Thứ Sáu, 15 tháng 11, 2013

Mộng Du Tập: Trích Quyển Mười Hai


~Trích Quyển Mười Hai~
Pháp Ngữ Tịch Chiếu Khải Công
Thỉnh Ích 8 Tắc
       1. Hỏi:
       Kinh nói: “Huệ thanh tịnh vô ngại đều do thiền định sanh”. Tại sao Nam Nhạc bảo Mã Tổ rằng:
       Nếu học đạo tọa thiền, thì thiền chẳng phải là ngồi, nằm. Nếu học làm Phật, thì Phật chẳng phải là tướng định. Ở nơi pháp vô trụ, chẳng nên thủ, xả?
       Hai thuyết này dường như có một đúng, một sai.
       Đáp:
       Dưới cửa Tổ Sư, chẳng luận ngồi thiền hay làm Phật, chỉ quý kiến tánh. Nếu thấy tự tánh, rõ ràng phân minh thì không có thủ, xả. Vừa có thủ xả liền rơi vào đúng sai.
       2. Hỏi:
       Kinh Viên Giác nói: “Tứ đại của ta bây giờ nghĩa là các thứ cứng, ướt, ấm, động, mỗi thứ hoàn lại cho đất, nước, lửa, gió. Thế thì khi tứ đại mỗi thứ chia lìa, vọng thân này sẽ ở chỗ nào? Chưa rõ thân này lúc chưa chết, mỗi thứ có lìa không? Hay đợi chết rồi mỗi thứ mới lìa?
       Đáp:
       Cốt lúc chưa chết vứt xuống được, lúc sắp chết chẳng bị nó làm lụy. Đợi đến lúc chết muốn lìa thì khó rất khó như rùa sống lột mai. Người xưa nói: “lúc nhàn làm, để lúc vội dùng” chính là đây vậy.
       3. Hỏi:
       Kinh Lăng Nghiêm nói: “Anan bạch Phật rằng:
       - Từ đâu nhiếp phục gốc phát tâm để nhập tri kiến Phật?
       Phật bảo:
       - Các ông muốn vào tri kiến Phật, phải nên quán kỹ: nhân địa phát tâm cùng với quả địa giác ngộ là đồng hay khác? Nếu nơi nhân địa đem tâm sanh diệt làm gốc tu nhân mà cầu Phật thừa bất sanh bất diệt, thì không thể được?
Chưa rõ hiện giờ cái tâm muốn ra khỏi sanh tử tham thiền học đạo, có phải là tâm sanh diệt không?
       Đáp:
       Người học tham thiền, trước hết đoạn tâm sanh diệt, đến lúc phát minh thì thấy được tánh chẳng sanh diệt. Nếu dùng tâm sanh diệt để tham thì chỉ là theo vọng tưởng lưu chuyển chứ chẳng phải là tham cứu.
       4. Hỏi:
       Thiền sư Bách-trượng Hoài Hải nói:
Tham kiến thiện tri thức, tìm cầu một chút hiểu biết là ma thiện tri thức, vì việc đó sanh ngữ kiến vậy.
       Nếu phát 4 thệ nguyện lớn, nguyện độ tất cả chúng sanh rồi mới thành Phật thì đó là ma Bồ Tát pháp trí, vì thề nguyện chẳng xả vậy.
       Nếu trì trai giới, tu thiền, học huệ là thiện căn hữu lậu, thì dù có ngồi đạo tràng thành Đẳng chánh giác, độ người như số cát sông Hằng, tận chứng quả Phật Bích Chi đó là ma thiện căn, do khởi tham đắm vậy.
       Nếu ở các pháp đều không tham nhiễm chỉ còn thiền lý, thiền định rất sâu, lại không tăng tiến, đó là ma tam muội, do đam mê nghiền ngẫm lâu dài.
       Nay người tham thiền học đạo làm sao khởi được ma này để vào đường tu hành chân chánh?
       Đáp:
       Các người tu hành chỉ vì chẳng quên tâm, kiến nên động theo lưới ma. Nếu tâm, kiến tiêu mất thì Phật cũng chẳng lập.
       5. Hỏi:
       Phá 4 đại, 5 ấm, có trước sau chăng?
       Đáp:
       Kinh nói: 5 ấm phá từ từ, ắt phá sắc ấm trước. Nếu tham thiền đánh bể thùng sơn thì phá thức ấm trước. Thức ấm đã phá thì 4 đại không chỗ nương. Nên như cắt nước, thổi ánh sáng. Trọn không chạm nhau.
       6. Hỏi:
       Bốn câu kinh Kim Cang, xưa nay chưa có ai nói rõ. Hoặc chỉ sắc, thanh, hương v.v... là bốn câu. Hoặc chỉ mắt, tai, mũi, lưỡi là 4 câu, hoặc chỉ các tướng chẳng phải tướng v.v..., hoặc chỉ có đế, không đế v.v... Đến Thiên Thân thì nói: “Ta lên Đâu Suất Đà Thiên, thỉnh hỏi Đức Từ Thị, thì Ngài bảo là không ngã tướng, không nhân tướng, không chúng sanh tướng, không thọ giả tướng”. Lục Tổ thì nói là Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa. Đại Sĩ Song Lâm lại nói: “Trong kinh trì 4 câu, nên phải không rời thân, người ngu xem tợ mộng, người trí chỉ thấy chân”. Từ xưa đến nay chẳng hề có lời nhất định là sao?
       Đáp:
       Phật nói Bát Nhã như các thứ cỏ trên núi Tuyết, cái nào cũng là thuốc. Cần đến liền dùng, nhất định trừ hết bịnh. Nên cổ nhân đưa ra điều gì là bốn câu, mỗi đều là một cọng cỏ của núi Tuyết vậy.
       7. Hỏi:
       Cổ nhân nói: “Thuần thanh tuyệt điểm” vẫn là chân thường lưu chú. Dù được “Không một pháp xứng tình” vẫn bị Ngưỡng Sơn kiểm điểm. Dù được “Khắp thân là chiếu”, vẫn ở chỗ rũ tay của con nhà nạp tăng. Dù được “ở mé Oai Âm trước bảy Phật tiến thủ”, vẫn là hội ở lời nói. Nay người học, quả thật có đến cảnh giới này chăng?
       Đáp:
       Cổ nhân chỉ dạy, chỉ vì sợ người lạc ở giữa đường, người học dù đến đây, cũng là việc ở giữa đường, huống là chưa đến đây, mà mở miệng nói Thiền, đều là tâm lừa dối.
       8. Hỏi:
       Đại Sư Viên Ngộ nói: “Có Tổ về sau, chỉ cốt truyền riêng chỉ thẳng, lấy lời đuổi lời, dùng cơ đoạt cơ, đem dụng phá dụng. Do đó có sự phân chia chi phái, mỗi phái chuyên chiếm môn phong. Phải là người có căn khí hướng thượng, có chí thiệu long thánh chủng, sau đó thâm nhập được vào chỗ uyên áo, mới có thể được ấn chứng.” Điều này phải được xem là quý báu, sâu kín, chớ cho là dễ dàng. Nay thấy người học, phần đông chẳng xét căn khí của mình, liền muốn tham cứu việc hướng thượng. Quả thật không cần luật căn khí chăng?
       Đáp:
       Tổ sư chọn người luận căn khi tức như trong kinh Phật luận về chủng tánh. Nếu chẳng phải chủng tánh loại này, rốt cuộc cũng chỉ là dính da, bám xương. Nay người căn khí chẳng trong sạch, nhất định không được dự phần vào việc này. Nếu ai chịu lưu tâm đến việc này, từ đây chẳng lui sụt, lâu dần có thể thăng tiến. Đây là người thuộc hạng bất định tánh.

