáp : Vì lấy tướng giả pháp nên gọi là tưởng. Bởi vì sao ? Vì
như trong kinh nói : Có người tưởng ít, có người tưởng nhiều, có
Thành Thật Luận Trang 182 Tuệ Quang Foundation
người tưởng vô lượng, hoặc không có tưởng, mà thật không có
các pháp nhiều ít v.v... nầy, cho nên biết tưởng là lấy tướng giả
pháp. Tưởng nầy phần nhiều ở trong điên đảo mà nói. Như nói,
trong vô thường, điên đảo tưởng thường, trong khổ điên đảo
tưởng vui, trong vô ngã điên đảo tưởng ngã, trong bất tịnh điên
đảo tưởng tịnh. Cũng nói trong tín giải quán tất cả nhập v.v....
Con người vì tưởng 3 thứ sai khác lấy cảnh duyên nghĩa là trong
oán thân con người trong cảnh duyên ấy tiếp sinh 3 thứ thụ. Thụ
sinh 3 thứ độc, nên tưởng có lỗi. Vì tưởng có lỗi, nên Phật dạy cần
phải đoạn dứt. Như nói mắt thấy sắc đừng lấy tướng. Cho nên biết
lấy tướng giả pháp, gọi là tưởng.
Hỏi : Lấy giả pháp là tưởng ?
Nghĩa nầy không phải. Bởi vì sao ? Vì tưởng nầy có thể dứt
phiền não. Như trong kinh nói : Vì khéo tu vô thường tưởng, nên
có thể dứt được tất cả nhiễm cõi Dục, nhiễm cõi Sắc, và nhiễm cõi
Vô sắc, tất cả hý động, ngã mạn và vô minh. Cho nên biết không
phải chỉ lấy giả pháp là tưởng. Lấy giả pháp là tưởng thì phải
không dứt được các phiền não ?
Đáp : Thật tuệ này lấy tưởng gọi tên. Như nói người thụ giả,
đối với tất cả được giải thoát. Cũng nói dùng ý dứt tất cả phiền
não.
Lại như nói dùng nghiệp không đen không trắng có thể hết
các nghiệp. Cũng nói tín có thể qua sông, nhất tâm qua biển, tinh
tiến trừ khổ, tuệ có thể sinh thanh tịnh. Mà thật dùng tuệ mới được
qua, chứ không phải dùng tín v.v.... Như vậy trí tuệ mà lấy tưởng
gọi tên.
Lại trong kinh nói : Lấy tuệ làm dao. Như nói thánh đệ tử
dùng gươm trí tuệ có thể dứt phiền não. Cho nên biết trí tuệ có thể
dứt kết, chứ không phải tưởng.
Lại trong 37 phẩm thánh đạo không nói tên của tưởng nên
không đoạn dứt kết.
Thành Thật Luận Trang 183 Tuệ Quang Foundation
Lại trong kinh nói : Người biết, người thấy có thể được hết
lậu, chứ không phải người không thấy không biết.
Lại trong 3 căn vô lậu nói : căn chưa biết muốn biết, căn biết,
căn đã biết, đều lấy cái biết mà gọi tên.
Lại Phật nói : Tuệ là tuệ phẩm, giải thoát tri kiến phẩm.
Lại nói không thiền nào không trí, không trí nào không thiền.
Lại trong kinh thứ lớp nói người giữ gìn tịnh giới thì tâm
không ăn năn, cho đến giữ tâm nơi cái biết, được như thật.
Lại pháp trí v.v... đều lấy tuệ làm tên.
Lại trong 3 môn học, tuệ học là vượt trội hơn hết. Cũng nói
trí tuệ đầy đủ là tri kiến giải thoát đầy đủ.
Lại trong Thất tịnh nói tri kiến tịnh.
Lại Phật gọi là hiểu biết đúng đắn tất cả pháp nên gọi là trí
tuệ vô thượng. Tưởng, thì không nói như vậy. Lại lẽ ra phải dùng
tuệ dứt các phiền não, không phải dùng tưởng. Bởi vì sao ? Như
Kinh Đại Nhân Duyên nói : Nếu nghĩa nào ăn nhập vào trong tuđa-
la, và không trái với pháp tướng, tùy thuận Tì-ni, thì nghĩa ấy
nên lấy.
Lại nói trong chính nghĩa để riêng lời tùy nghĩa, trong chính
ngữ để riêng nghĩa tùy ngữ. Cho nên trong kinh tuy nói vô thường
tưởng v.v... có thể dứt trừ các kết mà lý đúng ra phải là tuệ.
Lại nói vô minh là gốc phiền não, vì lìa vô minh nên tuệ
được giải thoát. Cho nên lấy tuệ dứt các phiền não.
Hỏi : Ông nói các tưởng lấy tướng giả pháp. Vậy cái gì là
tướng ?
Đáp : Có người lấy giả pháp làm tướng. Giả pháp có 5 thứ :
1. Quá khứ. 2. Vị lai. 3. Danh tự. 4. Tướng. 5. Người. Điều này
không đúng. Bởi vì sao ? Vì người do 5 ấm tạo thành, tướng
không có nhân tạo thành. Cho nên không phải giả danh.
Hỏi : Vậy nghĩa của tướng là gì ?
Thành Thật Luận Trang 184 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Cảnh duyên tức là tướng. Vì sao biết được ? Như nói
sư tử chúa loài thú, đứng bên nầy bờ sông, lấy tướng bờ bên kia,
rồi cắt ngang dòng mà qua. Nếu không như vậy thì vẫn ở bờ nầy,
đến chết không rời bỏ. Trong kinh nầy lấy cây cối v.v... làm
tướng.
Lại nói Tì-kheo nêu tướng, trong ấy cũng lấy áo v.v... làm
tướng.
Lại nói Vậy Tôn hiện tướng như vậy.
Lại quan Tể tướng nhân khi vua ăn, nên mới lấy tướng thèm
thuồng.
Lại nói sớm mai là tướng mặt trời mọc.
Lại nói 3 tướng là nhiếp tướng, phát tướng và xả tướng.
Trong ấy lấy nhiếp v.v... làm tướng. Tùy nghĩ pháp nào, buộc tâm
nơi cảnh duyên, gọi là nhiếp tướng.
Lại chư thiên khi thoái đọa, có 5 tướng hiện ra, trong đó lấy
5 pháp làm tướng. Cho nên biết không lấy giả pháp làm tướng,
cũng không phải nhiếp thuộc hành ấm.
Lại Xá-lợi-phất lấy diện mạo các tướng của Phú-lâu-na.
Lại trong kinh nói mắt thấy sắc không lấy tướng.
Lại trong pháp ấn nói nếu Tì-kheo tự thấy đoạn sắc thanh các
tướng, ta chưa nói người nầy được tri kiến thanh tịnh . Vì các lẽ
đó nên biết duyên tức là tướng, không phải giả pháp.
Hỏi : Duyên không phải tướng. Bởi vì sao ? Vì Vô tướng
Tam-muội cũng có duyên. Lại nói thấy sắc rồi không lấy tướng.
Nếu duyên là tướng, làm sao lấy sắc mà không lấy tướng ?
Đáp : Tướng có 2 thứ : Có tướng có lỗi, có tướng không lỗi.
Vì ngăn tướng lỗi, nên nói thấy sắc không lấy tướng. Vô tướng
mà duyên cũng có lỗi, sau sẽ nói rộng ở phần diệt đế. Nghĩa là
diệt 3 thứ tâm, nên gọi vô tướng. Hành giả mới nhập đạo thì
không phải tất cả tướng đều là lỗi. Nếu lấy nhiếp tướng, phát
tướng và xả tướng v.v... thì không lỗi.
Thành Thật Luận Trang 185 Tuệ Quang Foundation
Lại Niết-bàn gọi là vô pháp, cho nên không nên nạn vấn.
Như nói nếu lấy pháp tướng, không thể là ô nhiễm, mà lấy giả
danh tướng, thì sinh phiền não. Bởi vì sao ? Vì lấy tướng sai khác
oan, thân v.v... nên sinh buồn, vui v.v.... Do đó có thể sinh các lỗi
tham, giận v.v.... Cho nên biết lấy tướng giả pháp, đó gọi là
tưởng.
Phẩm 78 : Tướng của thụ
trong luận về thụ của nhóm khổ đế
Hỏi : Vậy nào là thụ ?
Đáp : Khổ, vui, không khổ vui.
Hỏi : Sao gọi là khổ, sao gọi là vui, sao gọi là không khổ vui
?
Đáp : Nếu tăng ích thân tâm là vui, tổn giảm thân tâm là khổ,
trái với 2 điều trên là không khổ không vui.
Hỏi : Ba thứ thụ này không có tướng quyết định. Bởi vì sao ?
Vì như một việc, hoặc tăng ích thân tâm, hoặc làm tổn giảm, hoặc
đều trái cả 2 ?
Đáp : Đó là cảnh duyên bất đinh, chứ không phải thụ bất
định. Bởi vì sao ? Vì như cùng là một thứ lửa, mà khi thì sinh vui,
khi sinh khổ, khi sinh không khổ không vui. Từ duyên sinh thụ là
quyết định. Như một việc mà tùy lúc làm nhân cho vui, hoặc làm
nhân cho khổ; hoặc làm nhân cho không vui không khổ.
Hỏi : Do lúc nào duyên nầy làm nhân cho khổ vui v.v...?
Đáp : Tùy lúc có thể ngăn chận khổ, thì lúc đó sinh tướng
vui. Như người đang bị lạnh, bấy giờ tiếp xúc hơi nóng là sinh
tướng vui.
Hỏi : Tiếp xúc nóng nầy nếu quá nhiều lại có thể làm khổ,
đâu phải vui, cho nên biết thụ vui cũng không có ?
Đáp : Theo danh tướng vậy tục nên mới có thụ vui, không
phải nghĩa chân thật. Tùy theo người nầy khi thích tiếp xúc nóng
Thành Thật Luận Trang 186 Tuệ Quang Foundation
thì tăng ích, lại ngăn được khổ trước, bây giờ trong khi ấy thì sinh
tướng vui. Nếu lìa khổ trước, thì tiếp xúc nóng này không có thể
làm vui nên không phải thật có.
