Thành Thật Luận
Đại Chánh (Taisho) vol. 32, no. 1646
Hán dịch: Cưu-ma-la-thập
Việt dịch: Nguyên Hồng (12/2011)
Tuệ Quang Wisdom Light Foundation
PO Box 91748, Henderson, NV 89009
Website http://www.daitangvietnam.com
Email info@daitangvietnam.com
Thành Thật Luận Trang 2 Tuệ Quang Foundation
No. 1646
THÀNH THẬT LUẬN
( Quyển 1 )
Ha-lê-bạt-ma tạo luận
Cưu-ma-la-thập dịch
Nguyên Hồng dịch tiếng Việt
Phẩm 1 : Mở đầu trước tiên luận đầy đủ về Phật Bảo
Trước lễ đấng đáng lễ,
Bậc chính trí tự nhiên,
Nhất thiết trí, Ứng cúng,
Đại Sư lợi thế gian.
Cũng lễ pháp chân tịnh,
Và các Thánh đệ tử.
Nay muốn giải lời Phật,
Lợi ích cho người đời.
Luận theo Tu-đa-la,
Không trái tướng thật pháp.
Cũng vào trong thiện tịch,
Đó là luận chính trí.
Như mặt trời mặt trăng,
Tính chúng vốn sáng sạch,
Bị khói mây bụi mù,
Năm thứ che không hiện,
Tà luận che chính kinh,
Nghĩa kinh không chiếu sáng,
Vì nghĩa kinh không sáng,
Cửa tà trí mở ra,
Bị tội tiếng ác đồn,
Lòng ăn năn mệt mỏi…
Thành Thật Luận Trang 3 Tuệ Quang Foundation
Suy não loạn tâm này,
Đều do tà trí khởi.
Nếu ai muốn trừ nó,
Tội ác và suy não,
Phải tìm học chính luận
Phải gần người trí sâu.
Gần người có trí sâu,
Là căn bản chính luận.
Vì nhờ chính luận nầy,
Có thể sinh phúc tốt.
Dù người trí lanh lợi,
Tụng trăm ngàn tà luận,
Với chúng không được gì.
Chỉ được tài miệng lưỡi.
Biết pháp Phật đệ nhất,
Nói ra được quả vui.
Muốn pháp tồn tại lâu,
Thì không vì tiếng khen.
Rộng học các dị luận,
Biết khắp ý người trí
Muốn tạo thật luận nầy,
Chỉ biết Nhất thiết trí.
Các Tì-kheo dị luận,
Nhiều thứ, Phật đều cho.
Nên tôi muốn luận đúng
Thật nghĩa trong 3 tạng.
Bắt đầu vào phần luận :
Hỏi : Tôi biết nay ông sẽ giảng thuyết Luận Thành Thật.
Ông nói : Trước lễ đấng đáng lễ. Đó có phải là Phật không ? Vì
sao gọi là Phật ? Thành tựu công đức gì mà đáng lễ ?
Thành Thật Luận Trang 4 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Phật là người tự nhiên, dùng Nhất thiết chủng trí biết
tất cả tự tướng sai khác của các pháp, lìa tất cả bất thiện, tập họp
tất cả thiện, thường cầu lợi ích cho tất cả chúng sinh, nên gọi là
Phật. Những điều nói ra để giáo hoá, gọi là Pháp. Người thực
hành pháp ấy, gọi là Tăng. Như vậy Tam Bảo là nhân duyên đáng
lễ.
Tôi nay sẽ nói Phật có đầy đủ 5 phẩm chất, nên được người
và trời trên thế gian kính trọng.
Hỏi : Có các Thánh nhân khác cũng có 5 phẩm công đức thì
với Phật có chi khác ?
Đáp : Năm phẩm pháp của Phật đầy đủ thanh tịnh. Sở dĩ vì
sao ? Vì các nghiệp của thân v.v… không sai lầm.
Giới phẩm đầy đủ, là Phật còn không sai lầm phạm cấm giới,
huống là cố phạm.
Lại nữa Phật đã lâu đời tích chứa từ bi nên không phát ác
tâm. Như trong kinh có nói : Phật bảo A-nan : Nếu có người từ
khi sinh ra tu tập lòng từ thì lòng ác có thể sinh khởi được không ?
Thưa không, Thế Tôn ! Không thể khởi được. Phật đã lâu đời tích
chứa tính thiện, không vì e sợ tiếng đồn mà phải tự giữ gìn cấm
giới.
Lại nữa, Phật ở trong vô lượng nơi các Phật tu giới hạnh đã
lâu, đã nhổ gốc 3 độc, vĩnh viễn không còn tập gì khác. Bởi các
duyên ấy nên giới phẩm đầy đủ.
Định phẩm đầy đủ, là Phật y theo định nầy chứng được Nhất
thiết trí. Vì thế nên biết định phẩm đầy đủ. Như bơ dầu nhiều, tim
đèn lớn thì ánh sáng cũng lớn.
Lại nữa, định của Phật bền chắc như dấu sơn, sơn vào cây.
Thiền định của người khác như hoa nổi trên nước không dừng
được lâu.
Lại nữa, thiền định của Phật trong vô lượng kiếp tuần tự dần
thành nên được đầy đủ.
Thành Thật Luận Trang 5 Tuệ Quang Foundation
Lại nữa, định của Như Lai không đợi các duyên như người
hoặc xứ, hoặc nói pháp v.v… Các người khác thì không như vậy.
Lại nữa, định của Như Lai thường tu tập sâu, như người tự
giữ hằng nhớ không quên. Phật khi vào thiền định không gắng
tâm lực. Cũng như người ở tại bản xứ tự nói tiếng mẹ đẻ dễ dàng
không khó, Phật ở trong định cũng vậy. Cho nên nói Như Lai
thường ở trong Tam-muội.
Lại các pháp như cả mừng hay phá hoại thiền định, Phật đều
khéo dứt hết.
Lại nữa, quả báo của định được tự tại đã lâu thần thông vượt
trội bậc nhất. Dùng Như ý thông trong một niệm có thể vượt qua
10 phương vô lượng thế giới, tất cả việc phải làm tùy ý liền xong,
với các biến hóa tự tại vô ngại. Tâm có thể phổ biến khắp tất cả
các pháp. Còn các chúng sinh khác không sao kịp được.
Lại nữa, Phật thành tựu pháp Thánh tự tại, nên với cái đáng
vui có thể sinh tưởng không vui, với cái không vui có thể sinh
tưởng vui, với cái vui và không vui có thể sinh tưởng bình
thường.
Hỏi : Với cái không vui, có thể sinh tưởng bình thường, chứ
làm sao có thể sinh tưởng vui ?
Đáp : Vì khéo tu tâm nên với pháp không vui như ác khẩu
chẳng hạn, không bị chướng ngại. Với các thần thông như thiên
nhãn, thiên nhĩ, tha tâm thông, túc mạng thông cũng không bị
ngại. Do định lực nên thần thông vô ngại. Với các thiền định
thông đạt rõ ràng, các chúng sinh khác không nghe được tên, chỉ
có Như Lai là ra vào thiền định không bị ngăn ngại.
Lại nữa, thiền định của Phật gọi là lực, như trong Phẩm Thập
lực có nói, những người khác không có. Cho nên Như Lai định
phẩm đầy đủ.
Thành Thật Luận Trang 6 Tuệ Quang Foundation
Tuệ phẩm đầy đủ, là có 2 thứ vô minh : một chướng thiền
định, hai khởi phiền não, Như Lai đều dứ. Vì dứt pháp trái nhau
nên tuệ phẩm đầy đủ.
Lại được pháp tự nhiên, không theo học với người khác mà
khéo lời lẽ, khéo biết nghĩa thú, không cạn biện tài, không hết trí
tuệ. Còn chúng sinh đối với các tài khéo ấy không thể đầy đủ, chỉ
có Phật biết hết không thiếu chút nào. Cho nên Như Lai tuệ phẩm
đầy đủ.
Lại nữa, Phật thuyết pháp làm rõ nghĩa thú. Những người
tiểu trí nói ra lời gì, không thể không lỗi, chỉ có Như Lai nói ra
không lầm lỗi. Cho nên biết Như Lai tuệ phẩm đầy đủ.
Lại còn vô lượng công đức thành tựu trí tuệ này nên được
đầy đủ.
Lại nói pháp vi diệu, không sai lầm, như pháp quán bất tịnh
để phá trừ dâm dục chẳng hạn.
Lại nữa trí tuệ vượt trội nên oai nghi cũng vượt trội. Bởi các
duyên ấy nên tuệ phẩm đầy đủ.
Giải thoát phẩm đầy đủ, là với 2 thứ vô minh, tâm đều giải
thoát không còn tập khí, vĩnh viễn không thoái lui. Như vậy gọi là
giải thoát đầy đủ.
Giải thoát tri kiến đầy đủ, là có thể đối với việc đoạn tất cả
phiền não, mỗi niệm đều biết. Như người chặt cây, tay cầm búa,
bên cạnh có người trí thấy biết cán búa mòn hết. Phật cũng vậy
với trí đoạn phiền não, từng niệm đều phân biệt biết.
Lại biết trong thâm tâm chúng sinh nghĩ gì, theo đó thuyết
pháp giáo hóa khiến được giải thoát. Cho nên có thể đối chúng
sinh trong các đạo giải thoát, thấy biết đầy đủ.
Lại nữa, Phật Thế Tôn biết thời cơ nói pháp, như đối với các
Phạm Chí Nhũng-cù-lô vậy.
Lại Như Lai biết rõ các pháp sai khác, nên vì người nầy nói
pháp như vậy. Như Phật bảo A-nan nên vì Xa-nặc nói Kinh Ly
Thành Thật Luận Trang 7 Tuệ Quang Foundation
Hữu Vô. Cho nên Như Lai khéo biết giải thoát, lại khéo đem
phương tiện đoạn cấu uế cho chúng sinh, như vì Nan-đà dùng dục
đoạn dục.
Lại Phật biết trước chúng sinh đã thuần thục các căn như tín
v.v… rồi sau mới nói pháp, như trường hợp La-hầu-la.
Lại có chúng sinh bị nghiệp báo chướng không được giải
thoát, Phật có thể khiến dứt hết, sau mới nói pháp.
Lại có chúng sinh đợi khi hết các lậu, như trong Kinh Phu
Phụ nói.
Lại có chúng sinh đợi người hết các lậu, như Xá-lợi-phất đợi
A-thuyết-kì.
Lại có chúng sinh đợi nơi hết các lậu, như Phất-ca-sa vương.
Lại có chúng sinh đợi hết một nửa các lậu như Phóng Ngưu
Nan-đà đợi người làng là A-do-đà.
Lại có chúng sinh đợi gặp chân thân của Phật.
Lại có chúng sinh đợi chân thân Phật, hoặc đợi hóa thân Phật
mới được hết các lậu, Phật đều phân biệt hết rồi vì họ nói pháp,
khiến được giải thoát.
Phật nói nhiều các pháp vi diệu có thể phá tất cả nghiệp
chướng. Vì là pháp giải thoát nên gọi là giải thoát tri kiến đầy đủ.
Lại nữa, Phật nói pháp nghĩa thú hay và lợi ích, không nói
điều phi nghĩa và việc không quả báo.
Lại nữa, Phật tuần tự nói đạo giải thoát, giống như bài học
toán pháp, nên dễ hiểu.
Lại nữa, Phật biết chúng sinh đời trước đã trồng thiện căn
nên tuần tự nói pháp.
Lại nữa, Phật hiện chứng đắc giải thoát mà vì người nói pháp
chứ không phải theo người học hỏi.
Lại nữa, Phật pháp đầy đủ nhiều các kỹ năng, như người
dùng nhiều thứ thuốc đầy đủ chữa lành các bệnh, Phật pháp cũng
vậy, dùng các pháp môn chữa trị trừ tất cả phiền não. Như 9 pháp
Thành Thật Luận Trang 8 Tuệ Quang Foundation
quán tưởng thì các phiền não lớn nhỏ không thể làm hại lại được,
cho nên có khă năng đầy đủ phá trừ các phiền não.
Lại nữa, Phật dùng phương tiện cao tột tế độ chúng sinh,
hoặc dùng lời nói dịu dàng, hoặc lời khắc khổ, hoặc có khi dùng
cả lời vừa êm dịu vừa khắc khổ. Đó là Như Lai giải thoát tri kiến
đầy đủ.
Phẩm 2 : Mười lực
Lại nữa, Phật thành tựu 10 lực nên trí tuệ đầy đủ. Vì nhân
duyên đi về nên nói có 10 lực.
Trước tiên, thị xứ phi xứ lực, là trí quyết định trong nhân
quả. Biết từ nhân như vậy thì sinh quả như vậy, không sinh quả
như kia. Như làm điều không lành, ắt bị báo khổ, không sinh báo
vui.
Thị xứ, là có việc như vậy. Phi xứ là không có việc như vậy.
Lực đầu tiên là gốc của các lực khác.
Hỏi : Người đời cũng biết nhân quả của thị xứ phi xứ như lúa
mì sinh lúa mì, không sinh lúa gạo ?
Đáp : Thị xứ phi xứ lực nầy là biết các pháp về nghiệp nên
nói lực này là sâu thẳm thứ nhất. Cái biết của trời, của người đời
không sao kịp được.
Lại biết rõ nhân của sinh pháp tuần tự duyên tăng thượng.
Cho nên nói lực nầy là vi diệu. Nghĩa là biết các nghiệp nhân và
các quả báo của 3 đời, biết xứ, biết sự, biết nhân, biết báo. Cho
nên gọi trí biết nầy là lực. Vì biết xứ, biết sự, biết nhân, biết báo
cả 3 đời nên nói là rất sâu. Sở dĩ vì sao ? Hoặc có người bảo
không có pháp quá khứ và vị lai, nên Phật có năng lực nói lên
điều này.
Lại nữa, các pháp trong quá khứ vị lai tuy không hiện tướng,
Phật cũng hiện biết.
Thành Thật Luận Trang 9 Tuệ Quang Foundation
Lại nữa, nghiệp có 2 thứ : thiện và bất thiện. Hoặc có nghiệp
thiện mà hiện bị khổ, như vì trì giới mà bị các bức não. Hoặc có
nghiệp tội mà hiện nay được hưởng vui, như phá giới mà được tự
tại. Hoặc có người sinh nghi cho rằng đời vị lai cũng như hiện tại.
Cho nên Như Lai tiếp theo nghiệp là nói về thụ. Thụ pháp có 4
thứ : Có hiện khổ sau vui, hiện vui sau khổ. Có hiện vui sau khổ,
hiện khổ sau vui. Phật đều biết rõ biết xứ, sự, nhân, báo.
Xứ tức là người lãnh thụ, sự tức là vật bố thí, nhân tức là tâm
bố thí. Như trong kinh nói : Trước tâm hoan hỷ, lúc thí tâm thanh
tịnh, thí xong không hối hận. Nghiệp nầy được quả, gọi đó là báo.
Duy Phật có thể biết nghiệp nầy nhiều ít hoặc quyết định, không
quyết định, quả báo đời hiện tại, quả báo đời sau, quả báo sau đời
sau v.v… các việc đều biết hết không sót nên gọi là lực. Phật đối
với các pháp thiền định, giải thoát, Tam-muội, Tam-ma-bạt-đề
biết cấu, biết trụ, biết tăng, và biết tịnh. Trong các nghĩa nầy,
thiền là 4 thiền, 4 vô săc định. Tức các hành nghiệp của cõi Sắc và
cõi Vô săc. Còn giải thoát là 8 giải thoát. Có thể làm sạch hết các
nghiệp này là thiền định cõi Vô săc và 8 giải thoát. Đó là Tammuội.
Được dụng của Tam-muội nầy hiện tiền ra trước gọi là
Tam-ma-bạt-đề. Tam-ma-bạt-đề phân biệt có 4 thứ là tùy cấu, tùy
trụ, tùy tăng và tùy tịnh.
Biết cấu là tùy cấu định, biết trụ là tùy trụ định, biết tăng là
tùy tăng định, biết tịnh là tùy đạt định. Tùy đạt định là noãn, đảnh,
nhẫn v.v… 4 pháp. Phật đối với các pháp nầy đều hiểu biết không
sót, nên gọi là lực. Phật rõ biết các căn lợi hoặc độn của chúng
sinh. Tín v.v… các căn vượt trội nên gọi là lợi, như chư Phật
v.v… Độn là bất cập, như xà nô chẳng hạn, không có trung căn,
vì không nhất định. Lợi căn có biên giới như chư Phật. Độn căn
cũng có biên giới như xà nô. Còn trung thì không biên giới nên
không nói trung căn.
Lại nữa, có 2 thứ đạo là tín hành và pháp hành.
Thành Thật Luận Trang 10 Tuệ Quang Foundation
Lại có 2 thứ đạo nữa là nan đạo và dị đạo. Khác với 2 đạo
này gọi là trung. Quán người lợi độn tức là bậc trung.
Lại nữa, tùy chỗ sở thích nên căn cơ có sai khác. Thích tín
căn nên gọi là tín. Phần nhiều người có trí tuệ, các căn đều vượt
trội. Bởi chỗ sở thích nên gọi Hòa-già-lợi là tín căn vượt trội. Các
căn như vậy, Phật đều biết hết, nên gọi là lực. Phật biết chúng
sinh đều có chỗ sở thích, sở thích đó là lạc tức là dục. Như người
có sở thích nhậu nhẹt thì muốn vui cùng bạn bè chè chén. Phật tùy
theo chỗ sở thích mà đều biết từng sở thích. Nghĩa là chúng sinh
muốn vui thích nơi 5 thứ dục, hoặc vui thích tu đạo. Biết như vậy
rồi tùy cơ nghi mà nói pháp, có thể rộng độ tất cả chúng sinh. Phật
biết người đời có vô lượng chủng tính vì chúng sinh hằng lâu tập
theo sở thích mà thành tính quen. Như Điều-đạt chẳng hạn, đời
đời hủy báng Phật, ác tâm càng sâu, nên gọi là tính. Tính thiện
cũng vậy. Hoặc có chúng sinh, từ tính sinh khởi dục, hoặc duyên
hiện tại mà sinh khởi, Như Lai đều biết rõ chỗ sở thích và tính
quen của chúng sinh ấy, nên gọi là lực.
Phật biết tất cả đạo, tức con đường đưa đến nơi. Biết nếu đi
đường nầy sẽ sinh vào địa ngục, cho đến sinh lên trời. Biết nếu đi
đường nầy được đến Niết-bàn. Những hành nghiệp này đều từ gốc
dục tính phát sinh. Nghiệp nhân hữu lậu thì sinh trong 5 đường.
Nghiệp nhân vô lậu thì được đến Niết-bàn.
Trước chỉ nói đạo, giờ đây nói đến quả của đạo. Lại nữa,
trước nói tướng chung, giờ đây nói đến tướng riêng. Có nghiệp
như vậy thì đến địa ngục. Có nghiệp như vậy thì được đến Niếtbàn.
Đến địa ngục cũng có sai khác nhau. Nghiệp này thì đọa vào
Hoạt địa ngục, nghiệp nầy thì đọa vào Hắc thằng địa ngục. Cho
nên Phật trong lực thứ 7 biết nghiệp vi tế, còn các người khác thì
dù biết cũng không thể phân biệt được, cho nên gọi đó là lực.
Phật biết nghiệp quả đời quá khứ như vậy gọi là túc mạng trí lực.
Thành Thật Luận Trang 11 Tuệ Quang Foundation
Lại nữa, Phật biết chỗ tu đạo chúng sinh đời trước, rồi mới
nói pháp, cho nên túc mạng thông cũng gọi là trí lực.
Lại nữa, Phật không những nhớ biết tất cả chỗ sinh xứ của
mình trong đời quá khứ hoặc tại cõi Sắc hoặc tại cõi Vô sắc mà
còn biết cả của chúng sinh nữa, nên gọi là lực. Trí thiên nhãn của
Phật xem thấy 3 cõi nối nhau trong đời vị lai, biết 3 thứ nghiệp
nhân, 4 thứ thụ pháp, rồi cũng ghi nhận mà nói, rõ biết không
ngăn ngại, nên gọi là lực. Và Phật dùng trí lực lậu tận, biết không
liên tục. Chúng sinh mạng chết, hoặc có liên tục, hoặc không liên
tục. Lực nầy đều làm cho tất cả chúng sinh đến chỗ đạo lực, nói
chung là Niết-bàn.
Nay trong lực này rộng phân biệt nói rõ, Phật biết nhân cấu
uế, thanh tịnh nên có 10 lực. Chứng được 9 thứ trước thì thành tựu
trí. Chứng được lực thứ 10 thì thảnh tựu đoạn. Đầy đủ trí đoạn
nên gọi là Thế Tôn, được trời người cung kính.
Phẩm 3 : Bốn vô úy
Lại nữa, Phật thành tựu 4 vô úy, tức 4 thứ không khiếp sợ,
cho nên đáng kính lễ.
Bốn thứ không khiếp sợ, là Như Lai được nhất thiết trí, nhất
thiết lậu tận, có thể nói chướng đạo và đạo hết khổ. Trong 4 pháp
nầy, nếu có người đến nạn vấn đúng như pháp thì ta không chỗ e
sợ gì cả. Cái không khiếp sợ đầu tiên là nhất thiết trí, mà cũng là 9
thứ lực trước. Cái không khiếp sợ thứ 2 là đoạn, tức là lực thứ 10,
là đầy đủ trí đoạn. Như Lai tự mình đầy đủ công đức đức. Còn 2
thứ vô úy sau là khiến người đầy đủ. Phật nói chướng ngại là pháp
thật chướng. Như là bất thiện hoặc thiện hữu lậu, vì bởi ngăn ngại
sự giải thoát nên gọi là pháp chướng ngại. Vì muốn lìa chưóng
ngại nên nói pháp xuất đạo.
Hỏi : Như ông vừa nói các thứ lực tức là vô úy. Nay lực và
vô úy có sai khác chi không ?
Thành Thật Luận Trang 12 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Trí gọi là lực. Vì nhờ lực nầy nên mới có sức kham
chịu, nên gọi là vô úy. Có những người ngu si không biết hổ thẹn
nên cũng có nhiều kham chịu. Sự kham chịu của Như Lai là từ trí
tuệ mà sinh. Và cũng bởi trí tuệ mà không sợ người khác, nên gọi
là vô úy. Sở dĩ vì sao ? Vì hoặc có người tuy có trí mà còn khiếp
sợ.
Lại nữa, trí gọi là lực vì có thể nói trí nầy gọi là vô sở úy. Sở
dĩ vì sao ? Vì có người tuy biết mà không nói tốt. Cho nên có thể
hơn người gọi là vô úy. Sở dĩ vì sao ? Vì có người tuy biết không
hơn người, cho nên trí nầy vô tận, nên gọi là lực. Biện tài vô tận,
nên gọi là vô úy.
Lại nữa, nói ra có nghĩa thú, nên gọi là lực. Nói ra tự tại, nên
gọi là vô úy.
Lại nữa, nhân gọi là lực, quả gọi là vô úy vì từ trong trí sinh
ra vô úy.
Lại như có người xưa nay khiếp nhược, về sau được chút trí
tuệ liền có thể không sợ, huống chi Thế Tôn, từ kiếp lâu xa đến
nay tâm trí rộng lớn, và chứng được Nhất thiết trí mà còn sợ ai ?
Lại nữa, có người không thể hơn người khác được, nên phải
e sợ. Phật không có một người nào hơn, cho nên không e sợ.
Lại có luận giả lời lẽ khéo hay, lại giỏi nghĩa thú, thì không e
sợ, người ấy tức là Phật. Vì được Nhất thiết trí nên giỏi nghĩa thú;
được vô ngại biện nên khéo lời lẽ.
Lại có người gặp việc, vì bất lực mà sinh khiếp sợ. Như Lai
đạt được Nhất thiết trí nên đối với tất cả mọi việc không bất lực.
Tất cả kinh sách, tất cả luận nghị v.v... đều thông suốt vấn đáp rõ
ràng, nên không e sợ.
Lại nữa có người bị khuyết điểm về gia tộc, về tính tình, về
hình sắc, về giới , về trí đa văn v.v…. nên bị đời chê bai. Như Lai
với các điều kể trên đều không chút khiếm khuyết, cho nên không
e sợ.
Thành Thật Luận Trang 13 Tuệ Quang Foundation
Lại như có luận giả luận đúng như pháp thì không ai phá
hoại được, người ấy tức là Phật. Như Bà-la-môn A-thúc-la thưa
Thế Tôn rằng : Luận đúng như pháp thì khó thắng, khó phá. Luận
thuận đạo lý, luận có suy lường, luận có nhân cũng như vậy.
Lại nữa nếu có người thành tựu 4 thứ luận pháp, cũng khó
thắng, khó phá : 1. Trụ chính chấp. 2. Thụ nhân và phi nhân. 3. Có
thể thụ thí dụ. 4. Trụ trong luận pháp. Phật đủ 4 thứ nầy, nên chư
thiên và người không ai hơn được, cho nên không e sợ.
Lại nữa, người không học hỏi thầy giỏi mà luận nghị thì dễ
bị phá hoại. Như Lai xưa từng ở chỗ Phật Định Quang và vô
lượng chư Phật khác tu tập luận pháp, nên không thể phá hoại
được.
Lại nữa, Phật nói có 2 đế : Thế đế và đệ nhất nghĩa đế, cho
nên người trí cũng không thể phá hoại được. Phàm phu vô trí Phật
không tranh với chúng.
Lại Phật không tranh cãi với người đời. Người đời bảo có,
Phật cũng nói có. Người đời nói không, Phật cũng nói không, nên
không tranh cãi. Vì không tranh cãi, nên không phá hoại được.
Lại nữa, luận nghị có 2 thứ : một là chân thật luận, hai là
siểm khúc luận. Các ngoại đạo phần nhiều là siểm khúc luận. Phật
là chân thật luận, nên không thể phá hoại.
Lại nữa, trong Phật pháp chính hành thanh tịnh nên luận nghị
cũng thanh tịnh. Chính hành thanh tịnh là nhân hết khổ. Luận của
các ngoại đạo có nhân tương tự, không có chính nhân nên không
được đắc thắng.
Lại Phật kinh thanh tịnh, nói ra nghĩa thú không trái thật
tướng, không giống như ngoại đạo. Hơn nữa, đạo Phật nói không
chỉ tùy theo lời nói mà đều biết rõ ngay trong tự tâm. Như trong
kinh nói Phật bảo Tì-kheo : Các ông chớ nên chỉ tin lời ta nói mà
phải tự thấy biết, tự thân tu chứng nữa.
Thành Thật Luận Trang 14 Tuệ Quang Foundation
Lại nói : Các ông đến những người không siểm khúc, như ta
sớm mai vì các ông nói pháp khiến chiều được đạo, chiều vì nói
pháp khiến sáng sớm được đạo.
Lại nữa, nếu người đối với pháp có chỗ không thông suốt thì
ngưng không nói nữa, vì dù có nói ra chắc sẽ bị phá hoại. Phật
không chỗ nào không thông suốt nên được vô úy.
Lại nữa, Như Lai được các trí vô ngại, với tất cả pháp, không
pháp nào không thông đạt, nên không phải sợ. Còn những người
tiểu trí không biết chỗ biết của đại nhân. Đại nhân có thể biết tiểu
trí. Phật là bậc đại trí nhất của chúng sinh, có thể biết tiểu luận
nên không phải sợ. Lại luận của các ngoại đạo chỉ nhân chỗ thấy
mà khởi; Phật biết cái thấy ấy là từ các duyên sinh, và biết tập,
biết diệt, biết vị, biết lỗi và biết thoát ra. Các ngoại đạo không thể
biết hết được, nên mới sinh tranh luận. Phật dùng Nhất thiết
chủng trí biết tất cả các pháp, có thể phá tất cả luận, mà không bị
tất cả các luận phá lại, nên không phải sợ. Bởi các duyên do như
vậy cho nên lực và vô úy nghĩa có sai khác.
Hỏi : Phật đối với các pháp đều không e sợ, mà sao chỉ nói 4
thứ vô úy ư ?
Đáp : Nói 4 thứ là đã gồm nói tất cả vô úy. Bởi vì sao ? Vì 2
thứ vô úy trước là tự nói trí và đoạn về phần mình, 2 thứ vô úy sau
là vì người khác nói pháp chướng đạo. Nói đạo hết khổ, cũng gọi
là trí đoạn. Thầy và trò trí đoạn đầy đủ, nên nói chung là nhất
thiết vô úy.
Hỏi : Vì sao chúng sinh nghi Phật không phải người nhất
thiết trí ?
Đáp : Lời Phật nói ra, có khi có những lời tựa hồ không phải
người có nhất thiết trí. Như Phật hỏi : Người từ đâu đến đây có
những việc như vậy ?
Lại như trong kinh có nói : Có người đi vào trong thành đô,
làng xóm rồi họ hỏi tên các nơi ấy. Ta không cho người ấy là
Thành Thật Luận Trang 15 Tuệ Quang Foundation
Nhất thiết trí. Có người nghe kinh này nói thế, mới nghi Phật
không phải bậc Nhất thiết trí.
Lại nữa, có khi Phật nói ra tuồng như còn tham trước, như
trong kinh nói : Phật nói, Hay thay ! Tì-kheo đến đây, ông với
thân này là được đại lợi. Tùy thuận pháp ta là ta vui mừng. Còn có
những lời tuồng như giận dữ, như Phật bảo Điều-đạt : Người là
thứ người chết… là người ăn đồ khạc nhổ của người khác…
Lại còn có những lời in tuồng kiêu ngạo, như tự nói : Ta là
sư tử trong loài người, vì ta thành tựu thập lực, tứ vô sở úy, nên
trong đại chúng có thể rống lên tiếng rống sư tử.
Lại có lời nói như kiến chấp, như nói : Khéo tu trì pháp ta
như người bưng bát dầu. Và bảo Điều-đạt : Ta không đem chúng
tăng giao cho Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên huống chi giao cho ông.
Có người tiểu trí nghe các lời nói ấy vội bảo Như Lai chưa hết các
lậu.
Lại nữa, Phật nói các thứ dục là thứ chướng đạo, mà có
người thụ dục cũng vẫn đắc đạo.
Lại nữa, trong Luật chế ra pháp ngăn chận, mà có người hủy
hoại pháp ấy cũng vẫn được đạo. Cũng vì vậy mà có người tiểu trí
nghi Phật không biết pháp chướng đạo.
Lại có người tu đạo mà vẫn có kết sử, nên người tiểu trí nghi
cho rằng tu Thánh đạo không thể hết các kết sử, kết sử không hết
làm sao hết khổ ? Vì vậy Như Lai với 4 pháp nầy nói không e sợ.
Hỏi : Đã bị các nghi như trên, làm sao dứt cho được ?
Đáp : Đó là những lời Phật tùy theo lời nói thế tục, vì người
đời có những việc đã biết mà vẫn hỏi và không cho thế là có lỗi.
Phật cũng vậy, vì ở trong thế gian nên tùy theo thế tục mà hỏi.
Lại nữa, người đời cũng có người tâm không tham mà nói ra
lời nói in tuồng có tham, có những trường hợp như vậy. Phật cũng
vậy, vì muốn lợi cho chúng sinh nên hiện ra có những lời nói như
thế. Hoặc nói : Dục không phải chướng pháp. Như Lai nói dục
Thành Thật Luận Trang 16 Tuệ Quang Foundation
thật là chướng pháp, nếu dục còn ở nơi tâm thì không tu đạo được,
phải trước trừ dục, nhiên hậu mới đắc đạo. Hoặc người nói tuy
phạm pháp ngăn cũng vẫn đắc đạo, mà phá pháp thật ngăn, thì
chắc chắn không đắc đạo. Nếu không phải thật tội mà vì trọng
duyên nên Phật tự cho phép, chứ không phải phá hoại pháp ngăn.
Hoặc nói người tu đạo cũng còn kết sử. Thánh đạo có thể phá trừ
tất cả kết sử, vì chưa đầy đủ nên không thể phá trừ hết ví như tính
của bơ có thể chữa được bệnh nóng, mà vì uống ít nên không lành
bệnh. Tu đạo cũng vậy cho nên không có lỗi.
Như Lai thành tựu 4 thứ không khiếp sợ, cho nên đáng kính
lễ.
Phẩm 4 : Mười hiệu
Lại nữa, trong kinh nói : Như Lai có 10 thứ công đức : Đó là
Như Lai, Ứng cúng, Chính biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế
gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, và
Phật Thế Tôn. Như Lai là nương đạo như thật đến thành chính
giác, nên gọi là Như Lai. Có nói ra điều gì đều đúng sự thật không
hư dối. Như Phật hỏi A-nan : Như Lai có nói 2 lời chăng ? Thưa
không, Thế Tôn. Cho nên gọi là như thuyết.
Lại nữa, Như Lai từ đêm đắc đạo cho đến đêm Niết-bàn,
trong thời gian ấy, có nói ra lời gì đều chân thật không phá hoại
được, nên gọi là như thuyết.