Am Vương Giới Chu Bạch Dân
Thỉnh ích
       1. Hỏi:
       Phật nói đến đốn giáo, tiệm giáo. Thiền mở đốn môn, tiệm môn. Hai giáo, hai môn là đồng hay khác?
       Đáp:
       Phật tổ ra đời, vốn không pháp có thể thuyết. Nhưng pháp vốn không thuyết, thì đâu có đốn, tiệm mà sai biệt? Nói đốn tiệm là chỉ vì căn cơ mà bày, chẳng liên can đến pháp.
       Giáo có đốn tiệm là như Phật Tỳ Lô Giá Na lúc mới thành chánh giác, tại đạo tràng Bồ Đề nói Kinh Hoa Nghiêm, chóng chỉ pháp môn tâm địa pháp giới bình đẳng. Chỉ thẳng không sót. Như mặt trời vừa mọc trước chiếu núi cao. Sau những nhà phán giáo gọi là pháp môn viên đốn. Đây là đốn pháp của Phật chỉ dành cho một loại chúng sanh đại căn địa thượng, trong đó có bốn mươi hai thứ lớp. Đây là tiệm trong đốn vậy.
       Ngoài ra, những người căn cơ hạ-liệt tại tòa như mù, như điếc, tuyệt nhiên không có phần. Đó là pháp tuy lớn mà nhiếp cơ chẳng rộng. Tức chỗ Kinh nói: “Chỉ có một cửa mà lại nhỏ hẹp”. Như thế, há Phật thuyết pháp riêng cho một người sao? Do đó Phật hiện Ứng Hóa Thân thuyết pháp ba thừa tùy theo ba căn cơ mở bày. Ban đầu từ tiệm tu chứng, nghĩa là tiệm giáo vậy.
       Sau đến Lăng-Già, Pháp-Hoa, Niết-bàn chóng chỉ chủng tử Phật tánh. Đó là do tiệm mà đến đốn vậy. Đây là sự phân đốn tiệm của Giáo.
       Còn cửa Thiền, các kinh đều nói trong lục độ của Bồ Tát có hai độ là Thiền định và trí huệ. Bồ tát phán giáo căn cứ hai độ mà khai mở hai môn Chỉ Quán làm gốc tu hành. Đây là ở trong giáo dùng đốn mà tiệm tu, ở thiền là tiệm trong đốn. Thiền Đạt Ma là nhân Thế Tôn sau cùng đưa cành hoa, Ca Diếp “phá nhan vi tiếu” (tươi mặt mỉm cười). Phật bèn dạy đó là chánh pháp nhãn tạng, Niết Bàn diệu tâm. Rồi thành ý chỉ giáo ngoại biệt truyền. Tại Tây-Vức truyền đến 28 đời, rồi Đạt Ma qua Tàu truyền sáu lần, đến Tào Khê trở xuống, Truyền Đăng có ghi các Tổ là thiền “Truyền riêng chỉ thẳng một tâm”. Thiền trong lục độ chẳng thể so với đây được. Vì đây riêng dạy một tâm, lại không pháp khác. Ngay đó chóng thấy tự tâm, chẳng thuộc nhân quả tu chứng mê ngộ. Đặc biệt hiển bày chỗ Phật chưa xuất thế, đây là một đường hướng thượng gọi là đại thừa đốn giáo. Đó là đốn của thiền.
       Đến như lịch đại tổ sư, đốn ngộ tâm này, tuy ngay một lời, một câu, một gậy, một hét, liễu ngộ thẳng tắt, cũng do nhiều đời tu tập, gốc Bát Nhã sâu, lúc nhân duyên đến, ngày nay thành thục. Cũng có người đời này tham cứu, công phu hai ba mươi năm, sau đó được ngộ. Như vậy, tuy đốn cũng từ tiệm mà thành. Như Quy Sơn nói: “Người học nếu có thể một niệm liễu ngộ tâm mình thì gọi là ngộ. Nhưng còn vô minh từ vô thủy trôi chảy nhỏ nhiệm, đem cái ngộ trừ sạch hiện nghiệp lưu thức, thì gọi là tu. Chẳng phải ngoài đây ra lại có cái tu khác. Lấy đây mà quán thì trong đốn chưa từng có không tiệm. Tôi thường xem Lăng Già, phân bốn môn đốn tiệm:
       1/ Đốn đốn
       2/ Đốn tiệm
       3/ Tiệm đốn
       4/ Tiệm tiệm
       Nên biết việc này chẳng thể chấp cứng mà luận. Tuy đốn ngộ mà chẳng bỏ tiệm tu. Tâm Phật và tổ vốn không hai vậy.
       2. Hỏi:
       Phật thuyết các kinh đều luận đàm xứng tánh, toàn là ý chỉ liễu nghĩa. Tại sao nói Đạt Ma từng khen Lăng Già rằng: “Kinh này là tâm yếu của ta”. Đến Hoàng Mai thì chỉ dùng Kim Cang. Còn các kinh khác có sai biệt gì không?
       Đáp:
       Phật thuyết các kinh đại thừa, tuy là bàn về liễu nghĩa xứng tánh nhưng là dựng lập cửa giáo hóa chẳng lìa mê ngộ, tánh tướng đối đãi. Cốt yếu phản vọng về chân, đều có sự hòa hội mới hiển nhất chân. Đến kinh Lăng Già chỉ thẳng một tâm, tuy có chân vọng mà dạy thức tàng tức Như Lai tàng, chẳng cần hòa hội. Riêng hiển bày cảnh giới Tự Giác Thánh Trí. Nếu rõ vọng tưởng từ tâm hiện, không có tự tánh, tức là Thánh Trí chẳng cần chuyển nữa. Nghĩa là lối tu hành này chỉ quán ngay tự tâm lưu trú, vọng tưởng hiện lượng, mau đạt được tự tâm, cũng chẳng lập địa vị, lập giai cấp; nên nhà phán giáo gọi là pháp môn đốn giáo. Cho nên Đạt Ma lấy kinh này làm tâm ấn, để dạy yếu quyết thiền tông, vì kinh này khó rõ, hạng hiểu kém khó thâm nhập nên truyền đến Hoàng Mai thì lấy kinh Kim Cang ấn tâm.
       Kinh Kim Cang là một trong tám bộ Bát Nhã, văn có 600 quyển, chỉ riêng quyển này hợp tâm ấn Tổ Sư. Lấy Bát Nhã làm cửa đầu tiên vào đại thừa. Chính như Lăng Nghiêm nói: “Bồ Tát dùng tâm bất sanh diệt làm gốc tu nhân” mà Bát Nhã là Thực Trí căn bản của Phật, chính là tâm bất sanh diệt vậy. Kinh Kim Cang lấy vô trụ làm tông, dứt nghi làm dụng. Vì nhị thừa vọng khởi các thứ trụ-trước chúng sanh kiến, Phật kiến, Pháp kiến lớp lớp khởi nghi kinh này nhổ hết gốc nghi, đến thẳng đất chẳng nghi, tri kiến tiêu vong, chẳng lập một pháp, đuổi hết tâm trụ trước. Chính là cùng với thủ đoạn gỡ niêm tháo chốt của Tông môn tương đồng. Chặt đứt ý lời, phân biệt, chính là chỗ Tông môn chẳng cho nghĩ suy, chẳng mắc tư duy, thức-tình khô sạch, thấu pháp thân hướng thượng. Hoàng Mai lấy đây ấn tâm là có lý do vậy. Các kinh khác đều còn chỗ bám, kinh này cắt đứt, tham thiền rõ điều này thì dễ vào vậy.
       3. Hỏi:
       Nếu có Như Lai thiền Tổ Sư thiền, hai thứ thiền này quả thật đồng hay khác? Hương Nghiêm chạm trúc có tỉnh, trình kệ: “Năm ngoái nghèo chưa thật nghèo” với Ngưỡng Sơn, Sơn bảo: “Mừng cho Sư huynh hội được Như Lai thiền, còn Tổ Sư thiền chưa từng mộng thấy”. Dựa vào lời này thì thấy có Như Lai thiền, Tổ Sư thiền khác. Nếu từ Ca-Diếp truyền đến Sơ Tổ Tây lai, Tổ Tổ truyền nhau và Thủy Tổ các tông tức là Phật Thích Ca thì làm sao khác được?
       Đáp:
       Như Lai thiền và Tổ Sư thiền xưa nay không hai. Nhưng Như Lai thiền là trong mê nói ngộ, cốt tu rồi sau nhập vào (chơn tánh). Tổ sư thiền một lần chẳng thuộc mê ngộ, chẳng nhờ tu tập, cốt người ngay đó chóng rõ tự tâm. Phàm rơi vào cửa mê ngộ tức là nghĩa thứ hai. Do đó Cổ Đức nói: “Tu hành thì chẳng phải không, mà nhiễm ô sao được?” Thế nên một đường hướng thượng của tông môn phải là “một cá nhân” mới được. Trong kinh Lăng Già nói 4 loại thiền, thì thiền tối thượng nhất thừa, tức Tổ Sư thiền, kỳ thực vốn không có khác.
       Nếu căn khí bất tịnh, vọng khoe tri-kiến thông minh để hội Tổ Sư thiền, như thế thì ngay cả Như Lai thiền cũng chưa hề mộng đến. Ví như người nghèo vọng xưng đế vương tự rước tôi tru lục, không đáng sợ sao? Không đáng sợ sao?

Dạy Tiêu Huyền Phố Tông Bá
       (Thiên Khải Quý Hợi mùa đông, ngày 6-10 từ đây tuyệt bút).
       Nhập đạo, trước cần liễu ngộ tâm thể của đương nhân, xưa nay quang minh quảng đại, bao gồm tất cả, thanh tịnh tràn đầy, thánh phàm chẳng lập. Chẳng bị thân tâm thế giới làm trở ngại. Đây tức là một đường hướng thượng. Tâm ấn của Tổ Sư chỉ thế mà thôi. Đã có thể ngộ suốt tâm này, thì ở chỗ ứng duyên hằng ngày tất cả cảnh giới như hình hiện trong gương, đến không chỗ dính mắc, đi không vết tích. Thế thì tất cả chỗ hành động đều từ trong mé thực chơn tâm lưu xuất. Mỗi sự nghiệp đều chân thật bất hủ, chẳng những cùng trời trăng đua ánh sáng mà đối với người mê khư khư kia, vọng tưởng làm những sự dối trá, há có thể so sánh ư? Một đoạn ánh-sáng này, người người đầy đủ, vốn không kém thiếu, chỉ có ngã kiến kiên cố, hễ có làm gì ắt cho là công của mình, chấp chỗ thấy là đúng, phải trái xen lẫn, trọn không có luận nhất định. Sở dĩ như thế vì không có tâm của bậc đại công khoáng đạt mà muốn xây dựng sự nghiệp ngàn thu bất hủ, thật khó vậy.
       Lại,
       Tâm thể chúng ta xưa nay tròn đầy sáng suốt. Mà nay chẳng thể đốn ngộ, chẳng được thọ dụng hiện tiền bởi vì các thứ phiền não tham, sân, si, ái từ vô lượng kiếp đến nay ngăn che tự tâm. Do đó công tiệm tu chẳng thể thiếu.
       Quy Sơn nói: “Người học có thể một niệm chóng ngộ tự tâm, nếu đem chỗ ngộ trừ sạch hiện nghiệp lưu thức, thì gọi là tu, chẳng phải ngoài đây có cái tu khác”. Nếu người học đạo chỉ cần đốn ngộ liền xong, toan bảo không công có thể dụng, vậy thì tập khí ẩn sâu, gặp cảnh lén phát, để lâu sẽ trôi vào cõi ma. Nhưng công tiệm tu cũng chẳng phải có thứ lớp, chỉ trong nhật dụng nhắm chỗ chưa khởi tâm động niệm, đứng vững gót chân phản quán nội chiếu. Ở chỗ một niệm khởi nên truy xét một niệm này từ chỗ nào khởi, truy đến chỗ một niệm sanh vốn tự sanh thì tất cả vọng tưởng, tình lự ngay đó băng tiêu. Nhưng kỵ nhất là không có sức dũng mãnh, chẳng thể nắm chẹt cổ họng, bất giác tương tục thì trôi đi mà chẳng quay lại được.