Hỏi : Ông nói chỉ vì danh tướng nên có vui. Điều này không
đúng. Bởi vì sao ? Vì trong kinh, Phật tự nói 3 thụ, nếu thật không
vui, làm sao nói 3 thụ ?
Lại nói sắc nếu quyết định là khổ, thì chúng sinh trong đó
không sinh tham đắm.
Lại nói những gì là ý vị trong sắc ? Như nói vì do sắc có thể
sinh vui mừng.
Lại nói khi lạc thụ sinh thì vui, khi trụ thì vui, mà khi hoại thì
khổ. Khổ thụ khi sinh thì khổ, khi trụ thì khổ, mà khi hoại thì vui.
Cái thụ không khổ không vui thì không biết khổ không biết vui.
Lại lạc thụ là phúc báo, khổ thụ là tội báo. Nếu thật không có
lạc thụ, thì tội phúc chỉ có quả khổ, mà thật không phải vậy.
Lại trong cõi Dục cũng có lạc thụ, nếu thật không có lạc thụ
thì cõi Sắc, cõi Vô sắc phải không có thụ, mà thật không phải vậy.
Lại nói trong lạc thụ là tham sai khiến, nếu không có lạc thụ
thì tham sai khiến chỗ nào ? Không nên nói trong khổ thụ là tham
sai khiến. Cho nên biết thật có lạc thụ ?
Đáp : Nếu thật có lạc thụ thì phải nói ra tướng vậy nào là
vui, mà thật không thể nói được. Phải biết chỉ vì trong khổ có sai
khác mà gọi là tướng vui mà thôi. Tất cả vậy giới, từ dưới đại địa
ngục lên đến cõi Hữu đỉnh, đều là tướng khổ, bị nhiều khổ bức
bách. Trong khổ ít sinh tướng vui đó thôi. Như người bị khổ nóng
bức, thì lấy cảm xúc lạnh làm vui. Cho nên trong các kinh đều nói
như vậy, không có phương hại gì.
Hỏi : Cũng có thể nói tất cả vậy gian đều là vui, vì do trong ít
vui, mà sinh tưởng khổ. Nếu không phải vậy, thì cũng không được
nói do trong ít khổ, mà sinh tưởng vui ?
Thành Thật Luận Trang 187 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Tướng của khổ thụ thô, cho nên không thể cho ít vui là
khổ.
Lại vui dù ít, cũng không phải tướng bức bách. Bởi vì sao ?
Vì không thấy có người thụ chút vui mà đưa tay lên kêu gào.
Lại lạc thụ chuyển ít dần nên gọi là tướng tịch diệt, giống
như bậc trên chuyển dần tịch diệt. Cho nên nói trong ít vui sinh
tướng khổ là chỉ có lời nầy : Phàm phu ngu nhân, trong ít khổ,
vọng sinh tưởng vui thì có đạo lý.
Phẩm 79 : Hành khổ
Các thụ đều khổ. Bởi vì sao ? Các vật áo cơm v.v... đều là
nhân khổ, không phải nhân vui. Vì sao biết được ? Vì hiện thấy áo
cơm tăng quá thì khổ cũng tăng, nên gọi là nhân khổ.
Lại đau tay các khổ có thể chỉ tướng được, mà tướng vui
không chỉ được.
Lại áo cơm các vật đều vì để trị bệnh, như người không khát,
uống không thấy vui.
Lại người bị khổ bức bách, đối với khổ khác mà sinh tưởng
vui. Như người sợ chết, cho hình phạt là vui.
Lại roi gậy dao xà mâu, các nhân duyên khổ đều là quyết
định, mà các nhân vui thì không phải vậy.
Lại vì tất cả đồ cần dùng rốt ráo là khổ, nên phải biết trước
có, sau rồi mới hiểu, như guốc mòn dần.
Lại với nữ sắc v.v... trước sinh tưởng vui. Lìa nhớ tưởng tà
vạy mới thấy tội lỗi của nó.
Lại nữ sắc v.v... đều là nhân khổ khô héo tiêu mòn sinh các
bệnh hoạn. Cho nên không phải là vui.
Lại khi lìa dục đều xả duyên này. Nếu thật là vui thì sao lại
xả ?
Lại người ta tùy việc sinh vui, về sau cũng chính việc ấy lại
sinh tâm khổ. Cho nên biết không phải vui.
Thành Thật Luận Trang 188 Tuệ Quang Foundation
Lại thân là ruộng khổ, không phải ruộng vui, như trong
ruộng đồng, lúa mạ khó trồng, mà cỏ lác dễ sinh. Giống như vậy
ruộng thân thì các khổ dễ tụ, mà vui hão khó sinh.
Lại người trong khổ trước, khởi sinh vui điên đảo, sau sinh
tham đắm. Cái vui nếu có chút thật, thì không gọi là điên đảo.
Như Thường, Ngã, Tịnh, chút thật cũng không có. Cái vui cũng
như vậy, vì đều là điên đảo.
Lại người trong khổ cực, mà sinh lòng vụi, như gánh nặng
đổi vai, nên biết không có vui.
Lại trong kinh Phật nói : Phải quán vui là khổ, quán khổ như
mũi tên đâm vào tim, phải quán không khổ không vui, là vô
thường niệm niệm sinh diệt. Nếu quyết định có vui, không nên
quán khổ. Phải biết phàm phu nhận khổ làm vui, cho nên Phật nói
người phàm phu tùy chỗ sinh tưởng vui. Ông nên quán khổ.
Lại 3 thứ thụ nầy đều gồm trong khổ đế. Nếu thật là vui Vì
sao gồm trong khổ đế ?
Lại khổ là chân thật, mà tướng vui là hư vọng. Vì sao biết
được ? Vì tâm quán khổ có thể dứt các kết, không phải tâm vui,
nên biết đều là khổ.
Lại tất cả muôn vật đều là nhân khổ, giống như oán tặc. Có 2
thứ oán tặc : Hoặc có thể làm khổ tức thì, hoặc trước tuy có chút
thiện, sau lại hại người. Muôn vật cũng vậy, hoặc ban đầu sinh
thiện, sau trở lại làm hại, cho nên biết đều là khổ.
Lại chúng sinh được dục không chán, như uống nước mặn
không đã khát nên khổ.
Lại không cầu dục vọng thứ gì, mới gọi là vui, tìm cầu nên
gọi là khổ. Không thấy trong vậy gian có người nào không cầu,
cho nên biết không có vui.
Lại tất cả chjúng sinh thường bị thân khổ tâm khổ đuổi theo
cho nên biết thân là khổ.
Thành Thật Luận Trang 189 Tuệ Quang Foundation
Lại thân như lao ngục thường bị xiềng xích. Vì sao biết được
? Bởi diệt thân này mới gọi là giải thoát khổ xiềng xích.
Lại tất cả vật dần dần tuần tự đều trở nên xấu ác. Như thân
địa ngục v.v… mùa đông mùa hạ v.v…, căn trẻ nhỏ v.v… biết các
tướng lạnh nóng, đợi về sau đều chán ghét, nên biết đều là khổ.
Lại thân có nhiều oán tặc, như cái rương nhốt rắn độc, như 5
tên giặc cầm dao rượt, như kẻ giặc giả làm thân thiện, và như giặc
giã phá hoại xóm làng, như ở bên này bờ con sông lớn bị các khổ
rượt đuổi, cho nên biết đều là khổ.
Lại biết thân chúng sinh bị các khổ rượt đuổi, như sinh khổ,
già khổ, bệnh khổ, chết khổ, oán ghét gặp nhau khổ, thương yêu
chia lìa khổ, trái điều mong ước khổ v.v… thường đuổi theo, cho
nên biết thân là nơi hội tụ các khổ.
Lại vì có thân cho nên có cái sở hữu của cái ta và tham đắm
v.v… tụ tập các suy não, cho nên biết thân là nhân duyên các khổ.
Lại 5 đường chúng sinh hành 4 oai nghi đều không có vui.
Bởi vì sao ? Như trong kinh nói sắc là khổ, thụ tưởng hành thức là
khổ. Nếu khi sắc sinh, phải biết tức là già, bệnh, chết v.v… các
suy não sinh. Thụ tưởng hành thức cũng như vậy.
Lại thân thường gặp những việc đột xuất, bởi thân miệng ý
tạo tác các việc. Tạo tác các việc đều gọi là khổ.
Lại các hiền thánh lấy thân làm vui, nếu thật có vui, sao mất
vui mà sinh hoan hỷ ? Cho nên biết đều là khổ.
Phẩm 80 : Hoại khổ
Hỏi : Ông tuy đem nhiều nhân duyên để thuyết minh khổ, mà
người đời hãy còn tham vui, tùy được sở dục cho là vui ?
Đáp : Điều này trước đã đáp. Vì phàm phu điên đảo nên lấy
khổ làm vui. Lại bị ngu si làm hại thì làm sao tin được ! Tuy được
sở dục cũng nên quán là khổ. Bởi vì sao ? Vì những thứ đó đều vô
thường, khi hư hoại sẽ sinh khổ. Như trong kinh Phật nói : Người,
Thành Thật Luận Trang 190 Tuệ Quang Foundation
trời yêu sắc thích sắc tham sắc. Khi sắc đó hư hoại sinh sầu khổ
lớn. Thụ tưởng hành thức cũng như vậy. Vì đều bị hư hoại nên
phải biết cũng đều là khổ.
Lại người thụ cái vui giả dối mà sinh lòng tham đắm. Do
nhân duyên tham đắm sinh các lỗi giữ gìn v.v…. Nên phải quán
vui là rất khổ.
Lại vui là cửa ngõ cho khổ vào. Bởi tham vui, nên từ 3 độc
khởi các nghiệp bất thiện, đọa địa ngục v.v... chịu các khổ não.
Nên phải biết đều bởi vui là cội gốc của khổ.
Lại tất cả hội họp đều là tướng của biệt ly. Khi mất chỗ yêu
thương, sẽ chịu các khổ rất sâu nặng nề, do yêu thương mà ra.
Cho nên biết rằng hưởng thụ vui còn khổ hơn là chịu khổ.