Lại dùng nhất thiết chủng trí biết biên tế trước sau, rồi sau
mới nói, nên nói ra đều chân thật.
Lại nữa, chư Phật Thế Tôn ký ức bền chắc không quên mất.
Có người hoặc đem trí so sánh hay theo trong kinh sách mới nói
có thể được, hoặc có sự việc hiện tại không khéo thấy mà nói có
thể. Người nầy nói ra là khi được khi mất. Như trong kinh nói :
Người có trí so sánh nói ra khi được khi mất. Phật đối với các
Thành Thật Luận Trang 17 Tuệ Quang Foundation
pháp hiện biết rồi mới nói cho nên lời nói đều không phá được,
nên gọi là thật thuyết.
Lại nữa, Phật nói ra đều nói thật nghĩa, không phải như các
người nói ra có thật có không thật, nên không phá được.
Lại nữa, lời nói hợp thời, như trong kinh nói : Phật biết
chúng sinh tâm vui thích điều gì rồi nói đạo pháp, nên gọi là như
thuyết.
Lại nữa, với người đáng nói, liền nói ngay, như trong Kinh
Khẩn-thúc-già có nói.
Lại nữa, chỗ nên nói pháp liền vì nói ngay, như chỗ nói sơ
lược, hoặc chỗ nói rộng các môn ấm, nhập. Cho nên nói ra đều là
chân thật.
Lại nữa, có 2 thứ pháp ngữ : một là dựa vào thế đế, hai là
dựa vào đệ nhất nghĩa đế. Như Lai dựa vào 2 đế nầy mà thuyết
pháp, nên nói ra đều thật.
Lại nữa, Phật không nói thế đế là đệ nhất nghĩa đế, cũng
không nói đệ nhất nghĩa đế là thế đế, cho nên lời nói của đôi bên
đều không trái nhau.
Lại nữa, Như Lai nói pháp hoặc ngăn, hoặc mở cũng không
trái nhau. Tùy theo việc ngăn thì điều này không mở, tùy theo
việc mà mở thì điều này không ngăn, cho nên lời nói đều không
trái nhau.
Lại có 3 thứ pháp ngữ : một từ kiến sinh, hai từ mạn sinh, ba
từ giả danh sinh. Phật không có 2 loại trước, đối với loại thứ 3
thanh tịnh không nhiễm.
Lại có 4 thứ pháp ngữ : là kiến, văn, giác, tri. Phật với 4 lối
nói nầy đều thanh tịnh tâm không tham đắm.
Lại có 5 thứ pháp ngữ : là quá khứ, vị lai, hiện tại, vô vi và
bất khả thuyết. Năm thứ nầy, Phật đều thông suốt rõ ràng, biết rồi
nhiên hậu mới nói, nên gọi như thuyết. Có thể như thuyết cho nên
gọi là Như Lai. Bởi vì hết phiền não mới được pháp nầy, các thứ
Thành Thật Luận Trang 18 Tuệ Quang Foundation
tham, sân si là cội gốc của vọng ngữ, diệt hết các kết sử nầy, cho
nên gọi là Ứng cúng.
Lại nữa Như Lai nói pháp ứng cúng là pháp diệt kết sử, do
chính trí sinh, đem trí tuệ của chính quán các pháp vô thường,
khổ, không …nên mới diệt hết các phiền não. Nhờ chính trí mới
sinh pháp ứng cúng. Pháp chính trí nầy từ minh, hành mà sinh
biên tế trước sau và không liên tục, khéo thông suốt nên được gọi
là chính trí. Tận hành các pháp bố thí Ba-la-mật v.v… nên gọi là
minh hành túc. Các người khác cũng ở trong vô thủy sinh tử tu
các pháp bố thí, v.v… mà không có chính hành nên không gọi là
Thiện thệ. Phật có chính đạo tu bố thí v.v… các hạnh nên gọi là
Thiện thệ. Được 5 pháp nầy công đức của Như Lai về phần mình
đầy đủ. Được chính trí nên có thể biết tất cả tâm niệm của thế
gian, biết tâm niệm rồi mới vì đó nói pháp, nên gọi Vô thượng sĩ.
Những người đáng điều phục chế ngự không một
người nào không được điều phục. Đã được điều phục thì vĩnh viễn
không còn bại hoại nữa. Người được điều phục là người, trời, nên
gọi là Thiên nhân sư. Hoặc có người sinh nghi : Như Lai sinh
trong loài người mà làm sao có thể giáo hóa trên cõi trời được ?
Cho nên Phật đã nói : Ta là bậc thầy của trời và người. Phật khi
ngồi nơi đạo tràng, trừ giấc ngủ vô minh, chứng được nhất thiết
trí, sáng tỏ đại ngộ tất cả các pháp quá khứ, vị lai, hiện tại, các
pháp hữu vi vô vi, hữu tận vô tận hoặc thô hoặc tế v.v... đều giác
ngộ, nên gọi là Giác giả.
Như vậy 9 thứ công đức đầy đủ là đấng cao cả trong 3 đời 10
phương thế giới nên gọi là Thế Tôn.
Phật đầy đủ 10 hiệu nên tự thân đầy đủ, khiến người khác
cũng đầy đủ, lợi mình lợi người, cho nên đáng kính lễ.
Phẩm 5 : Ba không hộ
Thành Thật Luận Trang 19 Tuệ Quang Foundation
Ba không hộ là 3 thứ không phải bảo hộ giữ gìn. Đó là 3
nghiệp thân khẩu ý của Phật không cần giữ gìn. Sở dĩ vì sao ? Vì
3 nghiệp ấy của Phật không có bất tịnh, muốn khiến người khác
không thấy không biết.
Lại các người khác hoặc có khi vô ký, tựa như 3 nghiệp thân
khẩu ý có bất tịnh nên bị người trí chê trách. Phật không có như
vậy. Sở dĩ vì sao ? Vì tất cả 3 nghiệp ấy của Như Lai đều do trí
tuệ và sự nghĩ nhớ chân chính mà sinh khởi. Còn những người
tiểu trí bị vọng niệm không được nghiệp như vậy.
Lại người đời hoặc vì vội vã mà nói lầm lỗi. Phật thì không
có các việc như vậy.
Lại nữa, Phật khéo tu thân giới tâm tuệ, các pháp như vậy
đều khéo tu nên tất cả nghiệp nhân bất thiện và tương tự bất thiện
v.v... đều trừ diệt.
Lại nữa, Thế Tôn từ kiếp lâu xa đến nay đã từng tu hành các
thiện pháp không phải mới đời này, cho nên các nghiệp tính thanh
tịnh không phải giữ gìn. Lại Phật thường ưa tu giới hạnh, không
phải vì lo sợ đọa ác đạo mà tu.
Lại tất cả 3 nghiệp thân khẩu ý của Phật đều vì lợi người nên
không bất thiện, vì không bất thiện nên không phải gìn giữ. Vì 3
nghiệp thanh tịnh không cần gìn giữ nên đáng kính lễ.
Lại nữa, Phật thành tựu 3 niệm xứ, nên đáng kính lễ. Mỗi
khi thuyết pháp, thính giả nhất tâm nghe, không lấy làm mừng,
hay không chăm lòng nghe, cũng không lấy làm buồn, vì thường
tu tâm xả. Sở dĩ vì sao ? Vì Phật không còn chút mảy may tham
sân tập khí.
Lại Phật biết các pháp rốt ráo là không, nên không mừng
không buồn.
Lại Phật khéo nhóm họp tâm đại bi, nên đối với thiện hay bất
thiện, tâm không vui buồn, mà chỉ sinh khởi tâm đại bi bình đẳng.
Thành Thật Luận Trang 20 Tuệ Quang Foundation
Lại Phật am hiểu tâm tính của mỗi chúng sinh, nên chăm
nghe, không lấy làm mừng, không chăm nghe cũng không lấy làm
buồn, vì bản tính là vậy, nên thường tu tâm xả.
Lại tâm Phật kiên cố như đại địa, cất bớt vật nặng không lên
cao, hay đặt thêm vật nặng cũng không thấp xuống. Còn tâm
phàm phu như cái cân, thêm chút là thấp xuống, bớt chút thì cao
lên.
Lại Phật Thế Tôn gọi là đấng đại bi, cho nên người, trời đều
nên kính lễ.
Lại Phật bỏ cái vui trong cảnh sâu thiền định mà vì người nói
pháp. Bi tâm của người khác không thành xong. Đại bi của Thế
Tôn có thể cứu chúng sinh, nên gọi là hữu quả. Và cũng nhờ đại
bi mà thành tựu đạo vô thượng chứ không phải dựa vào duyên nào
khác.
Lại nữa, Phật không có ngã tâm, hành thiểu dục tri túc rất là
bậc nhất. Cũng do đại bi nên tự khen thân mình.
Lại nữa, tính Phật nhu hòa, mà vì đại bi nên mới có những
lời khổ thiết, khởi đại phương tiện, chịu các điều cần khổ vì độ
chúng sinh. Và Phật vì đại bi độ chúng sinh nên trụ trong thế gian
mà thụ thân 5 ấm như hoàn sắt nóng, trong giây lát cũng không
kham chịu nổi.
Lại Phật Thế Tôn khéo tu tâm xả, rồi bỏ tâm xả thưòng hành
đại bi, nên được tôn kính.
Lại Phật là người thiện trong những người thiện. Sở dĩ vì sao
? Vì mình được đại lợi cũng làm cho người khác được đại lợi, lợi
mình lợi người, nên gọi người thiện.
Lại Phật là chân thiện tri thức của chúng sinh. Như trong
kinh nói : Ta là chân thiện tri thức của chúng sinh, là người
thương xót, người làm lợi ích…
Thành Thật Luận Trang 21 Tuệ Quang Foundation
Lại nữa, Phật Thế Tôn là nơi hội tụ các công đức như tinh
tiến v.v…như Hòa Lợi dùng một trăm câu kệ khen Phật. Do các
công đức đức nầy. Cho nên đáng kính lễ.
Lại nữa, Phật tự nói công đức của mình, như trong Kinh
Tăng Nhất A-hàm, Phẩm Như Lai, Phật tự nói : Ta là sư tử trong
loài người, là người đẹp như hoa, là người hùng như voi là đệ nhất
Sa-môn mà cũng là đệ nhất trong Bà-la-môn, và là vua trong các
Thánh, vì hành vi không còn sai lầm, là không tùy theo khổ vui,
đó chính là thân ta.
Hỏi : Vì lý do gì Phật tự khen thân mình ? Tự khen thân
mình là tướng của người ngu.
Đáp : Thế Tôn không cầu danh lợi mà chỉ vì người khác nên
tự khen thân mình.
Lại Phật tâm vô ngã, vì muốn lợi cho người khác nên tự khen
không lỗi.
Lại cũng bởi nhân duyên mà tự khen ít nhiều vậy thôi, chứ
với công đức của Phật không thể nói hết được, cho nên không đọa
vào tướng người ngu, vì không có tự cao.
Lại như trong Kinh Thanh Tịnh, Xá-lợi-phất đứng trước Phật
mà ngợi khen công đức của Phật. Cho nên đáng kính lễ.
Lại các hạnh thiểu dục tri túc và vô lượng công đức đều hội
tụ nơi thân Phật. Sở dĩ vì sao ? Vì Phật hội tụ đầy đủ tất cả các
công đức đức. Bởi các duyên do đó nên kính lễ Phật.
Phẩm 6 : Ba thiện đầu tiên trong luận về Pháp Bảo
Hỏi : Trước ông có nói nên lễ Pháp Bảo. Mà Pháp Bảo có
công đức gì đáng kính lễ ?
Đáp : Phật tự khen ngợi nói : Pháp ta nói ra trước, giữa, sau
đều thiện, nghĩa thiện, ngữ thiện, độc pháp, cụ túc, thanh tịnh điều
nhu, tùy thuận phạm hạnh. Trước giữa sau đều thiện là Phật pháp
không thời nào không thiện. Với thiếu thời, tráng thời, lão thời, 3
Thành Thật Luận Trang 22 Tuệ Quang Foundation
thời đều thiện. Nhập thời, hành thời, và xuất thời cũng đều thiện.
Và trước là ngăn ác, giữa là xả phúc báo và sau là xả tất cả, cho
nên gọi là ba thiện.
Lại 3 thời Phật thường thuần thuyết chính pháp không xen
phi pháp như các ngoại đạo.
Lại 3 thời trước giữa sau Phật thường vì chỗ ưa thích của
người trí mà thuyết.
Lại trong 3 thời tất cả pháp đều rất sâu, không như kinh khác
trước to, giữa nhỏ, sau nát vụn. Bởi các lẽ ấy nên gọi là 3 thiện.
Nghĩa thiện, là nghĩa Phật pháp có lợi ích sâu xa : được lợi
đời nầy và đời sau, lợi xuất thế đạo, không phải như ngoại điển
nguyện cầu tăng thêm thiên nhãn.
Ngữ thiện, là tùy theo phương ngôn tục ngữ có thể hiển thị
chính nghĩa, nên gọi là ngữ thiện. Sở dĩ vì sao ? Vì kết quả lời nói
chính là nghĩa. Cho nên những lời nói ra có thể biện luận nghĩa lý,
nên gọi là ngữ thiện.
Lại nữa, cái quý của Phật pháp là làm đúng như nói, chứ
không quí ở nói suông, cho nên tùy theo phương ngôn tực ngữ, có
thể khiến được đạo, đó gọi là ngữ thiện. Không như ngoại điển,
chỉ quí lời nói, nếu sai lời nói hoặc lỗi âm thanh thì luận chủ bị
tội.
Lại nữa khéo nói chân đế gọi là nghĩa thiện, khéo nói thế đế
gọi là ngữ thiện.
Độc pháp, là Phật chỉ nói chính pháp chứ không vì hý luận
mà nói chuyện đời xưa, và cũng không nói xen tạp pháp với phi
pháp.
Lại độc pháp là Phật chỉ nói vì vô dư Niết-bàn, và chỉ độc
nhất Phật có thể thuyết, cho nên gọi là độc pháp.
Hỏi : Có kinh Thanh Văn bộ, chỉ có Thanh Văn nói.
Lại có các kinh khác do các thiên thần nói, sao bảo chỉ độc
nhất Phật nói ?
Thành Thật Luận Trang 23 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Là căn bản của pháp đều từ Phật mà ra, nghĩa là các
Thanh Văn và thiên thần đều là những người truyền đạt lời Phật.
Như trong Tì-ni có nói : Phật pháp là những gì Phật nói. Những
lời đệ tử Phật nói, các vị biến hóa và chư thiên nói, tóm lại tất cả
thiện ngữ trong thế gian đều là lời Phật nói nên gọi là độc pháp.
Cụ túc, là pháp Phật nói ra không có giảm thiểu, như trong
Kinh Uất-đà-la-già nói về tướng cụ túc.
Lại Phật pháp không đợi các kinh mới được thành tựu, như
Kinh Hòa-già-la-na đợi 5 kinh nhiên hậu mới được thành tựu.
Phật pháp không phải như vậy, trong một bài kệ vẫn đầy đủ ý
nghĩa, như nói : Chớ làm các ác, vâng làm các lành; tự tịnh tâm ý,
là chư Phật dạy. Cho nên gọi là cụ túc.
Thanh tịnh điều nhu, là có 2 thứ thanh tịnh, nên gọi là thanh
tịnh điều nhu. Đó là lời thanh tịnh gọi là thanh tịnh, nghĩa thanh
tịnh gọi là điều nhu.
Lại Phật cho phép trong nghĩa chính đặt lời tùy nghĩa. Trong
chính ngữ đặt nghĩa tùy ngữ, không phải như ngoại đạo tùy theo
kinh mà lấy.
Lại trong Phật pháp, căn cứ vào pháp không căn cứ vào
người. Mà trong pháp cũng còn phân biệt, là căn cứ vào kinh liễu
nghĩa, mà không căn cứ vào kinh không liễu nghĩa, đó là tịnh
pháp, không chỉ theo kinh.
Lại trong Phật pháp có 3 pháp ấn : Tất cả vô ngã. Các pháp
hữu vi, niệm niệm vô thường. Niết-bàn tịch diệt. Với 3 pháp ấn
này, các luận giả không thể phá hoại được, vì là chân thật nên gọi
là thanh tịnh điều nhu.
Tùy thuận phạm hạnh, là 8 chính đạo gọi là phạm hạnh.
Phạm là đạo Niết-bàn, vì có thể đến Niết-bàn nên gọi là phạm
hạnh.
Pháp Bảo thành tựu công đức như vậy, cho nên đáng kính
lễ.
Thành Thật Luận Trang 24 Tuệ Quang Foundation
Phẩm 7 : Các giáo pháp
Lại nữa, Phật tự khen ngợi rằng : Pháp ta có thể diệt, có thể
đến Niết-bàn, có thể sinh chính trí có thể khéo dẫn đường.
Có thể diệt, là diệt tắt các lửa phiền não tham, sân si nên gọi
là có thể diệt, như tu quán bất tịnh diệt được lửa dâm dục, như tu
từ tâm diệt được giận dữ, không phải như ngoại đạo tu pháp đoạn
thực, cho nên gọi là có thể diệt. Có thể đến Niết-bàn, là rốt ráo
Phật pháp chắc chắn đến Niết-bàn, không phải như ngoại đạo an
trụ trong hữu phần, hay say đắm các thiền định.
Lại trong Phật pháp, nói tất cả pháp hữu vi đều có tội lỗi nên
không đáng khen ngợi, không phải như Bà-la-môn khen ngợi trời
Phạm Thế, cho nên nói Phật pháp có thể đến Niết-bàn.
Có thể sinh chính trí, là có bao nhiêu Phật pháp đều vì Niếtbàn,
cho nên có thể sinh chính trí. Và trong Phật pháp có quả chân
trí, như từ văn tuệ sinh tư tuệ, từ tư tuệ sinh tu tuệ, nên nói Phật
pháp có thể sinh chính trí.
Có thể khéo dẫn đường, là Phật pháp mình trước khéo thành
tựu, sau làm cho người khác an trú trong chính pháp, nên gọi khéo
dẫn.
Lại nữa, Phật pháp có 6 pháp : 1. Thiện thuyết. 2. Hiện báo.
3. Vô thời. 4. Có thể đem, 5. Đến nếm biết. 6. Người trí tự biết.
Thiện thuyết, là các pháp Phật nói đúng như thật tướng của
các pháp, như pháp bất thiện là nói tướng bất thiện, thiện là nói
tướng thiện, gọi là thiện thuyết.
Hiện báo, là Phật pháp có thể được quả báo hiện tại, như
trong kinh nói : Sớm mai thụ giáo, khiến chiều đắc đạo, chiều vì
nói pháp khiến sáng ngày đắc đạo.
Lại hiện báo là như hiện tại trong Kinh Sa-môn Quả nói :
Hiện được cung kính, danh tiếng, thiền định, thần thông, các việc
lợi ích.
Thành Thật Luận Trang 25 Tuệ Quang Foundation
Lại nữa, Phật pháp đều có nghĩa lý, nên khiến được cung
kính hiện đời, quả báo đời sau và quả báo Niết-bàn. Các pháp
ngoại đạo không có nghĩa lý nên không được quả báo hiện tại và
đời sau huống chi Niết-bàn, cho nên gọi là hiện báo.
Vô thời, là Phật pháp không đợi ngày tháng năm nào hay tinh
tú cát hung mới được tu đạo, hay ngày tháng năm nào đó không
được tu đạo. Không phải như pháp của Bà-la-môn là đầu xuân Bàla-
môn thụ pháp lửa, cuối xuân Sát-lợi thụ pháp lửa. Hoặc đợi mặt
trời mọc, hoặc chưa mọc mới cúng dường lửa. Như thấy ngũ cốc
đợi thời vụ mới gieo trồng, rồi bảo Phật pháp cũng phải như vậy.
Cho nên nói là Vô thời. Như trong kinh nói : Phật pháp dễ tu, đi
đứng ngồi nằm không lúc nào không tu được.
Có thể đem, là vì nhờ chính hành nên có thể đem chúng sinh
đến chỗ giải thoát, nên gọi là có thể đem.
Đến nếm biết, là Phật pháp cần phải tự thân tác chứng, không
phải chỉ theo người khác, như Phật bảo các Tì-kheo : Các ông
đừng chỉ tin lời ta, mà phải tự suy nghĩ pháp ấy nên tu hay không
nên tu. Không phải như ngoại đạo bảo các đệ tử rằng : Hãy bỏ lối
vấn đáp này, như người rửa sạch không thích bụi đất, phải chỉ
theo lời ta như đứa điếc câm . Cho nên gọi là nếm biết.
Người trí tự biết, là lợi ích của Phật pháp, người trí tuệ mới
có thể tin hiểu, còn pháp đoạn thực những người thô ngu tin ưa,
chứ người trí không chấp nhận. Bởi chính trí tuệ có thể phá trừ
phiền não. Những pháp như thế người trí mới hiểu. Tuy dùng vật
thực đầy đủ nuôi thân mà nhất tâm tinh tiến tu trì, không nhiễm
tham sân. Các việc như thế người trí hiện biết, như người lành
bệnh tự nhiên biết được khỏi bệnh, như tướng nước lạnh chỉ
người uống mới biết.
Lại nữa, hoặc có quá ngữ pháp, như nói tướng cứng của đất.
Cứng lấy gì làm tướng ? Không thể lấy lời nói đáp được, mà phải
chạm đến mới biết. Cũng như có người mù bẩm sinh không thể
Thành Thật Luận Trang 26 Tuệ Quang Foundation
nói cho người đó biết màu xanh vàng đỏ trắng được. Nếu người
chưa thấm được khí vị Phật pháp thì không thể đem thật nghĩa
Phật pháp mà bảo với người đó được, vì Phật pháp là pháp tịch
diệt.
Lại nữa, Phật pháp có thể tự chứng biết chứ không thể đem
chỗ chứng của mình trao cho người khác như đồ vật hay của cải.
Như trong Kinh Bà-la-diên Phật nói : Ta không thể tự dứt nghi
cho ông để ông có thể chứng pháp của ta. Nghi của ông tự dứt lấy.
Lại nữa pháp ấy khi đến thân người khác thì không thể thấy
được, như lửa đã truyền đi nơi khác.
Lại người phàm phu ngu nhân bị núi vô minh che ngăn nên
không tin pháp nầy, như Phật nhân Sa-di A-di-la-việt nói thí dụ
núi lớn. Cho nên gọi người trí tự biết.
Lại nữa, Phật pháp rất sâu, khai thị thì cạn để dứt trừ hư
ngụy, lưu bố khắp người trời. Rất sâu, là Phật pháp rất sâu, vì
không biết nguyên nhân nên người đời phần nhiều chỉ thấy hiện
quả, không thể biết nguyên nhân nên nói do trời Tự Tại v.v…. các
thứ tà nhân. Mười hai pháp nhân duyên thâm sâu nên khó hiểu.
Người đời trí cạn đối với Phật pháp không có tưởng sâu xa được
nên không thể thông suốt các pháp nhân duyên, cho đến cộng cỏ
nhỏ cũng do các nhân duyên. Suy nghĩ quan sát thì tướng nó càng
trở nên sâu. Như Phật có nói : Các pháp nhân duyên, điều này rất
sâu, ái hết lìa diệt, và chỗ Niết-bàn, cũng là khó thấy.
Hỏi : Nếu nhân duyên rất sâu sao A-nan sinh nghĩ tưởng
nông cạn ?
Đáp : Có luận sư đã bảo rằng : Lời nói ấy không đúng. A-nan
là bậc đại đệ tử thông đạt pháp tướng làm sao lại nói pháp nhân
duyên là nông cạn ?
Lại nếu đem tướng chung mà quán sát pháp nhân duyên nên
sinh tưởng nông cạn. Bởi vì sao ? Vì người ấy không khéo phân
biệt mà quán nghiệp phiền não.
Thành Thật Luận Trang 27 Tuệ Quang Foundation
Lại nữa, như người đối với sở học đã được rốt ráo liền sinh
lòng nghĩ cạn dễ, như khi được đại trí trở lại xem bài học ban đầu.
Trái lại có người trí tuệ chưa thành tựu, đối với pháp rất sâu, sinh
tưởng dễ dàng nông cạn.
Lại nữa, vì Phật khéo thuyết pháp nên hoặc có chúng sinh
nghe liền sinh ý nghĩ cho là cạn dễ.
Lại Phật pháp đều không, vì lý không nầy rất sâu nên Phật
dùng nhiều thứ nhân duyên thí dụ nói rõ nghĩa làm cho dễ hiểu,
trẻ con cũng hiểu được, như Sa-di Tu-đà-da chẳng hạn.
Lại nữa, Phật pháp kiên cố, nên trong các lời nói rất là chân
thật, không phải như những kinh Bà-la-đà-la-ma-diên chỉ có lời
nói mà không có thật nghĩa. Như Phạm Chí Lô-Đề thưa Thế Tôn
rằng : Các Tì-kheo đối với pháp chân thật lợi ích tinh cần tu học
thì được hết lậu.
Lại nữa, Phật pháp vì làm lợi ích cho tất cả người đời nên
mới nói chứ không phải như Bà-la-môn nói : Pháp Bà-la-môn chỉ
có tự mình được đạo người khác không được. Phật pháp là pháp
tôn trọng, các vì Thiên vương là những người buông thả hưởng
ngũ dục mà vẫn đến tín thụ. Vì các nhân duyên nầy, cho nên đáng
kính lễ Pháp bảo.
Phẩm 8 : Mười hai bộ kinh
Lại nữa, Phật pháp phân biệt có 12 bộ : 1. Tu-đa-la. 2. Kì-dạ.
3. Hòa-già-la-na. 4. Già-đà. 5. Ưu-đà-na. 6. Ni-đà-na. 7. A-ba-đàna.
8. I-đế-viết-đa-già. 9. Xà-đà-già. 10. Tì-phật-lược. 11. A-phùđa-
đạt-ma. 12. Ưu-ba-đề-xá.
Tu-đa-la, là những lời nói thẳng.
Kì-dạ, là dùng kệ tụng lại Tu-đa-la, hoặc Phật tự nói, hoặc
các đệ tử nói.
Hỏi : Vì sao phải dùng kệ tụng lại Tu-đa-la ?
Thành Thật Luận Trang 28 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Muốn cho nghĩa lý vững chắc, như dùng dây xâu hoa
thứ lớp chặt chẽ, lại muốn trau giồi lời lẽ, khiến người ưa thích,
như rải hoa, hoặc cầm hoa xâu để trang nghiêm.
Lại nữa, đưa nghĩa lý vào trong kệ thì tóm tắt dễ hiểu. Hoặc
có chúng sinh ưa nói thẳng, hoặc thích kệ tụng.
Lại trước nói thẳng pháp, sau dùng kệ tụng thì nghĩa lý rõ
ràng khiến lòng tin kiên cố.
Lại nghĩa được đưa vào trong kệ thì thứ lớp làm rõ cho nhau,
dễ xưng tán. Cho nên phải cần nói kệ. Hoặc có người bảo : Phật
pháp không nên tạo kệ vì giống lối ca vịnh. Lời nói ấy không
đúng, vì Phật pháp cần nên tạo kệ. Sở dĩ vì sao ? Vì Phật tự dùng
kệ nói các nghĩa.
Lại như kinh nói : Tất cả các lời đẹp đẽ trong thế gian đều
phát xuất từ pháp ta. Cho nên kệ tụng mới có lời đẹp đẽ.
Hòa-già-la-na, là các kinh có giải nghĩa thì gọi là Kinh Hòagià-
la-na. Nếu có kinh không đáp không giải như Tứ Vô Ngại
chẳng hạn thì gọi là Tu-đa-la, kinh có vấn đáp gọi là Hòa-già-lana,
như nói có 4 hạng người : từ tối vào tối, từ tối vào sáng, từ
sáng vào tối, từ sáng vào sáng. Hạng từ tối vào tối, là như những
người bần tiện mà còn gây 3 ác nghiệp sẽ đọa vào ác đạo. Những
kinh như thế gọi là Hòa-già-la-na.
Hỏi : Vì sao Phật nói kinh không đáp không giải ?
Đáp : Có kinh nghĩa lý thâm sâu, nghĩa của kinh này sẽ nói
riêng trong phần A-tì-đàm, cho nên không giải. Hoặc có người nói
: Phật nói kinh đều có giải nghĩa. Nhưng vì người kết tập Pháp
bảo lựa kinh nào nghĩa thâm sâu đặt vào trong A-tì-đàm, như bởi
2 nhóm người kết tập trong hang và ngoài hang, trọn đêm giải
nghĩa. Nghĩa này nên ở trong nhóm kết sử.
Già-đà, là đệ nhị bộ thuyết Kì-dạ. Kì-dạ là kệ. Kệ có 2 thứ :
một gọi là Già-đà, hai gọi là Lộ-già. Lộ-già lại có 2 thứ : một
Thành Thật Luận Trang 29 Tuệ Quang Foundation
thuận phiền não, hai không thuận phiền não. Không thuận phiền
não là trong Kì-dạ gọi là Già-đà.
Trừ 2 thứ kệ nầy, ngoài ra các kinh không phải kệ, gọi là Ưuđà-
na.
Ni-đà-na, là các kinh nhân duyên. Sở dĩ vì sao ? Vì chư Phật
hay các bậc hiền thánh nói kinh pháp cần có nhân duyên. Nhân
duyên của các kinh này hoặc ở trong Tu-đa-la, hoặc ở nơi khác,
thì gọi là Ni-đà-na.
A-ba-đà-na, là nói có đầu đuôi thứ lớp, như trong kinh nói :
Người trí nói thì có gốc ngọn, có thứ lớp, có nghĩa có giải không
cho tán loạn. Đó gọi là A-ba-đà-na.
I-đế-việt-đa-già, là kinh nhân duyên và kinh thứ lớp. Nếu 2
kinh này ở quá khứ thì gọi là I-đế-việt-đa-già, tiếng Trung Quốc
dịch là : Điều này đời quá khứ như vậy.
Xa-đà-già, là nhân việc hiện tại mà nói việc quá khứ. Như
Lai tuy nói việc đời vị lai, nhưng điều này đều nhân quá khứ và
hiện tại nên không nói riêng.
Tì-phật-lược, là kinh Phật nói rộng thì gọi Tì-phật-lược. Có
người không tin bảo : Các bậc Đại Thánh, vì thích vắng lặng
không ưa ồn ào, chán tạp ngữ thế gian, vì muốn nhổ các gốc ưa
vui, nên không ưa nói rộng. Như trong kinh nói : Có người chứng
được đạo, hơn 2 tháng mới nói một lời. Vì muốn dứt nghi này nên
nói có kinh nói rộng rất nhiêu ích cho người khác. Như nói Như
Lai có 2 lối thuyết pháp : một rộng hai sơ lược. Cố nhiên là rộng
hơn sơ lược.
A-phù-đà-đạt-ma, là các kinh nói việc chưa từng có. Như
nói các việc lạ khi kiếp hết như có đại biến, thân lượng các chư
thiên, đại địa chấn động. Có người không tin các việc như vậy cho
nên nói có kinh nói việc chưa từng có. Hiện nghiệp quả báo, thế
lực các pháp, không thể nghĩ bàn.
Thành Thật Luận Trang 30 Tuệ Quang Foundation
Ưu-ba-đề-xá, là như Đại Ca-chiên-diên v.v… là các bậc đại
trí rộng giải lời Phật. Có người không tin cho là không phải Phật
nói, Phật vì những người ấy cho nên nói có luận kinh. Kinh mà có
luận thì nghĩa dễ hiểu.
Mười hai bộ kinh này là Phật pháp. Pháp Bảo đầy đủ công
đức như thế, cho nên đáng kính lễ.
Phẩm 9 : Trước tiên là thanh tịnh, luận về Tăng Bảo
Hỏi : Trước ông có nói nên kính lễ Tăng Bảo. Sao phải kính
lễ ?
Đáp : Ở nhiều nơi Phật tự khen ngợi Tăng. Tăng Bảo là giới
phẩm thanh tịnh, định phẩm, tuệ phẩm, giải thoát phẩm, giải thoát
tri kiến phẩm đều thanh tịnh; nên thỉnh nên lễ, chắp tay cung kính
cúng dường thì thí chủ có thể được lợi ích, vì đó là ruộng phúc
cao tột.
Giới phẩm thanh tịnh, là các đệ tử Phật giữ giới không bị tì
vết, cho đến bị lỗi nhỏ cũng rất ôm lòng lo sợ.
Lại đệ tử Phật, không phải vì cầu phúc báo sinh về cõi người,
trời, cũng không phải lo sợ địa ngục, ngạ quỷ mà siêng có thể giữ
giới chỉ vì ưa thiện pháp nên gọi là thanh tịnh.
Lại nữa, giữ tịnh giới chẳng hạn cuộc theo thời tiết, không
như Bà-la-môn giữ giới 6 tháng, hay 1 đêm, cho đến rốt ráo. Nên
gọi là thanh tịnh.