Dạy Chu Tử Dần
       Hôm nay trong núi đại chúng kiết chế, Hải Ấn chiếm tòa thuyết kinh Pháp Hoa. Lúc đó túc hạ cầm thư đến, lại có quả đẹp, đủ đoán túc hạ là người trong pháp hội, là người trước được đạo quả. Đây chẳng phải bói mò. Thư trước nói rằng: Nhật nghiệp chính chắn như vậy chẳng sai, cũng có thể dần dần vào pháp môn bất nhị. Nếu trong đó hằng ngày niệm niệm đều là tâm hạnh sanh diệt, đâu thể “tịch diệt vi lạc”. Nếu muốn thọ dụng được tâm địa, lại phải nhắm lúc đọc sách, viết văn đã xong, chỗ các thứ ứng duyên, ngay đó thực sự dũng mãnh phản quán nội chiếu, quán mọi thứ tâm tác động sanh diệt, rốt cuộc từ chỗ nào khởi, rồi bây giờ diệt đi về đâu? Như thế quán cho thật sâu, lâu dần nhập vào chỗ nhỏ nhiệm kín đáo. Ở trong đây, nơi tất cả tập khí ngầm ngầm trôi chảy, nơi phiền não vô cớ nổi lên, nên thực sự nhìn xem cho chắc, xem chúng rốt cuộc là vật gì, từ chỗ nào khởi diệt, truy lùng đến chỗ quét sạch dấu vết, như trong nồi nước sôi nhỏ một cụm tuyết vậy. Như thế hằng ngày niệm niệm chẳng được lơi lỏng. Ngay lúc đó mảy may một tâm niệm lười biếng, giải đãi, cầu an, mưu cầu khoái hoạt, hưởng thụ phát sanh, thì đây chính là gốc bệnh phát tác, liền nhắm ngay đây mà dựng lông mày một cách mãnh liệt, chẳng thể bị chúng cột trói cứng. Vừa thấy bị cột trói, cần nhất là không nên để nó lôi đi. Rất kỵ! Rất kỵ! Mau dùng một tiếng Bồ tát hoặc một tiếng Phật dựa vào cho chắc, vật lộn với nó. Khi gặp các thứ ác tập nổi lên, liền hết sức đem thoại đầu này mà đề khởi. Hướng vào hư không quét một trận, chẳng kể là ma, là Phật, là tập khí phiền não, là thiện ác suy lường, tất cả tình trần nhất tề đốn dứt, như là chém cuộn chỉ rối. Hạ công phu như thế thì chẳng ngại đọc sách, chẳng ngại viết văn. Khi đọc sách, hãy xem việc đọc sách này nhắm chỗ nào gởi gấm. Viết văn, hãy xem văn này từ đâu chạy ra? Cũng chẳng ngại tiếp đãi khách khứa, uống trà, ăn cơm, đại tiện, tiểu tiện. Tất cả chỗ không để lọt đường tơ kẻ tóc, nên như thế mà an tâm. Lại cùng với chỗ Vĩnh Gia nói:
Khéo khéo lúc dụng tâm
Khéo khéo không dụng tâm
Không tâm khéo khéo dụng
Thường dụng khéo khéo không.
       Là một loại hay chẳng phải một loại?
       Chẳng biết túc hạ có thể tin lão Hải Ấn này không dối gạt chăng? Thỉnh tự thử xem! Túc hạ nếu thấy tin chẳng lầm, mới biết Trang Tử tâm trai 3 tháng, thật là đáng buồn cười. Một bộ kinh Viên Giác, túc hạ đọc thuộc, mỗi ngày từ sáng đến chiều lấy làm công khóa, đợi đến mùa xuân gặp mặt sẽ cùng nhau quyết trạch. Tâm thường viết thư cho túc hạ, chẳng khỏi có vương chút tình thức, tự thẹn vì túc hạ chưa triệt, chẳng phải không triệt mà sợ túc hạ lòng tin chưa triệt. Nay thấy túc hạ lòng tin dần tăng, ngày càng thanh tịnh. Lúc này nếu không khoét tấm lòng son đưa túc hạ thì đến lúc nào mới triệt. Nếu túc hạ lần lửa chẳng chịu triệt thì Hải Ấn tự triệt vậy. Thế nào? Thế nào? Nhân thế đáng thương! Tuy nói đáng thương nhưng ngóng tâm túc hạ lại càng đáng thương hơn!
       Lại,
       Thư đến thưa hỏi thật là tha thiết. Vì túc hạ chưa được rõ hai chữ “không huyễn” nên đối với tâm cảnh đều bị ngăn ngại, do đó công phu khó làm. Nay vì túc hạ nói phá để rõ ràng không còn nghi lo nữa.
       Chỗ nói “không” không phải là cái không trống rỗng. Chính như tục ngữ nói: “Bên cạnh như không người”, há bên cạnh thực không có người sao? Nhưng mà trong mắt coi như không có người vậy. Nói là “huyễn” chẳng phải là cái huyễn biến hóa quái dị, mà có nghĩa là có mà không thật. Giống như người làm trò ở chợ lấy trong ống đồng ra khá nhiều nhân vật, nhưng trong ống này vốn không có. Do vốn không có nên vốn không. Vì thế nói: ví như huyễn hóa chẳng phải không có người huyễn hóa, mà người huyễn hóa chẳng phải người thật, người chẳng phải thật, không phải là không sao? Phật nói chữ “không” nghĩa là phá cái chấp trước của người đời cho là thật có. Chẳng phải nghĩa đoạn diệt tuyệt không có gì. Lại sợ người đời chìm trong đoạn diệt, Ngài lại nói chữ “huyễn” để trừ cái thấy đoạn diệt. Thế nên tất cả thân tâm, các pháp nhân “huyễn” nên “không”, do “không” nên nói “như huyễn”, hỗ tương mà quán thì chóng thấy chỗ kỳ diệu. Nói “không” tức huyễn có, nên quán không gọi là chân không. Nói “có” là vốn không mà huyễn có, gọi là diệu hữu. Do chân không nên tâm không phải là đoạn diệt, do diệu-hữu nên cảnh là vô sanh, cảnh đã vô sanh thì tâm nắm bắt cái gì? Tâm đã chẳng phải đoạn thì vọng niệm chẳng còn, vậy đem tâm nào chấp cảnh? Cảnh vốn là huyễn thì lấy cảnh nào lôi tâm? Vậy chỉ cần tâm không giữ cảnh mà tâm chẳng phải đoạn diệt. Cảnh chẳng phải lôi tâm mà cảnh tự như như, chỗ nào chẳng vui? Đây là chỗ nói: “Tâm vốn không sanh, do cảnh mà có. Cảnh trước mắt nếu không thì tâm cũng không”. Nếu chỉ xem thấu như huyễn, chẳng thực thì gọi là như không; linh tâm riêng chiếu, vọng tâm chóng dứt cũng gọi là không. Chỗ này là không vọng tâm, đâu phải là tuyệt hẳn không có chân tâm! Thế nào là vọng tâm? Là người chấp cảnh chẳng biến đổi vậy. Thế nào là chân tâm? Là chẳng giữ tướng thân, tâm, cảnh giới, liễu liễu thường tri, linh nhiên tịch chiếu vậy.
       Dụng tâm như thế có gì chướng ngại? Nên nói: “Tự tâm chấp giữ tự tâm, chẳng phải huyễn mà thành pháp huyễn”. Không chấp giữ, không phi huyễn. Phi huyễn còn chẳng sanh, pháp huyễn làm sao lập?
Chính là chỗ nói:
       Cảnh duyên không tốt xấu
       Tốt xấu khởi nơi tâm
       Tâm nếu không gượng gọi
       Yêu ghét do đâu khởi?
       Đó là “Nếu tình không gá vật, vật há làm ngại người”. Vật đã chẳng thể làm chướng ngại người, người chẳng lẽ ngại với vật sao? Người đời sở dĩ chẳng được tự tại chỉ vì không đạt tâm cảnh vô sanh, như huyễn không thực. Nếu đạt rõ được một niệm vô sanh như huyễn thì tất cả tình trạng khổ vui, lo lắng, được mất, yêu ghét, lấy bỏ, ngay đó ngói bể băng tiêu. Nên nói: “Biết huyễn tức lìa, chẳng tạo phương tiện, lìa huyễn tức giác, cũng không thứ lớp”. Đây là “một niệm chóng đến nhà Phật”, chẳng phải lời nói suông. Túc hạ nếu quán chỗ tất cả vọng niệm khởi diệt, chỗ tất cả cảnh giới khởi diệt, đều là huyễn hóa không thật thì tâm tự nhiên chẳng bôn ba theo cảnh, cảnh tự nhiên chẳng lôi kéo tâm. Qua lại ứng duyên, thì một niệm rỗng sáng, rỡ ràng riêng chiếu. Chiếu soi thân tâm hiện tiền như huyễn như hóa, như trăng trong nước, như bóng trong gương, như mây trong không, như sóng nắng ngựa hoang. Nên như thế nắm chắc, con mắt Kim Cang chớ động nữa. Mặc kệ tất cả cảnh giới, chạm tới liền tiêu, dù cho có vọng tâm nào, nhìn tới liền diệt. Dụng tâm như thế lại có vọng tâm nào quấy nhiễu? Lại có cảnh vọng nào có thể chạm đến tâm? Đây xét rõ lời nói, thật là Hải Ấn cực lực vì túc hạ hết mình thố lộ, trình bày triệt để cặn kẽ, túc hạ chớ hoài nghi nữa. Cần chớ nên nghĩ trước tính sau, các thứ suy lường đều là ác giác, ác tập, đều là nhân duyên chướng đạo. Nếu được như lời nói này của lão nhân thì trước mắt đã là người cực lạc, thư tay mà trách bút bất giác viết lan man tâm lão bà như vậy, lôi thôi thế đó. Trân trọng.
       Lại,
       Một lần xa cách mới đó đã vài tháng. Thời gian chóng vánh, ngày tháng dối người. Mỗi lần nghe túc hạ tinh tấn gấp bội, tôi vui sướng ngập long. Ban đầu ý định tôn nhân đi rồi, ắt được vào núi gặp gỡ một phen, cùng nhau ấn chứng công phu đã qua để quyết trạch. Đây tưởng là chân thật, bất giác như các việc mộng. Đáng cười đạo nhân cũng rơi vào tình kiến như thế.
       Thứ đến nói: nhân ngồi để mong được tĩnh lặng, nhân tĩnh lặng để cầu tâm. Đây là cửa ban đầu vào đạo thích đáng nhất. Nhưng trong khi ngồi mà chưa sáng được chỗ ách yếu, do đó ngồi lâu mệt mỏi. Vì chẳng đạt sự thần diệu của tâm thể nên tĩnh lặng lâu lại muốn được nghe tiếng rồi lại nổi nghi như không có chỗ quay về. Bởi vì tâm năng cầu mà chưa được bí quyết, do đó một niệm cầu, giác trở lại thì mệt nhọc. Đó là đem tâm tìm tâm. Đúng như con nai khát nước đuổi theo song nắng.
       Truyện nói: “Biết dừng, sau có định”. Vì tâm túc hạ chưa biết dừng nên chẳng được định. Vì theo sự đòi hỏi nên có điều mục trị tâm như: 4 điều chớ làm, 3 điều tĩnh yếu. Dẫn tâm này mà vào, giữ tâm này mà định. Đây là chỗ tinh-tâm-khổ-thiết của túc hạ, nên bỉ nhân rất mong mỏi ở túc hạ. Nay đã nhận được tự tâm, lại trở lại giữ bí mật, tiếc rẽ ư? Hơn nữa, sợ túc hạ mới vào trong Phật pháp của ta, chưa được nghe nhiều đến nỗi phần nhiều chuyển lấy thói quen thấy nghe ngày cũ mà hiểu danh ngôn, khiến đã ban cho thuốc Cam lộ chẳng thể dùng để được công hiệu cải lão hoàn đồng. Pháp môn dạy người của Phật Tổ từ xưa tuy có nhiều đường chẳng ngoài tam học Giới Định Huệ, nghĩa là nhân giới sanh định, nhân định phát huệ. Tiết mục rõ ràng, Kinh chẳng qua Lăng Nghiêm. Đến như lời Tổ không gì bằng một cuốn Vĩnh Gia Tập. Túc hạ nên đọc thuộc, nghiền ngẫm, trong đó có yếu quyết nhập định dụng tâm. Như nói:
Khéo khéo lúc dụng tâm
Khéo khéo không tâm dụng
Không tâm khéo khéo dụng
Thường dụng khéo khéo không
Lại như:
Vọng tâm chi hậu tịch tịch
Linh tri chi tánh lịch lịch
Vô ký hôn muội chiêu chiêu
Khế bổn chân không đích đích
(Sau vọng tâm nên lặng lặng
Tánh linh tri thường rõ ràng
Vô ký mơ màng phải tỉnh sáng
Khế hợp chân không luôn đúng đắn)
       Đây là thần phù của sự dụng tâm. Như 4 điều chớ làm, 3 điều tỉnh xét chính là giới, trong đây đủ hết. Kỳ thực công phu tu tâm chẳng ra khỏi 3 món chỉ, quán, đẳng trì (thiền). Trong tập này, xa-ma-tha là chỉ, bà-xá-na là quán, ưu-tất-xoa là chỉ quán song vận tức định huệ đẳng trì.
       Hãy khuyên tròn những chỗ bế tắc trong tập, lặng hơi ngưng thần, nếu chẳng hiểu đừng hiềm gởi thư hỏi hoài. Đến chỗ chỉ quán thẳng tắt, cho viết lại một tờ để bù vào chỗ thiếu hôm nay.
       Lại,
       Một đoạn nhân duyên này là việc rất dễ mà rất khó. Vì vô lượng kiếp đến nay, đời đời kiếp kiếp tạp nhiễm lưu chuyển, tập khí sâu lại dày. Hôm nay được một niệm phát lòng tin, mới trong sớm chiều mà muốn cạn dòng dài muôn kiếp. Phương thế này thật chẳng dễ dàng. Ngay một niệm tâm hồi đầu này cũng rất khó phát. Đây là hạt mầm linh minh do căn lành nhiều kiếp, gặp lúc nảy mầm bây giờ mới nhú lên, rồi nở hoa phô bày thực sự. Toàn do Toàn do luôn luôn tài bồi chăm sóc. Nếu không thì sẽ khô cháy ngay. Gặp cảnh gặp duyên dùng sự xử sự, lâu dần thuần thục. Lại thêm công chỉ quán thì có thể dần dần giải thoát. Nhưng vì chúng ta vốn tự giải thoát, do đó nếu phiền não, không giải thoát thì chẳng phải lỗi của pháp mà là tự tâm trói buộc vậy. Bởi do xưa nay thế tình nồng hậu, tập nhiễm chín muồi, chỗ quen thì khó quên, nên chạm đến liền phát. Vì thế nói: “Ta chưa thấy người mến đức bằng mến sắc”. Nếu đem kia đổi đây thì chỗ sống tự chín, chỗ chín tự sống. Sống thì lợt lạt, lợt lạt thì xa, xa thì đạm bạc, đạm bạc thì quên, quên thì chẳng cần cầu thoát mà tự chẳng trói buộc. Cứ thế mãi thì tâm này được định, muôn ngàn trạng thái trước mắt xem như hoa đốm hư không, như trăng đáy nước, như sóng nắng, sông băng, vốn không thể buộc ràng, lại còn cầu thoát gì nữa? Túc hạ nói: Lời “vật bất thiên” của Triệu Công được đắc lực. Đây trừ phi túc hạ là bậc đại căn khí, còn không thì chẳng thể nhập vào cửa cổng của lão này. Riêng câu “nhật nguyệt lệ thiên” chẳng thấu triệt, thì biết về Triệu Công chẳng suốt, chẳng suốt thì chẳng phải đắc lực thật. Lời này lão nhân nghi đến mất năm, rốt cuộc ở trong tâm ta riêng tự tỉnh. Từ đó về sau, chỗ ứng duyên đắc lực phần nhiều nhờ lời lão này. Túc hạ vừa ra cửa đã thấy tin, thật chẳng phải là duyên nhỏ, lão nhân chẳng tiếc vì túc hạ nói phá. Lại sợ túc hạ ngày sau sẽ mắng lão tăng. Túc hạ nếu đem câu này đặt vào lòng, ở tất cả chỗ động tác làm việc, tất cả chỗ thanh sắc tài lợi, tất cả chỗ cảnh duyên nghịch thuận, tất cả chỗ mừng, giận, buồn, vui, tất cả chỗ yêu ghét, lấy bỏ. Hễ gặp cảnh lưu động liền lấy ấn này, ấn một ấn, ấn đứng xem nó thế nào là chỗ chẳng dời (chẳng đổi)? Thế nào là chỗ thường tĩnh lặng? Thế nào là chỗ chẳng trôi chảy? Thế nào chỗ chẳng động? Thế nào là chỗ chẳng khắp? Như thế khán qua khán lại, đột nhiên bùng vỡ, khán thấu lời này thì mới biết lão nhân chẳng dối túc hạ, mới tin bổn chân chẳng tự lừa dối vậy.