Lại sinh ra những thứ để làm vui đều là lừa dối chúng sinh
khiến đọa các khổ, như dã cầm ăn phải bả độc, như cá cắn mồi,
đều bởi tự rước lấy tại hại. Vật vui cũng vậy, nên phải quán khổ.
Lại trong sự hưởng lạc, được chút mùi vị, mà bị tội lỗi nhiều
vô lượng. Như chim cá được vị rất ít mà bị hoạn nạn rất nhiều,
nên phải quán khổ.
Lại lạc thụ là chỗ sinh phiền não. Bởi vì sao ? Vì tham thân
nên muốn đồ cần dùng; vì nhân duyên dục vọng nên giận dữ v.v...
các phiền não lần lượt phát sinh.
Lại lạc thụ là cội gốc sinh tử. Bởi vì sao ? Vì nhân vui sinh
ái. Như trong kinh nói ái là gốc khổ.
Lại tất cả chúng sinh có những tạo tác không gì không vì vui,
nên gọi là gốc khổ.
Lại lạc thụ khó trừ bỏ còn hơn gông cùm.
Lại trong sinh tử bị tham vui trói buộc. Bởi vì sao ? Vì tham
vui nên không thoát sinh tử.
Lại lạc thụ này thường hay sinh khổ như khi tìm cầu thì dục
vọng là khổ, khi mất thì nhớ tiệc là khổ, khi được cũng khổ vì
không biết chán, như biển cả nuốt các dòng sông, đó cũng là khổ.
Thành Thật Luận Trang 191 Tuệ Quang Foundation
Lại lạc thụ là nguyên nhân không mỏi mệt. Bởi vì sao ? Vì
chúng sinh khi tìm nhân vui, dù trải qua gian nan nguy hiểm đến
đâu cũng cho là vui, nên tâm không mỏi mệt. Cho nên người trí
cần phải quán khổ.
Lại lạc thụ là nguyên nhân khởi các khởi các nghiệp. Bởi vì
sao ? Vì tham vui nên có thể khởi nghiệp thiện, vì tham vui hiện
tại nên khởi nghiệp bất thiện, tất cả cũng là nhân để thụ thân. Bởi
vì sao ? Vì lấy vui để sinh ái; ái nên mới thụ thân.
Lại lạc thụ với Niết-bàn trái nhau. Bởi vì sao ? Vì chúng sinh
tham đắm cái vui sinh tử, nên không vui Niết-bàn.
Lại người chưa lìa dục ưa lạc thụ này; bởi ưa nên sinh khổ.
Cho nên biết lạc thụ là gốc các khổ.
Lại trong kinh nói 2 cầu khó dứt : một là cầu được, hai là cầu
sống. Cầu theo ý muốn các thứ là cầu được. Cầu được thọ mạng
để hưởng thụ các dục này gọi là cầu sống. Hai thứ cầu nầy, đều
lấy lạc thụ làm gốc. Cho nên người trí nên dứt những điều khó
dứt, nghĩa là có thể như thật quán tướng lạc thụ.
Lại mùi vị của lạc thụ cũng có thể làm nhiễm ô người chưa
được lìa dục. Tâm của người đại trí cho là khó dứt còn hơn khổ
thụ.
Lại mùi vị của lạc thụ là nhân của tham v.v..., nếu không có
lạc thụ, thì không có tham.
Lại mùi vị của lạc thụ, người có chân trí có thể cắt đứt. Bởi
vì sao ? Vì các trí vậy gian là muốn lấy mùi vị của bậc trên, mới
có thể xả bậc dưới. Cho nên biết lạc thụ còn quá hơn khổ thụ.
Lại tâm chúng sinh ràng buộc nơi sinh ra. Thậm chí như súc
sinh cũng tham tiếc sắc thân, nên phải biết đều bởi mùi vị của lạc
thụ. Cho nên phải quán lạc thụ là khổ.
Phẩm 81 : Luận về 3 thụ
Hỏi : Đã biết tất cả đều khổ. Do sai khác nào nên có 3 thụ ?
Thành Thật Luận Trang 192 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Tức một khổ thụ, vì thời gian sai khác nên có 3 thứ. Có
thể não hại gọi là khổ. Não hại rồi lại cầu khổ khác để ngăn khổ
trước. Vì mong cầu nên khổ lớn kia được chút tạm ngừng, bấy giờ
gọi là vui. Buồn vui không phân biệt, không mong không cầu, bấy
giờ gọi là không khổ không vui.
Hỏi : Không khổ không vui không gọi là thụ. Bởi vì sao ? Vì
khổ vui cảm giác được, mà không khổ vui, không thể cảm giác
được ?
Đáp : Người này vì cảm xúc 3 thứ xúc là xúc khổ, xúc vui và
xúc không khổ không vui. Vì có nhân nên phải biết có quả. Như
người đang rất nóng gặp được xúc lạnh thì cảm giác vui, mà bị
xúc nóng thì cảm giác khổ, được xúc không lạnh không nóng, thì
cảm giác không khổ không vui. Cho nên biết có thụ không khổ
không vui nầy. Ý ông cho rằng trong xúc không khổ không vui,
không thể sinh thụ. Điều này không đúng. Bởi vì sao ? Vì người
cảm giác xúc không nóng không lạnh nầy, cảm biết được cảnh sở
duyên, tức gọi là thụ, sao nói không có ?
Lại cảnh duyên có 3 trường hợp khác nhau. Trường hợp oán
thân thì với người thân sinh vui, với người oan sinh buồn. Còn với
người không oan thân thì không vui buồn. Cho nên biết do tưởng
sai khác mới có 3 thứ thụ này. Vì duyên sai khác nên khởi 3 thứ
tưởng nầy.
Lại cảnh duyên có 3 thứ là làm tăng ích, làm tổn giảm, hoặc
đều trái cả 2. Có vui, không vui, và có đều trái cả 2. Cũng có chỗ
tham, chỗ sân chỗ si. Có mừng, không mừng, có đều trái cả 2. Có
phúc quả, tội quả, có bất động quả. Trong các cảnh duyên này tùy
trường hợp sinh 3 thụ. Cho nên biết có thụ không khổ không vui
nầy.
Lại chỗ khá vừa lòng gọi là lạc thụ; chỗ trái nghịch lòng gọi
là khổ thụ, không nghịch không thuận gọi là không khổ không lạc
thụ.
Thành Thật Luận Trang 193 Tuệ Quang Foundation
Lại tám pháp của vậy gian là được, mất, chê, khen, tán
dương, bài bác, khổ, vui, người phàm phu đối với mất v.v... 4
pháp là nghịch ý, đối với được v.v... 4 pháp cho là vừa ý. Chắc
phải có Thánh nhân lìa dục mới có thể bỏ cả 2, bỏ gọi là thụ
không khổ không vui. Cho nên không phải là không có thụ ấy.
Hỏi : Nếu vì nhân duyên xúc v.v... nên có 3 thụ thì tất cả tâm
hành đều gọi là thụ. Bởi vì sao ? Vì có bao nhiêu tâm hành ở trong
thân, đều là khổ, vui, không khổ không vui ?
Đáp : Như vậy tất cả tâm hành đều gọi là thụ. Bởi vì sao ? Vì
trong kinh nói 18 ý hành. Trong đó chỉ là một ý có 18 thứ sai
khác. Đó là: 6 hỷ hành, 6 ưu hành, 6 xả hành. Vì tưởng phân biệt
nên có khổ phần, lạc phần, xả phần. Cho nên biết tất cả tâm hành
không không phải là thụ.
Lại trong kinh nói : Các thụ đều khổ. Cho nên biết tâm hành
ở trong thân đều là khổ.
Lại nói nếu sắc sinh tức là khổ sinh. Vì sao sắc gọi là khổ ?
Vì là nhân của khổ. Cho nên biết cảnh duyên và các căn đều có
thể sinh khổ. Cho nên tất cả tâm hành đều gọi là thụ. Vì hành khổ
nên tất cả các hành cần phải quán là khổ. Vì hoại khổ nên phải
quán lạc thụ là khổ. Khổ khổ tức khổ. Ba thứ khổ này đều từ các
duyên hòa hợp sinh ra, vì niệm niệm diệt nên Thánh nhân quán
khổ. Cho nên tất cả tâm hành đều gọi là thụ.
Hỏi : Các thụ vô lậu cũng là khổ sao ?
Đáp : Cũng khổ. Bởi vì sao ? Vì các thụ vô lậu Thánh nhân
cũng thứ tự xả. Từ Sơ thiền trở đi cho đến chứng tất cả diệt đều có
khổ.
Lại vui hữu lậu thiền với vui vô lậu thiền đâu có khác gì ?
Tùy hữu lậu thiền vì nhân nào đó nên khổ. Các thiền vô lậu cũng
bởi khổ nầy.
Lại như Thánh nhân trụ tâm vô lậu rất nhàm chán tất cả. Cho
nên sinh tâm vô lậu thì sinh nhàm chán, như lông mi đâm vào
Thành Thật Luận Trang 194 Tuệ Quang Foundation
mắt. Phàm phu không biết đều lấy khổ làm vui. Trí Thánh nhân
biết sâu nên chán lìa cõi Hữu đỉnh, hơn cả những người khác chán
ghét cõi Dục. Cho nên khổ vô lậu dụ với hữu lậu.
Lại các bậc Thánh nhân được tâm vô lậu, chỉ hướng về Niếtbàn.
Bởi vì sao ? Vì bấy giờ người nầy thấy rõ tất cả khổ của pháp
hữu vi, nếu thụ vô lậu là vui, thì nên vui mừng, không nên lại sinh
tâm hướng về Niết-bàn.
Hỏi: Nếu các tâm hành đều gọi là thụ, thì sao còn riêng có
các tâm pháp v.v...?
Đáp : Tức là trong một thụ duyên này, hành khác nên có sai
khác, các tâm pháp v.v... cũng hành duyên khác, chỉ khi thức
duyên, hành nầy gọi là tâm. Các điều này như trước đã nói là tất
cả pháp, khi ở trong thân, vì có lợi ích v.v... các sai khác, cho nên
gọi là thụ.