Lại nữa, giữ tịnh giới lìa 2 bên là xa lìa vui ngũ dục và lìa
khổ nơi thân. Nên gọi giới này Thánh ưa mến, mà giới này cũng
được người trí yêu chuộng.
Lại nữa, bởi tâm tịnh nên giới cũng thanh tịnh.
Lại bởi thâm tâm ngăn ác, chứ không phải giữ giới chỉ vì lo
sợ đời sau cho nên gọi Tăng Bảo là giới phẩm thanh tịnh.
Định phẩm thanh tịnh, là nhờ thiền định có thể sinh chân trí
nên gọi thanh tịnh.
Thành Thật Luận Trang 31 Tuệ Quang Foundation
Tuệ phẩm thanh tịnh, là nhờ tuệ mới được hết phiền não, nên
gọi thanh tịnh.
Giải thoát thanh tịnh, là như được hết các phiền não, không
phải chỉ có thể ngăn chận phiền não, nên gọi giải thoát thanh tịnh.
Giải thoát tri kiến thanh tịnh, là đối với các phiền não hết mà
được trí tuệ. Nghĩa là hết ngã sinh, chứ không phải hết phiền não
mà nói hết ngã sinh. Đó là giải thoát tri kiến thanh tịnh.
Nên thỉnh nên lễ nên cúng dưòng, là vì có thể đầy đủ các
công đức như thế, cho nên cần cầu thỉnh kính lễ và cúng dường
các bậc phúc điền ấy. Đối với trong đó mà trồng phúc thì được
quả báo vô lượng, cho đến khi các vị vào Niết-bàn cũng không thể
được.
Có thể làm lợi ích thí chủ, là có thể khiến công đức của thí
chủ tăng thêm lợi ích, như ruộng 8 công đức, làm tươi tốt ngũ cốc
không cho hư hoại. Ruộng Tăng Bảo cũng vậy, vì thành tựu 8
công, nên có thể khiến thí chủ được tăng trưởng công đức. Cho
nên đáng kính lễ.
Phẩm 10 : Phân biệt hiền thánh
Hỏi : Do pháp gì nên gọi là Tăng ?
Đáp : Do 4 hành, 4 đắc, và giới, định, tuệ các công đức thanh
tịnh, nên gọi là Tăng.
Bốn hành, là hành Tu-đà-hoàn, hành Tư-đà-hàm, hành A-nahàm,
hành A-la-hán.
Bốn đắc, là Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán.
Hành Tu-đà-hoàn có 3 hạng người : 1. Tùy tín hành 2. Tùy
pháp hành. 3. Tùy vô tướng hành.
Tín hành, là nếu người chưa được trí không vô ngã, vì tin
Phật pháp thực hành theo lời Phật dạy gọi tín hành. Như trong
kinh nói : Ta đối điều này vì tin nên làm. Nếu được chân trí thì
không chỉ theo lòng tin mà làm. Như trong kinh nói : Biết người
Thành Thật Luận Trang 32 Tuệ Quang Foundation
không làm, người không tin, đó là Thượng nhân. Cho nên phải
biết chưa được chân trí là Tùy tín hành. Như trong kinh nói : Nếu
người đối với Pháp đem chút trí tuệ quan sát nhẫn, lạc, gọi là Tín
hành. Vượt khỏi bậc phàm phu, nhưng chưa chứng được quả Tuđà-
hoàn, trong thời gian ấy không bị mạng chết, gọi là Tín hành.
Người nầy trong văn tư tuệ chính quán các pháp, tâm nhẫn dục
lạc, tuy chưa được trí không vô ngã mà có thể sinh tâm thế gian
tương tự nhẫn pháp, từ đây trở đi gọi là vượt khỏi bậc phàm phu.
Sở dĩ vì sao ? Sau sẽ nói rộng. Nếu không có tín v.v… 5 căn, thì
người nầy còn ở ngoại phàm phu. Cũng người nầy lần hồi tu tập
được noãn v.v… các pháp tu tuệ mà bản danh vẫn còn nên cũng
gọi là Tín hành, vì hoàn toàn không kịp người Pháp hành. Kinh
nầy nên nói cần phải chứng được quả Tu-đà-hoàn, chứ không nên
nói không bị mạng chết. Sở dĩ vì sao ? Vì người Tín hành hãy còn
xa. Như trưởng giả Úc-già cúng dường chúng Tăng, có Thiên thần
cáo thị cho biết vị này là A-la-hán, vị này là hành A-la-hán, cho
đến vị nầy là Tu-đà-hoàn, vị này hành Tu-đà-hoàn. Nếu còn ở 15
tâm thì không có thể được cáo thị như vậy. Phải biết người hành
Tu-đà-hoàn có gần có xa, gọi là Tín hành. Người pháp hành, là
người này được trí không vô ngã, mà còn ở trong pháp noãn,
đảnh, nhẫn, thế đệ nhất. Tùy thuận pháp hành tu các pháp không
vô ngã thì gọi là pháp hành. Hai hành nhân này nhập vào kiến đế
đạo thấy diệt đế, nên gọi là vô tướng hành. Ba hạng người này là
hành quả Tu-đà-hoàn. Trong đạo thế tục vì không đoạn kết, nên
không được gọi là hành. Còn 3 quả kia, sau sẽ nói.
Tu-đà-hoàn, như trong kinh Phật nói : Nếu người đoạn được
3 kết là thân kiến, nghi, giới thủ thì gọi là Tu-đà-hoàn, không đọa
ác đạo, chắc chắn được chính trí, cùng cực đến 7 hữu.
Hỏi : Nếu Tu-đà-hoàn kiến đế, các phiền não đều đoạn hết,
diệt được vô lượng khổ, như Kinh Địa Dụ nói, sao đây chỉ nói
đoạn 3 kết ư ?
Thành Thật Luận Trang 33 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Vấn đề này sau sẽ nói rộng. Nghĩa là thân kiến hết, các
thứ khác cũng hết theo. Còn không đọa ác đạo thì ra sau, trong
phần nghiệp tụ cũng sẽ nói rộng. Nói chắc chắn được chính trí, là
người nầy được vào trong dòng pháp chắc đến Niết-bàn, như cây
trôi giữa sông Hằng, lìa 8 nhân duyên chắc chắn đến biển cả. Nói
cùng cực 7 hữu, là người nầy trong 7 đời trí vô lậu sẽ thành thục,
như Ca-la-la v.v… trong bào thai, cứ bảy ngày biến thành trạng
thái khác.
Lại như uống các thứ tô lạc đến 7 ngày thì lành kiên bệnh.
Lại như dòng họ giới hạn đến 7 đời.
Lại như thân người bị một thứ rắn độc cắn, vì sức của tứ đại
chỉ đi được 7 bước và vì sức độc của nọc rắn nên không đi được
bước thứ 8.
Lại pháp dối gạt cũng đến 7 đời.
Lại như đến khi 7 mặt trời xuất hiện là thì kiếp thiêu hết.
Như vậy 7 đời chứa nhóm tuệ vô lậu đốt cháy hết phiền não.
Lại pháp ấy ứng với 7 hữu. Có Tu-đà-hoàn đời nay vào Niếtbàn,
có đời thứ 2 thứ 3 cùng cực là đến đời thứ 7. Đó gọi là Tuđà-
hoàn.
Hành Tư-đà-hàm, là tư duy đoạn kết có 9 phẩm. Nếu đoạn 1,
2, cho đến 3 4 5, đó là người hành Tu-Đà-Hàm. Có người nói chỉ
dùng 1 vô ngại đạo mà đoạn. Điều này không phải như vậy, vì
trong kinh Phật nói phải đem vô lượng tâm mà đoạn trừ, như
trong Kinh Phủ Kha Dụ đã nói.
Lại hành giả Tư-đà-hàm còn có tên là Gia gia, là người nầy
hoặc 2 hoặc 3 phen qua lại hoặc hiện thân nầy được vào Niết-bàn.
Đó là hành giả Tư-đà-hàm.
Tư-đà-hàm, là chỉ còn đến nhân gian một phen rồi nhập Niếtbàn.
Người nầy do tư duy đoạn được kết bạc, trụ trong bạc địa này
gọi là Tư-đà-hàm. Tư-đà-hàm này, hoặc hiện đời nầy vào Niếtbàn.
Thành Thật Luận Trang 34 Tuệ Quang Foundation
Hành A-na-hàm, là nếu đoạn được kết phẩm thứ 7, thứ 8,
người nầy đều gọi là hành A-na-hàm. Đoạn phẩm thứ 8 gọi là
Nhất chủng. Người hành A-na-hàm, hoặc có người hiện đời nầy
được vào Niết-bàn. Lìa hết 9 phẩm kết của cõi Dục nên được gọi
là A-na-hàm. A-na-hàm nầy có 8 thứ sai khác. Như là có người do
thân trung ấm nhập diệt, có người do sinh hữu nhập diệt, có người
không hành nhập diệt, có người có hành nhập diệt, có người lên
đến A-ca-ni-trá hành nhập diệt, có người đến Vô sắc xứ, có người
chuyển thế nhập diệt, có kể do hiện đời nhập diệt. Tùy theo căn cơ
thượng, trung, hạ nên có sai khác.
Trung ấm nhập diệt cũng có 3 thứ thượng căn, trung căn, hạ
căn. Có A-na-hàm rất chán thế gian mà có chút chướng ngại nên
hiện đời không được nhập diệt, người nầy khi ở trong thân trung
ấm mới nhập diệt. Sinh hữu cũng có 3 hạng là sinh diệt, hành diệt
và không hành diệt. Sinh diệt, là khi sinh rất chán lìa sinh hữu liền
vào Niết-bàn, gọi là sinh diệt, vì căn cơ lanh lợi. Hoặc có khi sinh
xong, các pháp vô lậu đạo tự nhiên hiện tiền không cần gia hạnh
siêng tu mà vào Niết-bàn, gọi là không hành diệt, vì căn cơ bậc
trung. Hoặc có người sinh xong rất sợ việc thụ thân, siêng tu hành
đạo mới vào Niết-bàn, gọi là hành diệt vì căn cơ đần độn. Thượng
hành diệt cũng có 3 hạng : Hoặc từ một nơi mạng chung, đến một
nơi khác sinh, rồi bèn vào Niết-bàn, gọi là lợi căn. Hoặc từ 2, 3
nơi sinh gọi là trung căn. Tất cả nơi mạng chung, tất cả nơi sinh,
gọi là độn căn. Từ Sơ thiền đến cõi trời Quảng Quả, gọi là quyết
định. Đến cõi trời Quảng Quả rồi nếu sinh về cõi trời Tịnh Cư,
người nầy không còn đến cõi Vô săc xứ, vì ưa thích tuệ. Nếu vào
Vô sắc xứ thì người này quyết không sinh về cõi trời Tịnh Cư, vì
ưa thích định.
Chuyển thế, là hoặc đời trước chứng được quả Tu-đà-hoàn,
hay quả Tư-đà-hàm; về sau chuyển thân lại chứng được quả A-nahàm.
Người nầy không vào cõi Sắc, cõi Vô sắc.
Thành Thật Luận Trang 35 Tuệ Quang Foundation
Hiện diệt, là người lợi căn số một, tức hiện thân này được
vào Niết-bàn.
Lại có 2 hạng người : một là tín giải thoát, hai là kiến đắc.
Hai hạng nầy vì căn cơ có sai khác, như người học nhân độn căn
trong tư duy đạo gọi là tín giải thoát. Lợi căn là kiến đắc. Nếu Ana-
hàm đủ 8 pháp giải thoát gọi là thân chứng, các hạng nầy đều
là người hành A-la-hán vì đồng đoạn kết. Nếu đoạn diệt tất cả
phiền não gọi là A-la-hán. A-la-hán có 9 hạng : 1. Thoái tướng. 2.
Thủ tướng. 3. Tử tướng. 4. Khả tiến tướng. 5. Trụ tướng. 6. Bất
hoại tướng. 7. Tuệ giải thoát tướng. 8 Cầu giải thoát tướng. 9. Bất
thoái tướng. Các bậc A-la-hán nầy vì chứng được Tín v.v… các
căn nên có sai khác nhau.
Người rất độn căn gọi là thoái tướng, là thoái lui mất Tammuội.
Vì thoái lui Tam-muội nên trí tuệ vô lậu không thể hiện
tiền. Thủ tướng, là người có chút căn cơ khá hơn, nếu gìn giữ
Tam-muội thì không lui mất, mà không giữ thì mất. Tiền thoái
tướng, là trước kia dầu có cố giữ cũng lui mất. Tử tướng, là người
nầy căn cơ lại khá hơn chút nữa; rất chán các hữu, người nầy vì
không thể được Tam-muội nên trí tuệ vô lậu khó được hiện tiền,
giả sử được nhưng vui mừng rồi cũng mất, nên tự tìm lấy cái chết.
Trụ tướng, là nếu được Tam-muội, nhưng không tiến không lui
gọi là Trụ tướng. Ba hạng trước là ở trong thoái phần Tam-muội,
còn trụ tướng nầy ở trong trụ phần Tam-muội. Khả tiến tướng, là
nếu được Tam-muội thì tăng thêm bền chắc, người nầy trụ ở trong
tăng phần Tam-muội. Bất hoại tướng, là được Tam-muội rồi các
thứ nhân duyên không thể làm hư hoại. Người nầy trụ ở đạt phần
Tam-muội, vì trí tuệ rất sắc bén nên khéo lấy Tam-muội nhập vào
tướng trụ khởi nên không thể hoại. Do diệt tận định nên có 2
hạng người không được định này gọi là Tuệ giải thoát. Được định
này gọi là câu giải thoát. Bất thoái tướng, là những công đức được
đều không thoái mất, như trong kinh nói : Phật bảo các Tì-kheo :
Thành Thật Luận Trang 36 Tuệ Quang Foundation
Nếu đệ tử ta đem giường chở ta, ta trước đã được, đều không lui
mất.
Chín hạng như vậy gọi là vô học nhân. Trước có 18 học nhân
và 9 vô học là 27 hạng người, tất cả gọi là ruộng phúc của thế
gian. Trong Tăng Bảo có đầy đủ công đức cho nên đáng kính lễ.
Phẩm 11 : Ruộng phúc
Hỏi : Do những gì mà các hiền thánh nầy gọi là ruộng phúc ?
Đáp : Dứt hết tham, sân si và các phiền não nên gọi ruộng
phúc. Như nói không trừ bỏ thứ cỏ giống như lúa, thì hại cây lúa.
Cho nên cúng thí người vô dục được quả báo lợi lớn.
Lại người nầy tâm không, nên gọi ruộng phúc. Sở dĩ vì sao ?
Vì không tướng nên các phiền não tham, sân si không khởi, không
sinh ác nghiệp.
Lại các hiền thánh chứng được pháp bất tác nên gọi là ruộng
phúc.
Lại các người nầy thiền định đã được v.v... đều thanh tịnh, vì
đã vĩnh viễn lìa các phiền não lớn nhỏ.
Lại xả bỏ hết sự buồn vui nên gọi ruộng phúc.
Lại có thể dứt trừ 5 thứ trói buộc tâm, nên tâm được thanh
tịnh gọi là ruộng phúc.
Lại nữa, thành tựu 8 thứ ruộng công đức.
Lại dùng 7 thứ định cụ khéo giữ nơi tâm.
Lại có thể tận diệt 7 thứ lậu nên không còn các lầm lỗi.
Lại đầy đủ các giới hạnh, 7 pháp thanh tịnh.
Lại được thành tựu 8 công đức của hạnh thiểu dục và tri túc.
Lại có thể vượt qua bờ bên kia, và đang siêng có thể cầu độ,
nên gọi là ruộng phúc. Như trong kinh nói : Chỉ có thể phát tâm
muốn tu thiện pháp còn được nhiều lợi ích, huống chi là tu hành.
Các hiền thánh nầy thường hành thiện pháp nên gọi ruộng phúc.
Như trong kinh nói : Có người thí chủ nào cúng dường Tì-kheo có
Thành Thật Luận Trang 37 Tuệ Quang Foundation
trì giới, vị ấy nhận cúng dường rồi nhập vô lượng định, người thí
chủ được phúc vô lượng. Trong chúng có người nhập vô lượng
Tam-muội, vô tướng Tam-muội, vô động Tam-muội có thể khiến
thí chủ được quả báo vô lượng, nên gọi ruộng phúc.
Lại như trong kinh nói : Ba việc hòa hợp nên được phúc lớn.
Một là có lòng tin, hai là vật thí, ba là ruộng phúc. Với trong
chúng Tăng, người có nhiều công đức, đối với người có công đức
ấy dễ sinh lòng tin.
Lại nữa, cúng chúng Tăng đủ 9 nhân duyên nên được quả
báo lớn, và cúng chúng Tăng là vì người thụ thanh tịnh nên người
thí chắc chắn được thanh tịnh.
Lại cúng thí có 8 thứ : Có tâm thanh tịnh ít, vật thí cũng ít,
thí cho người phá giới. Có tâm thanh tịnh ít, vật thí nhiều, thí cho
người phá giới. Có tâm thanh tịnh ít, vật thí cũng ít, thí cho người
giữ giới. Có tâm thanh tịnh ít, vật thí nhiều, thí cho người trì giới.
Có tâm thanh tịnh nhiều, thí 4 thứ vật cũng như vậy. Ở trong
chúng Tăng cúng thí chắc chắn được thành tựu hoặc 2 hoặc 3. Tất
cả người thiện đều nhờ chúng Tăng mà tăng thêm công đức, nhiên
hậu mới tùy ý nguyện hồi hướng Bồ-đề. Và nhờ đem vật thí Tăng
nầy đều sẽ được quả giải thoát ở trong sinh tử quyết không thể
hết.
Lại đem thí chúng Tăng đều vì trang nghiêm tâm.
Lại nữa, nếu đối với một vị Tăng sinh lòng tin thanh tịnh
hoặc có khi có thể hoại, nhưng đối với chúng Tăng lòng tin thanh
tịnh quyết không hư hoại.
Lại đối với một người sinh lòng ái kính hoặc không được
rộng, mà đối với chúng Tăng sinh lòng tin kính thì tâm được rộng
lớn vì cảnh duyên nhiều vô lượng.
Lại nữa, cúng thí vì muốn tất cả người vào Tăng số, vì tâm
rộng lớn nên được quả báo cũng lớn.
Thành Thật Luận Trang 38 Tuệ Quang Foundation
Do các duyên như trên nên các hiền thánh nầy gọi là ruộng
phúc. Cho nên đáng kính lễ.
Phẩm 12 : Cát tường
Bởi Tam Bảo nầy có công đức đầy đủ nên kinh nói đến
trước.
Lại nữa, ngôi Tam Bảo nầy với tất cả thế gian là điều tốt lành
thứ nhất. Như trong kệ Cát tường nói Phật, Pháp và chúng Tăng
gọi là rất tốt lành.
Lại có các kinh lấy tốt lành làm tăng tuổi thọ muôn năm cho
người mới học đạo được tiếng tăm đồn khắp, đó là ý kiến của
người tác kinh, như dùng các chữ A Đà trước đầu kinh, đây không
phải là tướng tốt lành, sau sẽ nói rộng. Nếu người nào muốn cầu
điều rất tốt lành thứ nhất chính là Tam Bảo. Cho nên phải qui y.
Như bài kệ Cát tường nói :
Phật là bậc Đại giác,
Đấng Đạo sư cao tột,
Trong các cõi trời, người,
Đó là rất tốt lành.
Nếu người đối với Phật,
Vững lòng tin không động,
Vâng giữ giới thanh tịnh,
Đó là rất tốt lành.
Xa lìa người ngu si
Gần gũi người có trí,
Người đáng kính thì kính,
Đó là rất tốt lành.
Cho nên phải kính lễ Tam Bảo vì rất tốt lành. Tôi trước phải
thuyết minh.
THÀNH THẬT LUẬN
Thành Thật Luận Trang 39 Tuệ Quang Foundation
Mặc định THÀNH THẬT LUẬN quyển 2
( Quyển 2 )
Ha-lê-bạt-ma tạo luận
Cưu-ma-la-thập dịch
Nguyên Hồng dịch tiếng Việt
Phẩm 13 : Lập luận
Nay muốn luận giải Phật pháp lợi ích thế gian, vì Phật đem
tâm đại bi làm lợi ích cho tất cả thế gian nên nói pháp nầy rộng
không biên giới. Như hoặc có người chỉ vì dòng họ Bà-la-môn mà
nói kinh giải thoát. Phật nói kinh đều vì độ thoát 4 phẩm loại
chúng sinh cho đến loài súc sinh cũng không giới hạn.
Hỏi : Không nên tạo luận để luận giải lời Phật. Sở dĩ vì sao ?
Nếu Phật tự luận thì nên gọi là luận, nếu Phật không luận thì
người khác không nên luận. Sở dĩ vì sao ? Vì khó hiểu thấu ý thú
của bậc Nhất thiết trí, không biết nói việc ấy để làm gì. Nếu
không hiểu được ý Phật, mà nói ra tức là tự hại. Như trong kinh
nói : Có 2 hạng người hủy báng Phật, một là vì không tin, ganh
ghét nên hủy báng, hai là tuy có tin lời Phật nói, nhưng không thể
lãnh thụ chắc chắc cũng là hủy báng Phật. Dù có chân trí mà
không hiểu ý Phật, còn không nên luận giải lời Phật nói, huống là
chưa được chân trí mà muốn tạo luận luận giải ý Phật ư ? Sở dĩ vì
sao ? Như trong Kinh Dị Luận, Phật vì xúc nên nói việc như vậy.
Các Tì-kheo có nhiều luận nghị khác nhau đều không đúng ý
Phật.
Lại như trưởng lão Đại Ca-chiên-diên bảo các Tì-kheo rằng :
Như người đốn cây đại thụ, bỏ hẳn thân gốc, mà chỉ lấy cành lá.
Các người cũng vậy, bỏ rời Như Lai mà hỏi ta ư ? Như Đại Cachiên-
diên trong luận nghị mà thí dụ mình như cành lá huống chi
người khác làm sao hiểu được lời Phật.
Thành Thật Luận Trang 40 Tuệ Quang Foundation
Lại Phật hỏi Xá-lợi-phất : Thế nào là học nhân ? Thế nào là
số pháp nhân ? Ba phen hỏi mà không đáp được.
Lại nữa, Phật là cội gốc của tất cả các pháp, duy Phật mới
hiểu, các người khác không thể hiểu được.
Lại khi A-nan bạch Phật rằng : Trong đường đắc đạo gặp
thiện tri thức là được nửa phần lợi ích. Cũng có lý. Sở dĩ vì sao ?
Vì phải nhờ 2 nhân duyên chính kiến mới được sinh, một nghe từ
người khác, hai tự mình chính niệm. Phật bảo A-nan : Chỉ gặp
được thiện tri thức, thế là đầy đủ lợi ích đắc đạo cho mình rồi.
Lại như Phật nói : Nếu ta vì ông nói pháp, mà người ấy
không hiểu ý ta nên sinh việc tranh luận. Nay các luận sư, mỗi
người đều chấp theo ý mình. Hoặc cho quá khứ vị lai có pháp;
hoặc có người cho là không. Phải biết các luận sư ấy chấp như
vậy, là vì không hiểu Như Lai tùy cơ thuyết pháp nên sinh tranh
luận.
Lại như A-nan vì Tam-ma-đề mà nói các thụ đều là khổ. Bấy
giờ, Phật bảo các Tì-kheo rằng : Các ông xem A-nan hãy còn lờ
mờ nghĩa ấy.
Lại có các luận sư bảo : A-la-hán nên thụ cúng dường trước.
Có Tì-kheo không hiểu liền đến hỏi Phật. Phật bảo : Ở trong pháp
ta, người xuất gia trước nên thụ cúng dường. Việc ăn uống là
thường mà còn không biết huống chi ý Như Lai nói pháp vi diệu.
Vì các lẽ nói trên, cho nên không nên tạo luận.
Đáp : Không phải vậy. Sở dĩ vì sao ? Vì có nhân duyên nên
có thể biết ý người khác, như trong kệ nói : Có thể biết ý người
thuyết giả hướng về nơi nào, cũng biết thuyết giả muốn nói việc
gì. Có 2 thứ đạo : Thánh đạo và Thế gian đạo. Vấn đề này sau sẽ
nói rộng. Nhờ 2 đạo này nên được biết ý thuyết giả.
Lại nữa, trong Kinh Dị Luận Phật cũng vẫn cho tạo luận.
Lại như Ca-chiên-diên và các vị đại luận nghị, đã lĩnh hội
được ý Phật, nên Phật đều khen ngợi.
Thành Thật Luận Trang 41 Tuệ Quang Foundation
Lại các Tì-kheo như Ưu-đà-di, Tì-kheo-ni Đàm-ma-trần-na
đều muốn xin tạo luận Phật pháp. Phật nghe liền cho ngay. Bởi
Phật pháp thâm diệu, ai hiểu thì tạo mà không hiểu thì thôi. Như
vậy ngoải ra các câu hỏi, Phật là cội gốc các pháp đều lấy đây làm
câu trả lời chung.
Lại nữa, cần nên tạo luận. Sở dĩ vì sao ? Vì, nếu kinh mà có
tạo luận thì ý nghĩa dễ hiểu, Pháp-Bảo được tồn tại ở đời bền lâu.
Lại Phật đã cho tạo luận, như trong kinh nói : Phật bảo Tìkheo
tùy ý tạo luận nhưng nên khéo thụ trì. Cho nên trong Tu-đala
lấy nghĩa mà lập luận, riêng gọi là Dị Bộ, cho nên phải tạo luận.
Lại như Phật vì các chúng sinh đáng độ nên nói các môn luận
nghị thế gian, như bọn Sa-đề không hiểu nổi nên tâm họ mê loạn.
Nghĩa là bọn Sa-đề Tì-kheo chủ trương sinh tử vãng lai thường là
một thức. Phật mới nói các pháp như vậy. Nếu không luận nghị
làm sao giải thích được ? Bởi các duyên nói trên, nên phải tạo
luận.
Phẩm 14 : Các môn luận
Luận có 2 môn : 1. Thế giới môn. 2. Đệ nhất nghĩa môn. Do
thế giới môn nên nói có ngã. Như trong kinh nói : Ta thường tự đề
phòng, làm thiện tự được thiện, làm ác tự được ác.
Lại trong kinh nói : Tâm thức là thường.
Lại nói : Trọn đêm tu tâm, chết được sinh lên cõi trên.
Lại nói : Tác giả khởi nghiệp, tác giả tự chịu.
Lại nói : Chúng sinh nào đó sinh về nơi nào đó v.v… Như
vậy đều do thế giới môn mà nói.
Đệ nhất nghĩa môn, là đều nói Không, nói Vô. Như trong
kinh nói : Trong 5 ấm nầy không có ta và vật sở hữu của ta. Tâm
như gió như ngọn lửa, sinh diệt từng mỗi niệm, tuy có các nghiệp
và quả báo của nghiệp, nhưng tác giả và thụ giả đều bất khả đắc.
Như Phật do nhân duyên 5 ấm liên tục tiếp nối nên nói có sinh tử.
Thành Thật Luận Trang 42 Tuệ Quang Foundation
Lại có 2 thứ luận môn : 1. Thế tục môn. 2. Hiền thánh môn.
Thế tục môn, là do thế tục nên nói tháng hết. Kỳ thật tháng không
hết. Như bà mẹ Ma-già-la xưng với con dâu là mẹ nhưng kỳ thật
không phải mẹ. Như trong kinh nói : Lưỡi có khả năng biết vị,
nhưng đó là do thiệt thức biết vị chứ không phải cái lưỡi biết vị.
Như nói người giáo đâm là người bị khổ. Thực ra đấy cũng là
thức biết khổ, chứ không phải người thụ khổ. Như người bần tiện
mà đặt tên là Phú Quý. Phật cũng tùy người mà gọi Phú Quý.
Lại Phật gọi ngoại đạo Bà-la-môn cũng gọi Sa-môn.
Lại như các dòng Sát-lợi, Bà-la-môn, Phật cũng tùy tục gọi
họ là tôn quý.
Lại như một đồ vật, tùy theo mỗi nước mà có tên gọi khác.
Phật cũng tùy theo mà gọi.
Lại như Phật nói : Đây là lần chót ta xem thành Tỳ-da-ly.
Những lời nói như vậy đều tùy theo thế tục mà nói gọi là Thế tục
môn.
Hiền thánh môn, là như trong kinh nói : Do nhân duyên sinh
thức, mắt v.v… các căn giống như biển cả.
Lại như kinh nói : Chỉ có ấm, giới và nhập các duyên hòa
hợp, chứ không có tác giả và thụ giả.
Lại nói tất cả khổ. Như trong kinh nói : Người đời nói vui,
thánh nhân nói khổ. Trái lại thánh nhân nói khổ, người đời nói
vui.
Lại có thuyết, nói không, vô tướng gọi là Hiền thánh môn.
Và còn có Ba thời luận môn là nếu trong điều này nói là sắc, nếu
sắc đã từng có, sẽ có, nay có, đều gọi là sắc. Thức cũng như vậy,
nếu thức đã từng biết, sẽ biết, nay biết, đều gọi là thức. Các điều
như trên, đều gọi là Ba thời luận môn.
Lại nữa, hoặc có luận môn, là nếu có xúc chắc chắn do 6
nhập, chứ không phải tất cả 6 nhập đều làm nhân cho xúc. Nếu có
ái chắc chắn do nơi thụ, không phải tất cả thụ đều làm nhân cho
Thành Thật Luận Trang 43 Tuệ Quang Foundation
ái. Hoặc nói nhân đầy đủ, như xúc là nhân duyên cho thụ. Hoặc
nói nhân không đầy đủ, như thụ làm nhân duyên cho ái mà không
vô minh. Hoặc có dị thuyết, như trong kinh nói : Tâm hoan hỷ thì
thân khoan khoái. Tam thiền không hỷ, thân cũng có khoan khoái.
Lại nói khoan khoái là thụ lạc. Tứ thiền có khoan khoái mà
không có thụ lạc. Đó gọi là dị thuyết.
Lại có thông suốt và bế tắc 2 thứ luận môn. Như trong kinh
nói : Nếu có người khởi hành đi đến tháp để cúng dường, giữa
đường bị chết, liền được sinh lên trời. Đó gọi là thông suốt.
Lại kinh khác nói : Người gây nghịch tội không được sinh
lên trời. Đó gọi là bế tắc.
Lại trong kinh nói : Người thụ các thứ dục không điều ác nào
không gây. Đó gọi là thông suốt. Bậc Tu-đà-hoàn tuy còn thụ các
thứ dục, mà không hay gây nghiệp nhân đọa ác đạo. Đó gọi là bế
tắc.
Lại trong kinh nói : Do mắt duyên sắc mới sinh nhãn thức.
Đó gọi là thông. Nếu vậy thì nên duyên tất cả sắc đều sinh nhãn
thức, nhưng không phải vậy.
Lại trong kinh nói : Do tai duyên tiếng sinh nhĩ thức, mà
không sinh nhãn thức. Đó gọi là tắc.
Lại nữa, đã nói thông, tắc đều có đạo lý không hoại pháp
tướng.
Lại có 2 thứ luận môn : Một quyết định, hai không quyết
định. Quyết định là như nói Phật bậc Nhất thiết trí. Lời Phật nói
ra gọi là chân diệu pháp. Chúng đệ tử của Phật gọi là người chính
hạnh.
Lại nói tất cả pháp hữu vi v.v... đều vô thường, khổ, không,
vô ngã, tịch diệt, Niết-bàn. Các pháp môn như thế thì gọi là quyết
định. Không quyết định, là như nói ai chết cũng đều sinh. Thế là
bất định; vì có ái thì sinh, hết ái thì diệt.
Thành Thật Luận Trang 44 Tuệ Quang Foundation
Lại trong kinh nói : Nếu được tâm định đều sinh thật trí. Đây
cũng bất định, vì thánh nhân được định có thể sinh thật trí mà
ngoại đạo được định thì không thể sinh trí.
Lại như kinh nói cầu gì đều được. Đấy cũng bất định. Hoặc
được hoặc không được. Như nói 6 nhập chắc chắn có thể sinh
xúc, cũng là bát định. Hoặc khi có sinh hoặc khi không sinh. Các
điều như thế gọi là Bất định môn.
Lại như hữu vi không phải luận môn. Như nói hoa thơm cỏ
lạ, không xông nghịch gió.
Lại nói hoa Câu-tì-la có thể nghịch gió nghe mùi, vì là hoa
người nên nói nghich gió không nghe; vì là hoa trời nên nói xông
nghịch gió.
Lại nói có 3 sự cảm thụ là cảm thụ khổ, cảm thụ vui và cảm
thụ không khổ không vui.
Lại các kinh khác nói có bao nhiêu cảm thụ đều là khổ. Có 3
thứ khổ là Khổ khổ, hoại khổ, và hành khổ. Vì nghĩa nầy nên mới
nói có bao nhiêu thụ tất cả đều khổ.