Dạy Hoàng Duy Hằng
       Túc hạ tuy nói: “Hướng về đạo mà trong đây mắt mũi chưa được sáng suốt, thường đem thế pháp, Phật pháp, cùng Tông với Giáo chẳng khỏi cho là hai, thì tất cả ghét – thương, nghịch thuận, lấy bỏ, tốt xấu, bần cùng, thịnh đạt, động tĩnh v.v… ắt là điều bị chia hai.” Hải Ấn luôn luôn vì túc hạ nói Phật Tổ nguyên không có pháp thực cho người. Nhưng chỉ vì người mà nói rõ việc sẵn có của mỗi người”. Tông Cảnh nói: “Lấy nhất tâm làm tông, chiếu vạn pháp làm gương”. Chỉ do chúng ta không thể biết nhất tâm nên Phật thuyết giáo để chỉ. Chúng ta chẳng thể thấy tự tâm nên Tổ mượn thiền để dạy. Cả hai đều bất đắc dĩ. Nay túc hạ nói: “Tập theo giáo, tinh thần chẳng khỏi mệt mỏi, theo tông như cỡi thuận gió”. Đây là túc hạ tập khí Bát-nhã nhiều đời sâu dày. Đại khái như thế. Đối với Hải Ấn tôi, cả hai đều hư dối, đều không nói khó dễ. Nếu túc hạ không đạt được tự tâm thì tông là giải, tà nhiễm, đều rơi vào hang ổ của thức tình, mà giáo cũng là vọng tri, vọng kiến, lạc vào ngôn thuyết nói năng cả, chẳng phải chỗ cứu cánh chơn thật. Riêng chẳng biết kinh giáo là mắt Phật, thiền là tâm Phật, cả hai chẳng phải hai, há có kia đây. Hải Ấn tôi dạy người xem kinh tham thiền đều chẳng phải thuộc loại tri kiến này. Túc hạ hôm nay hiểu như thế, chẳng những cô phụ Hải Ấn cũng lại cô phụ tánh linh của mình. Từng nhớ khi có người hỏi rằng: “Cổ nhân lúc đói ăn cơm, lúc mệt đi ngủ đều là đạo. Người thời nay đói ăn mệt ngủ vì sao chẳng phải đạo?” Thì đáp rằng: “Cổ nhân ăn cơm chỉ là ăn cơm, đi ngủ chỉ là đi ngủ. Do đó là đạo. Người nay ăn cơm chẳng chịu ăn cơm, đi ngủ chẳng lo đi ngủ, suy tính lung tung, do đó trái đạo”. Từ đấy mà xem, túc hạ hằng ngày chỉ đem lông mày vén lên, quát một tiếng khiến thần kinh quỷ sợ, thiên ma vỡ mật, âm quỷ hồn tiêu, một hét hét lui, được bổn địa tĩnh tĩnh lặng lặng, tấc tơ chẳng khoác, trần trùng trục, sạch bon bon. Theo gia phong này cần đọc sách cứ đọc sách, không đọc thì gấp bỏ một bên, chẳng cho đeo một chữ. Muốn làm văn thì làm văn, chẳng làm thì dẹp một bên, chẳng cho nghĩ tính loạn xạ. Cho đến uống trà ăn cơm, cần ngủ cứ ngủ, cần đại tiện tiểu tiện, cứ đại tiện tiểu tiện, chạm đến liền xong, chẳng cho sau đó nghĩ lường giống như hồn quỷ vất vơ. Tuy khô khô sạch sạch, trong trong, trắng trắng, cũng chẳng cho ngồi trong chỗ khô sạch trong trắng. Như thế “đơn đao trực nhập”, một niệm thẳng đến trước thì đọc sách thấy cổ nhân, làm văn cũng chỉ nhắm từ trong lòng mình phát ra miệng, không có trước sau, lúc hàm súc (giấu cái đẹp bên trong) liền là thổ lộ, lúc thổ lộ cũng là lúc hàm súc. Như thế chẳng bị chỗ động, tĩnh, sáng, tối… chuyển, chẳng bị các thứ khéo léo dời đổi. Đó là bậc đại nhân đĩnh đạc, là vị khó lường. Túc hạ tin không? Nếu quả thấy tin được thì khởi lên nhắm đây mà vào.
       Trân trọng, trân trọng.

Dạy Cư Sĩ Mã
       Người học đạo điều quan trọng nhất: tâm sanh tử phải tha thiết. Thứ nhì: biết thân là gốc khổ, tâm là gốc vọng tưởng tạo nghiệp. Thứ ba: chân thật khán phá, công danh, phú quý, thanh, sắc, tài lợi ở đời đều là hư dối chẳng thực. Thứ tư: sợ đời này tạo ác nghiệp tương lai sẽ đọa địa ngục, chịu các thứ khổ không người cứu giúp. Thứ năm: biết mạng căn hiện tại chỉ trong khoảng một hơi thở này. Nếu hơi thở này dứt thì muốn cầu việc tham thiền, học đạo, làm phước như ngày nay trọn chẳng thể cầu được nữa, huống là hưởng phú quý ư? Người học đạo nếu có được 5 tâm này, giờ giờ khắc khắc ôm ấp trong lòng thì tự nhiên lãnh đạm trước tất cả cảnh giới phù hoa, tâm địa tự nhiên trong sạch, đem chỗ học từ trước, bao nhiêu tri kiến, học vấn, miệng lưỡi khéo léo, tất cả buông hết, phát tâm bồ đề, dứt hẳn rượu thịt, chẳng tham, chẳng yêu, trì giới, tu phước, tạo các công đức để làm căn bản tải đạo. Luôn luôn đọc kinh điển đại thừa, trợ phát tự tâm, mở tri kiến Phật, mới có thể quán. Chỉ quán tâm này, quảng đại tròn sáng, thanh tịnh rỗng lặng, một pháp không thể được, vọng niệm vốn không, cũng không sanh diệt, mà căn thân này, tất cả động tác như người huyễn, nguyên không tâm thức. Tất cả cảnh giới trước mắt giống như hoa đốm giữa hư không, chợt khởi chợt diệt, xưa nay chẳng có. Duy chỉ một niệm viên minh, rõ ràng chẳng mờ. Niệm này cũng không, đó là chánh niệm. dụng tâm như thế, trong 12 thời, động tĩnh, nhàn rỗi bận rộn, đều đều như chẳng động; nghịch thuận, tốt xấu, oán thân đều bình đẳng. Tùy thuận thế duyên, làm các công đức, một việc, một pháp đều thành tịnh hạnh viên diệu. Hành như thế gọi là Bồ Tát hạnh. Đạo nhân nếu như thế dụng tâm có thể nói chẳng ra khỏi trần lao mà làm Phật sự, hiện thân Tể quan mà thuyết pháp, nghĩa là báo được ân Phật, báo được ơn nước. Ông bẩm tánh lanh sáng, phát tâm hướng về đạo nên tôi đặc biệt chỉ dạy như thế. Xin tặng cho hiệu là cư sĩ Tịnh Diệu. Nếu ông không phụ tánh linh của mình thì chớ quên lời này.
       Trân trọng.

Dạy Vương – Sinh
       Cầu thọ giới, đổi tên tự
       Vương Sinh tên Đình Tá, tự là Tử Chiêm. Ý của Sinh cho tên mình tục và tự thì phạm đến người xưa, thỉnh huyễn nhân đổi tên mới. Huyễn nhân vui vẻ bảo ông rằng:
       Lạ thay cho tư chất của ông! Truyện có nói: “Cẩu nhật tân, nhật nhật tân, hựu nhật tân” (Nếu ngày đổi mới, ngày ngày đổi mới, ngày càng thêm mới). Nay chí nguyện của ông là bỏ cái cũ, nên ta sẽ làm mới hết. Không những mới cái tên của ông mà mới luôn tâm ông. Tên là khách của thực, tâm là thực của đức. Nếu chẳng nghĩ đến thực mà mong tên rỗng thì chẳng phải đức vậy. Do đây mà quán, chẳng những ông tục ở tên mà còn tục ở tâm, nghĩa là người tục chẳng phải ở áo mão, lời nói, dung mạo mà là thói quen nhiễm ô ở tánh đức vậy. Tánh đức chúng ta vốn sáng, do ngày ngày nhiễm tham dục, do mắt chạy theo sắc tà, tai theo tiếng dâm, mũi theo mùi hôi, lưỡi theo vị bậy, than theo xúc chạm hư vọng, tâm theo nghĩ tà. Sáu cái chen lẫn, chìm đắm mê mờ trong đó, nung đúc dần dần nhiễm quen thói thành tánh, cho là có sẵn, là cố nhiên, cho nên rong ruổi mãi trong cảnh hôn mê. Tánh đức vốn sáng, trở thành vật khác. Đâu biết cái ta cố nhiên này có phải là chính ta xưa cũ không? Thánh nhân thương xót chỗ này, nên ban nước giới để tẩy rửa. Hơn nữa, giới chẳng phải là vật gì khác mà chính là trí quang sẵn có của tự tâm, tức nhà nho gọi là minh đức. Nay người này trí quang chẳng sáng nên minh đức ngày càng mờ. Nay minh đức trở về với thiên nhân, ắt phải sáng trí quang mà phá mờ tối, mờ tối bị phá, bổn thể hiện, trí quang sáng, thì các chướng tiêu. Đức Phật chúng ta sở dĩ cấm sát sanh để thành tựu nhân, cấm trộm cắp để thành tựu nghĩa, cấm tà dâm để lập lễ, cấm nói dối để đôn đốc tín, cấm uống rượu để sáng trí. Ngũ giới đủ thì đủ ngũ thường, bớt lục tình thì tam nghiệp trong sạch. Đây nghĩa là rửa sạch tập nhiễm cũ, tiến đến ngày càng mới, bỏ cái ta xưa cũ mà tạo sự chuyển hóa mới. Nên huyễn nhân cũng đổi tên là Ngôn, tự là Tử Luân, đem danh tự này mà phụng trì giới Phật như theo mệnh vua vậy. Ông hãy cố gắng.