Lại phần nhiều vì tâm có thể khởi phiền não, bấy giờ gọi là
thụ. Như trong kinh nói : Trong lạc thụ tham sai khiến. Trong khổ
thụ sân sai khiến. Trong không khổ không lạc thụ là vô minh sai
khiến. Cho nên trong cảnh duyên tưởng phân biệt, mừng v.v... các
pháp gọi là thụ. Bởi vì sao ? Vì khi ấy có thể sinh các phiền não.
Hỏi : Nếu trong mỗi mỗi thụ đều bị 3 phiền não ấy sai khiến,
Vì sao quyết định nói trong lạc thụ tham sai khiến ?
Đáp : Trong khổ thụ không nên tham sai khiến. Si khiến tất
cả chỗ vì sức mạnh của si. Trong khổ sinh tưởng vui, vì không
thấy biết việc nên bị khổ mới sinh sân. Vì thụ không khổ không
vui vi tế nên không biết tham sân. Bởi vì sao ? Vì người nầy trong
đó không sinh tưởng khổ vui, vì không thấy biết việc nên chỉ sinh
si sai khiến mà thôi.
Lại trong cảnh duyên xả, không khổ vui, nếu tham sân không
hiện hành, nên phàm phu trong đó bảo là cảnh duyên có thể thắng.
Cho nên Phật nói ông không thắng duyên nầy đâu, chỉ vì chưa hay
biết nên tham sân không hiện hành đó thôi. Như trong kinh nói :
Thành Thật Luận Trang 195 Tuệ Quang Foundation
Phàm phu trong sắc sinh tâm xả là đều y chỉ nơi sắc. Nếu thắng
duyên nầy với ngã làm tăng ích hay tổn giảm, thì trở lại sinh tham
sân. Cho nên biết chưa thắng được cảnh duyên.
Lại thụ không khổ không vui, tướng đó tịch diệt, như định vô
sắc. Vì tịch diệt nên phiền não hiện hành rất vi tế, phàm phu trong
đó sinh trưởng là giải thoát. Cho nên Phật nói trong đó có vô minh
sai khiến.
Lại vì chưa biết được cảnh duyên nên khổ vui chưa hiểu rõ.
Nếu biết khổ vui trong cảnh duyên ấy thì hiểu rõ được, bấy giờ
mới sinh tham sân.
Hỏi : Nếu biết được cảnh duyên nầy thì sinh tưởng khổ vui.
Cho nên chỉ phải có thụ khổ vui ?
Đáp : Người nầy có khi trong cảnh duyên ấy tâm không sinh
vui không sinh khổ. Cho nên không chỉ có khổ vui. Như trước đã
nói đều là khổ mà có 3 thứ sai khác.
Hỏi : Ông nói biết cảnh duyên nầy lại sinh tưởng vui. Vì sao
cái biết không thể lấy vô minh biết ?
Đáp : Người ấy trong cảnh duyên nầy, vì trước lấy tướng,
nên trong cảnh duyên nầy, hoặc vô minh sai khiến, hoặc tham sân
sai khiến.
Hỏi : Chỉ trong khổ vui sinh si. Như trong kinh nói : Người
nầy đối với các thụ, không như thật biết mùi vị của tập, diệt quá
xuất v.v..., vì không biết nên trong không khổ không vui nói là vô
minh sử sai khiến. Cho nên chỉ trong khổ vui khởi vô minh sử,
không phải trong không khổ không vui ?
Đáp : Kinh nầy tự nói đối với các thụ không như thật biết
mùi vị của tập, diệt v.v..., nên trong không khổ không vui bị vô
minh sử sai khiến.
Hỏi : Tuy có lời nầy, nhưng trong nghĩa ấy không đúng. Vì
Vì sao với khổ vui, mà không biết tập, diệt v.v..., nên trong thụ
không khổ không vui vô minh sử sai khiến. Bởi vì sao ? Vì ở
Thành Thật Luận Trang 196 Tuệ Quang Foundation
trong các việc mà không biết các việc sử sai khiến. Cho nên kinh
ấy phải nói như vậy. Người nầy ở trong thụ không khổ không vui,
vì không biết tập v.v... nên bị vô minh sử trong thụ không khổ
không vui sai khiến. Còn nếu trong thụ không khổ không vui, vô
minh không khiến ?
Đáp : Người nầy trong thụ không khổ không vui, sinh 3 thứ
tâm. Vì tịch diệt tưởng, bất khổ bất lạc tưởng, nên sinh tâm không
khổ không vui. Nếu đem tà trí lấy tướng, thì sinh tâm vui. Nếu
lấy mùi vị vui bậc trên thì sinh tâm khổ. Cho nên trong kinh nói
nhiều về các thứ thụ. Bởi vì sao ? Vì tất cả các thụ đều do vô minh
sai sử. Thứ thụ bất khổ bất lạc nầy vì tùy thời nên có 3 thứ sai
khác.
Lại nếu chưa thông đạt được tập đế khổ v.v..., bấy giờ trong
khổ thụ sinh tưởng vui, cũng sinh tưởng không khổ không vui.
Cho nên mới nói vì không biết các thụ tập v.v... nên bị vô minh sử
sai khiến. Chỉ trong thụ không khổ không vui nhiều vô minh sử
sai khiến hơn.
Phẩm 82 : Hỏi về thụ
Hỏi : Trong kinh nói : Người nầy khi thụ lạc thụ, như thật
biết ta thụ lạc thụ nầy. Như thật biết thụ gì ư? Quá khứ vị lai
không thể thụ được, thụ hiện tại không tự biết được ?
Đáp : Kinh nầy ý nói người thụ, cho nên không lỗi.
Lại vui v.v... các thụ đến nơi thân, do ý có thể duyên, nên
cũng không lỗi.
Lại trong các thứ làm vui mà nói ra tên vui v.v.... Vậy gian
cũng có trong nhân nói quả vậy.
Lại người nầy trước thụ lạc thụ, sau mới lấy tướng, cho nên
gọi khi thụ lạc thụ biết như thật.
Hỏi : Vì bởi người thụ nên gọi là thụ, hay có thể thụ nên gọi
là thụ ? Nếu cho người thụ gọi là thụ, thì thụ và vui v.v... khác
Thành Thật Luận Trang 197 Tuệ Quang Foundation
nhau. Mà trong kinh nói lạc thụ khổ thụ và bất khổ bất lạc thụ.
Nếu cho rằng có thể thụ thì gọi là thụ, vậy ai là người thụ ? Bởi
thụ nên gọi là thụ ?
Đáp : Ở trong cảnh duyên nói vui, như nói nửa khổ nửa vui.
Cho nên vì biết cảnh duyên, nên gọi là thụ vui.
Lại chúng sinh thụ thụ nầy, nên gọi có thể thụ là thụ.
Hỏi : Chúng sinh không gọi là thụ, vì trong kinh nói thụ là
thụ ?
Đáp : Danh nghĩa là như vậy, có tướng thì có tác. Trong giả
danh có tướng là khổ, vui, không khổ không vui ở tại thân, thì tâm
có thể biết, nên nói thụ là thụ.
Hỏi : Trong kinh nói trong các thụ quán thuận thụ. Hành giả
bấy giờ, Vì sao sinh tưởng khổ, vui, không khổ không vui, người
nầy bấy giờ không đều sinh khổ tưởng ư ?
Đáp : Người ấy chưa được tất cả đều khổ, chỉ nghĩ nhớ 3 thụ.
Hỏi : Nếu dùng ý thức tu 4 niệm xứ, thì sao nói là thân vui ?
Đáp : Trong tất cả thụ, phải buộc niệm như vầy : Thân nầy
vui, tâm nầy vui.
Lại khi tu niệm xứ, trong thân sinh tướng vui, buộc niệm
trong đó, nên gọi là thân vui.
Hỏi : Nếu tất cả thụ đều là tâm pháp, vì sao nói thân thụ ?
Đáp : Vì ngoại đạo nên nói như vậy. Ngoại đạo bảo các thụ
nương nơi thần, nên Phật nói các thụ y chỉ thân tâm.
Hỏi : Những gì là thân thụ ?
Đáp : Do 5 căn sinh ra thụ, đó gọi là thân thụ. Do căn thứ 6
sinh ra thụ, gọi là tâm thụ.
Hỏi : Thụ nầy sao gọi là bẩn, sao gọi là sạch ?
Đáp : Các phiền não là bẩn. Các phiền não nầy sai khiến thụ,
nên gọi là bẩn. Phiền não không sai khiến thụ thì gọi là sạch.
Hỏi : Vì sao khổ thụ gọi là sạch ?
Đáp : Khổ thụ để dứt trừ phiền não, đó gọi là sạch.
Thành Thật Luận Trang 198 Tuệ Quang Foundation
Lại khổ thụ cùng phiền não trái nhau, gọi là sạch.
Hỏi : Đã nói bẩn sạch, sao lại nói nương tham, nương xuất,
tham tức phiền não, xuất tức là sạch ?
Đáp : Trước đã nói chung là bẩn, nay lại nói riêng tham là
nhân của bẩn. Như trong kinh nói : Có cái mừng bẩn, có cái mừng
sạch, có cái mừng sạch trong sạch. Mừng bẩn là mừng do 5 dục
sinh. Mừng sạch là mừng của Sơ thiền. Mừng sạch ở trong sạch
là mừng của Nhị thiền. Nếu thụ chỉ vì Nê-hoàn, đó là nương xuất.
Cho nên lại nói.
Hỏi : Trong 5 căn, vì sao khổ thụ lạc thụ đều phân chia làm
2, mà xả thụ thì không ?
Đáp : Buồn mừng cần tưởng phân biệt mới sinh, khổ vui
không cần do tưởng phân biệt. Còn xả thụ thì tưởng phân biệt vi
tế nên không phân chia làm 2.
Hỏi : Trong Đệ tam thiền, những gì ý thức thụ được vì sao
gọi là vui, mà không gọi là mừng ?
Đáp : Thứ vui nầy sâu dày đủ khắp thân tâm nên gọi là vui.
Còn mừng chỉ có thể khắp tâm, mà không khắp thân. Nên trong
Tam thiền Phật y vào cái mừng sai khác mà nói thân thụ vui.