Lại nói khổ này có 3 thứ là mới, cũ, vừa. Thụ mới thì vui, lâu
chán thì khổ, vừa thì không khổ không vui.
Lại nói vì người đã đắc đạo nên gọi là đạo nhân, người chưa
đắc đạo cũng gọi là đạo nhân. Có những nhân nương nhau như
vậy mà được tên gọi.
Lại còn có Cận luận môn, như Phật bảo Tì-kheo : Ông dứt hý
luận thì được Nê-hoàn. Tuy chưa được liền, nhưng vì gần được
nên cũng gọi là được.
Lại có Đồng tướng luận môn, như nói một việc mà các việc
khác đồng nhau, đều gọi là đã nói.
Lại như Phật nói tâm là nhẹ nhàng tức là đã nói các tâm số
pháp khác.
Lại có Tùng đa luận môn, như Phật nói : Nếu người không
biết tướng sinh diệt của 2 thứ kiến chấp, người ấy còn gọi đều có
Thành Thật Luận Trang 45 Tuệ Quang Foundation
tham dục, nếu ai biết được thì gọi được ly dục. Người Tu-đà-hoàn
cũng biết tướng sinh diệt của 2 kiến mà còn tham dục, nhưng bởi
là người biết được phần nhiều là người ly dục.
Lại nữa, có thứ luận môn trong nhân nói quả, như nói thí
thực là cho 5 việc : Mạng sống, sắc đẹp, sức mạnh, niềm vui và
biện tài. Kỳ thật không cho mạng sống v.v… 5 việc kia chỉ cho
cái nhân.
Lại như nói ăn tiền. Tiền không thể ăn được, chỉ nhờ tiền mà
được cái ăn, nên gọi là ăn tiền đó thôi.
Lại như kinh nói : Nữ nhân cấu uế. Kỳ thật không phải cấu
uế, bởi tham đắm các cấu uế phiền não, do đó mà gọi cấu uế.
Lại nói 5 trần là dục, mà thật không phải dục; vì nó hay sinh
dục, mới gọi nó là dục.
Lại nhân duyên vui, gọi là vui. Như nói lấy pháp tập hợp
người, người này là vui.
Lại nhân duyên khổ, gọi đó là khổ, như nói ở chung với
người ngu, gọi đó là khổ. Như nói quá khổ quá vui.
Lại nói mạng sống là nhờ vật mạng, như trong kệ nói : Của
tư sinh đều là ngoại vật của mạng sống, như cướp vật của người,
gọi là cướp mạng.
Lại nói lậu nhân gọi là lậu. Như Kinh Thất Lậu nói : Trong
đây 2 thứ là thật lậu, ngoải ra 5 thứ kia là nhân duyên cho lậu mà
thôi.
Lại trong quả nói nhân, là như Phật nói : Ta phải chịu nghiệp
đời trước. Nghĩa là lãnh lấy nghiệp quả. Như thế có rất nhiều luận
môn đều cần phải biết hết.
Phẩm 15 : Luận về sự khen ngợi
Nên học luận nầy. Sở dĩ vì sao ? Vì học tập luận nầy được
pháp của người trí. Như trong kinh nói : Đời có 2 hạng người, một
là người trí, hai là người ngu. Nếu không khéo phân biệt các pháp
Thành Thật Luận Trang 46 Tuệ Quang Foundation
ấm, giới, các thứ nhập, 12 nhân duyên và nhân quả gọi là người
ngu. Nếu khéo phân biệt được các pháp ấm, giới nhập thì gọi là
người trí. Nay trong luận nầy chính là phân biệt giải rõ các pháp
ấm, giới, nhập, cho nên nhờ luận nầy nên không gọi là phàm phu.
Lại có 2 hạng người : một là phàm phu, hai là không phải
phàm phu. Như nói tuy cạo râu tóc, mặc áo pháp y, thụ oai nghi
Phật, mà còn cách xa Phật pháp là vì không thành tựu các căn như
tín v.v… Nếu người có thể thành tựu các căn như tín v.v… tuy là
cư sĩ tại gia mà không gọi là phàm phu. Như trong kinh nói : Có 4
hạng người. Có người vào Tăng oai nghi mà không vào Tăng số,
có người ở trong Tăng số mà không có Tăng oai nghi, có người
vào Tăng oai nghi và vào Tăng số, có người không có Tăng oai
nghi, cũng không phải Tăng số. Hạng đầu gọi là xuất gia phàm
phu, hạng tiếp theo gọi là tại gia thánh nhân, hạng thứ 3 gọi là
xuất gia thánh nhân, hạng thứ tư gọi là tại gia phàm phu. Do đó
mới biết lìa các căn tín v.v… thì không vào Tăng số. Cho nên phải
vì các căn tín v.v… siêng tu tinh tiến. Muốn được tín v.v… các
căn cần phải đối với Phật pháp nghe học lãnh thụ đọc tụng như
thuyết tu hành. Cho nên cần phải học tập luận Phật pháp nầy.
Lại nữa, từ luận nầy được 2 thứ lợi là tự lợi, lợi tha. Như
trong kinh nói : Có 4 hạng người là có người tự lợi không lợi tha,
có người lợi tha không hay tự lợi, có người lợi cả hai, có người
không lợi cả hai. Nếu có thể tự đầy đủ các công đức giới mà
không thể làm cho người trụ trong giới, đều gọi là tự lợi. Như vậy
4 hạng, nếu người tuy có khả năng tự lợi lại làm cho người khác
tu bố thí v.v… được quả báo lớn, cũng gọi là lợi tha. Trong đây ý
Phật không nói lợi nầy. Nếu người chỉ vì người khác nói pháp thì
gọi là lợi tha. Người ấy tuy không tự tùy pháp hành, nhưng vì
người nói pháp nên mình cũng được lợi. Như trong kinh nói : Vì
người nói pháp được 5 thứ lợi. Trong đây ý Phật cũng không nói
lợi nầy. Trong nầy chỉ nói lợi đệ nhất cao tột, nghĩa là như thuyết
Thành Thật Luận Trang 47 Tuệ Quang Foundation
tu hành sẽ được hết các thứ lậu. Cho nên nói pháp có thể làm lợi
cho người khác. Vì là gồm lợi, nên gọi là hơn cả trong mọi người,
như vị đề hồ so với các vị khác.
Lại nữa, người nầy đang ở chỗ sáng, sau cũng vào chỗ sáng.
Chúng sinh trong thế gian, phần nhiều từ chỗ tối, vào chỗ tối. Nếu
tu chút ít Phật pháp, người nầy cũng có thể từ tối vào sáng. Sở dĩ
vì sao ? Vì tu bố thí được lợi không bằng lợi nghe Phật pháp. Nếu
được nghe chút ít lời Phật nói có thể được đạt tuệ, phá các suy
não, được lợi ích vô lượng. Như trong kinh nói : Có 4 hạng người,
có người từ tối vào tối; có người từ tối vào sáng; có người từ sáng
vào sáng; có người từ sáng vào tối.
Lại có 4 hạng người, có người thuận dòng; có người nghịch
dòng; có người trụ giữa dòng; và có người được qua khỏi dòng.
Nếu người nhất tâm nghe Phật pháp, người ấy liền trừ được 5 thứ
ngăn che, tu 7 thứ giác ý. Cho nên người nầy ngăn được dòng sinh
tử, gọi là nghịch dòng, cũng gọi là trụ, cũng được gọi là qua khỏi
dòng.
Lại có 4 hạng người, có người chìm luôn, có người tạm ngoi
đầu lên rồi chìm lại, có người được ngoi lên xem, và có người
được vượt qua. Nếu không thể sinh các công đức đức tùy thuận
Nê-hoàn như tín v.v… thì gọi là chìm luôn. Hoặc sinh các công
đức thế gian như tín v.v… mà không thể bền chắc, vừa sinh liền
lại lui mất, gọi là tạm ngoi lên liền chìm, sinh khởi các công đức
tùy thuận Nê-hoàn như tín v.v… và phân biệt thiện ác, gọi là ngoi
đầu lên xem, và đầy đủ tu tập các công đức tùy thuận Nê-hoàn
như tín v.v… thì gọi là người được vượt qua. Nếu người có thể
hiểu chính nghĩa Phật pháp, hoàn toàn không chìm mất, giả sử có
tạm thời thoái lui cũng không mất vĩnh viễn, là vì người nầy gọi là
người tu công đức. Nếu người không tu thân giới tâm tuệ dù làm
ác nghiệp ít cũng bị đọa ác đạo. Nếu người có tu tập thân giới tâm
tuệ, dầu gây nhiều ác, vẫn không vào ác đạo. Người tu thân, nhờ
Thành Thật Luận Trang 48 Tuệ Quang Foundation
văn tuệ mà tu thân thụ tâm pháp. Vì tu thân nên dần dần có thể
sinh các phẩm giới, định, tuệ, có thể diệt các nghiệp. Vì các
nghiệp diệt nên sinh tử cũng diệt theo.
Lại như trong kinh nói có 4 hạng người : Có hạng kết sử
nhạy bén mà không sâu. Có hạng sâu mà không nhạy bén. Có
hạng cũng sâu cũng nhạy bén và có hạng không sâu không nhạy
bén. Hạng đầu tiên gọi là có tăng thượng kết, vì thường thường
đến. Hạng kế gọi là nhuyễn trung kết, thường đến ở tại tâm. Hạng
3 gọi là như tăng thượng kết, thường đến ở tại tâm. Hạng 4 gọi là
như nhuyễn trung kết thỉnh thoảng mới đến.
Nếu người được nghe chính luận Phật pháp, thì dứt được 2
thứ kết sâu mà nhạy bén và hiểu rõ chính nghĩa Phật pháp thì
không những không não hại mình mà cũng không não hại người
khác nữa. Ngoại đạo giữ giới tức là tự não hại thân, nếu lạc vào tà
kiến tức hại người khác nữa, vì cho rằng không có tội phúc nghiệp
nhân quả báo gì cả. Nếu tu bố thí thì cũng hại mình hại người, như
trong các miếu thờ trời, sát hại biết bao nhiêu bò dê. Nếu hiểu
được nghĩa Phật pháp thì được lợi ích là không hại mình và không
hại người khác, như người được thiền định tu hạnh từ bi. Cho nên
cần phải học tập luận Phật pháp nầy.
Lại như người học luận nầy, là có thể cùng trao đổi, vì đã
hiểu chính nghĩa. Như trong kinh nói : Nếu khi luận nghị, cần
phân biệt là nên cùng nghị luận hay không nên cùng nghị luận.
Nếu người không trụ trong pháp của người trí, không trụ trong xứ
phi xứ, hoặc không trụ trong phân biệt và không trụ trong đạo thì
những người ấy đều gọi không nên cùng nghị luận. Nếu trái lại
các thứ trên gọi là có thể cùng nghị luận. Không trụ trong pháp
của người trí, là luận giả lấy chính trí tuệ khéo giải nghĩa thú,
nhiên hậu mới chấp dụng. Người ấy không biết thì không chấp.
Như các phái Ni-kiền tử tự nói : Thầy ta là người đáng tin. Nhưng
đó chỉ theo lời nói suông mà thôi. Không trụ xứ phi xứ, là không
Thành Thật Luận Trang 49 Tuệ Quang Foundation
trụ trong dụng nhân. Các ngoại đạo đối với 2 thứ nhân là nhân
chung và nhân khác. Nếu có người hỏi nhân chung, thì họ lấy
nhân khác đáp. Hoặc có người hỏi nhân khác, thì lại lấy nhân
chung đáp. Thế là không trụ trong 2 thứ nhân như vậy. Không trụ
trong phân biệt, là không trụ trong thí dụ. Không trụ trong đạo là
không trụ đạo luận nghị. Như nói luận giả đừng thốt ra lời thô ác,
đừng bỏ nghĩa tông, chỉ nên nói lời phương tiện thiệt lợi khuyến
dụ khiến người tỏ ngộ tự tâm vui mừng gọi là Thánh ngữ pháp.
Trong đây nếu luận giả là người hiểu biết chính nghĩa Phật pháp
mới nên cùng luận, ngoải ra đều không phải.
Lại có người không nên cùng nghị luận. Có lối nên dùng
quyết định để đáp câu hỏi thì lấy bất định đáp, nên dùng phân biệt
đáp câu hỏi thì lấy bất phân biệt đáp, nên chất vấn lại để đáp câu
hỏi thì không chất vấn lại mà đáp, nên bỏ không đáp câu hỏi mà
đáp chứ không bỏ. Trái lại với các thứ trên thì gọi là nên cùng
nghị luận.
Nên định đáp câu hỏi, là duy có một nhân. Như Phật Thế
Tôn người đời không sánh bằng. Cứ như đây mà suy rộng ra.
Nên phân biệt đáp câu hỏi, là lại có các nhân duyên như chết
rồi lại nối tiếp nhau.
Nên chất vấn lại đáp câu hỏi, là như có người hỏi mình, mình
hỏi lại bắt người ấy đáp.
Nên bỏ không đáp câu hỏi, là như pháp không có thật thể, chỉ
có giả danh. Nếu hỏi pháp này là một hay là khác, là thường hay
là vô thường v.v…, đó là nghĩa không đáp, vì duy có người nào
hiểu Phật pháp mới có thể biết được. Cho nên phải cần học tập
luận Phật pháp nầy.
Lại có 3 hạng người : chính định, tà định và bất định. Người
chính định quyết vào Nê-hoàn, người tà định quyết không vào Nêhoàn,
ngoài ra gọi là bất định. Nếu người có thể hiểu nghĩa Phật
pháp, thì quyết vào chính định.
Thành Thật Luận Trang 50 Tuệ Quang Foundation
Lại có 4 hạng người : thuần tội, nhiều tội, ít tội và không tội.
Thuần tội là như người chỉ có bất thiện mà không có một pháp
thiện, nhiều tội là nhiều ác ít thiện, ít tội là nhiều thiện ít ác, và
không tội là chỉ có thiện pháp mà không có bất thiện. Nếu người
nào có thể hiểu chính nghĩa Phật pháp quyết được vào 2 hạng ít
tội và không tội.
Lại nữa, nếu người hiểu nghĩa Phật pháp thì chịu khổ có hạn,
vì quyết sẽ được đến Niết-bàn.
Phẩm 16 : Bốn pháp
Lại nữa, nếu học tập luận nầy được thượng nhiếp pháp. Như
trong kinh nói : Có 4 nhiếp pháp là bố thí, ái ngữ, lợi hành và
đồng lợi. Bố thí là áo cơm các vật, đem các vật nầy bố thí để thâu
nhiếp chúng sinh, nhưng vẫn bại hoại. Ái ngữ là tùy theo ý mà
nói, mà cũng có lỗi vì thủ lấy ý người kia. Lợi hành là mình cầu
lợi vì người khác, như có cơ hội giúp người thành sự, cũng bị hư
hoại. Đồng lợi là như đi chung một thuyền, buồn vui cùng nhau,
cũng hoặc có khi hoại. Nếu người đem pháp mà bố thí, mà ái ngữ,
mà lợi hành và đồng lợi để nhiếp hóa chúng sinh thì không thể hư
hoại, vì đem pháp mà nhiếp hóa là học tập luận nầy.
Lại nữa, học tập luận này sẽ được chỗ y chỉ cao. Như trong
kinh nói : Y theo pháp không y theo người. Có người tuy nói : Tôi
theo Phật nghe pháp, hoặc theo Tì-kheo nhiều tri thức mà nghe,
hoặc theo nghe hai ba Tì-kheo, hoặc nghe trong đại chúng, hoặc ở
bên các Đại đức tôn túc mà được nghe. Không nên tin những
người nầy mà liền lãnh thụ những lời nói của họ. Nếu lời nói của
họ ăn nhập trong Tu-đa-la, không trái pháp tướng, tùy thuận Tì-ni
nhiên hậu mới nên lãnh thụ. Nói ăn nhập trong Tu-đa-la là đúng
vào trong liễu nghĩa khế kinh. Liễu nghĩa khế kinh là nghĩa lý
không trái với pháp tướng. Pháp tướng là tùy thuận Tì-ni. Tì-ni
gọi là Diệt. Như quán pháp hữu vi là Thường, là Lạc, là Ngã, là
Thành Thật Luận Trang 51 Tuệ Quang Foundation
Tịnh thì không diệt được tham sân si v.v… Nếu quán pháp hữu vi
là vô thường, khổ, không vô ngã thì diệt được tham v.v.... Biết
được vô thường v.v... gọi là biết pháp tướng. Cho nên y pháp
không nên y người. Như nói y pháp thì đã gồm hết tất cả pháp.
Cho nên tiếp theo nói kinh liễu nghĩa chứ không y kinh không liễu
nghĩa. Kinh liễu nghĩa tức là đệ tam y nghĩa là y nơi nghĩa, không
y nơi lời nói. Nếu lời nghĩa nầy ăn nhập trong Tu-đa-la, không trái
với pháp tướng, tùy thuận Tì-ni, ấy là y chỉ. Y trí bất y thức, nói
thức là biết sắc v.v... các pháp. Như trong kinh nói : Có thể biết
nên thức trí là thông đạt thật pháp. Như trong kinh nói : Như thật
biết sắc, thụ, tưởng, hành và thức cho nên nói là trí. Như thật tức
là không. Cho nên thức có chỗ sở đắc, vì thế không nên y. Nếu y
nơi trí, tức là y nơi không. Muốn thông đạt pháp thượng y chỉ đây,
nên cần phải học tập luận nầy.
Lại như trong kinh nói : Trời, người có 4 điều có thể tăng
trưởng thiện pháp: 1. Ở chỗ thiện. 2. Y người thiện. 3. Tự phát
chính nguyện. 4. Đời trước đã trồng thiện căn. Ở chỗ thiện là ở
giữa nước, được xa lìa 5 nạn. Y người thiện là sinh được gặp Phật
ra đời. Đời trước đã trồng thiện căn là không bị điếc, câm và các
tật khác. Tự phát chính nguyện là chính kiến. Nhờ theo học nghe
Phật pháp mà sinh chính kiến. Cho nên cần phải học tập chính
luận Phật pháp nầy.
Lại nữa, người nào tụng tập luận nầy, trong tuổi thọ được lợi
ích lớn và kiên cố. Như trong kinh nói : Có 4 kiên pháp : Thuyết
kiên, định kiên, kiến kiên, giải thoát kiên. Thuyết kiên là như nói
tất cả pháp hữu vi đều là vô thường, khổ, tất cả vô ngã, tịch diệt
Nê-hoàn thì gọi là thuyết kiên, đây là văn tuệ đầy đủ. Nhờ đây mà
được định, đây là tư tuệ đầy đủ.
Lại nhờ định nầy mới quán pháp hữu vi là vô thường, khổ
v.v... mới được chính kiến, gọi là tu tuệ đầy đủ. Được quả của 3
tuệ thì gọi là giải thoát kiên.
Thành Thật Luận Trang 52 Tuệ Quang Foundation
Lại như được học nghe chính luận Phật pháp thì được lợi
lớn. Như trong kinh nói 4 pháp lợi ích lớn là gần gũi người thiện,
lắng nghe chính pháp, tự chính nghĩ nhớ, tùy thuận pháp hành.
Nếu gần người thiện thì được nghe chính pháp, vì chính pháp ấy ở
nơi người thiện. Nghe chính pháp rồi thì sinh chính niệm. Đem vô
thường v.v... chính quán các pháp. Nhờ chính quán nầy, có thể tùy
pháp hành, tức được kiến giải vô lậu.
Lại được nghe luận nầy thì đủ 4 thứ đức xứ là tuệ đức xứ,
thật đức xứ, xả đức xứ, tịch diệt đức xứ. Nghe pháp sinh tuệ là tuệ
đức xứ. Nhờ trí tuệ nầy thấy được chân đế không, là thật đức xứ.
Vì thấy chân không, nên được lìa phiền não là xả đức xứ. Vì hết
phiền não tâm được tịch diệt là tịch diệt đức xứ.
Lại nữa người được nghe chính luận Phật pháp thì trồng
được 4 thứ thiện căn tùy thuận Nê-hoàn đó là noãn pháp, đảnh
pháp, nhẫn pháp, và thế gian đệ nhất pháp. Vì khi đem vô thường
v.v... các hạnh quán 5 ấm sinh tùy thuận Nê-hoàn là hạ noãn thiện
căn, có thể khiến tâm nóng nên gọi là noãn pháp. Noãn pháp tăng
trưởng thành trung thiện căn gọi là đảnh pháp. Đảnh pháp tăng
trưởng thành thượng thiện căn gọi là nhẫn pháp. Nhẫn pháp tăng
trưởng thành thượng thượng thiện căn gọi là thế gian đệ nhất
pháp.
Lại có 4 thứ thiện căn là thoái phần, trụ phần, tăng phần và
đạt phần. Lìa các thiền định mà lễ kính đọc tụng, các thiện căn
nầy gọi là thoái phần. Được các thiện căn thiền định, gọi là trụ
phần. Từ nghe nghĩ v.v... sinh các thiện căn gọi là tăng phần. Vôlậu
thiện căn, gọi là đạt phần. Nếu được nghe Phật pháp thì hẳn lìa
thoái phần được 3 phần thiện căn sau.
Phẩm 17 : Bốn đế
Nếu người được nghe nghĩa Phật pháp thì có thể biết phân
biệt rõ 4 đế là khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế. Khổ đế là 3 cõi. Cõi
Thành Thật Luận Trang 53 Tuệ Quang Foundation
Dục là từ địa ngục A-tì đến cõi Tha Hóa Tự Tại. Cõi Sắc là từ cõi
Phạm Thế đến cõi trời A-ca-ni-tra. Cõi Vô sắc là 4 Vô săc.
Lại có 4 sắc xứ là sắc, thụ, tưởng, hành. Các ngoại đạo hoặc
cho thức nương nơi Thần mà tồn tại. Do đó nên Phật nói thức
nương 4 chỗ này.
Lại có 4 loài sinh là loài sinh trứng, sinh thai, sinh do ẩm ướt,
sinh do biến hóa. Tất cả trời và địa ngục là hóa sinh. Ngạ quỷ
thuộc 2 thứ là thai sinh và hóa sinh. Ngoải ra gồm đủ 4.
Lại có 4 cách ăn gọi là sủy thực, xúc thực, ý tư thực, thức
thực. Sủy thực là hoặc thô hoặc tế, như cơm v.v... là thô, dầu mỡ
hương khí và các thứ uống là tế. Xúc thực là lạnh, nóng, gió
v.v.... Ý tư thực là hoặc có người nhờ nghĩ muốn mà mạng được
sống. Thức thực là thân trung ấm và địa ngục, vì các chúng sinh
nầy không có thân sắc chất; những người vào diệt tận định, tuy
không hiện thức, mà thức vẫn tồn tại nên cũng gọi là thức thực.
Lại có 6 đạo. Thượng tội là địa-ngục. Trung tội là súc sinh.
Hạ tội là ngạ quỉ. Thượng thiện là thiên đạo; trung thiện là nhân
đạo, hạ thiện là A-tu-la đạo.
Lại có 6 thứ, là địa, thủy, hỏa, phong, không và thức. Bốn đại
bao vây nhau trống không, có thức nương ở trong đó, thường gọi
là người.
Lại có 6 xúc nhập, là mắt v.v... 6 căn cùng với thức hòa hợp,
gọi là xúc nhập.
Lại có 7 chỗ của thức. Trong đó vì sức điên đảo nên thức
ham thích trụ ở đó.
Lại thế gian có 8 pháp là lợi, suy, xưng, cơ, hủy, dự, khổ và
lạc. Người thế gian chắc chắn phải chịu các điều này nên gọi là
thế pháp. Còn có 9 chỗ chúng sinh ở. Chúng sinh đều bởi sức điên
đảo cho nên có thể ở nơi đây.
Lại có 5 thứ để phân biệt các pháp, là 5 ấm, 12 nhập, 18 giới,
12 nhân duyên và 22 căn. Năm ấm là nhãn sắc là sắc ấm. Nương
Thành Thật Luận Trang 54 Tuệ Quang Foundation
đây sinh thức có thể thủ tiền sắc gọi là thức ấm. Ngay khi tâm
sinh nghĩ tưởng nam, nữ người oán người thân đều gọi là tưởng
ấm. Nếu phân biệt biết oán thân hay người không phải oán thân,
rồi sinh 3 thứ thụ gọi là thụ ấm. Trong 3 thứ thụ nầy sinh 3 thứ
phiền não gọi là hành ấm. Bởi điều này mà sinh 3 thứ phiền não
gọi là hành ấm. Bởi điều này mà sinh khởi nhân duyên thụ thân
gọi là 5 thụ ấm. Do 4 duyên thức mới được sinh, là nhân duyên,
thứ đệ duyên, duyên duyên và tăng thượng duyên. Lấy nghiệp làm
nhân duyên, thức là thứ đệ duyên. Do thức thứ lớp sinh thức nên
sắc là duyên duyên, nhãn là tăng thượng duyên. Trong đây thức
do 2 nhân duyên sinh, như nhãn sắc cho đến ý pháp gọi là 12
nhập. Trong đây thêm thức gọi là 18 giới, nghĩa là nhãn giới, sắc
giới, nhãn thức giới v.v...
Ấm nầy và các pháp làm sao sinh được?
Ở trong 12 thì cho nên gọi là 10 2 nhân duyên. Trong đây vô
minh là phiền não, hành là nghiệp. Nhân 2 điều này thứ lớp sinh
thức, danh sắc, 6 nhập, xúc, thụ, ái, thủ, 2 pháp gọi là phiền não.
Còn hữu gọi là nghiệp. Lúc ban đầu lãnh thụ thân thức trong đời
vị lai, gọi đó là sinh, ngoài ra gọi là lão tử. Mười hai nhân duyên
nầy hiển thị có quá khứ vị lai và hiện tại. Nhưng vì các duyên
nương nhau sinh khởi nên không có ngã.
Lại vì sinh tử vãng lai hoàn diệt nên nói có 22 căn. Tất cả
chúng sinh, khi ban đầu thụ thân lấy thức làm gốc. Thức nầy có
sáu thứ. Từ nhãn v.v... sinh nên gọi là 6 căn, như nhãn căn cho
đến ý căn. Có thể sinh 6 thức nên gọi là 6 căn. Có thể phân biệt
tướng nam nữ nên gọi là nam căn nữ căn. Có người cho đó là
phần ít của thân căn. Sáu căn này hoặc gọi là 6 nhập. Do 6 thứ
nầy sinh 6 thứ thức nên gọi là thọ mạng. Sở dĩ vì sao ? Là sáu
nhập, sáu thức nầy được liên tục sinh nên gọi là thọ mạng. Dứt sự
liên tục này gọi là chết. Cho nên Điều này gọi đó là thọ mạng.
Thành Thật Luận Trang 55 Tuệ Quang Foundation
Trong đây những gì làm căn ? Đó gọi là nghiệp. Vì do
nghiệp nên 6 nhập 6 thức mới được liên tục sinh. Ở trong thọ
mạng nầy nghiệp gọi là mạng căn. Nghiệp nầy từ các thứ lãnh thụ
sinh. Các thứ thụ tức là lạc v.v... 5 căn. Do 5 căn nầy sinh tham ái
v.v... tất cả phiền não và thân, khẩu nghiệp. Nghiệp nhân duyên
nầy lại chịu lấy sinh tử, ấy là pháp cấu uế, có thể khiến nhân
duyên sinh tử nối nhau.
Vậy lấy nhân duyên gì có thể sinh tịnh pháp ?
Chắc chắn phải do tín v.v.... Tín v.v... 4 pháp nhân duyên
thành tuệ. Tuệ có 3 thì là chưa biết, muốn biết, đã biết. Như khi tu
tập hay ra làm việc gì, căn này đều là sai biệt của trí tuệ. Phật lấy
sinh tử, vãng lai, hoàn diệt, cấu tịnh nên nói có 22 căn. Các pháp
như vậy đều nhiếp thuộc về khổ đế. Người nào có thể biết đây thì
gọi khéo biết khổ đế.
Tập đế là nghiệp và phiền não. Về nghiệp, sẽ nói trong Phẩm
nghiệp. Phiền não cũng sẽ nói trong Phẩm phiền não. Các nghiệp
phiền não là nhân duyên của thân sau, nên gọi là tập đế.
Diệt đế là cũng sẽ nói rộng hơn trong nhóm diệt đế, là giả
danh tâm, pháp tâm, không tâm. Diệt 3 thứ tâm này nên gọi là diệt
đế.
Đạo đế là 37 phẩm trợ Bồ-đề pháp, là 4 thứ niệm xứ, 4 chính
cần, 4 như ý túc, 5 căn, 5 lực, 7 Bồ-đề phần, và 8 Thánh đạo
phần.
Bốn niệm xứ, là thân, thụ, tâm pháp. Trong chính an niệm và
từ niệm sinh tuệ, quán thân vô thường v.v... rồi an trụ trong cảnh
duyên, gọi là thân niệm xứ. Do niệm và tuệ nầy lần lượt tăng thêm
có thể phân biệt để lãnh thụ, gọi là thụ niệm xứ. Và càng tăng
thêm tâm thanh tịnh có thể phân biệt, gọi là tâm niệm xứ. Có thể
đem chính hành phân biệt các pháp, gọi là pháp niệm xứ.
Bốn chính cần, là nếu ác pháp bất thiện đã sinh, thấy có tội
lỗi, vì để dứt trừ nên mới sinh muốn siêng có thể tinh tiến. Đoạn
Thành Thật Luận Trang 56 Tuệ Quang Foundation
phương tiện gọi là tri kiến. Do ác pháp bất thiện chưa sinh, vì để
không sinh nên mới sinh muốn siêng có thể tinh tiến. Để không
sinh phương tiện tức là tri kiến. Do thiện pháp chưa sinh, vì muốn
sinh mới sinh siêng có thể tinh tiến. Sinh phương tiện tức là tri
kiến. Do thiện pháp đã sinh, vì để tăng trưởng nên muốn siêng có
thể tinh tiến. Vì 3 lực thượng, trung, hạ phương tiện thứ lớp và bất
thoái chuyển.
Bốn như ý túc, là muốn thành tựu diệu hạnh Tam- muội, nên
tu như ý phần. Vì muốn sinh Tam-muội, gọi là dục Tam-muội.
Muốn tinh tiến, tín, hỷ, ức niệm, an tuệ, tư, xả hết v.v... các diệu
pháp nầy cộng thành, gọi là diệu hạnh thành tựu. Công đức tăng
trưởng nên gọi là như ý túc. Vì muốn tăng trưởng nên gọi là tinh
tiến. Đó gọi là thứ 2. Có hành giả muốn có tinh tiến nên mới tu
tập định tuệ. Được tâm Tam-muội, tức là định. Tư duy Tam-muội
tức gọi là tuệ.
Năm căn, là nghe pháp sinh lòng tin, gọi là tín căn. Tin rồi vì
muốn dứt cấu pháp để chứng tịnh pháp nên mới siêng có thể phát
khởi tinh tiến, gọi là tinh tiến căn. Tu 4 niệm xứ, gọi là niệm căn.
Nhờ niệm căn thành Tam-muội, gọi là định căn. Nhờ định sinh
tuệ, gọi là tuệ căn. Năm căn nầy tăng trưởng có sức mạnh, gọi là 5
lực.
Tám thánh đạo phần, là từ nghe sinh tuệ có thể tin 5 ấm là vô
thường, khổ v.v... gọi là chính kiến. Tuệ này hoặc từ suy nghĩ mà
sinh, gọi là chính tư duy. Do chính tư duy dứt các pháp bất thiện,
tu tập các thiện pháp, phát sinh hạnh tinh tiến, gọi là chính tinh
tiến. Từ đây mới lần lượt đi xuất gia, thụ giới được 3 thứ đạo phần
là chính ngữ, chính nghiệp và chính mạng. Nhờ chính giới nầy
làm thành niệm xứ và các thứ thiền định. Nhân nhờ niệm định nầy
được trí như thật gọi là 8 Thánh đạo phần. Theo thứ lớp là như
vậy. Và trong 8 Thánh đạo phần, giới phải đứng đầu. Sở dĩ vì sao
? Vì nghĩa trong phẩm giới định tuệ là thứ lớp như vậy. Chính
Thành Thật Luận Trang 57 Tuệ Quang Foundation
niệm, chính định, gọi là định phẩm. Tinh tiến thường đi khắp tất
cả chỗ. Tuệ phẩm là cận đạo nên sẽ nói sau. Tuệ này có 2 thứ,
hoặc thô hoặc diệu. Thô là văn tuệ tư tuệ, gọi là chính tư duy.