Dạy Chu Tử Tiềm
       Năm màu khiến mắt người mù, năm âm khiến tai người điếc, năm vị khiến miệng người lầm, rong ruổi săn bắn khiến tâm người phát cuồng. Đây là giới của Lão Tử. Không phải lễ chớ nhìn, không phải lễ chớ nghe, không phải lễ chớ nói, không phải lễ chớ động. Lại nói “lúc nhỏ, khí huyết chưa ổn định thì phải giữ gìn ngăn cấm sắc. Đến trưởng thành khí huyết mới cứng chắc thì răn giữ chỗ tranh đầu. Kịp đến già, máu huyết đã suy, ngăn ngừa chỗ sở đắc”. Đây là giới của Khổng Tử.
       Chẳng giết, chẳng trộm, chẳng dâm, chẳng vọng ngôn ỷ ngữ, không 2 lưỡi, ác khẩu, chẳng tham sân si. Đây là giới của Phật. Ôi! Vì tánh chúng ta vốn tự lanh sáng, trong sạch, chỉ vì tập nhiễm vấy bẩn. Ngày càng chìm đắm trong mê mờ chẳng tỉnh. Chỉ trong khoảng mắt, tai, miệng, mũi, thân tâm cùng thanh, sắc, hương, vị, xúc, pháp, đối đãi nhau, dính khắn, buộc ràng, dẫn dắt tâm tranh đấu. Mê hoài chẳng quay trở lại. Nên thánh nhân bi mẫn đặt ra giới - luật, muốn đem trừ tập nhiễm cũ, đoạn dứt trần tập mà hồi phục chân tâm thanh tịnh của mình. Do đây mà quán, giới tại ta mà đủ tại tâm, tu cho thân là nghĩa đạo chẳng xa người. Nên nói: “Thánh cách xa rồi ư? Theo đây tức là thần”. Chúng ta muốn đến nguồn của đại đạo, chỉ ở chỗ thuần cẩn phụng trì theo đây mà thôi. Chu Tử tuổi trẻ có chí tha thiết hướng thượng chú tâm về đây, nên tôi nhân đó viết thư này mà dạy.

Dạy Sa Di Tổ Định
       Ông thường thấy chợ búa ở đời bày bán la liệt thịt chặt, nấu, mà người đi qua, không mấy ai không trố mắt nhìn thèm nhỏ rãi và đều muốn nếm một miếng. Đây là tình thường. Mỗi lần thấy đồ đệ ta xưng là Sa Môn, Thích Tử, thân ở rừng Chiên Đàn, chân đạp đất Thanh Lương, trải qua chợ Đại Pháp bày diệu vị Cam Lồ đề hồ, mà lại coi khinh như thuốc độc, không đáng thương sao?
       Tuy nhiên vì chưa biết nếm qua nên khiến cho biết, há chịu thua cái tình thèm thịt sao? Đức Phật chúng ta đầu tiên ra đời liền đem Ba-la-đề-mộc-xoa để dạy người. Đây là đem cam lồ bày ở khắp đường, mong mỏi người người nếm đến, để đồng vào làng bất tử. Có mấy người đi qua mà chịu nếm? Tôi tùy duyên vào thành Vương Xá, dừng ở vườn rừng đấng Từ Thị, vừa mở chợ Cam Lồ có Sa Di Tổ Định, từ Ngô Hưng đến tham vấn cõi Phật trang nghiêm, pháp môn tối thượng. Nhân đó chỉ vào trong rừng, thì được nếm pháp vị Cam lồ này. Nói là pháp Cam Lồ tức là 4 giới trong căn bản.
       Than ôi! Người ta chìm đắm miệt mài đã lâu trong trường sanh tử, tạo xong khổ-cụ giường đồng đều nương 4 cái dâm, sát, đạo, vọng mà lập. Cho đến Tịnh Độ Trang Nghiêm của chư Phật cũng đều từ chỗ đoạn 4 cái này mà thànhh tựu. Nên nói: đoạn hẳn tâm dâm, mới thành Phật đạo v.v… Nay Sa Di toan bỏ ngói gạch làm tòng lâm. Chuyển đất dơ thành tịnh độ, nếu chẳng lật phá 4 căn làm 4 mặt hồ thanh lương, há có thể biến 3 độc thành 3 loại giải thoát ư? Thế nên Lão nhân Hải Ấn khen rằng: Phật tử nếu muốn thành tựu pháp môn công đức vô tận, phải nên khéo léo học Ba-la-đề-mộc-xoa này là đệ nhất nghĩa đế. Tất cả pháp môn đều từ đây mà vào.

Dạy Ngô Công Mẫn
       Không Sanh hỏi Phật “Làm thế nào an trụ? Làm thế nào hàng phục được tâm?” Phật đáp: “Nên như thế trụ, như thế hàng phục tâm”. Lại nói: “Nên không chỗ trụ mà sanh tâm”. Lại nói: “Tin tâm thanh tịnh tức sanh thực tướng”. Nhưng thực tướng không có tướng thì ở đâu có sanh? Bởi vì sanh tức vô sanh, thì trụ vốn không trụ. Tin tâm như thế thì ngũ uẩn thanh lương, một niệm chóng không, các vọng diệt hết, hàng phục như thế thì không phải hàng phục mà thật là hàng phục. Công Mẫn tin tâm rất thuần nhất, theo tôi xin thọ giới Bồ Tát. Lại hỏi phương pháp gìn giữ tâm. Tôi bảo cho phương pháp điều phục như thế. Lại đổi tên tự là Điều Phục. Còn như tướng tức vô tướng thì chẳng thể đem vô tướng làm vô tướng. Nên lại đặt đó làm định khóa, hằng ngày chẳng đổi, lâu dần thuần nhất, dứt hết các tướng, chóng khế hợp vô sanh. Tức là chỗ nói lòng tin thanh tịnh liền sanh thực tướng.

Dạy Hai Ông Trừng Và Hoành
       Ngữ nói: “Quân tử bên trong chẳng hậu trọng thì ngoài chẳng có uy. Sự học thì chẳng bền chắc”. Lại nói: “Trong không chủ chẳng lập, ngoài không chính chẳng hành”. Lời này tuy nhỏ có thể lấy để dụ việc lớn. Đó là Đạo học Thánh hiền, thế và xuất thế, chẳng có ai chẳng tụ chính tâm, thành ý, tu thân, mà đến được chỗ vật trí tri”, “minh tâm kiến tánh”. Nên Khổng tử vì Nhân lấy 3 điều tỉnh xét, 4 điều chớ làm, làm đầu. Đức Phật chế tâm lấy tam nghiệp, thất giác chi làm gốc. Xem khắp nhân vật xưa nay từ trên xuống dưới, người thành bậc đại khí mở mang nghiệp lớn, ánh sáng chiếu khắp vũ trụ, rỡ ràng làm sư phạm cho người, chưa có ai chẳng do đây mà đến đó, do thô mà đến chỗ cực kỳ tinh tế, do gần mà đến chỗ rất xa. Nay, người học phần đông lấy tai miệng cho là thực học. Cho cái thấy của mình là chân tham. Cho bàn luận phù phiếm là thuận vật. Cho phóng túng là thích tình. Cho sự xuôi theo là dung chúng. Lấy buông lung làm dưỡng khí, cho ăn no ở yên là điều thân, cho duyên tưởng là chính tâm, cho thúc liễm là khô hình, cho đoan trang là ngạo nghễ, cho khắc niệm là tự làm khổ, cho tinh trì là làm duyên, làm bộ. Cho đạo nghiệp là vật lâu dài, cho thân thể là kim cương, cho sanh tử việc thừa. Thân chẳng lập, tâm chẳng tham cứu, đạo nghiệp chẳng thành, học vấn chẳng tinh. Đây là lý do mà đời càng xuống thấp, đạo càng suy vi, tâm ngày càng mờ mịt, chí ngày càng tiêu mất, thói quen ngày càng tệ hại, hạnh thì ngày càng thiển bạc. Kinh điển ngày càng suy đồi, Phật pháp ngày càng hủy diệt. Đuổi gió bắt bóng, người hậu học không nơi nương tựa, mong thấy thực chất trong sạch hoàn toàn trong sự tu của chúng ta có thể được sao?
       Khổng Tử nói: “Thánh nhân ngộ bất đắc nhi kiến chi hỹ. Đắc kiến hữu hằng gia. Tư khả hỹ” (Bậc Thánh nhân ta chẳng làm được mà có thể thấy được. Thấy được người bền bỉ, hằng không thay đổi thì có thể thành thánh nhân vậy). Cho nên mộng của Chu Công, lời than của Phụng Điểu, quân tử có chí há cứ thả lỏng lòng mình ư? Hai ông cố gắng lên!

Dạy Giang Ngô Dư
       Cùng túc hạ mỏi miệng đã 10 năm. Như dạy người uống rượu phải chừa rượu, phải nghiêm trang. Không được không nghiêm trang cung kính. Nói chung sự cung kính đó là thái độ của người say. Nay đọc thư tay của túc hạ, vừa hốt nhiên từ trong mộng say thức dậy. Khiến người động lòng thương sót, rồi mừng rỡ hoan hỉ. Vì ở đời đều say, nếu mọi người đều như túc hạ thì chẳng quý một mình tôi tỉnh. Thường bảo Tô Tử là gã lưỡi dầy một miệng, ông ta mong cầu phú quý, hăng hái không ai bằng, mỗi lần lười biếng, treo tóc lên xà nhà, đâm đùi để đối trị cho tròn chí nguyện. Huống giá trị của bậc thánh hiền xuất thế một người được vô thượng diệu đạo mà đem bao nhiêu vàng ra so sánh cho được? Việt Vương gặp cái nhục Cối Kê, chí muốn báo thù Vua Ngô, bèn nằm gai nếm mật hơn 12 năm, mới xong nghiệp bá. Vậy mà tham ái nhiều kiếp há ngang với thù Ngô? Bị giam hãm tối tăm trong sanh tử, khốn nhục hình hài há ngang với cái nhục Cối Kê? Nếu túc hạ chẳng ôm mối hận, nghiến răng mà quên tâm nằm gai nếm mật, chẳng thể cột tóc sà nhà, đâm đùi cho đau, thì lấy gì để đền đáp cái chí ban đầu? Rửa cái nhục lớn được? Được nghe, trên cùng lập đức, kế đó lập công, sau nữa lập danh. Túc hạ thật có thể đem cái trên cùng tự khích lệ thì nghèo mà có thể vui. Ngoài ra có gì chạm đến tâm? Khổng Tử nói: “Kẻ sĩ để chí nơi đạo mà còn hổ thẹn, ăn không ngon, mặc không đẹp thì chưa đủ cùng họ bàn luận”. Cổ nhân cũng nói: “Nếu có được cái vui đạo nghĩa thì hình hài có thể gạt ra ngoài”. Hình hài đã gạt ta ngoài thì ngoài việc này còn gì nữa. Vậy còn gì có thể chạm đến tâm, lo lắng, mà không khoáng đạt ư? Mong túc hạ cố gắng lên.