Hỏi : Trong 3 thụ nầy cái nào có thể sinh phiền não sâu dày ?
Đáp : Có luận sư nói lạc thụ có thể sinh. Bởi vì sao ? Vì như
trước đã nói các nhân duyên bại hoại nên thụ khổ lớn.
Lại có luận sư khác nói khổ thụ có thể sinh. Bởi vì sao ? Vì
chúng sinh bị khổ bức bách, nên mới cầu vui mà khởi sâu phiền
não.
Lại nhiều thứ vui mà chút khổ có thể thắng, như người khi
hưởng đầy đủ 5 dục mà bị ruồi muỗi chích thì liền sinh cảm giác
khổ. Biết sắc v.v... 5 dục không phải như vậy.
Lại như cái vui còn sống trăm đứa con, không bằng cái khổ
chết mất một đứa.
Thành Thật Luận Trang 199 Tuệ Quang Foundation
Lại trong sinh tử, tướng khổ thụ nhiều, mà lạc thụ thì không
như vậy. Bởi vì sao ? Vì có nhiều chúng sinh ở 3 ác thú, mà ít
sinh về trời người.
Lại không phải gia công, tự nhiên bị khổ, mà gia công cầu
vui thì khi được khi không. Như trong ruộng cỏ dại tự mọc mà lúa
thì không.
Lại do khổ thụ khởi tội nghiệp nặng. Bởi vì sao ? Vì trong
khổ thụ có sân sai khiến. Như trong kinh nói : Sân là tội nặng.
Lại có luận sư khác nói có thụ không khổ không vui sinh.
Bởi vì sao ? Vì trong đó có si sai khiến. Ssi là cội gốc tất cả phiền
não.
Lại thụ nầy vi tế vì phiền não trong đó khó biết được.
Lại thụ nầy là bản tính của chúng sinh, mà khổ vui là khách.
Lại thụ nầy phổ biến khắp 3 cõi, còn 2 thụ kia không như
vậy.
Lại thụ nầy là nhân của sống lâu, vì tham thụ nầy nên được
sống lâu 8 vạn đại kiếp, chịu tướng khổ các ấm.
Lại thụ nầy với Nê-hoàn trái nhau. Bởi vì sao ? Vì trong đó
lầm sinh tướng tịch diệt, tướng Nê-hoàn, nên không còn có thể
được Nê-hoàn chân thật.
Lại thụ nầy nhờ Thánh đạo nên có thể được qua, như nói nhờ
tính lìa mà được giải thoát. Khổ thụ lạc thụ nhờ vậy gian đạo cũng
có thể được qua.
Lại thụ nầy tận cùng biên giới sinh tử mới đoạn khi đoạn dứt
sự tiếp nối. Cho nên có thể sinh phiền não sâu dày.
Phẩm 83 : Năm thụ căn
Hỏi : Lạc căn ở tại đâu ? Cho đến xả căn ở tại đâu ?
Đáp : Khổ lạc tại thân, tùy chỗ được thân cho đến Tứ thiền.
Còn 3 căn kia tại tâm, tùy chỗ được tâm, cho đến cõi Hữu đỉnh.
Thành Thật Luận Trang 200 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Như trong kinh nói : Trong Sơ thiền diệt ưu căn, trong
Tam thiền diệt hỷ căn, trong Tứ thiền diệt lạc căn, trong Diệt tận
đinh diệt xả căn. Cho nên lời ông nói không đúng ?
Đáp : Nếu ông tin kinh này, thì khổ căn phải ở tại Sơ thiền.
Mà trong pháp ông, Sơ thiền thật không có khổ căn. Cho nên kinh
này không đáng tin.
Hỏi : Cõi Sắc và Vô sắc tu sâu thiện pháp, phải không có ưu
khổ ?
Đáp : Ba cõi đều khổ. Trong 2 cõi trên tuy không có khổ về
mặt thô, cũng có khổ về mặt vi tế. Vì sao biết được ? Trong Tứ
thiền nói có 4 oai nghi. Đã có oai nghi, tức đều có khổ.
Lại cõi Sắc có mắt tai thân thức. Trong thức này có bao
nhiêu thụ, đều là khổ vui. Từ một oai nghi cầu một oai nghi khác,
nên biết có khổ.
Lại trong kinh hỏi : Trong sắc có mùi vị gì ? Như là bởi sắc
sinh vui sinh mừng. Trong sắc có những lỗi gì ? Như là có sắc là
tướng vô thường, khổ, bại hoại. Vì cõi Sắc có sắc nên có tâm đắm
vị, có tâm tội lỗi, cho nên có khổ vui.
Lại có hành giả đối với các thiền định cũng tham, cũng bỏ,
ắt phải vì nhân duyên lạc thụ nên tham, nhân duyên khổ thụ nên
bỏ. Cho nên biết có khổ vui.
Lại Phật nói âm thanh v.v... là tác động kích thích đối với Sơ
thiền. Giác quán là tác động kích thích đối với Nhị thiền, cho đến
có tưởng thụ là tác động kích thích đối với phi tưởng phi vô tưởng
xứ. Tác động kích thích là nghĩa của khổ. Cho nên biết tất cả có
khổ.
Lại tất cả 5 ấm đều là khổ. Chính vì não hại là khổ. Như cõi
Dục vì chịu não hại nên khổ. Hai cõi trên cũng có chịu não hại, vì
sao không khổ ? Như cõi Dục nói có bệnh v.v... 8 hành nghiệp,
cõi Sắc và cõi Vô sắc cũng đồng nói 8 hành nghiệp, vì sao không
khổ ?
Thành Thật Luận Trang 201 Tuệ Quang Foundation
Lại cõi Sắc nói ánh sáng có hơn kém, nên biết nghiệp cõi Sắc
cũng có sai khác. Vì nghiệp sai khác nên quyết phải có nghiệp báo
khổ.
Lại trong kinh nói trong đó có các phiền não ganh ghét v.v....
Như có Phạm Thiên bảo các Phạm chúng rằng : Chính nơi đây là
Thường, các ngươi đừng đến Sa-môn Cù-đàm. Cũng có Phạm
Thiên đến nạn hỏi Phật.
Lại trong kinh nói, vào Đệ tứ thiền mới dứt pháp bất thiện.
Lại trong kinh cũng nói trong đó có phiền não tà kiến. Các
phiền não đó tức bất thiện, phải bị khổ báo, vì sao không khổ ?
Lại có luận sư nói tất cả phiền não đều là bất thiện. Trong đó
làm sao không có khổ thụ.
Lại trong kinh nói : Các người trời yêu sắc, thích sắc, tham
sắc và đắm sắc. Các người trời nầy vì yêu, thích, tham, đắm sắc,
cho nên khi sắc ấy bại hoại thì sinh sầu khổ, cho đến thức cũng
như vậy. Cho nên biết tất cả người chưa lìa dục đều có buồn
mừng.
Lại ái duyên sinh mừng, lìa ái duyên nầy, quyết sinh buồn
rầu. Phàm phu vô trí đâu có sức gì gặp được ái duyên mà không
sinh mừng, mất không sinh buồn ? Như trong kinh nói : Chỉ có
người đắc đạo, khi sắp mạng chung không hiện sắc buồn mừng.
Cho nên biết tất cả phàm phu, buồn mừng thường bám theo.
Lại Phật nói : Không buồn không mừng một lòng hành xả,
đó là công đức La-hán.
Lại 6 xả hành duy chỉ Thánh hành, không phải phàm phu
thực hành được. Phàm phu hoặc khi tu hành xả đều vì chưa có thể
biết kiến duyên. Như trong kinh nói : Phàm phu trong sắc, có tâm
xả đều nương dựa sắc, tham sắc không rời, cho nên biết phàm phu
không có tâm xả .
Lại trong kinh nói : Trong lạc thụ tham sai khiến. Nếu không
có lạc thụ thì tham sai khiến chỗ nào ? Ý ông hoặc cho rằng trong
Thành Thật Luận Trang 202 Tuệ Quang Foundation
bất khổ bất lạc thụ tham sử sai khiến. Trong kinh không chỗ nào
nói như vậy.
Lại trong bậc trên càng càng chuyển tăng vui tịch diệt, càng
lợi lớn thân tâm. Như nói vị trời nầy một khi ngồi là một ngàn
kiếp. Nếu khổ thì hành giả không thể trụ lâu trong các oai nghi
được. Như trong kinh nói : Ngồi yên 7 ngày thụ vui giải thoát.
Lại trong đó khoan khoái vui đệ nhất. Như trong kinh nói :
Người khoan khoái mới hưởng thụ vui. Cho nên biết trong tất cả
bậc đều có cái vui. Ý ông hoặc bảo khoan khoái khác, thụ vui
khác. Điều này không đúng. Vì có bao nhiêu lợi ích đến nơi thân
thì gọi là vui. Cho nên khoan khoái vui không khác thụ vui.
Hỏi : Nếu cõi trên quyết định có khổ, vui, buồn, mừng, thì
sao thuận với kinh Thiền ?
Đáp : Kinh ấy trái hại với pháp tướng, nếu bỏ nào có lỗi gì ?
Lại trong ấy lạc hành tịch diệt không hiển lộ, không thể phát
khởi tham giận về mặt thô. Cho nên nói là không khổ không vui.
Lại trong đó khổ vui vi tế không rõ, không có các thứ khổ về
đao, gậy; các thứ buồn rầu về mất người thân v.v… Cho nên gọi
không buồn mừng. Như nói cõi Sắc không lạnh không nóng.
Trong đó cũng có tứ đại, sao nói là không lạnh không nóng được ?
Như nói chúng sinh ở Tam thiền một thân một tướng. Trong ấy
cũng có ánh sáng sai khác. Như nói nếu người hành thiền không
thể khéo trừ sự buồn ngủ, sự đùa giỡn thì ánh sáng không trong
sạch.
Lại như người ít trí gọi là không có trí.
Lại như người đời thức ăn ít mặn nói là không mặn. Như vậy
trong đó buồn mừng không hiển hiện, nên gọi là không có.
Lại các ông nói trong đó không giác. Trong kinh Phật nói
tưởng làm nhân duyên cho giác. Trong đó có tưởng mà Vì sao
không giác ? Cho nên phải biết giác pháp cho đến cõi Hữu đỉnh
vẫn còn là thô giác, nên mới nói vào Nhị thiền mới diệt được.