Diệu là tu tuệ tức là vào trong các pháp noãn đảnh. Có thể phá giả
danh và pháp 5 ấm, gọi là chính kiến. Do chính kiến này mà thấy
5 ấm diệt, gọi là sơ nhập đạo. Từ đây tiếp được 7 pháp Bồ-đề
phần. Niệm Bồ-đề phần là người học nếu mất niệm thì khởi phiền
não nên phải buộc niệm ở chỗ thiện. Mà buộc được niệm thì trước
tiên là được chính kiến, đó gọi là trạch pháp. Không bỏ trạch pháp
gọi là tinh tiến. Lúc tu tinh tiến, phiền não giảm thiểu, tâm sinh
vui mừng, nên gọi là hỷ. Vì tâm vui nên thân được khoan khoái,
nên gọi là sảng khoái. Thân sảng khoái được vui, vui thì tâm định.
Định nầy khó được nên gọi là kim cương định. Được quả không
chấp đắm, dứt buồn vui v.v..., thì gọi là xả. Đây gọi là thượng
hành, không chìm đắm, không bộc phát, tâm được bình đẳng nên
gọi là xả. Bồ-đề gọi là vô học trí. Tu 7 pháp này có thể được Bồ-
đề, gọi là Bồ-đề phần.
Tu 37 phẩm nầy được 4 quả Sa-môn. Quả Tu-đà-hoàn là
thông đạt được pháp không. Do không trí nầy có thể dứt 3 kết sử.
Quả Tư-đà-hàm là cũng tu đạo nầy được làm mỏng phần phiền
não trong cõi Dục, chỉ còn 2 lần sinh tử nữa là xong. Quả A-nahàm
là có thể dứt tất cả phiền não của cõi Dục. Quả A-la-hán là
dứt tất cả phiền não. Nếu ai tu tập được chính luận Phật pháp này
thì có thể thông đạt 4 đế; được 4 quả Sa-môn. Cho nên cần phải tu
tập chính luận Phật pháp nầy.
Phẩm 18 : Các nhóm pháp
Lại nữa người học tập luận nầy thì thông đạt được các nhóm
các pháp khả tri. Vì thông đạt nên tà luận của ngoại đạo không thể
tấn công được, và cũng có thể mau diệt được phiền não, tự mình
lìa khổ và cũng cứu độ được người khác. Các nhóm các pháp khả
Thành Thật Luận Trang 58 Tuệ Quang Foundation
tri là pháp tri, pháp khả thức, gồm : Pháp sắc, pháp vô sắc. Pháp
thấy được, pháp không thấy được. Pháp có đối, pháp không đối.
Pháp hữu lậu, pháp vô lậu. Pháp hữu vi, pháp vô vi. Pháp tâm,
pháp phi tâm. Pháp tâm số, pháp phi tâm số. Pháp tâm tương ưng,
pháp tâm không tương ưng. Pháp tâm cộng hữu, pháp tâm không
cộng hữu. Pháp tùy tâm hành, pháp không tùy tâm hành. Pháp bên
trong, pháp bên ngoài. Pháp thô, pháp tế. Pháp trên, pháp dưới.
Pháp gần, pháp xa. Pháp thụ, pháp phi thụ. Pháp xuất, pháp phi
xuất. Pháp chung với phàm phu, pháp không chung với phàm phu.
Pháp theo thứ tự, pháp không theo thứ tự. Pháp có thứ tự, pháp
không có thứ tự. Các pháp như vậy là đi từng đôi 2 pháp.
Lại có pháp đi theo bộ 3 như : Pháp sắc, pháp tâm, pháp tâm
không tương ưng. Pháp quá khứ, pháp vị lai, pháp hiện tại. Pháp
thiện, pháp bất thiện, pháp vô ký. Pháp học, pháp vô học, pháp
phi vô học. Pháp kiến đế đoạn, pháp tư duy đoạn, pháp vô đoạn.
Các pháp như vậy là đi theo bộ 3.
Lại có các pháp đi theo bộ tứ, như : Pháp buộc cõi Dục, pháp
buộc cõi sắc, pháp buộc cõi vô sắc, pháp không buộc.
Lại có 4 đạo là khổ khó tu đạo, khổ dễ tu đạo, vui khó tu đạo,
vui dễ tu đạo.
Lại có 4 ý vị là xuất vị, ly vị, tịch diệt vị, chính trí vị.
Lại có 4 chứng pháp là tâm chứng pháp, niệm chứng pháp,
nhãn chứng pháp, tuệ chứng pháp. 4 thụ thân, 4 nhập thai, 4
duyên, 4 tin. 4 thánh chủng. 4 ác hành. Như vậy v.v... là loại 4
pháp. 5 ấm. 6 chủng. 6 nội nhập. 6 ngoại nhập, 6 sinh tính. 6 hỷ
hành. 6 ưu hành. 6 xả hành. 6 diệu hành. 7 tịnh. 8 phúc sinh. 9 thứ
tự diệt. 10 thánh xứ. 12 nhân duyên.
Các nhóm các pháp khả tri như vậy nhiều vô lượng vô biên
không thể nói hết. Nên tôi nay chỉ lược nêu cương yếu mà thôi.
Pháp khả tri là đệ nhất nghĩa đế. Pháp khả thức là thế đế. Pháp sắc
là sắc, thanh, hương, vị, xúc. Pháp vô sắc là tâm và vô tác pháp.
Thành Thật Luận Trang 59 Tuệ Quang Foundation
Pháp có thể thấy là sắc nhập. Pháp có đối là sắc pháp. Pháp hữu
lậu là nếu pháp ấy có thể sinh các thứ lậu, như phi A-la-hán tâm
trong pháp giả danh. Pháp hữu vi là do các duyên sinh khởi, tức là
5 ấm. Pháp vô vi là diệt sạch 5 ấm. Pháp tâm là có thể duyên.
Pháp tâm số là nếu thức được cảnh duyên tức thì thứ tự sinh tưởng
v.v... Pháp tâm tương ưng là thức được cảnh duyên thứ tự ắt sinh
khởi, như tưởng v.v... Pháp tâm cộng hữu là pháp và tâm đôi bên
có chung, như sắc và tâm không tương ưng hành. Pháp tùy tâm
hành là nếu pháp có tâm thì sinh, không tâm thì không sinh, như
thân, khẩu vô tác nghiệp. Pháp bên trong là 6 thứ nhập bên trong
của thân thể. Pháp thô tế là đối đãi với nhau mà có, như quán 5
dục sắc định là tế, quán vô sắc định thì sắc định là thô. Pháp trên
dưới cũng như vậy. Pháp gần xa là hoặc phương khác cho nên xa,
hoặc không tương tự nên xa. Pháp thụ là từ thân sinh ra pháp.
Pháp xuất là pháp thiện. Pháp chung với phàm phu là pháp hữu
lậu. Pháp thứ tự là từ cái khác mà thứ tự sinh ra. Pháp có thứ tự là
có thể sinh thứ tự. Pháp sắc là sắc v.v... 5 pháp. Pháp tâm là như
trước đã nói. Pháp tâm không tương ưng hành là vô tác nghiệp.
Pháp quá khứ là pháp đã diệt rồi. Pháp vị lai là pháp sẽ sinh. Pháp
thiện là pháp làm lợi ích các chúng sinh và chân thật trí. Trái với
pháp trên đây là pháp bất thiện. Trái với cả 2 điều trên là pháp vô
ký. Pháp học là pháp người học tâm vô lậu. Pháp vô học là pháp
đệ nhất nghĩa tâm của người vô học. Ngoài ra gọi là phi học phi
vô học. Pháp kiến đế đoạn, là pháp Tu-đà-hoàn đoạn được hiện
tướng ngã mạn và từ đấy sinh ra. Pháp tư duy đoạn, là pháp Tuđà-
hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm đoạn được ngã mạn không hiện
tướng và từ đây sinh ra. Pháp không đoạn là vô lậu. Pháp hệ thuộc
cõi Dục là nếu pháp đem lại quả báo địa ngục A-tì cho đến trời
Tha Hóa Tự Tại. Pháp hệ thuộc cõi Sắc là từ cõi Phạm Thế cho
đến cõi trời A-ca-ni-tra. Pháp hệ thuộc cõi Vô sắc là 4 cõi Vô sắc.
Pháp không hệ thuộc là pháp vô lậu. Khổ khó tu đạo là người độn
Thành Thật Luận Trang 60 Tuệ Quang Foundation
căn được định để tu đạo. Khổ dễ tu đạo là người lợi căn được định
để tu đạo. Vui khó tu đạo là người độn căn được tuệ để tu đạo.
Vui dễ tu đạo là người lợi căn được tuệ tu đạo. Xuất vị là xuất gia
cầu đạo. Ly vị là thân tâm xa lìa. Tịch diệt vị là được thiền định.
Chính trí vị là thông đạt 4 đế. Pháp niệm chứng là 4 niệm xứ. Nhờ
niệm xứ nầy nên có thể sinh 4 thứ thiền, gọi là thân chứng. Thông
đạt 4 đế, gọi là tuệ chứng.
Bốn thân chịu là có người tự hại mình mà người khác không
hại được, có người bị người khác hại mà mình không tự hại, có
người tự hại, người khác cũng hại mình được, có người không hại,
người khác cũng không hại được.
Bốn nhập thai, là người không tự niệm vào thai, cũng không
tự niệm trụ thai, xuất thai. Có người tự niệm vào thai trụ thai mà
không tự niệm xuất. Có người tự niệm vào thai, trụ thai, xuất thai.
Vì tâm điên đảo tán loạn nên không tự niệm nhớ. Tâm minh chính
không loạn nên có thể tự niệm nhớ.
Bốn duyên, là nhân duyên, sinh duyên, tập nhân, và y nhân.
Sinh nhân là nếu pháp khi sinh có thể cùng làm nhân cho cái khác,
như nghiệp làm nhân cho quả báo. Tập nhân là như tập luyện
tham dục thì tham dục ngày càng tăng trưởng. Y nhân là như tâm
và tâm số pháp nương sắc hương v.v... gọi là nhân duyên.
Thứ đệ duyên là như tiền tâm pháp diệt nên hậu tâm mới
được thứ lớp sinh.
Duyên duyên là như từ duyên sinh pháp, như sắc có thể sinh
nhãn thức.
Tăng thượng duyên là các pháp duyên khác giúp cho pháp ấy
khi sinh.
Bốn tín, là tin Phật là bậc chân trí. Đối với Phật quyết định
sinh tâm thanh tịnh, vì trí Phật đối với chúng sinh là cao cả. Tin
chân trí nầy tức là tin Pháp. Người được trí nầy đối với tất cả
chúng sinh rất là đệ nhất, gọi là tín Tăng. Được giới thánh sở ái,
Thành Thật Luận Trang 61 Tuệ Quang Foundation
tức là đem thâm tâm không gây các ác nghiệp, tự biết mình nhờ
giới nầy có thể tín Tam Bảo, vì tin sức mạnh của giới nên gọi là
tín giới.
Bốn Thánh chủng, là nhờ 4 thứ Thánh chủng nầy nên không
bị ưa muốn áo mặc làm ô nhiễm, không bị những ưa muốn uống
ăn, chỗ nằm cho thân làm ô nhiễm nên gọi là 4 Thánh chủng.
Bốn ác hành là vì tham nên sân, nên khiếp sợ nên si, nên bị
đọa trong ác đạo.
Năm ấm, gồm sắc ấm là sắc v.v... 5 pháp. Thụ ấm là pháp có
thể duyên. Tưởng ấm là pháp có thể phân biệt giả danh. Hành ấm
là pháp có thể sinh thân sau. Thức ấm là duy chỉ có thể biết trần
pháp.
Sáu chủng gồm địa chủng, là sắc, hương, vị và xúc hòa hợp.
Tướng cứng nhiều gọi là địa chủng. Tướng ẩm ướt nhiều gọi là
thủy chủng. Tướng nóng nhiều gọi là hỏa chủng. Tướng nhẹ nhiều
gọi là phong chủng. Không có sắc tướng gọi là không chủng. Có
thể duyên pháp, nên gọi là thức chủng.
Sáu nội nhập, gồm nhãn nhập là 4 đại hòa hợp làm chỗ
nương cho nhãn thức gọi là nhãn nhập. Nhĩ, tỹ, thiệt, thân nhập
cũng như vậy. Ý nhập là tâm.
Sáu ngoại nhập, gồm sắc nhập là cảnh bị duyên của nhãn
thức vậy. Thanh, hương, vị, xúc và pháp nhập cũng như vậy.
Sáu sinh tính, là người hắc tính có thể tập luyện hắc pháp
nhưng cũng tập luyện bạch pháp và hắc pháp nữa. Người bạch
tính cũng như vậy.
Sáu hỷ hành, là y nơi lòng tham.
Sáu ưu hành, là y nơi lòng sân.
Sáu xả hành, là y nơi lòng si.
Sáu diệu hành, là thật trí tuệ.
Bảy tịnh, gồm : Giới tịnh là giới luật nghi. Tâm tịnh là được
thiền định. Kiến tịnh là đoạn được thân kiến. Độ nghi tịnh là đoạn
Thành Thật Luận Trang 62 Tuệ Quang Foundation
được nghi kết. Đạo phi đạo tri kiến tịnh là đoạn được giới thủ.
Hành tri kiến tịnh là tư duy đạo. Hành đoạn tri kiến tịnh là vô học
đạo.
Tám phúc sinh, là người giàu sang trong loài người cho đến
sinh ở cõi Phạm Thế. Trong đây được các vui phúc báo nhiều hơn
hết, nên nói 8 phúc sinh.
Chín thứ tự diệt, là vào được sơ thiền diệt ngôn ngữ; vào nhị
thiền diệt giác quán, vào tam thiền diệt hỷ, vào tứ thiền diệt hơi
thở ra vào, hư không xứ diệt sắc tướng, thức xứ diệt vô biên hư
không tướng, vô sở hữu xứ diệt vô biên thức tướng, phi tưởng phi
tưởng diệt vô sở hữu tưởng, và vào diệt tận định diệt được thụ và
tưởng.
Mười Thánh xứ, là Thánh nhân đoạn 5 pháp, thành tựu 6
pháp, giữ 1 pháp, y 4 pháp, diệt ngụy đế, bỏ các cầu mong, không
suy nghĩ vẩn đục, lìa các thân hành, khéo được tâm giải thoát,
khéo được tuệ giải thoát, việc làm đã xong, và cô đơn không bạn
bè. Đoạn 5 pháp là đoạn 5 phần thượng kết, được quả A-la-hán, vì
tất cả kết đều dứt hết, tu 6 pháp diệu hành, nhãn v.v... các tình
thức đối với sắc v.v... các trần cảnh không buồn không vui, cũng
không ngu si. Giữ một pháp là buộc quán niệm nơi thân. Y 4 pháp
là khất thực v.v... pháp 4 y.
Lại có người nói y 4 pháp là Thánh nhân có pháp viễn ly, có
pháp thân cận, có pháp trừ diệt, có pháp nhẫn thụ. Thanh tịnh trì
giới, nên có thể đạt thật tướng, gọi là lìa ngụy đế. Dứt tất cả kiến
hoặc gọi là được sơ quả. Bỏ các cầu mong là dục cầu, hữu cầu và
phạm hạnh cầu. Được sơ quả nên mới biết các pháp hữu vi đều là
hư dối. Muốn bỏ 3 thứ cầu, được Kim cương Tam-muội rồi, mới
bỏ việc học đạo. Bấy giờ mới gọi là bỏ được hết các thứ cầu
mong, không suy nghĩ vẩn đục là diệt được 6 thứ giác, tâm được
thanh tịnh, có thể làm mỏng 3 độc, chứng quả thứ 2, diệt trừ được
tham ái, chứng quả thứ 3, gọi là không suy nghĩ vẩn đục. Lìa các
Thành Thật Luận Trang 63 Tuệ Quang Foundation
thân hành là trừ được mấy thứ kết ở cõi Dục, được 4 thiền, gọi là
lìa thân hành. Được tận trí, nên gọi là khéo được tâm giải thoát.
Được vô sinh trí, nên gọi là khéo được tuệ giải thoát. Các bậc
Thánh nhân tâm an trụ 10 chỗ nầy, nên gọi là 10 Thánh xứ. Việc
làm Phật pháp chắc chắn phải hết khổ, nên gọi là việc làm đã
xong. Xa lìa phàm phu và các bậc học nhân, gọi là không bạn bè.
Tâm lìa các pháp, an trụ tất cánh không, nên gọi là cô đơn.
Mười hai nhân duyên, tức vô minh nghĩa là theo giả danh, do
tâm điên đảo nầy mới có thể nhóm các nghiệp, cho nên gọi là vô
minh duyên hành. Vì thức theo nghiệp, nên có thể thụ thân, gọi là
hành duyên thức. Sau khi thụ thân gọi là danh sắc, 6 nhập, xúc,
thụ. Các chi phần nầy tùy thì tăng trưởng. Khi lãnh thụ các thụ,
nương dựa giả danh nên có thể sinh ái. Bởi ái sinh bao nhiêu
phiền não, nên gọi là thủ. Ái thủ làm nhân duyên cho hữu, đây gọi
là 3 chi phần. Do các nghiệp nhân duyên phiền não nầy, trong đời
sau mới sinh. Từ nhân duyên sinh mới có già chết v.v.... Trong
đây như nói vô minh và các hành nghiệp là nói rõ có đời quá khứ
để khiến dứt chấp thường kiến, biết từ vô thủy sinh tử qua lại, do
nghiệp phiền não nhân duyên mà thụ thân. Như nói sinh tử là nói
rõ có đời vị lai để khiến dứt chấp đoạn kiến. Nếu không được
chân trí thì sinh tử không có giới hạn, chỉ có quả báo đau khổ.
Như nói 8 chi phần trung gian là rõ pháp hiện tại, chỉ do các
duyên nối nhau mà sinh chứ không có pháp chân thật. Trong đây
vô minh và các hành nghiệp là nhân duyên đời trước. Kết quả của
nhân duyên nầy là thức, danh sắc, 6 nhập, xúc và thụ. Do 5 thứ
nhân duyên nầy mới sinh khởi ái, thủ và hữu, là cái nhân đời vị
lai. Kết quả của nhân duyên nầy là sinh, lão và tử. Nếu như lãnh
thụ các thứ thụ, trở lại sinh ái và thủ. Vì vậy cho nên 12 chi phần
nầy luân chuyển vô cùng tận.
Có thể được chân trí thì không tụ tập các nghiệp. Các nghiệp
không tụ tập thì không có sinh. Sinh gọi là bắt đầu khởi thành.
Thành Thật Luận Trang 64 Tuệ Quang Foundation
Nếu người nào học tập chính luận nầy thì biết các pháp tự tướng
đều trống không, không tu tập các nghiệp. Các nghiệp không tụ
tập thì không có sinh, nên lão, tử, ưu bi, khổ não đều dứt hết. Cho
nên mưốn tự lợi lợi tha, chúng sinh dần thành Phật đạo.
Nếu người muốn đốt cháy tự pháp và diệt tha pháp phải học
tập luận nầy.
Phẩm 19 : Mười luận sơ hữu tướng
Hỏi : Kinh của ông trước nói rộng học tập các dị luận, vì
muốn luận nghĩa Phật pháp. Vậy những gì là các dị luận ?
Đáp : Trong 3 tạng có nhiều các dị luận. Có điều là những
người ưa khởi tranh luận như có 2 đời, không có 2 đời. Tất cả là
có, tất cả là không. Có trung ấm, không có trung ấm. Tứ Đế thứ tự
được, nhất thì được, có thoái, không thoái. Kết sử cùng tâm tương
ưng, không tương ưng. Tâm tính vốn tịnh, tính vốn bất tịnh. Đã
thụ báo nghiệp hoặc có, hoặc không. Phật ở trong Tăng số, không
ở trong Tăng số. Có người, không người. Có người nói pháp 2 đời
là có, có người nói không.
Hỏi : Vì nhân duyên gì nói có ? Vì nhân duyên gì nói không
?
Đáp : Người nói có là nếu có pháp, trong ấy sinh tâm, vì
pháp trong 2 đời có thể sinh tâm, thì phải biết là có.
Hỏi : Chính ông trước thường nói có tướng ?
Đáp : Tính biết đi được chỗ nào, gọi chỗ đó là có tướng.
Người ấy hỏi vặn rằng : Tính biết cũng đi đến chỗ không có chỗ.
Sở dĩ vì sao ? Vì như tin hiểu rồi quán, không phải màu xanh mà
thấy xanh.
Lại như làm ra trò ảo hóa cũng không mà thấy có.
Lại như đem cái biết vào chỗ không có, nên gọi là vào định
Vô sở hữu xứ.
Lại như đem ngón tay giụi vào mắt thấy có 2 mặt trăng.
Thành Thật Luận Trang 65 Tuệ Quang Foundation
Lại như trong kinh nói : Ta biết bên trong không tham dục.
Lại kinh nói : Biết trong sắc đoạn dứt tham gọi là sắc đoạn.
Lại như trong mộng không mà vọng thấy. Do các duyên cớ
nầy nên biết cái biết cũng đi đến chỗ không có chỗ. Không nên có
tính biết đi đến chỗ nào nên gọi chỗ đó là có.
Đáp : Không có tính biết đi đến chỗ không có chỗ. Sở dĩ vì
sao ? Vì cần nhờ 2 pháp nhân duyên, nên thức mới được sinh.
Một nương 2 duyên. Như không có cảnh duyên mà thức vẫn sinh
thì cũng nên không có chỗ nương, thức cũng được sinh. Vậy thì 2
pháp kia vô dụng ? Như vậy cũng không có giải thoát, vì thức
thường sinh. Cho nên biết thức không đến nơi không.
Lại như vì có sở thức nên gọi là thức. Nếu không sở thức thì
thức cũng không.
Lại như nói thức có thể biết trần, nghĩa là nhãn thức biết sắc,
cho đến ý thức biết pháp. Nếu nói có thức không duyên cảnh, vậy
thức này sở thức gì ư ?
Lại nếu, nói có thức mà không duyên cảnh là sai lầm. Như có
người nói : Tôi cuồng nên tâm loạn, thế gian không có gì hết, mà
tôi đều thấy có.
Lại nếu biết không có gì hết, thì không nên sinh nghi, vì có
chỗ biết nên mới sinh nghi.
Lại như trong kinh nói : Thế gian không có gì hết mà ta biết
thấy ấy là vô lý vậy.
Lại nữa, lời ông nói tự mâu thuẫn nhau, nếu không có gì thì
biết cái gì ư ?
Lại như trong kinh nói : Ba sự hòa hợp nên gọi là xúc. Nếu
không có pháp, thì hòa hợp cái gì ?
Lại biết không cảnh bị duyên thì làm sao thành được ? Nếu
biết thì không không, nếu không thì không biết. Cho nên không có
cái biết mà không cảnh duyên.
Thành Thật Luận Trang 66 Tuệ Quang Foundation
Lại như ông có nói câu : Tính biết đi đến chỗ không có chỗ,
như tin hiểu quán màu không phải xanh mà thấy xanh, ấy là vô lý.
Sở dĩ vì sao ? Vì trong màu không phải xanh nầy thiệt có tính
xanh. Như trong kinh nói : Trong cây nầy có tính tịnh.
Lại như lấy tướng xanh, do sức của tâm chuyển rộng ra, thì
tất cả đều xanh, không một tướng nào không xanh.
Lại như Kinh Huyễn Võng nói : Có người huyễn thuật và vật
để làm trò huyễn thuật, thì trong không chúng sinh, mà thấy giống
chúng sinh, nên gọi là huyễn.
Lại như ông nói câu : Vì biết không có nơi chỗ, nên gọi là
vào định Vô sở hữu xứ là vì sức Tam-muội, nên sinh vô tướng
nầy chứ không phải là không có. Như thật có sắc hư hoại là không
tướng.
Lại vào trong Tam-muội nầy vì pháp bị thấy ít, nên coi là
không có, như muối ít nên gọi là không muối, tuệ ít nên gọi là
không tuệ.
Lại như nói : Phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ. Trong đây tuy
thật có tưởng, mà cũng nói phi hữu phi vô.
Lại ông nói : Đem ngón tay giụi vào mắt, thấy có 2 trăng.
Thấy mà không nghĩ xét, nên cho 1 là 2. Nếu nhắm 1 mắt thì
không thấy 2.
Lại như ông nói : Ta biết bên trong không tham dục. Vì
người nầy thấy pháp ngũ cái trái nhau với pháp thất giác, nên liền
sinh ý niệm rằng : Ta biết không tham dục, chứ không phải biết
không có.
Lại như ông nói : Biết trong sắc đoạn tham, gọi là đoạn sắc.
Đó là vì thấy chân thật tuệ cùng với vọng giải trái nhau, nên gọi là
tham đoạn. Lại như ông nói : Trong mộng không mà thấy có. Đó
là vì trước đã từng thấy nghe nhớ nghĩ phân biệt và đã tu tập nên
trong mộng mới thấy, và do khí lạnh nóng thịnh nên tùy theo
mộng mà thấy, hoặc do nghiệp duyên nên mộng, như Bồ-tát có
Thành Thật Luận Trang 67 Tuệ Quang Foundation
những đại mộng, hoặc các thiên thần đến hiện mộng. Cho nên
trong mộng thấy có, chứ không phải biết không.
Ông lại hỏi vặn rằng : Ông nói cần phải có 2 pháp nhân
duyên, thức mới được sinh. Điều này không phải, vì Phật muốn
phá thuyết Thần ngã nên mới nói 2 pháp nhân duyên sinh thức,
chứ không phải đều như vậy.
Lại như ông nói : Vì có sở thức, nên gọi là thức. Thức pháp
có thì biết có, không có thì biết không có. Nếu việc ấy không, vì
không việc ấy, nên gọi là thấy không.
Lại như 3 tâm diệt, nên gọi là diệt đế. Nếu không có không
tâm thì diệt cái gì ư ?
Lại như ông nói : Nhãn thức biết sắc cho đến ý thức biết
pháp. Đó là thức nầy chỉ có thể biết pháp trần mà không biện biệt
là có hay không.
Lại như ông nói : Nếu có thức biết, mà không cảnh duyên,
vậy là sai lầm. Thì có cái biết, biết cái không có, như người bị
bệnh cuồng thấy không có gì hết.
Lại như ông nói : Nếu biết không có gì hết, thì không nên
sinh nghi. Nếu nghi là có hay là không có, thì có cái biết không
cảnh duyên.
Lại như ông nói : Như trong kinh nói thế gian không có gì
hết mà ta biết thấy, ấy là vô lý. Kinh nầy không luận pháp tướng,
hình như không phải lời Phật nói. Hoặc Tam-muội như vậy, là
vào Tam-muội chỗ thấy đều có, ấy là Tam-muội, nên nói như vậy.
Lại như ông nói : Lời nói ông tự trái nhau .... Tôi nói : Duyên
nơi không có, không phải trái nhau.
Lại như ông nói : Tâm, tâm số pháp có thể duyên tất cả pháp.
Duyên nầy là có tâm, tâm số-pháp mà không có cảnh bị duyên;
cũng có tâm, tâm số pháp không thể thật duyên, nên không gọi là
duyên.
Thành Thật Luận Trang 68 Tuệ Quang Foundation
Lại nữa, vì thật tướng của các pháp, lìa các tướng, nên không
gọi là duyên.
Lại như ông nói : Các trần là nhân sinh thức, nếu không có gì
lấy gì làm nhân ? Tức là lấy cái không có, làm nhân.
Lại như ông nói : Ba sự hòa hợp, gọi là xúc. Nếu 3 sự có thể
có được, thì có hòa hợp, chứ không phải tất cả chỗ đều có 3 sự.
Lại như ông nói : Nếu biết không không, nếu không không
biết. Nếu có cảnh duyên mà biết, cũng đồng lỗi nầy.
Lại như ông nói : Như trong cây có tịnh tính. Điều này không
phải, vì có lỗi là trong nhân có quả.
Lại như ông nói : Lấy tướng tâm chuyển rộng ra. Điều này
không phải. Vốn tướng xanh ít, mà thấy cả đại địa tất cả đều là
màu xanh, tức là vọng kiến. Như vậy, vì quán chút màu xanh mà
có thể thấy cõi Diêm-phù-đề v.v... đều màu xanh là không phải
vọng kiến sao ?
Lại như ông dẫn câu : Kinh Huyễn Võng nói : Có nhà huyễn
thuật làm trò huyễn thuật, trong chỗ không có chúng sinh mà thấy
giống như có chúng sinh làm các việc chúng sinh. Điều này thật
không có mà thấy, tức là cái biết không có cảnh duyên.
Lại như ông nói : Vì sức Tam-muội nên sinh vô tướng nầy.
Như thật có sắc hư hoại là không. Vậy nếu sắc thật có mà hoại là
không thì điên đảo.
Lại như ông nói : Thấy không nghĩ xét. Điều này không phải.
Như người bị bệnh mắt, thấy giữa không trung có những sợi như
lông. Kỳ thật là không có.
Lại như ông nói : Thấy ngũ cái trái nhau với pháp 7 giác liền
sinh ý nghĩ: ta biết không . Pháp 7 giác khác, không tham cũng
khác, làm sao là một ?
Lại như ông nói : Thấy chân thật tuệ cùng với vọng giải trái
nhau, gọi là tham đoạn. Vọng giải gọi là quán hư vọng. Cho nên
Thành Thật Luận Trang 69 Tuệ Quang Foundation
biết tham dục đoạn, nên sắc đoạn. Chân thật tuệ là quán vô
thường.
Lại như ông nói : Trong mộng thấy thật. Điều này không
phải. Như mộng thấy nhà sập, mà thật nhà không sập. Cho nên có
cái biết, biết cái không có. Không nên cho cái tính biết đi đến đâu
là đó có tướng.
Phẩm 20 : Vô tướng
Hỏi : Nếu đó không phải tướng có, thì nay nói ấm, giới, nhập
là pháp nhiếp thuộc, lẽ ra phải là có ?
Đáp : Đó cũng không phải. Sở dĩ vì sao ? Vì người nầy nói
pháp phàm phu nhiếp thuộc ấm giới nhập, không thuận với pháp
tướng. Nếu vậy có người nói như các pháp vô vi lẽ ra cũng phải
có, mà thật pháp ấy không có. Cho nên biết ấm giới nhập các pháp
nhiếp thuộc không phải tướng có.
Hỏi : Như có người cho pháp hiện biết, tin là có sở đắc, gọi
là tướng có.
Đáp : Đó cũng không phải tướng có, vì pháp khả tín nầy,
quyết định phân biệt không thể nói được. Cho nên có kinh nói nên
dựa vào trí, chứ không nên dựa vào thức, vì tính là đắc; sắc v.v...
các trần là bất khả đắc. Sau sẽ nói rộng. Vô tướng nầy không hoại,
thì tướng có sở đắc làm sao thành lập được ?
Hỏi : Có, là cùng với pháp hợp lại nên gọi là có ?
Đáp : Sau sẽ phá chấp cái gọi là có này.
Lại nữa, trong có, không có cái có, thì làm sao cùng với pháp
hợp lại mà gọi là có ? Do nhân duyên nầy, nên cái tướng có, quyết
định phân biệt không thể nói được. Nhưng vì thế đế nên mới nói
có, chứ không phải đệ nhất nghĩa đế.
Hỏi : Nếu vì thế đế nên có, nay lại lấy thế đế nên nói quá khứ
vị lai là có hay không ?
Thành Thật Luận Trang 70 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Không. Sở dĩ vì sao ? Nếu sắc v.v... các ấm ở đời hiện
tại có thể có sở tác, có thể được thấy biết. Như trong kinh nói :
Não hoại là sắc tướng. Nếu ở hiện tại thì có thể não hoại, chứ
không phải quá khứ vị lai. Thụ v.v... cũng vậy, cho nên biết chỉ có
5 ấm hiện tại, chứ 2 đời kia không có.
Lại nữa, nếu pháp vô tác thì không có tự tướng, như lửa quá
khứ không thể đốt được, không gọi là lửa. Thức cũng như vậy,
nếu ở quá khứ không thể biết được gì thì không gọi là thức.
Lại nữa, nếu không nhân mà có, việc ấy không đúng. Pháp
quá khứ không nhân có thể có. Cho nên không phải. Lại nữa,
phàm có các pháp, là đều do các nhân duyên sinh. Như có đất, có
giống, nước v.v... nhân duyên thì nảy mầm. Có giấy bút nhân
công thì chữ được thành. Hai pháp v.v… hợp lại thì có thức sinh.
Trong đời vị lai mầm hạt, chữ viết, thức nhận biết v.v... nhân
duyên chưa hội hợp làm sao được có ? Cho nên 2 đời kia không
thể có được.
Lại nữa, nếu pháp vị lai mà có, thì là thường, vì từ vị lai đến
hiện tại vậy. Như từ một nhà đi đến một nhà thì không có vô
thường. Cho nên điều này không thể được.
Lại như trong kinh nói : Mắt sinh không từ đâu đến, diệt đi
không đến đâu. Cho nên không nên phân biệt quá khứ vị lai.
Lại nữa, nếu vị lai có nhãn, sắc, thức tức phải có người làm,
quá khứ cũng vậy, nhưng thật không phải vậy. Cho nên biết
không có pháp quá khứ vị lai.