Dạy Vương - Mục – Trương Và
Chu - Thế - Phụ
       Người ta thường bảo: “Trời sinh muôn vật chỉ có người là tối linh” Đây là Cổ Ngữ vậy. Tôi cho đó không đúng. Sao vậy? Vì người cùng muôn vật đều đầy đủ tánh linh giác; tánh này chia đồng đều mọi vật, đâu từng có gián cách giữa người và vật. Rốt cuộc sở dĩ khác với vật vì vật có đủ mà chẳng biết. Người thì biết cái đủ này. Người biết vốn đủ mà sống trọn vẹn là thánh, biết nên sống trọn vẹn mà chẳng thể chóng trọn vẹn là hiền. Người biết mà chịu mong cho trọn vẹn là trí. Người biết mà chẳng chịu quay trở lại mong cầu là ngu. Biết mà không chân thật, mong cầu thái quá gọi là cuồng. Biết mà chẳng sáng, chấp một giới hạn cho là tất đáng gọi là hẹp hòi nóng nẩy. Đến như người chẳng biết mà vọng cầu gọi là quái, cùng bọn chẳng biết mà chẳng cầu là vật mà thôi. Than ôi! Đấy là người cùng vật khác nhau, chỉ ở chỗ biết cùng chẳng biết, cầu cùng chẳng cầu. Tuy cách nhau hào ly mà được và mất xa nhau vạn dặm. Trộm xem Tam Tề Quân tử ai chẳng lòng bực bội, miệng tấm tức, miệt thị ngàn xưa, phỉ nhổ công danh. Tuy sự nghiệp như Y, Chu vẫn chẳng đủ xem. Kịp khi hỏi đến tâm tánh thì trố mắt ngậm miệng. Bàn về cái diệu của tâm thì đều cười cợt vỗ tay, đến lúc nói về Phật thì ngó mông lung chẳng đoái hoài. Ôi! Biết có tâm mà không biết có Phật, thì giống như biết hai lần năm mà chẳng biết mười. Thế nên đạo thuật chẳng sáng, mà bậc anh minh hào kiệt cũng chẳng khỏi bị vùi lấp ở đây. Đây chẳng phải lỗi của biết mà kỳ thực là lỗi của không biết. Lại chẳng phải lỗi của không biết, kỳ thực là lỗi của không tin tâm. Tôi trộm nghĩ không phải thật không tin tâm mà vì chưa có người đem chân tâm mà nói cho biết. Nếu như sớm chiều đem chân tâm thật ngữ huân tập, đào luyện dần dần quen thuộc. Tuy chẳng thể tự tin, cũng sẽ theo đó biến đổi. Quân tử ở đời thấy nghe là chuyện thường của tai mắt, thì sự thông minh trời ban cũng sẽ cùng sự thấy nghe mà biến đổi. Nên nói: tập tục dời đổi con người, người hiền cũng không thoát khỏi. Lời đó đáng sợ thay! Than ôi! Tiếng than đêm dài vì ai mà nổi lên. Tôi nay để thân ở biển đông, núi trống đầm lớn, xông vào hiểm trở, đạp vào chỗ cơ nguy cũng đến mấy lần, suýt chẳng thoát khỏi miệng hùm; người biết ta bảo tâm ta lo, người không biết ta bảo ta mong cầu điều gì. Đây sở dĩ ôm lời than đêm dài mà nuốt nước mắt cùng biển động đua chảy. Tuy nhiên một lần khói bay, đại địa mùa xuân bừng dậy, một chiếc lá lìa cành, mà khắp trời thu đến. Vì cảm chẳng sâu nên ứng chẳng tới. Sang năm mới, đất này có 2, 3 quân tử đủ cốt trượng phu, thấy tin tự tâm mồ hôi tuôn thấm 2 nách, mà diệu Dương Hòa sắp thấy. Tôi đem xương hóa sóng dài, có gì ăn năn? Vương Sinh Mục Trương, Chu Sinh Thế Phụ, ngày Đông Quý Tỵ, đến thưa hỏi Hải Ấn, đạo vị thiên nhiên này, đại khái không có mảy may khư khư tục tập. Tôi thầm than: “Đây là những nam tử kỳ khôi”. Tuy nhiên Mục Trương, Mục Trương! Thế Phụ, Thế Phụ! Đã biết cái “bổn hữu” mà chịu tìm cầu, thì tôi cũng mong mỏi ở hai ông. Chẳng mong ông làm Phật mà mong hiện thân Tể Quan, Cư sĩ thuyết pháp, sẽ thấy cội rễ Bát-nhã sâu dày; tập tục nồng hậu, chăm chỉ chuyển hóa. Những người non yếu cõi này, như người hoặc vật đều được dựng lập, đều được dạy dỗ để sanh về làng Cực Lặc. Ông hãy cố gắng! Ông hãy cố gắng! Vì đâu mà xưng là quân tử?

Dạy Đỗ Sinh
       Khổng Tử nói: “Chỗ ba quân có thể đoạt chức nguyên soái, còn kẻ thất phu chẳng thể đoạt chí của hắn”. Lại nói “Ẩn cư để cầu chí, quả có thể cầu sao?” Kha Chi (Mạnh tử) nói rằng: “Giữ cái chí, đừng làm bạo cái khí”. Đây là thánh hiền dạy người, phơi bày hết gan mật. Phàm châu chấu nổi giận giơ càng chống lại bánh xe, cái chí này quả bằng thế sao? Tôi thường xem người học ở đời, người thì nói có chí ở công danh, hoặc có chí ở phú quý, hoặc nói có chí ở trung hiếu. Nêu lên điều gì cũng hay đẹp, kịp đến vừa gặp vũ nhục, lo lắng, hoạn nạn, đói rét, nghèo, bệnh, những chuyễn chẳng vừa lòng thì khí tiêu thần tan, thở than khốn khổ không xiết, vừa gặp kẻ ngỗ nghịch thì phẫn hận chẳng kể đến thân, tửu sắc dâm đãng thì vui đến quên đời. Thế nên tôi thường nói rằng: “Cái chí chưa thấy như lời dạy của Khổng Tử, là chẳng thể đoạt, như lời dạy của Mạnh Tử là gìn giữ nó”. Đây cũng không khác, vì ẩn cư chưa từng cầu vậy. Than ôi! Vũ nhục, ưu hoạn, đói lạnh, nghèo bệnh, ngang ngược, tửu sắc chẳng lớn đối với bánh xe, mà người chẳng phải nhỏ đối với châu chấu nhưng trọn không có một phen phẫn nộ để chống cự. Đây là vì cớ sao? Người học tìm hiểu sâu chỗ này thì mới có thể đem “chí” mà nói với họ.