Thành Thật Luận Trang 203 Tuệ Quang Foundation
Cho nên trong 2 cõi trên cũng có khổ vui v.v....
Xong phần luận về thụ ấm.
( không chia quyển )
Phẩm 84 : Luận về tư trong hành ấm của nhóm khổ đế
Trong kinh nói tư duy là hành ấm.
Hỏi : Những gì là tư duy ?
Đáp : Nguyện cầu là tư duy. Như trong kinh nói : Tư duy
thấp, cầu thấp, nguyện thấp.
Hỏi : Vì sao biết cầu là tư duy ?
Đáp: Như trong kinh nói : Vì khởi làm nên gọi là hành. Thụ ấm
khởi làm, gọi là cầu. Như trong kinh nói : Khởi làm đều nương
nơi ái.
Lại trong kinh nói : Như một bó lúa mạch để giữa đường ngã
tư, 6 người đến đập, có người thứ 7 lại đến đập nữa. Ý các Tìkheo
nghĩ sao ? Là thành thục chưa ? Thành thục rồi thưa Vậy
Tôn ! Phật nói : Người si cũng vậy, thường bị 6 thứ xúc nhập
đánh đập. Khi bị đập như vậy là nghĩ thân sau, tức là đến thành
thục. Phải biết cầu tức là tư duy.
Lại nói ý nghĩ đến cái ăn nên quán như đống lửa. Lửa dụ cho
cái gì ? Là người cầu thân sau; thân sau như lửa, vì thường sinh
các khổ.
Lại trong kinh nói : Ngã tức là chỗ động, cũng là hý luận.
Tác khởi nương nơi ái, tùy chỗ có ngã thì có động niệm hý luận.
Tác khởi nương ái. Nếu pháp tác khởi, thì nói là nương nơi ái.
Phải biết cầu tức là tư duy.
Lại nói nếu đứa trẻ từ khi sinh tập lòng từ, có thể khởi nghiệp
ác, suy nghĩ nghiệp ác chăng ? Thưa không, Vậy Tôn ! Nghĩa nầy
là cầu muốn tạo nghiệp ác.
Lại nói nghiệp là tư duy, tư duy rồi thì trong tư duy là ý
nghiệp. Tư duy rồi là thân khẩu nghiệp. Tư duy rồi gọi là cầu rồi.
Thành Thật Luận Trang 204 Tuệ Quang Foundation
Lại trong Kinh Hòa Lợi nói : Ni-kiền tử dứt thụ nước lạnh,
mà thụ nước nóng; khi sắp chết cầu nước lạnh cuối cùng không
được mà chết, sinh ý mong lên trời. Vậy thì vì suy nghĩ cái lạnh
nên sinh. Cho nên biết cầu tức là tư duy.
Hỏi : Ông nói cầu là tư duy. Đó là tướng của ái, chứ không
phải tư duy. Bởi vì sao ? Vì trong Kinh Hữu Nhân Hữu Duyên nói
: Cái tìm cầu của người si tức là ái.
Lại trong Kinh Đại Nhân nói : Do ái nên mới cầu v.v...
Lại trong kinh nói : Người khổ cầu nhiều, người vui không
cầu.
Lại nói nếu người muốn hành 5 dục, muốn tức là cầu…
Lại nói ái nhân duyên nên lấy. Trước cầu sau lấy. Cầu tức là
ái. Cho nên ông cho cầu là tư duy, cũng không đúng. Bởi vì sao ?
Vì trong Kinh Hòa Lợi nói : Không tư duy mà tạo nghiệp, thì
nghiệp ấy không nặng. Không tư duy là không biết trước. Vậy
gian cũng cho biết là tư duy, như nói làm sao người trí có thể làm
điều này. Ai có tư duy, sẽ làm điều này. Nghĩa của lời nầy là
người trí cho nên biết, biết tức là tư duy ?
Đáp : Nguyện gọi là nhóm. Muốn, một phần của nguyện gọi
là tư duy. Như người nguyện nói : Đời sau tôi sẽ được thân như
vậy.
Hỏi : Nếu muốn là một phần của tư duy, thì không có tư duy
vô lậu.
Lại tư duy là nhân của ái. Như trong kinh nói : Nếu biết,
thấy, ý nghĩ ăn, tức là biết, thấy, dứt, 3 thứ ái. Cho nên biết tư duy
là nhân của ái ?
Đáp : Ông nói không có tư duy vô lậu. Tôi cũng không nói
có tư duy vô lậu. Bởi vì sao ? Vì hành tướng khởi làm, nên gọi là
tư duy. Pháp vô lậu không có tướng khởi làm. Cho nên tư duy là
khởi làm, không phải diệt pháp.
Thành Thật Luận Trang 205 Tuệ Quang Foundation
Lại ông nói tư duy là nhân của ái. Đó cũng không đúng. Bởi
vì sao ? Vì tư duy là quả của ái, cũng là một phần của ái, không
phải nhân của ái. Vì quả đoạn nên nói nhân đoạn, nghĩa là ý, tư,
thực đoạn nên 3 ái đoạn. Hành v.v... các nhân duyên đều lấy đây
giải đáp. Cho nên biết ái phần là tư duy. Ái có 2 thứ : có nhân có
quả. Nhân gọi là ái, quả gọi là cầu. Cầu tức là tư duy.
Hỏi: Nếu lúc ở trong nhân gọi ái, lúc ở trong quả gọi tư duy,
thì tư duy không phải ái phần. Bởi vì sao ? Vì nói pháp ở trong
nhân tướng khác, ở trong quả tướng khác. Cho nên biết tư duy
không phải ái phần. Như trong Kinh Hữu Nhân Hữu Duyên nói :
Chỗ tìm cầu của người si tức là ái, chỗ ra làm của người ái tức là
nghiệp. Cho nên tư duy tùy theo nghiệp tướng mà khác với ái.
Lại nếu người vì tham việc này nên tìm cầu việc này, cho
nên từ tham sinh cầu. Cầu tức là tư duy. Cho nên tham là nhân
của tư duy ?
Đáp : Tôi trước đã nói ái phần là tư duy, ái phần tức là ái, chỉ
có ái mới khởi gọi là tham, tham rồi gọi là cầu.
Lại ông nói nguyện, điều này không đúng. Bởi vì sao ? Vì
nguyện là một phần của tư duy. Trước nguyện là nghiệp, sau
nghiệp là hồi hướng.
Hỏi : tư duy với ý là một hay là khác ?
Đáp : Ý tức là tư duy. Như trong Pháp Cú nói : Ác tâm làm
ra, nói ra đều chịu quả khổ. Thiện tâm cũng như vậy. Cho nên biết
ý tức là tư duy. Nếu ý không phải là tư duy, thì cái gì là nghiệp
của ý ? Ý nghiệp là ý hành trong cảnh duyên. Cho nên tư duy tức
là ý. Tuy tướng chung nói ý hành là tư duy, mà tư duy ấy phần
nhiều nói trong thiện và bất thiện. Tư duy này có nhiều phần. Nếu
người vì chúng sinh cầu thiện cầu ác, bấy giờ gọi là tư duy. Nếu
việc cầu chưa được, bấy giờ gọi là cầu. Nếu cầu thân sau, bấy giờ
gọi là nguyện. Cho nên biết một thứ tư duy mà gọi bằng nhiều tên.
Thành Thật Luận Trang 206 Tuệ Quang Foundation
Phẩm 85 : Xúc
Thức ở trong cảnh duyên gọi là xúc. Vì 3 thứ hòa hợp gọi là
xúc. Đó không phải tướng của xúc. Bởi vì sao ? Vì căn không đến
duyên. Cho nên căn, duyên không phải hòa hơp. Vì 3 thứ nầy có
thể lấy duyên nên gọi là hòa hợp.
Hỏi : Riêng có tâm số pháp gọi là xúc. Bởi vì sao ? Vì trong
12 nhân duyên nói Xúc nhân duyên thụ.
Lại nói xúc làm nhân cho thụ, tưởng, hành v.v.... Nếu không
có pháp, làm sao làm nhân ? Cho nên biết có tâm số pháp nầy gọi
là xúc.
Lại trong Kinh Lục Lục nói có nhiều lục xúc.
Lại trong kinh nói : Nên quán vô minh các xúc. Nếu nói các
nhân của thành giả pháp, không nên lại nói riêng giả pháp.
Lại trong kinh có 2 thứ xúc: Một là 3 việc hòa hợp là xúc.
Hai là 3 việc hòa hợp nên xúc. Cho nên biết xúc có 2 thứ. Một là
có tự thể. Hai là giả danh. Như mặt trời và phân trâu, 3 thứ khác
với lửa, mặt trăng khác với nước, đất v.v... khác với mộng. Như
vậy xúc khác với mắt v.v... có lỗi gì sao ?
Lại như các Tì-kheo hòa hợp không khác các Tì-kheo. Các
ấm hòa hợp không khác các ấm. Hai cây hòa hợp không khác 2
cây. Hai tay hòa hợp không khác 2 tay. Các bệnh hòa hợp không
khác các bệnh. Xúc cũng như vậy, không khác mắt v.v... lại có lỗi
gì ?
Đáp : Tôi trước đã nói tâm có thể lấy duyên, bấy giờ gọi là
xúc. Cho nên, khi tâm làm nhân sinh thức, rồi sau thụ v.v... các
pháp mới sinh. Trong Kinh Lục Lục cũng nói bấy giờ gọi là xúc.
Đó là có đạo lý.
Lại chúng tôi không công nhận 2 thứ xúc đó. Thường nói 3
thứ hòa hợp gọi là xúc. Dù cho có 2 thứ xúc đó, cũng nên bỏ hẳn
kinh ấy đi, vì trái với pháp tướng. Cho nên dẫn kinh không phải là
nhân.
Thành Thật Luận Trang 207 Tuệ Quang Foundation
Lại nếu xúc nầy khác nhau như nước với lửa, thì làm cũng
phải khác mà thật không thấy có khác với làm. Cho nên biết xúc
nầy không khác với 3 thứ kia.