Lại như sắc quá khứ vị lai có, thì phải có đối có ngại, nhưng
thật không phải vậy. Cho nên là không có.
Lại như cái bình v.v... các vật vị lai mà có, thì thợ gốm sứ
v.v... không nên làm, mà hiện là có làm, chứ không phải vị lai sẽ
có.
Lại Phật nói pháp hữu vi có được 3 tướng sinh, diệt, trụ dị.
Sinh là nếu pháp trước không có mà nay hiện có làm. Diệt là làm
Thành Thật Luận Trang 71 Tuệ Quang Foundation
rồi lại trở lại không. Trụ dị là nối nhau nên trụ, biến khác nên gọi
là dị. Ba tướng hữu vi này đều có ở hiện tại, chứ không phải quá
khứ vị lai.
Phẩm 21 : Hai đời có
Hỏi : Thật có quá khứ vị lai. Sở dĩ vì sao ? Nếu pháp nầy có,
trong ấy sinh tâm, như pháp hiện tại và pháp vô vi.
Lại như Phật nói Sắc tướng, cũng nói sắc quá khứ và vị lai
và nói có bao nhiêu sắc như hoặc nội hoặc ngoại, hoặc thô hoặc
tế, hoặc quá khứ vị lai và hiện tại, gọi chung là sắc ấm.
Lại nói sắc quá khứ vị lai hãy còn vô thường, huống chi hiện
tại. Vô thường là tướng hữu vi. Cho nên phải nói có.
Lại như hiện thấy từ trí sinh trí, vì tu tập vậy. Như từ bé lúa
sinh hạt lúa. Cho nên phải có quá khứ. Nếu không quá khứ, thì
quả vô nhân.
Lại như trong kinh nói : Nếu quá khứ sự thật mà có ích thì
Phật cũng vẫn nói.
Lại như nói quán quá khứ vị lai tất cả vô ngã. Lại ý thức
duyên vị lai là nương ý quá khứ, nếu không có quá khứ thì thức
nương chỗ nào?
Lại như biết nghiệp nhân quá khứ mới có quả báo vị lai, ấy là
chính kiến.
Lại như Phật có 10 lực biết các nghiệp nhân quá khứ vị lai.
Lại như Phật tự nói : Nếu không có gây ra tội nghiệp quá
khứ, thì người nầy không đọa các ác đạo.
Lại như người học nhân, nếu còn trong hữu lậu tâm, thì
không phải có tín v.v... các vô lậu căn.
Lại như các bậc Thánh nhân không nên quyết định ghi trước
việc vị lai.
Thành Thật Luận Trang 72 Tuệ Quang Foundation
Lại nếu không quá khứ vị lai thì người đời không nên ghi
nhớ 5 thứ trần. Sở dĩ vì sao ? Vì ý thức không biết 5 thứ trần hiện
tại vậy.
Lại như nói 18 ý hành đều duyên quá khứ.
Lại nếu không quá khứ, vị lai, thì A-la-hán không nên tự
xưng rằng ta được thiền định. Vì ở trong định không thể nói như
vậy.
Lại như trong 4 niệm xứ, không nên quán nội tâm nội thụ
được. Sở dĩ vì sao ? Vì hiện tại không được quán quá khứ.
Lại cũng không nên tu 4 chính cần. Sở dĩ vì sao ? Vì trong
đời vị lai không có ác pháp, còn 3 thứ kia cũng vậy.
Lại như không có quá khứ vị lai, thì cũng không có Phật.
Lại cũng không nên có người tu giới đã lâu và người mới tu.
Cho nên không phải vậy.
Phẩm 22 : Hai đời không
Đáp : Không có quá khứ vị lai. Tuy ông nói trong pháp có thì
tâm sinh, điều đó trước tôi đã đáp rằng không pháp, tâm cũng có
thể sinh được.
Lại như ông nói sắc tướng, sắc số, sắc khả tướng, Điều này
không đúng. Quá khứ vị lai không phải sắc, vì không có não hoại.
Cũng không nên nói đó là tướng vô thường, mà Phật chỉ tùy theo
vọng tưởng phân biệt của chúng sinh nên mới nói cái tên ấy thôi.
Lại như ông nói trí sinh trí, là nhân cùng quả làm nhân duyên
lẫn nhau rồi diệt, như hạt giống và mộng làm nhân cho nhau rồi
diệt. Phật cũng nói : Điều này sinh nên việc kia sinh.
Lại như ông nói thật mà có ích thì Phật cũng nói. Đó là Phật
nói điều này gốc ở khi hiện tại, không phải Phật nói cũng có. Như
nói quá khứ diệt hết thì biết không có.
Lại như ông nói quán vô ngã. Đó là vì chúng sinh đối với
pháp quá khứ vị lai chấp có ngã, nên Phật mới nói như vậy.
Thành Thật Luận Trang 73 Tuệ Quang Foundation
Lại như ông nói đó là chính kiến. Là vì thân nầy khởi nghiệp,
nghiệp nầy cùng quả làm nhân rồi diệt. Về sau lại tự chịu báo nên
mới nói quả. Tóm lại, trong Phật pháp mà nói hoặc có, hoặc
không đều là phương tiện, vì muốn chỉ rõ nghiệp tội phúc nhân
duyên, chứ không phải đệ nhất nghĩa. Như vì nhân duyên nên nói
có chúng sinh, thì quá khứ vị lai cũng vậy. Như nói nương ý thức
quá khứ ấy là nương phương tiện, chứ không phải như người
nương dựa nơi vách tường, và cũng nói rõ là tâm sinh, chứ không
phải nương nơi thân mà sinh. Vì nhân tiền tâm nên hậu tâm mới
được sinh. Nghiệp lực cũng vậy. Phật biết nghiệp nầy tùy diệt mà
có thể cùng với quả làm nhân, chứ không nói quyết định biết như
biết chữ trên giấy. Tội nghiệp cũng vậy, do thân nầy gây nghiệp,
nghiệp này tuy diệt hết mà quả báo không mất.
Lại như ông nói không nên có các vô lậu căn. Nếu người học
nhân đã được vô lậu căn, được lúc hiện tại, tuy quá khứ diệt, vị lai
chưa đến, vì đã thành tựu rồi nên không được nói là không.
Lại như ông nói Thánh nhân không nên ghi nhận trước việc
vị lai. Với trí lực Thánh nhân, tuy pháp chưa có mà có thể huyền
ký trước, như pháp quá khứ tuy đã diệt hết mà vì niệm lực nên có
thể biết được.
Lại như ông nói không nên nhớ 5 thứ trần. Vì là người phàm
phu si mê vọng niệm nên trước lấy tướng quyết định, về sau tuy
đã diệt hết, mà còn sinh lòng nghĩ nhớ, vì pháp nghĩ nhớ là như
vậy, chứ không phải như nhớ lông rùa sừng thỏ… 18 thứ ý hành
cũng như vậy, hiện tại thủ sắc, quá khứ tuy diệt, vẫn tùy theo mà
nghĩ nhớ.
Lại như ông nói không nên tự xưng ta được thiền định. Là
định được ở hiện tại, vì sức nghĩ nhớ nên tự nói ta được.
Lại như ông nói không nên được quán nội tâm nội thụ. Có 2
thứ tâm : 1 là niệm niệm sinh diệt, 2 là thứ lớp nối nhau. Dùng
tâm hiện tại, quán tâm nối nhau, chứ không phải niệm hiện còn.
Thành Thật Luận Trang 74 Tuệ Quang Foundation
Lại như ông nói không nên tu tập 4 chính cần. Đó là đề
phòng nhân duyên ác pháp đời vị lai đồng thời cũng phát khởi
nhân duyên thiện pháp đời vị lai.
Lại như ông nói thì không có Phật. Phật là tướng tịch diệt,
tuy còn hiện ở đời mà không thuộc vào có hay không, huống là
khi đã diệt độ ? Chúng sinh qui mạng nơi Phật cũng như người
đời thờ phụng cha mẹ vậy.
Lại như ông nói cũng không nên có người tu giới lâu hay
mới. Không vì thời gian mà giới có sai khác. Sở dĩ vì sao ? Vì
thời gian không thật, chỉ do các pháp hòa hợp sinh diệt nên mới
có thời gian. Cho nên ông đã nói bao nhiêu nhân đều không đúng.
Phẩm 23 : Tất cả có không
Luận giả nói : Có người nói tất cả các pháp có. Có người nói
tất cả pháp không có.
Hỏi : Do nhân duyên gì nói có. Do nhân duyên gì nói không
?
Đáp : Người nói có là căn cứ Phật nói 12 nhập gọi là tất cả.
Đó là tất cả có địa, hỏa, phong, không, thì, phương, thần và ý
v.v... các Đà-la-phiêu, tức chỉ tất cả vật. Số v.v... các Cầu-na, tức
nương dựa. Nêu cử các nghiệp dưới đây. Các pháp tổng tướng
biệt tướng hòa hợp và bản tính Ba-cư-đế v.v..., cùng những việc
trong thế gian như sừng thỏ, lông rùa, chân rắn, mùi thơm của
muối, và màu sắc của gió v.v..., đó gọi là không.
Lại như trong kinh nói : Hư không không dấu vết, ngoại đạo
không Sa-môn, phàm phu ưa hý luận. Như Lai thì không có.
Lại như tùy theo chỗ thụ pháp, cũng được gọi là có. Như Đàla-
phiêu v.v... 6 sự, phái Ưu-lầu-khư cho là có, 25 đế phái Tăngkhư
cho là có, 16 nghĩa phái Na-da-tu-ma cho là có.
Lại nếu như có đạo lý có thể thành xong sự việc, cũng được
gọi là có, như 12 nhập.
Thành Thật Luận Trang 75 Tuệ Quang Foundation
Lại nữa, trong Phật pháp dùng phương tiện nên mới nói tất
cả có, tất cả không, chứ không phải đệ nhất nghĩa. Sở dĩ vì sao ?
Vì nếu quyết định có, tức rơi vào bên thường, nếu quyết định
không, thì rơi vào bên đoạn. Lìa được 2 bên mới là con đường
trung đạo của Phật.
THÀNH THẬT LUẬN
THÀNH THẬT LUẬN
( Quyển 3 )
Ha-lê-bạt-ma tạo luận
Cưu-ma-la-thập dịch
Nguyên Hồng dịch tiếng Việt
Phẩm 24 : Có trung ấm
Luận giả nói : Có người nói có thân trung ấm, hoặc có người
nói không có.
Hỏi : Do nguyên nhân gì nói có, do nhân duyên gì nói không
?
Đáp : Người nói có là căn cứ Phật nói trong kinh A-du-la-na
rằng : Nếu khi cha mẹ giao hội, chúng trụ ở nơi nào đó liền đến
nương vào trong ấy. Cho nên biết có trung ấm.
Lại như kinh Hòa-ta nói : Nếu chúng sinh sau khi bỏ thân
nầy rồi, mà chưa thụ tâm sinh thân sau, trong khoản trung gian, ta
nói ái là nhân duyên. Đó gọi là trung ấm.
Lại như trong 7 thứ người thiện, có thân trung hữu diệt.
Lại như trong kinh nói : Tạp khởi nghiệp, tạp thụ thân, và tạp
sinh thế gian. Cho nên biết có trung ấm.
Lại như trong kinh nói 4 hữu là bản hữu, tử hữu, trung hữu
và sinh hữu.
Lại nói 7 hữu là ngũ đạo hữu, nghiệp hữu, và trung hữu.
Thành Thật Luận Trang 76 Tuệ Quang Foundation
Lại nói vua Diêm-la quở trách tội nhân trung ấm mà biết túc
mạng chúng sinh, nghĩa là chúng sinh nầy sinh chỗ nầy, chúng
sinh kia sinh chỗ kia.
Lại như trong kinh nói : Dùng thiên nhãn xem thấy các
chúng sinh khi chết khi sinh.
Lại nói chúng sinh bị ấm trói buộc nên từ thế gian nầy đến
thế gian kia.
Lại như người đời cũng tin có trung ấm, người ta nói : Nếu
người khi chết có thân tứ đại vi tế, ở từ ấm này mà đi.
Lại nếu như có trung ấm thì mới có đời sau. Nếu không có
trung ấm, khi bỏ thân nầy rồi mà chưa thụ sinh thân sau, thì
khoảng thời gian ấy phải gián đoạn.
Vì các lý do trên nên biết có trung ấm.
Phẩm 25 : Không có trung ấm
Có người nói không có trung ấm. Tuy ông dẫn trong kinh Adu-
la-đa-na nói có trung ấm, điều này không đúng. Sở dĩ vì sao ?
Vì nếu là Thánh nhân mà không biết cái ấy là gì và từ đâu đi đến,
tức là không có trung ấm, nếu có tại sao lại không biết ?
Lại như ông dẫn câu trong kinh Hòa-ta nói, điều này là
không đúng. Sở dĩ vì sao ? Vì trong kinh nầy hỏi khác đáp khác.
Phạm Chí Hòa-ta nầy chấp thân khác thần khác, nên mới đáp như
vậy, là trung ấm trung hữu, 5 ấm.
Lại như ông nói có trung hữu diệt, là người nầy ở trung gian
cõi Dục và cõi Sắc thụ thân, ở trong đó diệt cho nên gọi là trung
hữu diệt. Sở dĩ vì sao ? Vì như trong kinh nói : Nếu người chết, đi
đến chỗ nào, sinh về chỗ nào, ở tại chỗ nào. Nghĩa nầy không
khác.
Lại như ông nói tạp thụ thân, tạp sinh thế gian. Nếu nói thụ
thân, nói sinh thế gian, nghĩa nầy không khác.
Thành Thật Luận Trang 77 Tuệ Quang Foundation
Lại như ông nói 4 hữu, 7 hữu. Kinh ấy không phải như vậy,
vì không thuận với pháp tướng.
Lại như ông nói vua Diêm-la quở trách. Đấy là thân sinh hữu
chứ không phải trung hữu.
Lại như ông nói Phật nhân trung ấm mà biết túc mạng. Điều
này không đúng, sức Thánh trí là như vậy, tuy không tương tục
mà cũng có thể nghĩ biết.
Lại như ông nói dùng thiên nhãn xem thấy khi chết khi sinh.
Sắp sinh gọi là khi sinh, sắp chết gọi là khi chết, chứ không phải
trung ấm.
Lại như ông nói chúng sinh bị ấm buộc, từ đây đến kia. Đó là
muốn chỉ cho biết có đời sau nên mới nói như vậy, chứ không
phải nói rõ có trung ấm.
Lại như ông nói khi chết có 4 đại vi tế. Đó là chỗ thấy biết
của người đời, không thể tin được, vì đây không phải dùng làm
nhân.
Lại như ông nói nếu không có trung ấm thì thời gian giữa
phải gián đoạn. Đó là vì nghiệp lực, người nầy sinh đây, người kia
sinh kia, như quá khứ vị lai tuy không nối nhau mà có thể nghĩ
nhớ được. Cho nên không có trung ấm.
Lại nữa, trong Kinh Túc Mạng Trí nói : Biết người nầy chết
ở đây sinh nơi kia, chứ không nói trụ trong trung ấm.
Lại nữa, Phật nói 3 thứ nghiệp là nghiệp hiện báo nghiệp
sinh báo và nghiệp hậu báo, chứ không nói có nghiệp trung ấm
báo.
Lại nữa, nếu trung ấm có xúc tức gọi sinh hữu. Nếu không
thể xúc, thì không có, nên thụ tưởng v.v... cũng không. Như vậy
thì có chỗ nào ?
Lại nếu như chúng sinh thụ hình trung ấm, tức gọi thụ sinh,
như trong kinh nói : Nếu người bỏ thân nầy thụ các thân khác, ta
nói là sinh, nếu không thụ thân thì không có trung ấm.
Thành Thật Luận Trang 78 Tuệ Quang Foundation
Lại nữa, nếu trung ấm có thoái, tức gọi là sinh. Sở dĩ vì sao ?
Vì cần trước sinh sau thoái vậy. Nếu không thoái, tức là thường.
Lại do nghiệp lực mới sinh, thì còn dùng trung ấm làm chi ?
Lại nếu như trung ấm do nghiệp mà thành, tức là sinh hữu,
như nói nghiệp nhân duyên, nếu không do nghiệp thành, thì do
đâu mà có ? Cần phải trả lời ngay.
Đáp : Tôi cho sinh hữu có sai khác, nên gọi là trung ấm. Cho
nên không có các lỗi như trên. Người nầy tuy trung ấm sinh, mà
cùng với sinh có khác. Có thể khiến thức đi đến trong Ca-la-la, đó
gọi là trung ấm.
Hỏi vặn lại rằng : Vì nghiệp lực có thể khiến đến, chứ cần
chi phải dùng phân biệt nói trung ấm ?
Lại tâm không chỗ đến, vì nghiệp nhân duyên nên mới từ nơi
đây diệt mà sinh nơi kia vậy thôi.
Lại như hiện thấy tâm không tương tục sinh, như người chân
đạp phải gai mà trong đầu biết đau. Thức nơi chân không có nhân
duyên gì đến trong đầu, chỉ vì các duyên xa gần hòa hợp sinh tâm.
Cho nên không cần phân biệt chấp có trung ấm.
Phẩm 26 : Thứ tự
Luận giả nói : Có người nói 4 đế thấy theo thứ tự; lại có
người nói thấy cùng một lúc.
Hỏi : Do nhân duyên gì nói thấy theo thứ tự ? Lại do nhân
duyên gì nói thấy cùng một lúc ?
Đáp : Người nói thấy theo thứ tự, như trong kinh nói : Nếu
người thấy thế gian tập, tức diệt được chấp không. Thấy thế gian
diệt, tức diệt được chấp có. Phải biết tập diệt 2 tướng khác nhau.
Lại nếu như người nào có thể biết được bao nhiêu tướng tập
đều là tướng diệt, gọi là lìa cấu uế được pháp nhãn thanh tịnh.
Lại nói, người trí tuệ lanh lợi dần loại bỏ các điều ác, như thợ
vàng có thể dũa bỏ chất rét của vàng.
Thành Thật Luận Trang 79 Tuệ Quang Foundation
Lại như trong Kinh Lậu Tận nói : Người nào có tri kiến thì
được hết các lậu. Hành giả không tự hay biết chứ hằng ngày
thường tu tập nên được hết các lậu.
Lại nữa, Phật nói : Trong các đế, có thể sinh nhãn trí minh
tuệ. Trong khổ đế cõi Dục có 2, 2 cõi Sắc và Vô săc cũng có 2.
Tập v.v... cũng vậy.
Lại trong kinh miệng Phật tự nói ra lần lượt thấy đế, như
người leo thang tuần tự mà lên. Vì các kinh nầy nên biết 4 đế
không phải thấy cùng một lúc được.
Lại như các phiền não, trong 4 đế, có 4 thứ tà hành là không
khổ, không tập, không diệt và không đạo. Cho nên trí vô lậu cũng
phải thứ tự tu 4 thứ chính hành.
Lại nữa, hành giả cần định tâm phân biệt; đây là khổ, đây là
nhân của khổ, đây là khổ diệt, và đây là đạo diệt khổ. Nếu như
trong một tâm, làm sao quyết định phân biệt được như vậy ? Cho
nên biết là thứ tự chứ không phải thấy được cùng một lúc.
Phẩm 27 : Cùng một lúc
Có người nói 4 đế thấy cùng một lúc chứ không phải theo
thứ tự. Ông nói : Thấy thế gian tập, tức diệt chấp không. Thấy thế
gian diệt tức diệt chấp có ấy. Nếu nói vậy tức hoại tự pháp, vì nếu
như vậy cũng không cần 16 thứ tâm, 12 hành để đắc đạo.
Lại như ông nói : Biết bao nhiêu tướng tập đều là tướng diệt
thì được pháp nhãn. Nếu vậy phải dùng 2 tâm mới đắc đạo : một
là tập tâm, 2 là diệt tâm. Nhưng không phải vậy.
Lại nữa, như ông nói trí lanh lợi dần dần loại bỏ các ác, nếu
vậy cũng không nên chỉ 16 thứ tâm.
Lại như ông dẫn Kinh Lậu Tận nói : Người nào có thể biết
sắc v.v… thì được hết các lậu. Nếu vậy phải có vô lượng tâm, chứ
không phải chỉ 16 tâm.
Thành Thật Luận Trang 80 Tuệ Quang Foundation
Lại như ông nói nhãn trí minh tuệ là Phật tự nói trong 4 đế
được nhãn trí minh tuệ, mà không nói thứ tự có 16 tâm.
Lại như ông nói miệng Phật tự nói ra rằng tuần tự thấy đế,
như người leo thang. Tôi không học kinh nầy, dù có cũng nên bỏ,
vì không thuận với pháp tướng.
Lại như ông nói 4 thứ tà hành thì đối với 5 ấm v.v... cũng
phải tà hành, tùy theo chỗ tà hành, đều nên sinh trí. Nếu vậy
không cần chỉ 16 thứ tâm mà đắc đạo.
Lại như ông nói nên định phân biệt, thì đối với sắc v.v...
cũng cần phân biệt. Cho nên không chỉ cần có 16 thứ tâm.
Lại nữa hành giả không được các đế, chỉ có một đế. Nghĩa là
thấy khổ diệt gọi là sơ đắc đạo. Vì thấy pháp v.v... các nhân duyên
nên hành giả từ pháp Noãn v.v... lần lượt thấy đế diệt đế, sau cùng
thấy diệt đế nên gọi là đắc đạo.
Phẩm 28 : Thoái lui
Luận giả nói : Có người nói A-la-hán thoái lui, hoặc có
người nói không thoái lui.
Hỏi : Do nhân duyên gì nói có thoái lui, do nhân duyên gì lại
nói không thoái lui ?
Đáp : Nói thoái lui là như trong kinh nói : Khi giải thoát, Ala-
hán do 5 nhân duyên bị thoái lui là ưa làm việc, ưa đọc tụng, ưa
xử đoán, ưa đi xa, và luôn bệnh tật. Như trong kinh nói có 2 hạng
A-la-hán là thoái tướng và không thoái tướng.
Lại trong kinh nói : Nếu Tì-kheo nào thoái lui môn giải thoát
thì có điều đó.
Lại như trong kinh nói : Quán thân như chiếc bình, ý tưởng
phòng vệ như thành trì, đem tuệ chiến đấu với ma, giữ phần thằng
không thua bại. Nếu không thoái thì không cần thủ thắng.
Lại có 2 thứ trí là tận trí và vô sinh trí. Nếu tận trí không sinh
trở lại thì dụng vô sinh trí làm chi ?
Thành Thật Luận Trang 81 Tuệ Quang Foundation
Lại như Ưu-đà-da khó được diệt tận định, tức là nhân thoái
lui. Người nầy tuy thoái lui mà cũng được sinh về cõi Sắc. Vì các
duyên cớ nầy, nên biết có thoái lui.
Phẩm 29 : Không thoái lui
Có người nói Thánh đạo không có thoái lui, chỉ có thiền
định thoái lui.
Hỏi : Nếu như vậy thì không có 2 hạng A-la-hán, mà chỉ có
thoái tướng, vì tất cả A-la-hán trong thiền định đều có thoái lui ?
Đáp : Thoái sức tự tại trong thiền định, vì không phải tất cả
A-la-hán đều được sức tư tại.
Hỏi : Không phải như Tì-kheo Cù-đề sáu phen thoái bèn lấy
dao tự sát. Nếu như thoái thiền định cần gì tự sát ? Vì trong Phật
pháp quí hồ giải thoát, chứ không quí thiền định.
Đáp : Người ấy nương thiền định nầy, sẽ được A-la-hán đạo.
Mà mất thiền định nầy là mất vô lậu, chứ không phải vô lậu có
thoái. Sở dĩ vì sao ? Như kệ nói hoàn toàn không tạo mới, ở trong
các hữu, đều được chán lìa. Diệt sạch các kết sử không trở lại sinh
tướng. Đó là các người mạnh, như ngọn đèn tắt.
Lại nói : Ví như núi đá, gió không thể động, người mạnh như
vậy, chê khen không chao đảo.
Lại trong kinh nói : Ái sinh ái v.v..., A-la-hán nầy, vĩnh viễn
nhổ gốc ái, thì do đâu sinh kết ?
Lại nói : Gọi là Thánh nhân thì rốt ráo tận cùng biên giới,
việc làm đã xong.
Lại nói : Thánh nhân diệt tan không nhóm, phá rách không
dệt.
Lại trong kinh nói : Vô minh là nhân duyên khởi tham sân si.
A-la-hán nầy, vĩnh viễn hết vô minh, làm sao sinh kết ?
Thành Thật Luận Trang 82 Tuệ Quang Foundation
Lại trong kinh nói : Nếu các học nhân cầu đạo Nê-hoàn, ta
bảo người nầy quyết không phóng dật. Nếu được hết lậu không tái
sinh nữa, cho nên không thoái.
Lại nói : Người trí khéo suy nghĩ, khéo khẩu thân nghiệp,
làm việc không lầm lỗi.
Lại nói : Tì-kheo vui hạnh không phóng túng, vì thấy lỗi của
phóng túng, vậy là không thoái, gần gũi Nê-hoàn.
Lại trong kinh nói : Hươu nai nương đồng nội, chim chóc
nương hư không, pháp quy về phân biệt, chân nhân quy về Diệt.
Lại nữa, 3 nhân duyên sinh khởi các kết sử là tham dục
không dứt, cảnh tham dục hiện tiền, trong lòng sinh tà niệm. A-lahán
nầy tham dục đã dứt, tuy đối dục cảnh mà không sinh tà niệm,
nên không khởi kết.
Lại nói Tì-kheo tà quán các pháp, nên khởi 3 lậu. A-la-hán
nầy không có tà quán, nên không khởi các lậu.
Lại trong kinh nói : Nếu dùng Thánh tuệ biết rồi thì không có
thoái. Như quả Tu-đà-hoàn không có thoái.
Lại A-la-hán khéo biết tướng 3 thụ là sinh tướng, diệt tướng,
vị quá xuất tướng, cho nên không khởi kết.
Lại nói : Tì-kheo nếu giới, định, tuệ 3 việc thành tựu thì
không thoái chuyển.
Lại A-la-hán dứt kết đã sinh, chưa sinh khiến không sinh.
Lại trong kinh nói : Thánh nhân thật hành, quyết không có
thoái. A-la-hán đã chứng 4 đế, các lậu diệt hết rồi nên gọi là người
thật hành.
Lại nói 7 giác là pháp không thoái lui. A-la-hán đầy đủ 7
giác, cho nên không thoái. A-la-hán chứng được giải thoát không
hư hoại, cho nên không thoái.
Lại A-la-hán trong Phật pháp, được lợi kiên cố, nên gọi là
giải thoát không hư hoại.
Thành Thật Luận Trang 83 Tuệ Quang Foundation
Lại như người cụt tay, nghĩ hay không nghĩ, vẫn gọi là người
cụt tay, A-la-hán cũng vậy, đã đoạn kết sử thì nghĩ hay không
nghĩ, vẫn gọi là đoạn.
Lại trong kinh nói : Tín v.v... các căn lợi, gọi là A-la-hán.
Người lợi căn quyết không có thoái.
Lại A-la-hán có thể ở trong pháp vô thượng đoạn ái, nên tâm
khéo được giải thoát, rốt ráo diệt hết.
Lại ví như lửa cháy chỗ chưa cháy, cháy rồi không trở lại
cháy chỗ cũ. Tì-kheo cũng vậy, vì được thành tựu 11 pháp nên
quyết không có thoái.
Hỏi : Có 2 hạng A-la-hán, ông đã dẫn kinh nói người không
thoái ?
Đáp : Đây là nói tướng chung, các người học nhân phải
không phóng túng. A-la-hán thì không cần, không phải nói tướng
riêng, tướng không thoái.
Lại như Phật nói kệ : Thắng mà nếu sinh lại, thì không gọi là
thắng. Thắng mà không sinh, mới là chân thật thắng.
Lại A-la-hán sinh đã hết nên không còn thụ thân lại. Kinh
của ông tuy nói A-la-hán thoái pháp phải được lại. Nếu như vậy
thì pháp cũng phải không thoái. Nếu như Tì-kheo có thể khiến các
tướng không sinh, gọi là A-la-hán, cho nên không có thoái.
Phẩm 30 : Tâm tính
Luận giả nói : Có người nói tâm tính vốn trong sạch, vì
khách trần, nên không trong sạch. Có người cho là không phải
vậy.
Hỏi : Do nhân duyên gì nói vốn trong sạch, vì khách trần,
nên không trong sạch. Lại do nhân duyên gì mà nói không phải
vậy ?
Đáp : Người cho rằng tâm tính không phải vốn trong sạch, vì
khách trần nên không trong sạch. Sở dĩ vì sao ? Vì phiền não cùng
Thành Thật Luận Trang 84 Tuệ Quang Foundation
tâm thường tương ưng nhau sinh, chứ không phải tướng khách
trần.
Lại có 3 thứ tâm là thiện, bất thiện, và vô ký. Tâm thiện và
vô ký là không phải nhơ bẩn, như tâm bất thiện vốn tự không
trong sạch, không do khách trần.
Lại nữa, tâm nầy niệm niệm sinh diệt không đợi phiền não,
nếu phiền não cùng sinh thì không gọi là khách.
Hỏi : Tâm là chỉ biết sắc v.v..., rồi sau thủ lấy tướng, từ
tướng sinh các phiền não, rồi cùng với tâm làm bẩn, nên nói vốn
trong sạch.
Đáp : Không phải vậy. Khi tâm và tâm này diệt chưa có
tướng bẩn, thì khi tâm diệt rồi bẩn thấm vào đâu ?
Hỏi : Tôi không vì tâm mỗi niệm mỗi niệm diệt nên nói như
vậy, mà bởi tâm liên tục nối nhau nên mới nói nhiễm bẩn ?
Đáp : Cái gọi là tâm liên tục nối nhau nầy, thế đế mới có,
chứ không phải nghĩa chân thật. Điều đó không nên nói.
Lại nữa trong thế đế cũng là nhiều lỗi. Tâm sinh đã diệt,
chưa sinh thì chưa khởi, thì liên tục nối nhau như thế nào ? Cho
nên tâm tính không phải vốn trong sạch vì khách trần nên không
trong sạch. Chỉ Phật vì chúng sinh bảo rằng tâm thường tồn tại,
cho nên nói bị khách trần làm ô nhiễm làm cho tâm không trong
sạch.
Lại Phật vì chúng sinh biếng nhác, nếu nghe tâm vốn không
trong sạch, liền cho rằng tính không thể biến cải, nên không phát
tâm thanh tịnh. Cho nên mới nói là bản tịnh.
Phẩm 31 : Tương ưng và không tương ưng
Luận giả nói : Có người nói tâm tương ưng với các sử; lại có
người nói tâm không tương ưng.
Hỏi : Do nhân duyên gì nên nói tâm tương ưng; lại do nhân
duyên gì nói không tương ưng ?
Thành Thật Luận Trang 85 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Người nói tâm tương ưng, trong Phẩm Sử sau sẽ nói.
Lại tham dục v.v... các nghiệp phiền não, nghiệp này các sử
tương ưng. Trong pháp của ông tuy nói tâm không tương ưng với
sử, với tâm tương ưng làm nhân cho kết triền. Điều này không
đúng. Sở dĩ vì sao ? Vì trong kinh nói do vô minh, tà niệm, tà tư
duy v.v... khởi tham v.v... các kết, chứ không có kinh nào nói do
sử sinh. Trong pháp của ông tuy nói tập luyện kết triền lâu thì gọi
là sử sinh. Điều này không như vậy. Sở dĩ vì sao ? Vì các nghiệp
thân khẩu cũng có tướng tập luyện lâu, đây chỉ nên có tương tự
sử tâm bất tương ưng hành, mà thật không có. Vì nếu như vậy thì
các pháp đều từ nhân hiện tại sinh, không có nhân quá khứ. Vậy
thì cũng không cần từ nghiệp sinh báo, cũng không cần từ ý sinh ý
thức nữa.
Lại các sử này vì niệm niệm diệt thì do nhân nào sinh ?
Hỏi : : Cùng chung làm nhân sinh ?
Đáp : Như vậy cũng không đúng, vì nhân quả không được
cùng một thì hợp lại. Điều này ra sau trong thí dụ ngọn đèn sẽ nói.
Cho nên không nên nói các sử là không phải tâm tương ưng.
Phẩm 32 : Nghiệp quá khứ
Luận giả nói : Đạo nhân Ca-diếp-bệ nói báo nghiệp đời quá
khứ chưa chịu thì có, các đời quá khứ khác thì không có.