Mộng Du Tập: Trích Quyển Mười Một


~Trích Quyển Mười Một~
Pháp Ngữ
Đáp Tăng Hải Ấn ở Hồ Châu
       Hỏi:
       Người xưa tuy đã theo “đơn truyền trực chỉ”, lại tu Tịnh Nghiệp mà mong vãng sanh, là vì sau khi ngộ tùy nguyện khởi hạnh, hay là chưa ngộ mà kiêm tu hai hạnh? Nếu kiêm tu thì rớt vào “tâm trộm”, “tâm lối tẻ”, công phu đâu thành một phiến được? Còn như đã ngộ, thì mỗi hạt bụi đều là Hoa Tạng, chốn chốn đều ở Liên-Miêu (đài sen), mười phương không đâu chẳng được. Sao chỉ ưa Tây Phương thôi?
       Đáp:
       Kinh có nói: Tịnh Độ có ba:
       - Thường tịch quang độ
       - Thật báo trang nghiêm độ
       - Phương tiện hữu dư độ
       Như chư Phật, Bồ Tát, chư Tổ từ trước “đơn truyền ngộ tâm” đều hưởng pháp lạc của tự tánh, không có người nào chẳng trở về Thường tịch quang độ. Đó là nghĩa Duy tâm tịnh độ.
       Như tất cả các cõi nước đều là Tịnh độ tức Hoa Tạng Trang Nghiêm Thật Báo Độ, cũng là duy tâm mà hiện. Đối với người cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ còn gọi là Phương Tiện Hữu Dư Độ, là một cõi trong Hoa Tạng Trần Sát vậy. Đây là với người muốn cầu vãng sanh. Luận nói: “Chúng sanh mới học, sợ lòng tin khó thành, ý muốn lui sụt, nên Như Lai có phương tiện thù thắng giữ gìn lòng tin, bảo rằng: chuyên niệm Phật A-Di-Đà ở thế giới Cực Lạc phương Tây, tu căn lành hồi hướng cầu nguyện, sẽ được vãng sanh, thường thấy quy y Phật, do đó trọn không lui sụt”. Đây là người chưa ngộ mà tu. Tức chỉ ý Ngài Vĩnh Minh nói: “Nếu được thấy Di-Đà, lo gì không khai ngộ”, vậy nếu tu gồm luôn hạnh này, như chỗ luận nói: “Nếu quán pháp thân chơn như của Phật kia, thường siêng năng tu tập, rốt cuộc được sanh trụ trong chánh định”. Đây há phải là “tâm trộm” ư? Đó là chưa đạt được ý của niệm Phật, chẳng biết ý của Tịnh Độ. Thì biết người đã ngộ, chẳng đợi cầu mà tự vãng sanh, thì người chưa ngộ cũng chẳng phải là đem “tâm trộm” mà niệm Phật, cũng có thể sanh vậy.
       Hỏi:
       Tham thiền quý ở chỗ một niệm chẳng sanh. Niệm Phật quý ở chỗ tịnh niệm tương tục. Đó là một môn tham cứu niệm Phật, ý tại diệu ngộ mà được vãng sanh. Nay lúc niệm Phật, tuy tâm với Phật phân minh, lúc tham thì cả hai đều ngồi dứt hết. Nên công tham thiền dần dần hơn, niệm Phật dần dần nhỏ nhiệm, lúc khác đâu được vừa ngộ vừa vãng sanh?
       Đáp:
       Tham thiền quý ở một niệm chẳng sanh, đúng rồi! Nếu nói niệm Phật quý ở chỗ tịnh niệm tiếp nhau, tức là đem bốn chữ danh hiệu Phật bỏ vào trong tâm cho là tịnh niệm, mà chẳng biết rằng bốn chữ danh hiệu Phật nối nhau chẳng dứt nghĩa là cột niệm chớ chẳng phải tịnh niệm. Vì người căn tánh bậc trung, hạ chuyên lấy niệm Phật để cầu sanh Tây phương, đó cũng là một phương tiện Tịnh Độ.
       Nay nói tham cứu niệm Phật ý tại diệu ngộ, là đem một tiếng “Phật” làm thoại đầu tham cứu, nghĩa là công án tham thiền “niệm Phật”. Như chư Tổ ngày trước đã dạy người tham thoại đầu với các công án: Cây bách trước sân, ba cân gai, cục cứt khô, con chó không có Phật tánh, buông xuống đi, núi Tu Di, v,v,, tùy ý mà đưa lên thành một tắc, chứa ở trong ngực để âm thầm tham cứu. Chủ yếu mượn tắc này để dứt bặt ý căn, khiến vọng tưởng chẳng khởi, lâu dần thoại đầu thành đắc lực, hốt nhiên “chật” một tiếng như đậu nổ trong tro lạnh, đem hang ổ của nghiệp thức vô minh đập một cái tan thành trăm mảnh, đó là diệu ngộ, tham cứu niệm Phật cũng vậy, chỉ đưa lên một tiếng “Phật” rồi nghi xét xem là ai, thể cứu sâu xa: Phật này từ chỗ nào khởi, người niệm cuối cùng là ai? Cứ thế nghi tới nghi lui, tham rồi lại tham. Lâu dần đắc lực, hốt nhiên liễu ngộ. Đây là công án niệm Phật, xét thực cùng với thoại đầu tham cứu nguyên không có hai kiểu. Rốt cuộc cốt tham đến chỗ một niệm không sanh. Đó là tịnh niệm.
       Chỉ-Quán nói: “nếu tâm dong ruổi tán loạn, phải nên thu nhiếp lại quay về chánh niệm”. Chánh niệm là vô niệm, vô niệm tức là tịnh - niệm. Chỉ cần tịnh niệm này chẳng mờ liền là tương tục, há phải để tiếng niệm Phật không dứt mới cho là tịnh niệm sao? Nếu thế, thì chẳng biết tham thiền cũng chẳng biết niệm Phật. Nếu tham cứu quả đến chỗ tịnh niệm hiện tiền thì Tịnh Độ chẳng cần tìm bên ngoài, lúc đó một niệm tức đến được thượng phẩm thượng sanh, là chỗ đến của hạnh này vậy.
       Hỏi:
       Lý “tức tâm tức Phật! chẳng chạy cầu bên ngoài”, tin được đã thấy được suốt thì liền tùy duyên tiêu nghiệp cũ, chẳng tạo ương mới, hồn nhiên hăng hái để chờ thức cạn tự được, hay lại nên khởi nghi – tình tham cứu tận lực để cầu diệu ngộ?
       Đáp:
       Tin được tức tâm là Phật, chỉ là tin suông. Phải cần thực hành để chứng ngộ. Nếu không hành chứng mà tin rỗng cũng vô ích. Há chỉ lấy chữ “tin” liền cho đó là liễu triệt sao? Cổ nhơn nói: “Trước ngộ sau tu”, đó là sau khi ngộ chính nên tu hành. Cổ Đức nói: “Người học nếu được một niêm, chóng khế hợp với tự tâm, đó là diệu ngộ. Nhưng vẫn còn có chủng tử ác huân tập từ vô lượng kiếp đến nay gọi là hiện nghiệp lưu thức. Sau khi đã ngộ được đạo lý, trong 12 thời, miên miên mật mật trừ sạch hiện nghiệp lưu thức, gọi đó là tu, chẳng phải bỏ cái ngộ này ra ngoài, lại có cái tu.
       Tịnh trừ hiện nghiệp tức là tùy duyên tiêu nghiệp cũ, toàn nhờ vào công của ngộ mới có thể có sức trừ sạch thói ác. Nếu chỉ tin suông, lấy gì để tiêu thói xấu. Chỗ nói nghi tình tham cứu v.v… chính là công phu trừ sạch hiện nghiệp, nếu lúc chưa ngộ phải tham cứu chỗ khởi của nghiệp tập-lưu-thức. Kinh nói: “Ngồi yên lặng trong núi rừng quán tự tâm trôi chảy v.v.”.
Nếu đã ngộ rồi, thì chỗ khởi của thói ác, một phen chiếu đến liền tiêu, tự nhiên như mảnh tuyết trên lửa hồng.
       Ngộ rồi tiêu nghiệp cùng với công phu lúc chưa ngộ, hơn nhau như ngày với kiếp, chẳng thể nói đồng ngày vậy.
       Hỏi:
       Tham thiền tâm có lúc các niệm chẳng sanh. Thoại đầu liền đề chẳng khởi, đè cũng chẳng rơi. Lúc ứng duyên, nếu quản đới (đeo mang) lại bị cổ nhân quở trách, mặc kệ thì chẳng thể tiếp tục, chỉ là động tịnh hai bên, làm sao đưa lên tham cứu để chóng được tương ưng?
       Đáp:
       Khi nói tham thiền tạm có lúc các niệm chẳng sanh, nghĩa là chẳng phải thật chẳng sanh, mà là chỗ thoại đầu đắc lực. Chỗ đắc lực này chẳng thể thường, lâu, đến lúc gặp duyên liền mất, hoặc nếu bị cảnh giới làm dao động, tự nhiên động tĩnh hai bên, nên khởi diệt không dừng vậy. Nếu quả có thể dụng tâm, thì ngay lúc một niệm chưa sanh ra sức, lâu dần sẽ thuần thục, như thế bổn thể của một niệm không sanh hiện tiền, thường quang rõ rệt, sáng tối không dời đổi, động tĩnh nhất như mới làm thành một phiến. Đến đây, ứng duyên chẳng cần quản đới, thuận vật hợp đạo. Há có ý cổ nhơn quở trách cái vô sanh chơn thật sao? Về công phu tham thiền, nếu ngay lúc một niệm chưa sanh mà ra sức đề cứu tự nhiên chóng được tương ưng. Nếu đem tam muội “ánh chớp” (lôi quang) cho là được, thì cuối cùng rơi vào hang của thức tình.
       Hỏi:
Vĩnh Gia nói:
“Ai vô niệm ai vô sanh?”
Vân Cư Tề nói:
“Chẳng dứt phân biệt, chẳng bỏ tướng tâm”. Dường như sau khi ngộ, có tưởng có niệm.
Còn Dũng Tuyền nói: “Chẳng cho tẩu tác”.

Ngưỡng Sơn: “Thiền quỷ bất tri” và Thạch Sương: “một niệm muôn năm” v.v…
Lại hình như sau khi ngộ không có tưởng niệm, chẳng lẽ ứng duyên thì có, lìa duyên thì không? Hai nghĩa có không, mong được giải quyết?

       Đáp:
       Người xưa ngộ tức là vọng tưởng, vọng tưởng tức là ngộ, nguyên không phải là 2 loại. Người mê ngồi trong vọng tưởng nên mong diệu ngộ, toan nói là có cái ngộ riêng.
       Kinh Lăng Già nói: Chư thánh từ trước lần lượt truyền trao, vọng tưởng không có tánh, há có hai sao? Chỉ là lúc mê dùng vọng tưởng, lúc ngộ dùng tự tâm, há có sau khi ngộ lại khởi vọng tưởng sao?
       Hỏi:
       Vĩnh Minh nói: “Trước do nghe, hiểu mà tin rồi sao. Sau lấy vô tư khế đồng (không riêng tư để khế hợp), một lần vào cửa tin, liền lên địa vị Tổ”. Phàm Tổ vị rất sâu, nghe hiểu làm sao có thể lên liền? huống như Vân Môn “đã thấu pháp thân”, hay Động Sơn “tất khiến dứt ý thức” là chứng, chẳng phải hiểu. Chỗ hiểu xưng là Tổ vị này, chắc có nghĩa sâu xa?
       Đáp:
       Kinh có Tin Giải Hạnh Chứng là 4 cửa. Hiểu thì có cái hiểu của giải ngộ và cái hiểu của tri giải. Nếu nghe mà tín nhập là việc của tri giải. Còn như Linh Vân thấy hoa đào, Hương Nghiêm nghe chạm trúc chóng rõ tự tâm, đây là cái hiểu của giải ngộ, một lần hiểu liền suốt được tự tâm, tức đem chữ “hiểu” mửa bỏ, nghĩa là vào cửa này rồi, chẳng còn tri giải liền xưng Tổ vị. Nếu nghe việc trong nhà của người khác, hiểu được rồi cho là mình có, há có thể xưng là Tổ sư ư? Đã thấu nhập pháp thân nếu bóng dáng chẳng quên, chính là rơi vào thức tình, hoàn toàn còn tri giải, thế nên Cổ nhân chẳng quí nó. Nếu chơn thật ngộ không chỉ hiểu mới xưng là Tổ, mà ngay lúc mới phát tâm tức được Bồ đề. Há có thể cùng tri giải đồng sao?
       Hỏi:
       Sơ Tổ dạy Lăng Già để ấn tâm, Hoàng Mai khiến tụng Kim Cang mà kiến tánh, Câu Chi tụng Chuẩn đề, Thủ Sơn trì Pháp Hoa, thì dường như tham thiền chẳng ngại việc trì tụng. Dược – Sơn chẳng cho xem kinh, Triều Châu chẳng thích niệm Phật, cho đến Cao – Phong nói: “Thoại đầu miên mật liền là một quyển kinh không dứt”, lại hình như cấm tuyệt tụng trì, mà quý ở chỗ đưa lên tâm ấn.
Đến sau lấy tham thoại đầu làm chính, kiêm trì Hoa Nghiêm và niệm Phật làm thời khóa. Nay muốn ngưng khóa này, duy tham thoại đầu, chỉ còn nguyện lực, chưa biết được không?
       Đáp:
       Sơ Tổ và Tổ Hoàng Mai lấy Lăng Già và Kim Cang ấn tâm là vì đạo thiền mới đến sợ những học dụng tâm sai lầm, nên lấy kinh ấn cho chính tâm, không đến nỗi lầm lẫn, chẳng phải đem kinh làm cái hiểu của mình.
       Câu Chi trì Chuẩn đề là dùng chú làm thoại đầu tham cứu, cũng theo duyên mà vào. Như Thủ Sơn tụng Pháp Hoa, là sau khi ngộ rồi dùng làm Phật sự, tức chỗ nói “tâm ngộ chuyển Pháp Hoa” chẳng phải lấy tụng kinh làm công hạnh.
       Còn không cho xem kinh niệm Phật chính là sợ người học mê mất tự kỷ, lấy làm pháp thực để hội. Như người tham thiền, lúc chưa ngộ, chẳng ngại trì tụng để mượn pháp lực gia trì, dùng làm trợ hạnh như ba kỳ sám hối. Cổ nhân tất chẳng thể thiếu. Nếu ngộ rồi tụng kinh thì chữ tâm quang, bày lộ đều là diệu hạnh. Há so với bọn noi theo giấy mực, chim xuân kêu ngày sao?
       Hỏi:
       “Chỉ lo không thành Phật, chớ buồn Phật không biết nói”. người xưa dạy thế. Người học đời nay chẳng vụ chân tu mà lo cơ phong, chuyển ngữ, lầm vậy. Nhưng tự biết chưa ngộ, thì tha thiết nhắc nhỏm. Chỉ vì kiến địa chưa sáng sợ là tu mù luyện đui, nên giữa thầy trò, bạn đạo cần hỏi đáp thù xướng. Đây chẳng lẽ hại ư? Hoặc giả sức học chẳng rành thương lượng, tất đợi ngộ rồi mới thốt lời thì kiến địa còn thiếu sót, từ đâu mà khởi hạnh? Huống việc đào luyện lý tánh, quyết trạch đúng sai, như ba lần lên, chín lần trèo, vì một câu mà đi ngàn núi, đều ở khi chưa ngộ?
       Đáp:
       Thời xưa người ngộ tâm gọi là người mắt sáng. Nếu bậc tác gia gặp gỡ, như hai gương chiếu nhau, chẳng câu nệ có lời hay không lời, tự nhiên chạm mắt đạo còn, chẳng cần nhất định phải thù tạc cơ phong, tranh hơn cho là cao. Người học về sau, cuồng vọng ruổi rong, miệng lưỡi lanh lợi, thật chẳng đủ lấy. Nếu là tham học có nghi thì trước người sáng, mắt nên chân thành thỉnh ích, bày lộ bổn tâm. Như thế cũng chẳng phải gặp gỡ qua miệng lưỡi. Đến như rộng tham bậc tri thức, chỉ vì quyết trạch tâm này. Đâu ngại lời nói rơi trên cỏ, quang co, thương lượng bình thực. Mới là bổn sắc của đạo nhân. Nếu vụ cơ phong ứng thù thì là việc đầu cửa cuối song, chẳng phải chơn thật. Người chân tham thực ngộ quyết chẳng rơi vào đây.
       Hỏi:
       Người thấy tự tánh, được tự do đối với sanh tử, làm chủ được, có thể chuyển nghiệp lúc lâm chung. Chư Tổ kia được tự do thì chẳng luận, cao Thảo Đường Thanh, thiền sư Ấn v.v… sao cách lại mê? Há ngộ có cạn sâu, tu tập có nặng nhẹ ư? Hay cũng là đại bi tăng thượng, vốn cao thượng mà dấu vết thấp thỏi nhưng người không tự biết chăng? Không thế thì người học đâu còn tin ở pháp môn kiến tánh được?
       Đáp:
       Cổ nhân nói: Một lần ngộ liền thoát sanh tử, tức là ngộ tự tánh pháp thân. Còn có hạt giống tập khí vô minh nhiều kiếp là nhân khổ sanh tử, chưa chóng hết được, nên phải nhiều kiếp tu hành mới thành Phật đạo. Lại như Bồ Tát Thất Tín, đã ngộ tự tánh, địa vị lên bậc bất thối, lại trải qua 42 vị, dần dần dứt tập khí vô minh, mới thành Phật đạo, há có thể đem cái ngộ của thất tín liền cho là Cứu cánh thoát sanh tử? Thì biết biến dịch sanh tử vẫn cùng với cái khổ nhỏ nhiệm tương ưng. Nên nói: “Bồ Tát có cái mê cách ấm”. Chỗ nói chuyển nghiệp chỉ là đạo lực thù thắng nên có chuyển mà chẳng phải nhất định tiêu được định nghiệp. Thực ngộ có cạn sâu, tập có dày mỏng, nhưng sau khi ngộ, ở trong sanh tử mà chẳng bị sanh tử giam giữ, đến đi tự tại, nên gọi là biến dị sanh tử. Người ngộ tâm này ở trong sanh tử, dù mê cũng dễ giác, ắt chẳng đến nỗi quá điên đảo. Kinh nói: “Một phen thành thể vàng ròng, chẳng trở thành quặng nữa”. Há nên lo lắng sẽ mê lại, mà coi thường pháp môn kiến tánh. Nếu vốn cao mà vết thấp, lại chẳng luận ở đây. Nhưng Phật chẳng thể thoát định nghiệp thì chẳng phải lỗi của ngộ tâm vậy.