Lại nếu xúc là tâm số thì khác nhau với các tâm số khác. Bởi
vì sao ? Vì xúc là các tâm số duyên mà xúc, chứ không phải xúc
duyên để sinh khác, nên không phải tâm số pháp.
Hỏi : Vì xúc thắng nên xúc duyên, tâm số không phải xúc
duyên. Xúc như thụ duyên ái, không phải ái duyên thụ ?
Đáp : Xúc có thắng tướng gì mà các tâm số không có, cần
nói tướng nó ra, mà thật nói không được. Cho nên không phải là
nhân. Thụ là thời gian đầu, ái là thời gian sau, cho nên thụ duyên
ái, không phải ái duyên thụ.
Lại nếu xúc là tâm số pháp đặc biệt cần nói tướng nó, nhưng
thật không thể nói được, nên phải biết là không khác.
Lại Phật với trong pháp khác, cũng có nói tên xúc. Như nói
nếu có khổ não đến xúc thân người.
Lại nói : Thụ lạc, xúc, không buông lung, thụ khổ xúc không
giận dữ. Trong các thụ này là nói tên của xúc.
Lại Phật nói con quỷ mình có lông nhọn như mũi tên ngươi
chạm xúc thì nhám rít không thể lại gần thân. Như người đời nói
xúc lửa thì vui, cũng nói xúc là ăn, cũng nói tay chạm xúc. Các
việc trên đây đều do thân thức biết mà nói tên là xúc.
Lại các chỗ khác nói người mù không xúc sắc màu. Cũng đối
với duyên sắc v.v... mà nói tên là xúc. Xúc này vì lời nói không
nhất định, nên không phải riêng có tâm số pháp này. Nếu nói xúc
là tâm số thì với xúc tướng trái nhau. Bởi vì sao ? Vì Phật nói 3
thứ hòa hợp nên gọi là xúc. Cho nên biết thật không riêng có tâm
số pháp. Nếu pháp đến nơi thân đều gọi là xúc.
Lại tùy có thể cùng với thụ v.v... làm nhân cho tâm số, bấy
giờ mới gọi là xúc.
Thành Thật Luận Trang 208 Tuệ Quang Foundation
Phẩm 86 : Niệm
Tâm tác phát gọi là niệm. Niệm nầy là tướng của tác phát
nên niệm niệm mới có thể sinh lại tâm khác.
Lại nói niệm tướng có thể thành xong công việc. Như trong
kinh nói : Nếu nhãn nội nhập sắc không hư hoại, ngoại nhập tại
trước mắt, mà trong đó không thể có niệm hay sinh tâm khác, thì
nhãn thức không sinh.
Hỏi : Biết của các thức đều do niệm lực sinh khởi phải không
?
Đáp : Không phải. Bởi vì sao ? Vì các thức sinh biết không
hẳn quyết định. Hoặc do sức tác phát sinh, như cưỡng trừ dục
v.v... Hoặc do sức của căn sinh, như người tỏ mắt có thể quan sát
từng đầu sợi lông. Hoặc do sức của duyên sinh, như xa thấy ánh
sáng đèn, thấy ánh sáng không xao động. Hoặc do khéo tập nên
sịnh, như nghề nghiệp tinh xảo v.v... Hoặc do đế lấy tướng nên
sinh, như đắm say nơi sắc. Hoặc do pháp tự phải sinh, như thiền
định trong thời kiếp tận. Hoặc do thời tiết nên sinh, như chúng
sinh ác tâm bị đoản mạng. Hoặc do chỗ sinh nên sinh như tâm bò
dê v.v... Hoặc tùy thân lực nên sinh, như tâm nam nữ v.v... Hoặc
tùy theo năm nên sinh như tâm trẻ nhỏ v.v... Hoặc do mỏi mệt nên
sinh, hoặc do nghiệp lực nên sinh, như thụ các thứ dục. Hoặc do
định lực nên sinh, như buộc tâm một chỗ là tăng tăng trưởng htri
thức. Hoặc do quyết định nên sinh, như kế tiếp vô ngại đạo ắt sinh
giải thoát. Hoặc do lâu chán nên sinh, như chán mùi cay đắng thì
nghĩ đến vị ngon ngọt. Hoặc theo sở thích nên sinh, như đối với
sắc v.v... hoặc thích xem sắc, mà không ưa nghe tiếng, như màu
xanh đỏ v.v... cũng vậy. Hoặc do mềm mại nên sinh, như lông
đâm vào mắt thì sinh khổ tâm mà đâm vào nơi khác thì không
vậy. Hoặc do hết khổ nên sinh, như chữa thiện bệnh mắt thì ăn
mới biết ngon. Hoặc do diệt chướng nên sinh như diệt trừ dục
v.v..., thì mới biết nó là tội lỗi. Hoặc lần lượt nên sinh, như do
Thành Thật Luận Trang 209 Tuệ Quang Foundation
dưới mà sinh giữa, do giữa mà sinh trên. Hoặc tùy chỗ thiên vị mà
sinh.
Hỏi : Nếu tất cả tri thức đều do thứ lớp tùy thuộc nhau, cớ
sao nói không có thể sinh tâm niệm khác ư ?
Đáp : Là vì ngoại đạo. Các ngoại đạo nói vì thần ý hợp nên
biết của thức mới sinh. Vì muốn phá thuyết này, nên mới chỉ rõ
các biết của thức đều thuộc thứ lớp duyên, cho nên nói lời như
vậy. Nếu người không có thể sinh tâm niệm khác, thì biết của thức
không sinh. Bởi vì sao ? Vì thứ lớp duyên, tức biết của thức có
nhân, mỗi mỗi mới sinh.
Lại tùy chỗ nghiêng về đó mà mỗi mỗi thức sinh, như đốn
cây, cây thường ngã về phía nghiêng nặng.
Lại như trước đã nói các thức không phải sinh đồng thời. Vì
nhân duyên ấy mà biết các thức mỗi mỗi theo thứ lớp sinh.
Lại các thức pháp phải theo thứ lớp sinh, chứ không đợi thần
ý hòa hợp. Như ngoại vật mộng, cây, nhánh, lá, hoa quả theo thứ
lớp sinh. Nội pháp cũng như vậy, biết của mỗi mỗi thức theo thứ
lớp sinh. Niệm ấy có 2 thứ. Một là chính. Hai là tà. Chính là
thuận lý, như nói chính vấn chính nạn. Đó là nên đáp, vì nạn vấn
có lý.
Lại như hỏi thật tướng các pháp, tính vô thường v.v..., đó gọi
là chính.
Lại tùy chỗ có thể thành nên gọi là chính. Cho nên biết tùy
thuận đạo niệm chân thật niệm v.v... gọi là chính niệm.
Lại tùy khi tùy người niệm gọi là chính niệm. Như người
nhiều dục quán bất tịnh là chính niệm. Khi tâm chìm lặng mà phát
khởi tướng lên là chính niệm. Trái lại trên đây gọi là tà niệm.
Chính niệm có thể sinh tất cả công đức, tà niệm có thể khởi tất cả
phiền não.
Phẩm 87 : Dục
Thành Thật Luận Trang 210 Tuệ Quang Foundation
Tâm có điều cần, gọi là dục. Bởi vì sao ? Kinh nói dục dục.
Vì cần các điều mình muốn nên gọi dục dục.
Lại trong kinh nói : Dục là gốc của pháp. Vì muốn tìm cầu
nên được tất cả pháp, cho nên nói dục là gốc của pháp.
Lại nói : Nếu các Tì-kheo thâm dục pháp ta, thì pháp trụ lâu
dài. Nếu nhất tâm cần đến gọi là thâm dục.
Lại trong như ý túc nói : Dục Tam-muội, tinh tiến Tammuội,
tâm Tam-muội, tư duy Tam-muội. Tùy tâm cần đến gọi là
dục. Pháp dục này, lấy tinh tiến giúp tu tập định tuệ. Từ 4 việc
nầy, chỗ cần đến đều được gọi là như ý phần.
Lại nói : Ông muốn bay đi.
Lại có một Tì-kheo thường ưa đọc tụng. Vị nầy tu thiền
chứng được A-la-hán, nên không đọc tụng nữa. Có vị trời hỏi rằng
: Ông thường ưa đọc tụng, nay sao không tụng nữa ? Tì-kheo đáp
: Trước kia tôi chưa lìa dục nên phải cần kinh sách. Nay đã lìa 3
cõi nên không cần đến nữa. Có bao nhiêu kinh sách, thiền định, trí
tuệ, Thánh nhân đều nói là pháp có thể xả bỏ. Cho nên biết cái cần
đến là nguyên nhân của dục. Vì cần đến nên tham các thứ mình
muốn, đó gọi là tham dục.
Phẩm 88 : Hỷ
Nếu tâm ưa thích, gọi là hỷ. Như nói chúng sinh tính loại
theo nhau. Thích ác theo ác, ưa thiện theo thiện, gọi là hỷ.
Hỏi : Tính không gọi là hỷ. Bởi vì sao ? Phật biết chúng sinh
có nhiều thứ tính, tính đó là trí lực. Biết nhiều thứ hỷ là dục trí
lực. Cho nên biết tính của hỷ đều khác nhau.
Đáp : Tu lâu, nhóm họp tâm, thì gọi là tính, tùy tính sinh hỷ.
Cho nên biết nhóm họp tâm lâu gọi là tính trí lực. Trí tùy theo tính
sinh hỷ, gọi là dục trí lực. Cho nên nói chúng sinh tùy tính theo
nhau, nhóm họp lâu ác tâm thì ưa thích điều ác, nhóm họp lâu
thiện tâm thì ưa thích điều thiện. Như lúc lạnh ưa thích nóng. Đó
Thành Thật Luận Trang 211 Tuệ Quang Foundation
là nhân duyên hiện tại không phải từ tính sinh. Đó sự khác nhau
của tính hỷ..
Phẩm 89 : Tin
Quyết định là tướng của tin..
Hỏi : Quyết định là tướng của tuệ. Quyết định là dứt nghi, là
tướng của tuệ ?
Đáp : Tự mình chưa thấy pháp, theo lời dạy của hiền thánh,
tâm được thanh tịnh. Đó gọi là tin.