Đáp : Nghiệp nầy nếu mất là quá khứ. Quá khứ nếu không
mất tức là thường. Mất là tên khác của quá khứ. Mà mất rồi bị mất
nữa, thì nghiệp nầy làm nhân cho quả báo đã diệt, vì quả báo sinh
sau. Như trong kinh nói : Vì điều này nên việc kia được sinh. Như
khi sữa diệt làm nhân cho bơ. Thế thì cần gì phân biệt nghiệp quá
khứ ư ? Mà nếu nói như vậy thì trong các nhân có lỗi, là vì sao
không nhân mà thức được sinh ? Như thế thì không sữa làm sao
có bơ ? Nếu không có 4 đại, thì thân khẩu các nghiệp nương đâu
Thành Thật Luận Trang 86 Tuệ Quang Foundation
mà có ? Nhưng lẽ như vậy, tôi trước nói quá khứ có lỗi, người kia
nên đáp lại đi.
Phẩm 32 : Biện luận về 2 ngôi báu
Luận giả nói : Đạo nhân Ma-hê-xá-bà nói Phật ở trong số của
Tăng.
Đáp : Nếu nói Phật ở trong 4 chúng là hữu chúng, sinh
chúng, nhân chúng và Thánh nhân chúng thì không lỗi. Nếu nói
Phật ở trong Thanh Văn chúng, thế là có lỗi. Vì do nghe pháp mà
được giác ngộ gọi là Thanh Văn, và vì tướng Phật khác nên không
ở trong chúng nầy.
Hỏi : Phật đứng đầu trong Tăng, vì có người cúng thí gọi là
thí Tăng.
Đáp : Thí nầy thuộc về bậc Tăng nào ? Kinh nầy có chút lỗi.
Vậy thì nên nói thí ấy thuộc về Phật Tăng.
Hỏi : Phật bảo Cù-đàm-di rằng : Đem áo nầy thí Tăng, tức
cúng dường ta, mà cũng là cúng dường Tăng.
Đáp : Ý Phật nói đem lời nói vì cúng dường ta, vật nầy cúng
dường Tăng. Như trong kinh nói : Nếu ai đi thăm người bệnh, tức
là thăm ta.
Hỏi : Có các người đã thành tựu Thánh công đức như Xá-lợiphất
v.v... đều ở trong Tăng số, Phật cũng như thế, vì đồng tướng.
Đáp : Nếu đem đồng tướng mà nói thì những người phàm
phu và phi chúng sinh cũng phải nhập vào Tăng số, mà đâu có
được như vậy. Cho nên biết Phật không thuộc trong Tăng số.
Lại nữa, Phật không vào Tăng Yết-ma, tức xử đoán và cũng
không đồng các việc thuộc Tăng sự.
Lại nữa, vì Tam Bảo riêng biệt, cho nên Phật không ở trong
Tăng.
Phẩm 34 : Vô ngã
Thành Thật Luận Trang 87 Tuệ Quang Foundation
Luận giả nói : Đạo nhân Độc tử nói có ngã. Những người
khác nói không có.
Hỏi : Đàng nào là thật ?
Đáp : Pháp vô ngã thật. Sở dĩ vì sao ?`Như trong kinh, Phật
bảo Tì-kheo rằng : Chỉ vì danh tự, chỉ vì giả thi thiết, và chỉ vì
hữu dụng, nên mới gọi là ngã mà thôi. Bởi chỉ vì danh tự v.v...,
cho nên biết không có chân thật ngã.
Lại như trong kinh nói : Nếu người nào không thấy khổ, thì
người nầy thấy có ngã. Nếu như thật thấy khổ thì không còn thấy
ngã. Nếu thật có ngã thì người thấy khổ cũng phải thấy ngã.
Lại nói : Thánh nhân chỉ vì tùy tục nên mới nói là có ngã.
Lại trong kinh Phật nói : Ngã tức là động xứ. Nếu thật có thì
không gọi động xứ. Như mắt có nên không gọi động xứ.
Lại như trong các kinh đều ngăn chấp ngã. Như Thánh Tìkheo-
ni bảo ma vương rằng : Người gọi là chúng sinh tức là tà
kiến. Vì các nhóm pháp hữu vi đều là trống không, không có
chúng sinh.
Lại nói : Các hành hòa hợp nối nhau nên có, tức là huyễn hóa
dối gạt phàm phu, đều là oán tặc, như mũi tên đâm vào tim, không
có chắc thật.
Lại nói : Không ngã, không ngã sở, không chúng sinh, không
người, chỉ là trống không. Tướng 5 ấm sinh diệt bại hoại mới có
nghiệp, có quả báo mà thôi, chứ người làm ra là không thể có
được. Các duyên hòa hợp nên mới có các pháp nối nhau. Vì các
duyên do nầy nên trong các kinh Phật đều ngăn chấp ngã. Nên
không có ngã.
Lại như trong kinh giải nghĩa thức như sau : Sao gọi là thức ?
Nghĩa là có thể biết sắc cho đến biết pháp chứ không nói biết ngã.
Cho nên không có ngã. Tì-kheo Quần-na hỏi Phật rằng : Ai ăn
thức thực ? Phật đáp : Ta không nói có người ăn thức thực. Nếu
Thành Thật Luận Trang 88 Tuệ Quang Foundation
có ngã nên nói ngã ăn thức thực. Vì không nói cho nên biết không
có ngã.
Lại như trong Kinh Bình-sa Vương Nghinh Phật, có nói :
Phật bảo các Tì-kheo rằng : Các ông xem những người phàm phu
đuổi theo giả danh cho là có ngã. Trong 5 ấm nầy thật không có
ngã và ngã sở.
Lại nói vì 5 ấm nên có các thứ tên như là ngã, chúng sinh,
nhân, thiên v.v..., như vậy vô lượng danh từ đều do 5 ấm mà có.
Nếu có ngã thì phải nói nguyên nhân ngã.
Lại như Trưởng lão Phất-ni-ca bảo ngoại đạo rằng : Nếu
người tà kiến thì không mà cho là có. Phật muốn dứt tà mạn nầy
chứ không dứt chúng sinh. Cho nên nói không ngã.
Lại như trong Kinh Viêm-ma-già, Xá-lợi-phất bảo Viêm-magià
rằng : Ông thấy sắc ấm là A-la-hán chăng ?
Đáp : Không phải.
Hỏi : Thấy thụ, tưởng, hành, thức là A-la-hán chăng ?
Đáp : Không phải.
Hỏi : Thấy 5 ấm hòa hợp là A-la-hán chăng ?
Đáp : Không phải.
Hỏi : Thấy lìa 5 ấm là A-la-hán chăng ?
Đáp : Không phải.
Xá-lợi-phất nói : Nếu như vậy xét tìm không thể được, thì có
nên nói A-la-hán sau khi chết không có chăng ?
Đáp : Thưa Xá-lợi-phất ! Tôi trước đã có tà kiến ác nay được
nghe nghĩa nầy, tà kiến kia liền diệt. Nếu như có ngã không gọi là
ác sao ?
Lại trong 4 thủ có nói ngã ngữ thủ. Nếu thật có ngã, nên nói
ngã thủ, như dục thủ v.v..., không nên nói ngã ngữ thủ.
Lại như trong Kinh Tiên-ni nói : Trong tam sư, nếu có sư nào
bất đắc hiện ngã hậu ngã, ta nói sư đó là Phật đấy. Vì Phật là bất
đắc, nên biết không có ngã.
Thành Thật Luận Trang 89 Tuệ Quang Foundation
Lại trong vô ngã, ngã tưởng là điên đảo. Nếu trong ý ông cho
rằng ngã tưởng trong ngã không phải điên đảo thì điều đó không
đúng. Sở dĩ vì sao ? Vì Phật nói : Chúng sinh thấy có ngã, đều là
thấy 5 ấm đấy. Cho nên không có ngã.
Lại nói chúng sinh nghĩ nhớ bao nhiêu túc mạng cũng đều là
nghĩ đến 5 ấm đó thôi. Nếu như có ngã cũng nên nghĩ đến ngã, vì
không nghĩ nên biết không ngã. Nếu trong ý ông bảo cũng có kinh
nói nghĩ nhớ chúng sinh, như với chúng sinh nào đó, ta gọi tên
chúng sinh đó. Điều này cũng không đúng. Vì đây là thế đế phân
biệt, nên nói là thật nghĩ 5 ấm, chứ không phải nghĩ chúng sinh.
Sở dĩ vì sao ? Vì ý thức nghĩ, ý thức chỉ duyên nơi pháp. Cho nên
không có nghĩ nghĩ nhớ chúng sinh.
Lại như có người nói quyết định có ngã, thì trong 6 thứ tà
kiến quyết sa vào một thứ. Nếu ý ông bảo vô ngã cũng là một thứ
tà kiến, thế là không đúng. Sở dĩ vì sao ? Vì là 2 đế. Nếu đem thế
đế nói không ngã, đem đệ nhất nghĩa đế nói có ngã, là có lỗi. Tôi
nay nói đệ nhất nghĩa đế nên không lỗi, nếu thế đế thì có. Cho nên
không lỗi.
Lại Phật nói nhổ gốc ngã kiến, như trong lời hỏi của vua Si
Vương. Phật đáp : Này Si Vương ! Nếu có người dùng nhất tâm
quán các thế gian là trống không, thì nhổ được gốc ngã kiến,
không còn thấy vua chết nữa.
Lại như vì các thuyết nói nhân duyên có ngã buồn vui các
việc đều do 5 ấm mà ra, và để phá các ngã kiến nhân duyên của
ngoại đạo, cho nên nói không có ngã.
Phẩm 35 : Có ngã, không có ngã
Hỏi : Ông nói không có ngã, điều này không đúng. Sở dĩ vì
sao ? Vì trong 4 cách trả lời là cách trả lời thứ tư.
Thành Thật Luận Trang 90 Tuệ Quang Foundation
Nghĩa là người sau khi chết, hoặc có hoặc không, cũng có
cũng không, không phải có không phải không. Nếu thật không có
ngã thì không nên có những lối trả lời ấy.
Lại như người nào nói không có chúng sinh thụ thân sau, đó
tức là tà kiến.
Lại trong 12 bộ kinh, có Kinh Bản Sinh, Phật tự nói : Khi ấy
vua Đại Hỷ Kiến kia tức là thân ta. Có các truyện bản sinh như
vậy. Năm ấm nay không phải 5 ấm xưa. Cho nên có ngã từ xưa
đến nay.
Lại Phật nói nay vui mừng sau vui mừng, làm lành được 2
đời vui mừng. Nếu chỉ có 5 ấm, thì không nên nói 2 đời vui
mừng.
Lại trong kinh nói : Tâm cấu uế nên chúng sinh cấu uế. Tâm
thanh tịnh nên chúng sinh thanh tịnh.
Lại như một người sinh thế gian, thì nhiều người bị tổn hại.
Lại một người sinh thế gian, thì nhiều người được lợi ích.
Lại như gây nghiệp nhân lành hay không lành đều nương nơi
chúng sinh chứ không nương nơi số phi chúng sinh.
Lại nhiều chỗ trong kinh, Phật tự nói : Ta nói có chúng sinh
có thể thụ thân sau, và có thể tự lợi mà không lợi tha-v.v.... Vì các
lẽ ấy nên biết có ngã. Ông trước tuy nói chỉ vì danh tự v.v.... Điều
này không đúng. Sở dĩ vì sao ? Là Phật chỉ vì ngoại đạo nói lìa 5
ấm riêng chấp có tướng ngã thường không hoại. Muốn dứt tà kiến
nầy nên mới nói không có ngã. Nay chúng tôi nói 5 ấm hòa hợp,
gọi đó là ngã nên không bị lỗi.
Lại tuy nói : Ngã chỉ vì danh tự v.v..., nên suy nghĩ kỹ lời nói
nầy : Nếu chúng sinh chỉ là danh tự, thì nếu giết con bò bằng đất
không bị tội sát sinh, thì giết con bò thật cũng không nên có tội.
Lại như trẻ con lấy tên một vật gì cúng thí, đều có quả báo,
thì người lớn chỉ thí bằng cái tên cũng nên được báo. Nhưng thật
không có được.
Thành Thật Luận Trang 91 Tuệ Quang Foundation
Lại chỉ cái tên, nên không mà nói có thì Thánh nhân cũng có
vọng ngữ sao ? Vì nói thật ngữ mới gọi là Thánh nhân chứ ! Cho
nên biết có ngã.
Lại như Thánh nhân thấy thật không có ngã mà tùy theo thế
tục nên nói có ngã, thế là thấy điên đảo, vì nói khác.
Lại như vì tùy theo thế tục không mà nói có, thì không nên
lại nói thật nghĩa trong kinh là 12 nhân duyên, 3 thứ giải thoát, và
các pháp vô ngã v.v.... Nếu có người bảo có đời sau nên tùy theo
mà nói có, trái lại có người bảo không, cũng tùy theo mà nói
không.
Lại bảo muôn vật trong thế gian đều do trời Tự Tại sinh ra.
Các thứ kinh sách tà kiến như vậy, cũng đều nên tùy thuận mà nói
theo. Đó là điều không thể được. Cho nên ông đã dẫn kinh, nói
chung đều bị đả phá hết. Cho nên không phải không có ngã.
Đáp : Ông trước nói vì bỏ không đáp nên biết có ngã ấy.
Điều này không đúng. Sở dĩ vì sao ? Vì đây là pháp bất khả
thuyết. Sau trong nhóm diệt đế sẽ phân biệt nói rộng. Cho nên
không có thật ngã, và bất khả thuyết là chỉ vì giả danh mà nói, chứ
không phải thật có.
Lại ngã trong pháp của ông lấy 6 thức mà biết, như trong
kinh của ông nói : Do mắt thấy sắc cho nên ngã hoại. Vậy cái bị
biết của nhãn thức thì không nên nói phi sắc phi phi sắc, thanh
v.v... cũng vậy.
Lại nữa, nếu ngã là cảnh bị biết của 6 thức thì cũng trái với
kinh. Vì trong kinh nói : 5 tình thức không thể thay đổi nhau mà
thủ 5 trần, vì chủ vào việc khác nhau. Nếu lấy 6 thức mà biết được
ngã, thì 6 căn dùng được cho nhau.
Lại nữa, lời ông nói trước sau mâu thuẫn nhau, như bị biết
của nhãn thức không gọi là sắc.
Lại ông nói : Vô ngã là tà kiến. Trong kinh, Phật tự bảo các
Tì-kheo rằng : Tuy không có ngã, nhưng vì các hành nối nhau,
Thành Thật Luận Trang 92 Tuệ Quang Foundation
mới nói có sinh tử. Ta dùng thiên nhãn thấy các chúng sinh khi
sinh khi chết, cũng không nói là ngã.
Lại nữa, trong pháp của ông có lỗi, như ông nói ngã không
sinh. Nếu không sinh thì không cha mẹ. Không cha mẹ thì không
có nghịch tội, cũng không có các tội nghiệp khác nữa. Cho nên
pháp ông là tà kiến.
Lại nữa, ông nói có bản sinh là do 5 ấm nên gọi là Hỷ Kiến
vương, tức 5 ấm kia nối nhau, nên gọi là Phật. Cho nên nói ngã là
vua kia. Trong pháp ông, ngã là một, vậy không nên phân biệt.
Lại nữa, ông nói làm lành 2 đời mừng vui. Trong kinh, Phật
tự ngăn điều này, nói ngã không nói có người bỏ 5 ấm nầy thụ ấm
kia, chỉ vì 5 ấm nối nhau không khác, nên mới nói 2 đời mừng
vui.
Lại nữa, ông nói tâm cấu bẩn nên chúng sinh cấu bẩn. Do đó
nên biết không có thật ngã. Nếu có thật ngã nên cùng với tâm
khác, không nên nói tâm cấu bẩn nên chúng sinh cấu bẩn. Sở dĩ vì
sao ? Vì không thể kia cấu bẩn mà đây nhận chịu. Chỉ vì giả danh
nhân duyên mới có nhơ bản nên nói giả danh nhơ bẩn. Cho nên
giả danh là ngã, không phải chận thật.
Lại như pháp ông nói ngã không phải 5 ấm. Vậy thì không
sinh không diệt, không có tội phúc v.v…, có những lỗi như vậy.
Tôi nói 5 ấm hòa hợp giả danh là ngã. Do ngã nầy cho nên có sinh
có diệt, và có tội phúc v.v…, không phải không có giả danh, chỉ là
không phải thật.
Lại như trước ông nói vì muốn phá ngoại đạo nên Phật nói
không ngã. Đó là ông tự vọng tưởng phân biệt như thế, chứ y Phật
không phải vậy.
Lại các thuyết nói có ngã đều là lầm lỗi, như ông nói ngoại
đạo rời 5 ấm rồi riêng chấp có ngã, ông cũng như vậy. Sở dĩ vì
sao ? Vì 5 ấm vô thường mà ngã không thể nói hoặc thường hay
vô thường, tức là rời ấm.
Thành Thật Luận Trang 93 Tuệ Quang Foundation
Lại nữa ấm có 3 phần : Giới định tuệ; thiện, bất thiện, vô ký,
Dục giới hệ, Sắc giới hệ, Vô săc giới hệ. Phân biệt như thế, ngã
không thể được, nên khác với 5 ấm.
Lại ngã là người, 5 ấm không phải người, tức là khác.
Lại ấm là 5, ngã là 1, cho nên ngã không phải ấm. Nếu vì các
duyên do nầy mà có ngã, thì khác với 5 ấm.
Lại thế gian không có một pháp nào không thể nói một
không thể nói khác, cho nên không có pháp gọi là bất khả thuyết.
Hỏi : Như đốt cháy và cháy được không được nói là một,
không được nói là khác. Ngã cũng như vậy ?
Đáp : Đó cũng là đồng nghi. Cái nào là đốt cháy, cái nào là
cháy được ? Nếu thứ lửa là đốt cháy, thứ khác là cháy được, thì
đốt cháy khác với cháy được. Nếu thứ lửa tức là cháy được, làm
sao nói không một ? Nếu thứ cháy được tức là thứ lửa, nếu rời thứ
lửa, cũng đều không được, nên mới gọi là đồng nghi. Nếu trong
đốt cháy, có cái có thể cháy được, như trong ngã có sắc, tức sa
vào thân kiến.
Lại phải nhiều ngã, như lửa củi khác, lửa phân bò khác. Ngã
cũng như vậy, ngã nhân ấm khác, ngã thiên ấm khác, tức là nhiều
ngã.
Lại như đốt cháy và cháy được ở trong 3 đời, ngã và 5 ấm
cũng phải ở trong 3 đời như vậy, như đốt cháy và cháy được. Vì là
hữu vi nên ngã và 5 ấm cũng phải là hữu vi.
Lại tuy ông nói đốt cháy và cháy được không một không
khác. Nhưng mắt thấy tướng khác ngã và 5 ấm cũng phải có khác.
Lại 5 ấm mất, mà ngã không mất, vì chết nơi đây, sinh đến
nơi kia, có 2 đời mừng vui. Nếu tùy theo 5 ấm có mất có sinh, thì
đồng như 5 ấm không được gọi 2 đời mừng vui. Ông dùng vọng
tưởng phân biệt có ngã, được những lợi gì ?
Thành Thật Luận Trang 94 Tuệ Quang Foundation
Lại trong các thứ trần, không có một trần nào được biết của
cả 6 thức. Ngã mà ông đã nói có thể 6 thức đều biết được, thế thì
không phải là 6 trần.
Lại không nhiếp thuộc 12 nhập, tức không phải các nhập.
Không nhiếp thuộc 4 đế, cho nên nếu nói có ngã tức vọng ngữ.
Lại trong pháp ông nói, pháp khả tri là 5 pháp tạng : quá khứ,
vị lai, hiện tại, vô vi và bất khả thuyết. Ngã ở trong pháp thứ 5,
tức khác với 4 pháp kia. Ông muốn cho khác với 4 pháp trước mà
không phải thứ 5 là không thể được. Như nói ngã là bị các lỗi nầy
thì cần gì vọng tưởng phân biệt ngã làm chi ? Cho nên trước ông
nói có câu : Ngoại đạo rời 5 ấm rồi riêng chấp có ngã, chúng tôi
không phải vậy. Điều này không đúng.
Lại trước ông nói ngã chỉ giả danh cần phải nghĩ kỹ. Điều
này không đúng.
Lại trước ông nói ngã chỉ giả danh nên nghĩ kỹ. Điều này
không đúng. Sở dĩ vì sao ? Vì trong Phật pháp nói việc thế đế
không cần nghĩ kỹ.
Lại ông nói vọng ngữ thấy điên đảo, cũng như vậy.
Lại như ông nói : Không nên nói thật nghĩa trong kinh. Điều
này nên nói, vì khiến cho biết đệ nhất nghĩa.
Lại ông nói, những chỗ thế gian nói đều nên tùy thuận theo.
Nhưng nếu nói trời Tự Tại sinh ra muôn vật v.v... thì không nên
chấp nhận. Nếu có lợi ích và không trái với thật nghĩa thì chấp
nhận, nên không lỗi. Nếu trong thế đế có thể sinh công đức, có thể
có lợi ích, như vậy nên chấp nhận. Điều này sau sẽ nói rộng.
Lại ông nói giết con bò bằng đất v.v..., không tội sát sinh.
Nay xin trả lời : Nếu đối với các loài có tình thức, các ấm nối
nhau thì có nghiệp và nghiệp báo. Với con bò bằng đất đất v.v...
không có việc như thế. Cho nên phải biết 5 ấm hòa hợp giả danh
là ngã, chứ không phải thật có.
Thành Thật Luận Trang 95 Tuệ Quang Foundation
Phẩm 36 : Sắc tướng
trong luận về sắc của nhóm khổ đế
Hỏi : Trước ông nói sẽ nói luận về thành thật. Nay sẽ nói
những gì là thật đây ?
Đáp : Thật, là 4 đế. Đó là khổ, nhân của khổ, khổ diệt, đạo
diệt khổ. Năm thụ ấm là khổ. Các nghiệp và phiền não là nhân của
khổ. Hết khổ là khổ diệt. Tám Thánh đạo là đạo diệt khổ. Vì
muốn thành lập pháp ấy nên mới tạo luận nầy. Phật tuy tự thành
lập pháp nầy, để độ chúng sinh nên đã nói tản mác ở nhiều nơi.
Lại Phật lược nói pháp tạng có 8 vạn 4 ngàn, trong đó có 4 y,
8 nhân. Nghĩa nầy hoặc bỏ mà không nói, hoặc có nói lược qua.
Tôi nay muốn soạn tập có thứ lớp cho nghĩa được rõ ràng nên nói.
Hỏi : Ông nói 5 thụ ấm là khổ đế. Những gì là 5 ?
Đáp : Sắc ấm, thức ấm, tưởng ấm, thụ ấm và hành ấm.
Sắc ấm là 4 đại, và những pháp gì do 4 đại mà thành. Và
những pháp gì do 4 đại tạo thành gọi chung là sắc. Bốn đại là địa,
thủy, hỏa, phong. Do sắc, hương, vị và xúc nên thành 4 đại. Do 4
đại nầy thành nhãn v.v... 5 căn. Các thứ này chạm nhau nên mới
có tiếng. Địa là sắc v.v... nhóm họp cứng nhiều, nên gọi là địa.
Như vậy ẩm ướt nhiều gọi thủy, nóng nhiều gọi là hỏa, nhẹ động
nhiều gọi phong. Nhãn căn chỉ duyên sắc và làm chỗ nương cho
nhãn thức, và khi đồng tính không nương, đều gọi nhãn căn. Bốn
căn kia cũng như vậy. Sắc là chỉ làm chỗ bị duyên cho nhãn thức,
và khi đồng tính không duyên, gọi là sắc. Hương, vị, xúc cũng
vậy. Các thứ này chạm nhau nên có tiếng.
Phẩm 37 : Sắc danh
Hỏi : Trong kinh nói các sắc có, đều là 4 đại, và do 4 đại làm
nhân mà thành.
Vì sao nói có, là đều là ?
Thành Thật Luận Trang 96 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Nói có, là đều là, là quyết định nói sắc tướng, chứ
không nói gì khác. Vì người ngoại đạo nói có 5 đại. Vì muốn bỏ
thuyết này, nên nói 4 đại và do 4 đại làm n hân mà thành. Bốn đại
giả danh nên mới có. Phổ biến đến nên gọi là đại. Pháp không sắc
không hình. Vì không hình, nên không phương. Vì không phương
nên không gọi là đại. Lại vì thô hiện lên nên gọi là đại. Tâm số
pháp không hiện, nên không gọi là đại.
Hỏi : Vì sao gọi các pháp như địa v.v... là sắc, mà không gọi
thanh v.v...?
Đáp : Pháp có đối gọi là sắc, thanh v.v... đều có đối nên cũng
gọi là sắc, chứ không phải như tâm pháp v.v.... Có hình nên gọi là
sắc. Thanh v.v... đều có hình nên cũng gọi là sắc. Xứ sở ngăn ngại
nên gọi là hình.
Hỏi : Sắc v.v... không phải đều có hình, thanh v.v... mới
không có hình.
Đáp : Thanh v.v... tất cả có hình. vì có hình, vì có đối, nên có
ngăn ngại, như bị vách ngăn thì không nghe.
Hỏi : Nếu thanh v.v... có ngăn ngại, thì phải không thu nhận
các vật, như vách ngăn nên không dung được gì.
Đáp : Vì thanh vi tế nên có thể thu nhận được, như hương vị
v.v... vi tế nên chung nương một hình, mà không trở ngại nhau.
Cho nên thanh v.v..., vì có ngại có đối, nên đều gọi là sắc.
Lại vì tướng nó có thể tổn hoại, nên gọi là sắc. Có những sự
cắt đứt tàn hại v.v..., đều nương nơi sắc. Vì trái với sắc nầy, nên
gọi là vô sắc định.
Lại hiển thị nghiệp lành dữ đời trước, nên gọi là sắc.
Lại cũng hiển thị tâm và tâm số pháp, nên gọi là sắc.
Lại vì xưng danh, nên gọi là sắc.
Phẩm 38 : Bốn đại giả danh
Thành Thật Luận Trang 97 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Bốn đại là giả danh, nghĩa nầy chưa thành lập được vì
có người nói 4 đại là thật có ?
Đáp : Bốn đại giả danh nên mới có. Sở dĩ vì sao ? Phật vì
ngoại đạo nên nói 4 đại. Có các ngoại đạo nói sắc v.v... tức là đại,
như phái Tăng-khư v.v.... Hoặc nói rời sắc v.v... là đại, như Vệ-
thế sư v.v.... Cho nên kinh nầy quyết định nói do sắc v.v... mới
thành địa v.v... các đại. Cho nên biết các đại là giả danh có.
Lại như kinh nói địa chủng là cứng và nương cứng. Cho nên
không chỉ có cứng cho là địa.
Lại người đời cũng đều tin các đại là giả danh có. Sở dĩ vì
sao ? Vì người đời nói trông thấy đất, ngửi thấy đất, chạm vào đất
và mùi vị đất.
Lại trong kinh nói : Đất có thể trông thấy và đụng chạm.
Lại vào địa v.v..., vào trong tất cả, người ấy thấy sắc đất mà
không thấy cứng v.v....
Lại người chỉ ra sắc đất, hương đất, vị đất, xúc đất; trong
pháp thật có, không thể chỉ ra gì khác.
Lại nghĩa của tên đại là phổ biến cùng khắp, tướng nầy là nói
trong giả danh, chứ không chỉ nói trong tướng cứng.
Lại nói địa trụ trên thủy là giả danh địa trụ, không phải chỉ có
tính cứng trụ.
Lại nói cõi đại địa bị đốt cháy tận diệt mà không còn khói
than là đốt cái địa giả danh, không phải chỉ đốt cái tính cứng.
Lại vì sắc v.v... nên tin có địa v.v..., không phải chỉ có tính
cứng v.v....
Lại trong thí dụ cái giếng nói, nước cũng thấy cũng xúc. Nếu
tính ướt là nước thì không có 2 thứ được. Sở dĩ vì sao ? Vì Phật
nói 5 tình thức không thể thay nhau thủ trần cảnh. Cho nên Phật
nói nước có 8 công đức là nhẹ nhàng, mát mẻ, mềm mại, ngon
ngọt, trong sạch không hôi, mỗi khi uống vào điều hòa khoan
khoái, và uống rồi không bệnh hoạn. Trong đây như nhẹ mát mềm
Thành Thật Luận Trang 98 Tuệ Quang Foundation
đều thuộc xúc nhập, ngọn thuộc vị nhập, trong sạch thuộc sắc
nhập, không hôi là hương nhập, điều hòa khoan khoái và không
bệnh là thế lực của nước. Tám thứ hòa hợp nầy gọi chung là nước.
Cho nên biết các đại là giả danh có.
Lại pháp do làm thành đều là giả danh không thật có vậy.
Như trong kệ nói : Bánh xe v.v... hòa hợp, nên gọi là cái xe, 5 ấm
hòa hợp, nên gọi là người.
Lại như A-nan nói : Các pháp do nhiều duyên thành, ta
không quyết định chỗ nào cả.
Lại như có người nói tính cứng v.v... là đại. Người ấy cho
rằng tính cứng v.v... làm chỗ nương cho sắc v.v.... Vậy thì có
nương, có chủ không phải là Phật pháp. Cho nên biết 4 đại đều là
giả danh.
Lại trong các pháp có mềm mịn trơn láng v.v..., đều thuộc
xúc nhập. Tính cứng v.v... 4 pháp có nghĩa gì đâu mà riêng được
gọi là đại ? Lại nữa, một thứ mà có 4 chấp, đều có sai lầm. Cho
nên biết 4 đại chỉ là giả danh.
Lại nữa, thật pháp hữu tướng, giả danh hữu tướng, và giả
danh sở có thể, sau sẽ nói rộng. Cho nên 4 đại không phải thật có.
Phẩm 39 : Bốn đại thật có
Hỏi : Bốn đại là thật có. Sở dĩ vì sao ? Vì trong A-tì-đàm nói
: Tướng cứng là địa chủng, tướng ướt là thủy chủng, tướng nóng
là hỏa chủng, tướng động là phong chủng. Cho nên 4 đại là thật
có.
Lại sắc v.v... tạo sắc, do 4 đại sinh, giả danh có thì không thể
sinh pháp được.
Lại lấy tính cứng v.v... chỉ cho 4 đại, như nói tính cứng,
nương tính cứng là địa. Cho nên tính cứng v.v... là thật đại.
Lại như trong kinh, Phật nói 2 thứ : Cứng nương cứng, ướt
nương ướt v.v.... Cho nên biết cứng là thật pháp, nương cứng là
Thành Thật Luận Trang 99 Tuệ Quang Foundation
giả danh. Các đại khác cũng vậy. Cho nên cứng v.v... là thật đại.
Pháp nương cứng vì tùy tục nên gọi là đại thôi. Cho nên mới có 2
thứ đại, vừa thật vừa cũng là giả danh.
Lại như trong A-tì-đàm nói : Hình xứ là địa, tướng cứng là
địa chủng. Các đại khác cũng như vậy. Lại trong kinh Phật nói :
Trong con mắt có tính cứng và nương cứng là địa, tính ướt và
nương ướt là thủy, tính nóng và nương nóng là hỏa. Thịt là địa.
Trong thịt nầy Phật nói có 4 đại, thì phải biết cứng v.v... là thật
đại, mà hình là giả danh đại.
Lại Phật không nói trong phong có nương, nên mới biết
phong là thật đại.
Lại nếu ai nói 4 đại là giả danh, thì lìa tướng đại, nếu nương
cứng gọi là địa chủng thì thủy nương vật cứng, thủy tức là địa ư ?
Cục đất bùn nương ướt, đất bùn tức là thủy ư ? Như người bị sốt,
cả thân đều nóng, thân tức là hỏa ư ? Điều này không đúng. Cho
nên không được nói nương cứng là địa chủng, mà chỉ có tính cứng
mới là địa chủng. Các đại khác cũng như vậy.
Lại nữa, 4 đại cùng sinh, cho nên không rời nhau. Như trong
kinh nói : Có bao nhiêu sắc đều do 4 đại tạo thành. Nếu ai nói 4
đại là thật, thì không rời nhau. Mà nếu 4 đại giả danh thì phải rời
nhau. Sở dĩ vì sao ? Vì các thứ sắc v.v... nương cứng, rời các thứ
ướt v.v..., như vậy thì trong con mắt không có 4 đại, tức trái với
kinh. Ông muốn không trái với kinh thì phải công nhận 4 đại là
thật. Trước ông nói : Vì ngoại đạo nên nói 4 đại. Điều này không
đúng. Bởi vì sao ? Vì các ngoại đạo nói 4 đại cùng với sắc v.v...
hoặc một hoặc khác. Chúng tôi nói một phần ít xúc nhập là 4 đại.
Cho nên không bị lỗi.
Lại chúng tôi nói hiện thấy cứng v.v... là 4 đại, chứ không
phải như người phái Vệ-thế sư nói 4 đại cũng có mà không phải
hiện thấy.
Thành Thật Luận Trang 100 Tuệ Quang Foundation
Lại ông nói cứng và nương cứng. Có 2 nghĩa của nương, như
trong kinh nói sắc nương sắc.
Lại nói tâm nương đại pháp. Trong nghĩa nầy nói cứng tức là
nương cứng, mà không nói pháp nào khác. Nếu vậy thì đâu có lỗi
gì ?
Lại ông nói người đời đều tin, cho đến nước có 8 thứ công
đức . Đó chỉ là tùy tục mà nói vậy thôi, chứ không phải là thật đại.
Lại ông nói pháp nhân đó mà thành, đều là giả danh. Điều
này không đúng. Sở dĩ vì sao ? Vì trong kinh nói : Nếu 6 xúc
nhập, hoặc pháp do 6 xúc nhập mà thành. Lại có Tì-kheo hỏi Phật
: Những gì là mắt ? Phật đáp : Do 4 đại tạo thành sắc thanh tịnh,
đó gọi là mắt. Như vậy thành 12 thứ nhập. Lại ông nói có chủ có
nương. Chúng tôi không cho là như vậy, mà chỉ nói : Pháp trụ ở
trong pháp.
Lại ông nói : Cứng v.v... có nghĩa gì mà được riêng gọi là đại
? Cứng v.v... có nghĩa là như tướng cứng có thể gìn giữ, tướng
nước có thể thấm ướt, tướng lửa có thể làm nóng, còn gió có thể
thành tựu. Cho nên 4 đại là thật.
Phẩm 40 : Không phải kia cứng
Đáp : Không đúng. Bốn đại là giả danh. Ông tuy dẫn trong
A-tì-đàm nói tướng cứng là địa chủng v.v.... Điều này không
đúng. Sở dĩ vì sao ? Vì Phật tự nói cứng và nương cứng là địa,
chứ không phải chỉ nói tướng cứng. Cho nên đấy không phải
nguyên nhân chính.
Lại ông nói sắc v.v... do 4 đại sinh. Điều này không đúng. Sở
dĩ vì sao ? Vì sắc v.v... do nghiệp phiền não, ăn uống, dâm dục
v.v... mà sinh. Như trong kinh nói : Mắt do đâu sinh ? Do nghiệp
sinh.
Lại nói tham vui nhóm nên sắc nhóm.
Thành Thật Luận Trang 101 Tuệ Quang Foundation
Lại như A-nan dạy Tì-kheo-ni rằng : Thân chị là từ ăn uống
mà sinh, từ ái mạn mà sinh, và từ dâm dục mà sinh. Cho nên biết
sắc v.v..., không chỉ từ 4 đại mà sinh.
Hỏi : Sắc v.v... tuy do nghiệp v.v... sinh, mà 4 đại cũng cần
có dự một chút nhân chứ ? Như nhân nghiệp nên mới có lúa, lúa
nầy cũng nhờ hạt giống v.v... mà sinh. Như vậy mắt v.v... tuy do
nghiệp sinh, mà 4 đại cũng làm một chút nhân.
Đáp : Hoặc có vật không nhân duyên mà sinh, như khi kiếp
tận rồi, kiếp sơ có trận mưa lớn, thì nước mưa nầy do từ đâu sinh
?
Lại như sở dục của các chư thiên, nghĩ là được. Như người
ngồi thiền và những người đại công đức, sở dục tùy ý. Các điều
nầy đâu có duyên do gì, đâu phải chỉ là nghiệp ?
Lại như sắc tướng dứt nối rồi lại sinh nữa. Như người sinh về
cõi Vô săc, rồi sinh trở lại cõi Sắc. Sắc nầy lấy gì làm gốc ?
Hỏi : Tại sao có vật chỉ do nghiệp sinh, tại sao lại có vật đợi
trợ duyên bên ngoài mới sinh?
Đáp : Nếu có chúng sinh nghiệp lực yếu nên phải nhờ hạt
giống của các duyên trợ giúp mới thành. Nếu nghiệp lực mạnh thì
không cần ngoại duyên.
Lại nữa, pháp là phải như vậy, hoặc có nghiệp, hoặc có pháp,
hoặc có sinh xứ, nhưng chỉ do nghiệp lực mà được, chứ không
cần ngoại duyên.
Lại nếu cần nhân duyên, thì nên nói hạt giống làm nhân cho
mầm v.v.... Vì sao phải nói do cứng v.v... sinh ?
Lại vì nghĩa gì mà do cứng v.v... sinh sắc v.v... mà không do
sắc v.v... sinh cứng v.v... ư ?
Lại nữa cứng v.v... có sắc v.v... cùng chung lại sinh, tại sao
nói do cứng v.v... có sắc v.v..., mà không do sắc v.v... có cứng
v.v...?
Thành Thật Luận Trang 102 Tuệ Quang Foundation
Lại pháp đồng thời sinh, thì không thể làm nhân cho nhau
được, như 2 cái sừng đồng sinh, không được nói tả hữu làm nhân
cho nhau.
Hỏi : Như đèn với sáng tuy đồng thời sinh, cũng nói sáng
nhờ đèn, đèn không nhờ sáng. Điều này cũng vậy ?
Đáp : Đèn với sáng không khác. Đèn do 2 pháp hợp thành: 1.
Sắc. 2. Xúc. Sắc tức là sáng, cho nên không được nói khác với
đèn. Ví dụ nầy, ông không suy nghĩ kỹ.
Hỏi : Sáng nầy từ đèn đi tản đến các nơi. Cho nên phải khác
?
Đáp : Không đi tản đến chỗ khác. Sắc sáng nầy hiện thấy ở
trong đèn. Nếu đi chỗ khác, thì khi đèn tắt cũng vẫn còn thấy
sáng, mà thật không thấy. Nên phải biết sáng nầy không khác đèn.
Hỏi : Lại có pháp đồng thời sinh cũng làm nhân quả cho
nhau, như cái thức trong hữu đối, lấy nhãn sắc làm nhân duyên,
chứ không phải nhãn sắc, lấy thức làm nhân duyên ?
Đáp : Không đúng. Nhãn thức lấy tâm trước làm nhân, lấy
nhãn sắc làm duyên. Bởi tâm trước diệt rồi làm sao đồng sinh ?
Lại nếu pháp tùy sở nhân mà sinh tức là nhân thành, nếu tâm
nhân nhờ tình trần mà có, tức là pháp do nhân thành.
Lại nữa, 4 đại tức là tạo sắc, vì là nhân sở sinh.
Lại hiện thấy vật ở thế gian do từ nhân giống nhau mà sinh,
như do lúa sinh lúa, do bắp sinh bắp. Như vậy do đất sinh đất,
không sinh nước v.v.... Cũng như do sắc sinh sắc. Cứ như vậy
v.v....
Hỏi : Cũng thấy có vật do từ nhân khác sinh, như trồng
ngược lông bò thì có cây xương bồ sinh, trồng sừng thì có cây lau
sinh ?
Đáp : Tôi không nói không do từ nhân khác sinh, chỉ nói
trong nhân giống nhau cũng sinh được. Cho nên nói từ sắc v.v...
Thành Thật Luận Trang 103 Tuệ Quang Foundation
sinh sắc v.v..., không chỉ từ 4 đại sinh. Cho nên không được nhất
định nói sắc v.v... từ 4 đại sinh.
Lại như ông nói do cứng v.v... hiển thị 4 đại. Cho nên cứng
v.v... là thật đại. Điều này không đúng. Sở dĩ vì sao ? Vì tướng
cứng v.v... quyết định có thể dùng phân biệt 4 thứ mềm v.v...
không nhất định. Hoặc ở trong nhiều thứ cứng, hoặc ở trong nhiều
thứ ướt. Cho nên không thể dùng phân biệt các thứ ấy được. Các
thứ khác cũng vậy.
Lại với xúc các cứng v.v... phân biệt thứ nào gọi là mềm
v.v.... Tại sao ? Nếu cho ướt cũng sinh được tính dẻo, mềm, trơn,
láng. Vì tướng cứng nhiều cho nên cứng rắn, thô rít như thế v.v....
Cho nên chỉ dùng tính cứng phân biệt 4 thứ.
Lại như trong kinh nói : Vì nương cứng nên hiển thị 4 đại sai
khác. Cho nên biết pháp nương cứng gọi là địa chủng, chứ không
phải chỉ là tướng cứng. Cho nên nói tướng cứng là nhân thành địa.
Lại với trong sự tạo thành địa, tướng cứng là nhân vượt trội,
cho nên đặc biệt nói đến nó, các tướng khác cũng vậy.
Lại do đặt danh tự có bao nhiêu cứng nương cứng đều gọi
địa chủng.
Hoặc lại có người chỉ nói tướng cứng là địa chủng. Vì muốn
phá nghĩa nầy nên Phật mới nói cứng nương cứng là địa chủng.
Các đại khác cũng như vậy.
Lại trong nhiều tướng cứng, vì cứng nhiều nên có 2 thứ nói.
Trong tất cả thứ nhiều đều có cứng v.v... các xúc. Nếu cứng
nương cứng, gọi là địa chủng; hoặc ướt nương ướt, gọi là thủy
chủng; hoặc nóng nương nóng, gọi là hỏa chủng.
Lại cứng là nhân vượt trội thành địa, cho nên đối với trong
ấy gọi là địa thành. Trong giả danh nhân duyên, có giả danh danh
tự, như nói ta thấy người chặt rừng.
Lại như người nói có 2 thứ nói. Điều này không đúng. Nếu
tùy theo thứ nói là thật, thì 12 nhập v.v... không phải thật. Cho
Thành Thật Luận Trang 104 Tuệ Quang Foundation
nên nhân nhãn duyên sắc mới có nhãn thức sinh, vậy là không
phải thật, vì không nói thứ nào. Đó là tà luận.
Lại như Phật nhập Hỏa chủng định, từ thân Phật phóng ra
nhiều thứ sắc lửa; trong ấy thứ nào là hỏa chủng ? Do sắc v.v...
thành hỏa, không phải chỉ có tướng nóng.
Lại như Phật nói thân nầy là cái hòm nhỏ, trong chỉ đựng
những tóc lông móng tay v.v.... Như trong kinh nói : Trong thân
nầy có tóc lông móng tay v.v.... Do đó tóc lông móng v.v... là địa
chủng chứ không phải lấy có 2 thứ lời nói mà gọi là thật pháp.
Lại trong Kinh Chủng Tử nói : Nếu có địa chủng mà không
có thủy chủng thì các hạt giống không thể sinh trưởng được.
Trong đây thứ nào là địa chủng ? Nghĩa là giả danh ruộng, không
không phải chỉ là tướng cứng. Thủy cũng giả danh, không phải
chỉ là tướng ướt.
Lại một pháp mà 2 thứ vừa thật vừa giả danh là không thể
được. Cho nên sắc v.v... là thật.
Lại nhãn v.v... vì giả danh nên có các đại cũng thật cũng giả
danh, đó cũng là tà luận.
Lại trong Kinh Lục Chủng, Phật nói tóc lông móng v.v... gọi
là địa chủng.
Lại trong Kinh Tượng Bộ Dụ cũng nói tóc lông móng v.v...
là địa chủng.
Lại nữa, lấy nghĩa gì nói chủng là thật, mà không nói chủng
là giả danh ? Và nghĩa nầy không phải chép trong kinh.
Lại như ông nói Phật nói trong con mắt có bao nhiêu cứng
nương cứng là địa v.v..., Phật dùng lời nầy để chỉ rõ 5 căn do 4
đại mà thành. Hoặc có người nói do từ ngã sinh căn, hoặc bảo lìa
đại riêng có căn, hoặc nói các căn do các thứ tính sinh, nghĩa là từ
địa đại sinh tĩ căn v.v.... Vì Phật muốn dứt các chấp nầy nên mới
nói nhãn v.v... các căn do 4 đại hợp thành, không có thật pháp.
Thành Thật Luận Trang 105 Tuệ Quang Foundation
Lại do phân biệt mà thành giả danh nhân duyên, thì giả danh
cũng không có.
Lại trong thịt nầy có 4 phần cứng nương cứng v.v..., Phật
dùng lời nầy để chỉ trong các vật có là do từ 4 đại sinh.
Lại ông nói Phật không nói trong phong có nương, nên gọi là
thật đại, Điều này không đúng. Sở dĩ vì sao ? Vì tính nhẹ trong
phong là tướng vượt trội, không phải nương pháp nhẹ. Trong địa
v.v... nương pháp cứng v.v... là vượt trội, phong thì không phải
vậy. Lại nương pháp nhẹ ít, nên không nói.
Lại như ông nói : Nếu nói 4 đại là giả danh thì rời tướng đại,
điều này không đúng. Như cứng nương cứng do 4 đại sinh, gọi là
địa chủng, chứ không gọi vật khác đến nương. Nếu pháp khác
tướng, thì không gọi là nương nhau, mà là rời nhau.
Hỏi : Sinh, thì không gọi là nương, mà nương là vật khác đến
nương ?
Đáp : Danh tự là nương, chứ không phải vật khác đến nương,
vì sinh pháp sai khác. Như nói hư không phổ biến đến khắp cả,
mà sự thật là không đến đâu cả.
Lại ông nói 4 đại chung sinh, điều này không đúng. Như
trong ánh sáng mặt trời, chỉ có sắc và có thể tiếp xúc cái nóng
được, chứ không có pháp gì khác. Trong ánh sáng mặt trăng, chỉ
có sắc và có thể cảm xúc cái mát lạnh, mà không có pháp gì khác.
Cho nên không phải trong tất cả vật đều có 4 đại. Như có vật
không có mùi vị như kim cương v.v..., có vật không hương như
vàng bạc v.v..., có vật không sắc như hơi ấm trong nhà v.v..., có
vật không nóng như mặt trăng v.v..., có vật không lạnh như lửa
v.v..., có vật động nhau như gió v.v..., có vật không động như tảng
đá v.v.... Như vậy hoặc có vật không cứng, hoặc có vật không ướt,
hoặc có vật không nóng, hoặc có vật không động. Cho nên 4 đại
không phải không rời nhau.
Thành Thật Luận Trang 106 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Vì nhờ nhân duyên bên ngoài, nên tính các đại phát ra.
Như vàng trong đá v.v... có tướng chảy, chờ khi có lửa thì phát ra.
Trong nước có tướng cứng, nhờ lạnh thành băng giá. Trong gió có
tướng lạnh nóng, nhân khi nước lửa thì phát ra. Trong cỏ cây có
tướng động, khi có gió phát ra. Cho nên trước sẵn có tự tính, rồi
nương nhờ duyên ngoài mà phát sinh ra. Cho nên biết 4 đại không
thể lìa nhau được. Nếu không sẵn có bản tính thì làm sao phát ra
được ?
Đáp : Nếu như vậy thì trong gió hoặc có hương, hương phải
có ở trong gió, như hương ướp trong dầu, hương phải có ở trong
dầu. Điều này không đúng. Lại không do các đại sinh tạo sắc,
như do ướt sinh ướt. Như vậy do sắc sinh sắc.
Lại nếu không rời nhau, thì trong nhân có quả, như đồng nữ
có con; trong đồ ăn có bất tịnh v.v.... Chúng tôi không nói trong
nhân có quả. Tuy trong sữa không bơ, mà bơ từ sữa sinh. Như vậy
cần gì nhớ tưởng phân biệt bảo 4 đại cùng sinh không rời nhau ư ?
Phẩm 41 : Làm sáng tỏ bản tông
Trước ông nói : Chúng tôi không nói 4 đại với sắc hoặc một
hoặc khác, cho nên không có lỗi. Điều này không đúng. Sở dĩ vì
sao ? Vì các ngoại đạo muốn thành lập thuyết thần ngã, nên lấy 4
đại là một là khác làm thí dụ. Cho nên Phật đối với trong giả danh
lấy 4 đại làm thí dụ, mới nói nghĩa 4 đại. Nếu không phải như vậy
thì không nên nói. Người thế gian đều tự nhiên biết địa v.v... 4 đại
mà không thấu rõ thật tính, cho nên mới vì nói, mà không nói cái
tay v.v.... Nếu cho cứng v.v... là 4 đại, thì có lợi ích
gì ?
Lại như ông nói nghĩa nương có 2 thứ là các đại là thật. Điều
này chưa rõ. Phải biết nghĩa nương nầy khác, đó tức là giả danh.
Lại ông nói tùy tục mà nói không phải là thật đại. Điều này
không đúng. Sở dĩ vì sao ? Vì hoặc trong kinh sách, hoặc người
Thành Thật Luận Trang 107 Tuệ Quang Foundation
đời đều không cho không nhân duyên mà đó trong sắc v.v... đặt ra
tên 4 đại. Như người đời nói : Tôi thấy người. Trong sắc v.v... nói
tên người, chứ không phải không nhân duyên. Nếu không có nhân
duyên mà miễn cưỡng đặt tên, vậy thì thấy ngựa nên nói là người,
mà thật đâu phải vậy được.
Lại vì cớ chi mà không đối với tiếng nói là đất ? Người đời
thường nói tiếng đất mà không bao giờ nói đất là tiếng. Nếu
không nhân duyên mà miễn cưỡng đặt tên, thì cũng có thể nói
tiếng là đất được. Mà thật không phải nói vậy được. Cho nên sắc
v.v... 4 pháp là địa. Trong địa phần, gọi tên địa. Như sắc là nhân
thành giả danh, trong đó gọi tên người, trong cây gọi tên rừng,
trong Tì-kheo gọi tên Tăng. Như vậy trong pháp sắc v.v... gọi tên
tứ đại.
Lại ông nói 6 xúc nhập, hoặc nhân 6 xúc nhập tạo thành.
Kinh nầy không phải như vậy. Như trong pháp ông, tạo sắc không
có chỗ có thể sinh. Trong pháp tôi cũng vậy, trong giả danh lại
không có sở sinh. Cho nên kinh nầy không nên có, nếu có nên đổi
nghĩa nầy đi.
Lại ông nói nhân 4 đại tạo sắc thanh tịnh nên gọi là nhãn.
Điều này không phải như vậy. Bốn đại hòa hợp giả danh là nhãn.
Phật gọi 4 đại là sắc, sắc thanh tịnh nên gọi là nhãn.
Lại tuy ông nói pháp trụ trong pháp, không nương không
chủ, tức là có nương chủ, vì nghĩa trụ là nương, pháp bị nương là
chủ.
Lại ông nói tướng cứng có thể duy trì v.v…, Điều này không
phải vậy. Không phải chỉ có tính cứng có thể duy trì mà nhờ nhiều
nhân duyên khác nữa. Các thứ khác cũng như vậy. Cho nên 4 đại
là giả danh có.
Phẩm 42 : Không có tướng cứng
Thành Thật Luận Trang 108 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Ông nói sắc v.v... nhiều cứng thành địa đại. Cho nên
địa v.v... là giả danh. Điều này không đúng. Sở dĩ vì sao ? Vì pháp
cứng còn không có, huống là giả danh địa. Nếu cục đất bùn là
cứng, cục đất bùn cũng tức là mềm. Cho nên biết tướng cứng
không nhất định.
Lại vì ít nhân duyên nên sinh tâm biết cứng, nếu vi trần hợp
sưa, gọi là mềm, hợp dày gọi là cứng. Cho nên không nhất định.
Lại trong một pháp không có 2 chạm xúc, khiến tâm nầy sinh
biết thân cứng mềm không nhất định. Vì đối đãi nhau mà có, như
thấy tấm Khâm-bạt-la thì gọi là mền vì nó mềm, mà gọi là nệm vì
nó cứng. Xúc pháp không nên đối đãi nhau mà có.
Lại tự thấy vàng đá, thì biết là xúc cứng, không phải mắt có
thể biết được cho nên không có cứng. Vì các nhân duyên nầy nên
các xúc như mềm v.v... cũng đều không có.
Phẩm 43 : Có tướng cứng
Đáp : Thật có tướng cứng. Tuy ông nói cục bùn là cứng, cục
bùn tức là mềm. Điều này không đúng. Sở dĩ vì sao ? Vì chúng tôi
không cho có pháp thật cục đất bùn, chỉ các pháp hòa hợp giả
danh cục bùn, nên không bị lỗi.
Lại ông nói vì nhân duyên ít nên sinh tâm biết cứng. Điều
này không đúng. Tôi thì trong vi trần hợp dày đặc, được thành
tướng cứng, nên gọi là cứng, không dày, được thành tướng mềm.
Cho nên không lỗi. Nếu pháp thành được thì gọi là có. Ông lại nói
trong một pháp không có 2 xúc. Điều này không đúng. Tôi thì
trong một pháp có thể được nhiều xúc cũng cứng cũng mềm. Ông
lại nói cứng mềm đối đãi nhau nên không nhất định. Điều này
không đúng. Vì như dài ngắn v.v... do đối đãi nhau mà có.
Lại như nếm vị đường phèn trắng, liền cho đường phèn đen
là đắng. Nếm vị Ha-lê-lặc, lại cho đường phèn đen là ngọt. Nếu vì
đối đãi nhau nên không có, thì vị cũng không.
Thành Thật Luận Trang 109 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Trong đường phèn đen có 2 thứ vị vừa ngọt vừa đắng
chăng ?
Đáp : Trong tấm vải cũng có 2 xúc, vừa cứng vừa mềm.
Lại như nói thấy đá biết cứng, do trước kia đã có xúc nên nay
so sánh biết. Như thấy lửa biết nóng, nóng không thấy được.
Lại như người thấy vải Khâm-bạt-la sinh nghi là cứng hay
mềm ? Cho nên xúc không phải mắt thấy được. Do đó nên có
cứng v.v... các xúc.
Lại thật có cứng v.v.... Sở dĩ vì sao ? Vì có thể khởi tâm phân
biệt. Nếu không cứng làm sao phân biệt được ? Lại cứng có thể
cùng tâm làm duyên và cũng làm ra nghiệp khác nghĩa là đập,
ném đi v.v...,
Lại với mềm ướt trái nhau nên gọi là cứng.
Lại do có thể duy trì nhân duyên nên gọi là cứng.
Lại có thể trở ngại cái tay v.v… nên gọi là cứng. Lại chúng
tôi hiện biết là cứng. Trong sự hiện biết không cần nhân duyên.
Lại do bởi việc thế gian được gọi là cứng. Các thứ khác cũng
như thế, cho nên biết có cứng.
Phẩm 44 : Tướng của 4 đại
Hỏi : Tôi đã biết có pháp cứng nầy, nhưng nay thấy vàng
nóng thì chảy, nước lạnh thành băng. Vàng này do cứng nên thuộc
đất, chảy nên thuộc nước ?
Đáp : Mỗi pháp có tự tướng riêng. Như pháp cứng nương
cứng là địa chủng; như ướt nương ướt là thủy chủng v.v....
Hỏi : Vàng cứng thì bị tiêu chảy, nước ướt thì đóng băng. Tại
sao các đại không bỏ tự tướng ? Như trong kinh nói : Tướng 4 đại
hoặc có thể biến đổi. Người được tứ tín không thể được gì khác ?
Đáp : Tôi không lấy cứng làm chảy, lấy ướt làm cứng. Có
điều là cứng và chảy là nhân, ướt và cứng là nhân. Cho nên không
bỏ tự tướng.
Thành Thật Luận Trang 110 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Trong A-tì-đàm nói : Ướt là tướng nước. Hoặc có
người nói : Chảy là tướng nước. Trong kinh nói : Thấm là tướng
nước. Rốt cuộc cho đàng nào là thật ?
Đáp : Chảy, ướt, thấm đều là biệt danh của nước.
Hỏi : Chảy là hành nghiệp của nước, vì là pháp mắt thấy
được. Cho nên chảy không phải ướt thấm ?
Đáp : Vì ướt thấm nên chảy, ướt nên chảy rút xuống. Cho
nên chảy tức là thấm, mà ướt thấm cũng là tướng của nước, chảy
là nghiệp của nước.
Hỏi : Trong gió nói tướng nhẹ động. Nhẹ khác, động khác.
Nhẹ là thuộc về xúc nhập, động thuộc về sắc nhập. Nay có thể cho
cả 2 là pháp là gió được sao ?
Đáp : Nhẹ là tướng của gió; động là nghiệp của gió. Tướng
với nghiệp hợp lại nói.
Hỏi : Không có tướng động, vì các pháp niệm niệm diệt, nên
không đến chỗ khác. Vì có đến chỗ khác mới gọi là động. Đến, đi,
động là đồng một nghĩa vậy ?
Đáp : Tôi chỉ dùng thế đế nên mới gọi là nghiệp, chứ không
phải đệ nhất nghĩa. Nhờ pháp nhẹ nầy, chỗ khác pháp sinh được
gọi là nghiệp. Lúc bấy giờ gọi là đi.
Hỏi : Tướng nhẹ không nhất định. Sở dĩ vì sao ? Vì đối đãi
mới có. Như vật 10 cân, đối với 20 cân là nhẹ, với 5 cân là nặng ?
Đáp : Pháp nặng, pháp lường, nhờ tâm v.v... các pháp đối đãi
nhau mà có. Như hoặc có pháp đối đãi nên dài, hoặc có pháp đối
đãi nên ngắn. Tướng chung là nhờ tâm nên mới có tướng riêng.
Nếu pháp nhẹ vì đối đãi nhau nên không có, thì các pháp nầy cũng
phải đều không, mà đâu phải vậy. Cho nên đối đãi nhau không
phải là nguyên nhân chính.
Lại nhẹ không phải đối đãi nhau mà có, vì không thể cân
được nên có. Vật không thể cân được như gió trong đãy. Cho nên
Thành Thật Luận Trang 111 Tuệ Quang Foundation
không phải đối đãi nhau mới có. Chỉ pháp nặng đối đãi nhau, vì
không có vật nặng nào mà không cân được.
Hỏi : : Nếu không cân được gọi là nhẹ. Vậy thì trừ nặng, còn các
pháp sắc thấy, không cân được, đều phải là nhẹ, mà đâu phải vậy.
Cho nên ông đã nói không phải là tướng nhẹ ?
Đáp : Ý chúng tôi nói lìa sắc v.v..., lại không pháp gì khác
gọi là nặng. Pháp sắc v.v..., hoặc có sinh tính cân được. Như cứng
không cứng, sức không sức, mới, cũ, mục không mục, tiêu không
tiêu, thô nhuyễn v.v..., đều không lìa sắc v.v... mà có tướng nặng.
Cũng như vậy, các sắc nầy hoặc thuộc địa thủy thì cân được; hoặc
thuộc phong hỏa thì cân không được.
Hỏi : Nếu pháp nặng không lìa sắc thì pháp nhẹ cũng phải
không lìa sắc mà có chứ ?
Đáp : Nhưng lìa sắc v.v..., không riêng có pháp nhẹ. Chỉ có
sắc v.v... hòa hợp là nhẹ.
Hỏi : Không phải vậy. Muốn phân biệt nặng nhẹ, ắt phải
dùng thân căn. Cho nên nặng nhẹ không phải sắc v.v...?
Đáp : Như phân biệt cứng v.v..., hoặc dùng mắt, hoặc dùng
tai v.v.... Những vật cứng này không lìa sắc. Nhẹ nặng cũng như
vậy. Tuy dùng thân căn, trong ấy lại không có tướng gì khác.
Lại thân căn không xúc không sinh thân thức. Tướng nặng
nầy tuy thân chưa chạm xúc, mà cũng có thể sinh thức. Như vật
nặng tuy dùng vật gói cầm mà cũng biết là nặng.
Hỏi : Không phải lúc bấy giờ biết là tướng nặng ?
Đáp : Như người mặc áo tuy không chạm xúc nhau, nhưng
cũng được biết họ có hay không có sức mạnh. Nhẹ nặng cũng
như vậy. Sở dĩ vì sao ? Vì do các thứ xúc sinh các thứ biết về
thân. Như hoặc bởi đè bấm sinh biết cứng mềm, hoặc bởi cử động
sinh biết nhẹ nặng, hoặc bởi nắm bắt sinh biết mạnh yếu; hoặc bởi
tiếp xúc sinh biết lạnh nóng, hoặc bởi xoa vuốt sinh biết rít trơn
hoặc bởi bóp nắn sinh biết cứng yếu, hoặc bởi cắt đâm, hoặc bởi
Thành Thật Luận Trang 112 Tuệ Quang Foundation
roi gậy sinh biết khác thứ. Hoặc có thứ xúc thường ở trong thân,
không phải như lạnh nóng v.v... từ bên ngoài đến. Nào là khoan
khoái, mệt mỏi, không mệt mỏi, hoặc bị bệnh, hoặc lành bệnh,
thân lợi thân độn, biếng nhác, mê muội, tỏ mờ, đau đớn tê liệt, rên
rỉ, đói khát, no nê, thèm muốn, không thèm muốn, mờ ám v.v...
các thứ xúc, đều sinh biết khác nhau.
Hỏi : Nếu tướng nhẹ nặng tức trong các sắc v.v... thì làm sao
với trong sắc v.v... đem thân thức duyên biết được ?
Đáp : Không phải trong các sắc v.v... dùng thân thức duyên
biết, chỉ trong xúc này có phần ít do thân thức duyên, như cứng
không cứng v.v... tuy ở trong các sắc v.v..., hoặc dùng mắt thấy
được biết. Lại như khoan khoái v.v... là do các sắc v.v..., nhưng
cũng dùng thân thức phân biệt. Điều này cũng như vậy.
Hỏi : Nếu nhẹ nặng chỉ là xúc thì có lỗi gì, cần gì phải dùng
phân biệt các sắc v.v... ?
Đáp : Như người đời nói lúa mới lúa cũ. Tướng mới cũ là
phải khác sắc v.v..., mà thật không phải vậy. Chỉ có sắc v.v... mới
sinh gọi là mới. Nếu tướng mới nầy là tướng nặng của các sắc
v.v... thì sao không phải ?
Hỏi : Nếu các sắc v.v... tức là nhẹ nặng v.v... thì tướng nhẹ ở
trong lửa gió, thì các sắc nhẹ nhiều phải gọi là gió chứ ?
Đáp : Tùy tướng nào nhiều tức gọi là đại. Trong lửa cũng có
tướng nóng nhẹ. Vì nóng nhiều nên gọi là lửa, chứ không lấy nhẹ
nhiều mà gọi là lửa được. Trong gió chỉ có nhẹ không nóng. Cho
nên chỉ lấy nhẹ mà gọi.
Lại chúng tôi không những lấy nhẹ gọi là gió, mà nếu nhẹ
nặng làm nhân cho động, thì cũng gọi là gió. Như trong kinh nói :
Tướng nhẹ động gọi là gió. Với trong đây tướng nhẹ là gió, động
là nghiệp của gió.
Hỏi : Gió có thể làm sập núi. Nếu là vật nhẹ làm sao sập núi
được ?
Thành Thật Luận Trang 113 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Gió bạo mà có sức mạnh, thế lực nó có thể như vậy.
Nếu như có gió có thể động cộng cỏ nhỏ, hoặc có thể xô núi sập,
phải biết đó là nghiệp dụng của gió như vậy.
Hỏi : Nay địa v.v... các đại đều là các sắc hương vị xúc,
không sai khác ư ?
Đáp : Không nhất định. Như nói trong đất có sắc hương vị
xúc. Hoặc chỉ có sắc xúc, như vàng bạc v.v.... Hoặc trong nước có
sắc hương vị xúc, hoặc có 3 là sắc, vị và xúc. Hoặc trong lửa có
sắc hương vị xúc, hoặc có 3 thứ là sắc hương xúc, hoặc chỉ sắc
xúc. Trong gió hoặc có xúc không hương, hoặc có cả hương xúc.
Cho nên không nhất định.
Hỏi : Phong xúc như thế nào ?
Đáp : Lạnh nóng cứng mềm yếu v.v... các xúc. Nếu tùy các
đại nối nhau không rời để có thể biết, thì đó là đại xúc.
Hỏi : Có thầy thuốc bảo sắc gió là đen. Sự thật như thế nào ?
Đáp : Gió với sắc đen là nhân. Như người bị cảm gió trong
miệng có vị đắng, nhưng người thầy thuốc không nói trong gió có
vị. Đó tức gió và vị là nhân.
Hỏi : Có người nói gió lạnh mà không nói gió nhẹ. Sự thật
như thế nào ?
Đáp : Không có chuyện gọi lạnh là gió. Như băng tuyết lạnh
mà không gọi là gió.
Lại gió và lạnh tên khác nhau. Sở dĩ vì sao ? Vì như gió nóng
và gió không lạnh không nóng, cũng gọi là gió. Cho nên cần y
theo các nhẹ gọi là gió.
Lại không sinh pháp sắc xúc v.v... gọi là gió, chứ không phải
lạnh là gíó.
Hỏi : Nếu gió có sắc vị thì có lỗi gì ?
Đáp : Sắc vị không thể có trong gió được. Nếu nói tuy có mà
vì quá vi tế nên không thể biết được, nhưng trong tâm cũng nên
Thành Thật Luận Trang 114 Tuệ Quang Foundation
nhớ tưởng phân biệt cho là có sắc vị, thì Điều này cũng không
đúng.
Lại nữa, chúng tôi không nói trong nhân có quả. Cho nên nếu
việc trong quả có, thì bất tất trong nhân có trước. Đây gọi là thành
lập 4 đại là thật.
THÀNH THẬT LUẬN
CÒN NỮA