Hỏi : Nếu vậy thì tự thấy pháp rồi không cần tin nữa ?
Đáp : Phải. A-la-hán gọi là người không tin. Như trong Pháp
cú nói : Người không tin, người không biết ơn, gọi là bậc Thượng
nhân.
Lại trong kinh nói : Bạch Vậy Tôn ! Tôi đối với việc này là
tin theo lời Phật. Nếu tự thấy pháp tâm được thanh tịnh, thì đó gọi
là tin. Trước nghe pháp, sau dùng thân chứng, khởi ý niệm như
vầy : Pháp nầy chân thật chắc chắn không hư dối, tâm được thanh
tịnh, đó gọi là tin trong 4 thứ tin. Ví như người bệnh, trước tin lời
thầy, uống thuốc thiện bệnh, sau đối với thầy sinh tâm thanh tịnh,
đó gọi là tin. Tin nầy có 2 thứ : một sinh từ si, một sinh từ trí.
Sinh từ si là không nghĩ thiện ác, như đối với các ác sư Phú-lan-na
v.v... sinh tịnh-tâm. Sinh từ trí là như trong 4 thứ tin, đối với Phật
v.v... sinh tịnh tâm. Tin nầy 3 thứ : thiện, bất thiện, vô ký.
Hỏi : Tin bất thiện nầy tức là phiền não. Pháp bất tín trong
đại địa không phải là tin vậy ?
Đáp : Không phải pháp bất tín. Tín nầy là tịnh tướng, bất
thiện tín đó cũng là tịnh tướng. Nếu không phải vậy thì bất thiện
thụ không nên gọi là thụ, mà thật không phải vậy. Cho nên mới có
3 thứ sai khác. Nếu như tin ở căn số tùy thuận giải thoát, ở 37
phẩm trợ đạo thì quyết định là thiện.
Thành Thật Luận Trang 212 Tuệ Quang Foundation
Phẩm 90 : Cần
Tâm phát hành động gọi là cần. Thường nương các pháp
hoặc nghĩ nhớ hoặc định, trong đó phát động nhất tâm thường
hành gọi là cần. Cần có 3 thứ là thiện, bất thiện và vô ký. Nếu ở
trong 4 chính cần thì gọi là thiện, ngoài ra không gọi là thiện. Nếu
hành giả tin bất thiện là tội lỗi, thiện pháp là lợi ích, sau đó sinh
siêng năng là dứt bất thiện, và tụ tập pháp thiện. Cho nên kế tiếp
tín căn mới nói tinh tiến căn. Cần nầy khi vào trong thiện pháp gọi
là tinh tiến, vì có thể làm căn bản cho tất cả việc lợi ích. Nhờ tinh
tiến nầy trợ giúp các pháp ức niệm v.v... mới có thể được quả lớn,
như lửa gặp được gió đốt cháy càng nhiều.
Phẩm 91 : Hồi ức
Biết cảnh từng trải qua từ trước gọi là nhớ lại. Như trong
kinh nói : Đã trải qua lâu xa có thể nhớ không quên. Đó gọi là
nhớ.
Hỏi : Nhớ nầy ở trong 3 đời. Bởi vì sao ? Vì trong kinh nói
nhớ tất cả đều là đúng.
Lại nhớ nầy ở trong 4 ký ức. Bốn chỗ ký ức nầy cũng duyên
3 đời, vì sao chỉ nói quá khứ ư ?
Đáp : Đó nói đều đúng, là không phải 3 đời. Nếu tâm dao
động, lặng chìm thì nhớ theo 2 chỗ, đó gọi khắp đi. Ông nói 4 chỗ
ký ức duyên 3 đời, trong đó tuệ có thể duyên hiện tại, mà không
phải là nhớ. Cho nên Như Lai trước nói tên nhớ, hiểu thì nói là
tuệ.
Hỏi : Vì sao một thức khác trải qua biết, lại một thức khác có
thể nhớ ?
Đáp : Pháp về nhớ là như vậy. Trong pháp tự nối nhau sinh
diệt, liền sinh thức khác rồi trở lại có thể tự duyên.
Thành Thật Luận Trang 213 Tuệ Quang Foundation
Lại pháp tri thức là như vậy. Một thức khác trải qua, một
thức khác có thể biết. Như nhãn thức nhận thức sắc, ý thức có thể
biết.
Lại một người khác đã dùng qua, một người khác có thể biết.
Như các Thánh nhân cho đến các thân đời trước đã từng trải qua,
nhờ sức ký ức nên biết.
Hỏi : Nếu biết cảnh đã trải qua từ trước gọi là nhớ, thì nay
thức v.v… các pháp đều nên gọi là nhớ. Bởi vì sao ? Vì pháp ấy
cũng đi qua cảnh đã từng trải từ trước ?
Đáp : Các thức pháp cũng gọi là nhớ. Như Phật bảo Tát-giàni-
diên tử rằng : Ngươi nhớ lại việc trước thì hãy đáp.
Lại nói : Nếu nhớ việc hý lạc từ trước thì phiền não phát
sinh. Cho nên các thức v.v… các pháp nhớ việc trước, nên cũng
gọi là hồi ức. Hồi ức nầy do lấy tướng mà sinh, tùy pháp nào đó
rồi lấy tướng thì hồi ức phát sinh, khác thì không sinh. Về định
tuệ, sẽ nói trong Phẩm định tuệ.
Phẩm 92 : Giác quán
Nếu tâm thường khởi sinh tán hành, gọi là giác.
Lại trong tán tâm, cũng có thô, tế. Thô gọi là giác, vì không
giữ sâu nên gọi thô tâm. Như trong kinh nói : Phật nói hạnh của ta
có hạnh giác quán. Cho nên Sơ thiền chưa giữ sâu được, nên gọi
là hữu giác quán. Tán tâm vi tế thì gọi là quán. Hai pháp này phổ
biến khắp 3 cõi, vi tướng thô, tế của tâm này.
Lại tâm tán loạn gọi là giác quán, vì tướng này ứng tất cả
chỗ.
Lại việc chưa hiện biết việc, phải dùng trí so sánh mới biết.
Suy nghĩ so lường nên vậy hay không nên vậy, gọi là giác. Cho
nên suy nghĩ so lường việc hiện chưa biết nên có tên chính giác và
tà giác. Lìa phân biệt suy nghĩ so lường thì gọi là chính kiến. Ba
thứ biết nầy là : Tà giác là suy nghĩ điên đảo cho rằng trong vô
Thành Thật Luận Trang 214 Tuệ Quang Foundation
thường là thường v.v... Chính giác là chưa được chân trí, dùng
tướng so sánh mà biết. Hành giả này trong đạt phần thiện căn gọi
là nhẫn. Như vậy các điều thuận đạo so sánh biết, gọi là chính
giác. Trong đó nếu xa lìa tướng nghĩ nhớ phân biệt, gọi là biết
trong hiện tại. Trong giác này suy nghĩ tính toán, cho rằng do
nhân duyên này nên như vậy, nhân duyên kia nên không như vậy,
đó gọi là quán.
Hỏi : Có thuyết cho rằng giác quán ở trong một tâm. Việc ấy
vậy nào ?
Đáp : Không phải vậy. Bởi vì sao ? Vì các ông tự nói dụ như
đánh chuông linh, tiếng đầu là giác, các tiếng sau là quán.
Lại như dụ sóng nước, thô là giác, tế là quán. Là vì thời gian
và phương hướng khác, nên không phải một tâm.
Lại 5 thức không phân biệt nên không có giác quán.
Phẩm 93 : Các tâm số
Nếu không làm điều thiện, hoặc làm điều thiện mà không
chính đáng, gọi là phóng dật. Không riêng có một pháp gọi là
phóng dật. Khi tâm hành, gọi là phóng dật. Trái với đây gọi là
không phóng dật. Nến tâm hành thiện gọi là không phóng dật,
cũng không có pháp riêng khác.
Lại tâm chạy theo bất thiện gọi là phóng dật. Thuận theo
thiện pháp gọi là không phóng dật. Người có thiện căn thì không
tham, sân, si. Lấy suy nghĩ so lường làm đầu, có thể không tham
đắm gọi là không tham. Lấy từ bi làm đầu, không sinh giận dữ gọi
là không sân. Lấy chính kiến làm đầu, không sai lầm gọi là không
si. Không riêng có một pháp gọi là không tham. Có người nói
không tham gọi là không tham. Điều này không đúng. Bởi vì sao
? Vì không tham gọi là không pháp. Không pháp làm sao làm
nhân cho pháp ? Không sân không si cũng như vậy.
Thành Thật Luận Trang 215 Tuệ Quang Foundation
Lại cùng với 3 bất thiện căn trái nhạu nên chỉ nói 3. Kiêu
mạn v.v... cũng phải là bất thiện căn. Vì lược bớt nên chỉ nói là 3
bất thiện căn. Sẽ nói đến trong Phẩm bất thiện. Vô ký căn, có
người nói có 4 là : vô ký, ái kiến, mạn và vô minh.
Lại có người nói có 3 là : ái, vô minh và tuệ. Đó không phải
Phật nói. Tùy tâm vô ký mà nhân duyên nào sinh, thì gọi nhân
duyên đó là vô ký căn.
Lại vì nghiệp thân khẩu phần nhiều từ tâm vô ký sinh khởi,
cho nên vô ký tâm gọi là vô ký căn. Khi tâm hành có thể khiến
thân tâm yên tĩnh, diệt trừ được thô trọng, bấy giờ gọi là khoan
khoái. Khi có nhiều tâm hành gọi là xả. Nếu trong các thụ, tâm
hành không rõ gọi là xả. Trong các Thiền lìa khổ vui mặc cho tâm
hành gọi là xả. Trong 7 giác không chìm lặng, không động, tâm
hành bình đẳng gọi là xả. Lìa lo buồn mừng vui, được tâm bình
đẳng gọi là xả. Trong 4 vô lượng, lìa tâm yêu ghét gọi là xả. Như
vậy tùy nhiều thứ pháp trái nhau thì có vô lượng tâm số sai khác.
THÀNH THẬT LUẬN
CÒN NỮA