Đáp Cấp Gián
Đoạn Huyễn Nhiên
       Hỏi:
       Chân tâm viên diệu, chưa có ai chẳng do ngũ ấm làm chướng sự nhập vào đất Như Lai, chưa có ai chẳng do phá trừ ngũ ấm mà thành. 55 vị trong Lăng Nghiêm thứ lớp rất tường tận. Từ cạn đến sâu, ắt do phá ấm nọ mà sau leo lên địa vị kia, lấy sự phá chướng để đối với thứ bậc. Chư gia hiểu còn chưa được rõ ràng, huống là chỗ học vấn khó nghĩ đến, tìm tòi khó đến được. Chẳng lẽ bỏ qua sao? Kinh nói: “Người thọ ấm dứt rồi, tuy chưa được lậu tận, tâm không còn vướng vào hình tướng, từ thân phàm phu này, trải lên 60 thánh vị của Bồ Tát, có thể thấy phá sắc ấm, chắc chắn ở ba thứ lớp không còn gì nghi nữa. Vả lại tu tập chơn thật, các công tăng tiến đều tại sắc thân mà khởi. Sự phá sắc ấm, nhất nhất đều có thể tỏ ra. Riêng đem thọ, tưởng v.v… nhiếp vào trong 60 vị, vẫn chưa phân biệt chắc chắn. Ma kinh nói: “Lại vì thức ấm nếu hết như trong bình lưu ly sạch sẽ dựng mặt trăng báu”. Như thế là lượt hàng thập tín. Có thể thấy ngũ ấm gồm trong thứ lớp (tu hành) chỉ là vì người sau chưa để ý đến. Ấm kia chưa dứt thì chẳng thể siêu thập tín. Ấm nọ chưa tan thì chẳng thể siêu thập trụ v.v… Đến khi thức ấm tiêu mất, 60 vị thứ mới siêu. Nay nếu nói: “Phá ấm là việc của phá ấm, đâu cần quy hết về 60 vị, vị thứ là riêng của vị thứ, đâu cần quy hết về phá ấm” thì, có hai cửa vậy.
       Lại nữa, trải qua các địa vị mà không cùng nhập vào ngũ ấm, thì trong thứ lớp tu sẽ thiếu công phá ma, thứ lớp chẳng thành thứ lớp. Phá ấm mà không cùng nhập vào tam hiền, thập thánh thì trong phá ấm thiếu vị thứ tu chứng, thì phá ấm chẳng thành phá ấm. Mong thầy mỗi mỗi phân tích giảng rõ mở cái chấp mê của con. Nay bọn cướp tông đoạt án chỉ quý mắt sáng chẳng quý thực hành, bảo là đi trên đảnh Tỳ Lô, còn có ngũ ấm nào? Có thứ lớp nào? Thật là đại vọng ngữ, tai hại vô cùng. Ngay đến Tổ đắc đạo của tông môn cũng nói: “Một xong, tất cả xong, chẳng trải 3 kỳ kiếp”. Nay chẳng bàn về thần thông của thập địa, chỉ như Bồ Tát thập trụ tùy tâm nguyện có thể dạo 10 phương, chỗ đến tùy nguyện, các bậc cao hiền truyền đăng (nhà thiền) có thủ đoạn này không? “Lúc mới phát tâm liền thành chánh giác” e mới thuộc trong sơ càn huệ, chưa chắc là hậu tâm Kim cang càn huệ. Kế đó lại thấy Cổ Sơn chủ, bài văn “thức ấm tan, các căn hỗ dụng” tức Viên giáo trong giới thất tín, tương tợ tư hoặc đã hết, có thể vào Kim Cang càn huệ, từ địa vị tương tợ siêu nhập hậu tâm đẳng giác.
       Thiên Thai nói rõ Viên giáo: “Người lợi căn một đời có thể siêu nhập đến thập địa” cũng phù hợp với ở đây. Vừa nghe văn này bất giác vỗ tay nói: “Thức ấm nếu hết, như thế là siêu thập tín, thập trụ, thập hồi hướng, thập địa, đẳng giác v.v… Chữ “siêu” là chẳng trải qua 55 địa vị vậy. Thế thì từ ba thứ lớp về sau tức phá ngũ ấm. Ấm nếu phá thì 55 địa vị có thể siêu hết chăng? Nếu thế thì ngoài “hành bố” (thứ lớp tu tập) có một loại pháp môn khác, mong Thầy chỉ dạy rõ cho con. Nhà nông mắc hạn mong mưa, một ngày xem như một năm, lần thỉnh ích này, càng thêm thiết tha sâu xa, mong Thầy chớ tiếc sự giúp đỡ quý báu này.
       Vũ Xương Đoạn Nhiên cúi lạy.
       Đáp:
       Đọc đến chỗ hỏi Lăng Nghiêm phá ấm có cạn sâu, cùng 55 vị đối nhau đồng hay khác. Đây là chư Phật và Bồ Tát trụ trong tam-ma-địa (định), cảnh giới thân chứng, chẳng phải phàm tình có thể vọng lường. Nghĩa này chư sư ngày xưa cũng phải nghi đến. Ngay Tông Cảnh tuy nghiên cứu tột cùng tánh tướng, nhưng cũng chưa bàn đến đây. Và người học một cách đại khái nên cũng chưa bàn đến đây. Và người học một cách đại khái nên cũng chưa thể lưu tâm. Riêng tôi (sơn dã), thông suốt nghĩa chỉ ở 3 thứ lớp và văn kết vị, tuy có phát huy một chút, cũng chưa tường sự phối hợp các vị thứ; Như Lai hỏi, v.v… có cái thấy rất sâu! Tôi (sơn dã) thô thiển tối tăm, lại thiền định chưa sâu, ngũ ấm chưa phá, nên cảnh giới trong định đâu dám dối nói. Cư sĩ vì phát mà có tâm thiết tha, ý hỏi thành khẩn, nên tôi chỉ dám y theo thánh ngôn lượng, lược trình bày khái quát.
       Chỗ nói ngũ ấm là tất cả chúng sanh đều chịu cái khổ-cụ (dụng cụ chịu khổ) sanh tử. Đối với bậc tu hành, chưa có ai không phá ngũ ấm mà có thể vượt sanh tử, nên Như Lai ra đời chăm chăm chỉ cốt phá cái dụng cụ ngũ ấm sanh tử của chúng sanh, tức thời giáo một đời đều bàn về phá ấm. Tản mạn trong 5 thời không đâu không thuyết, nhưng chưa có thứ lớp. Duy chỉ có một cuốn kinh Lăng Nghiêm, thâu hết thời giáo một đời, thống nhiếp nhân quả tu chứng mê ngộ, đủ hết hai đường thánh-phàm để tiện cho người tu hành làm một đường Niết bàn môn. Nên vị thứ tu chứng đầu đuôi nêu tường tận. Hơn nữa lại đặc biệt nêu ra cảnh giới phá ấm trong định. Vì kinh này, người chơn thật tu hành chuyên lấy một cửa thiền định thâm nhập mà dùng phá ấm để nghiệm sự cạn sâu. Nên vị thứ chẳng đồng với Hoa Nghiêm, Anh Lạc v.v... thuyết. Vì Hoa Nghiêm tròn đầy biến quả, một vị đầy đủ tất cả vị, tuy bày thứ lớp, chẳng thuyết đoạn chứng, cốt ở chỗ mượn thứ lớp để hiển viên dung. Nên “lúc mới phát tâm liền thành chánh giác”, là lấy quả giác làm nhân tâm. Trong kinh Anh Lạc, tuy vị thứ rành rẽ, mà ý ở chỗ phần đoạn, phần chứng, nên theo kiến-tư, trần sa, vô minh để định thứ lớp tu chứng (hành bố). Như chỗ giải thích của Thiên-Thai, kinh này cùng hai kinh kia rõ ràng không đồng. Riêng theo Lăng Nghiêm Đại định đốn ngộ tiệm tu nên lấy tâm không sanh diệt làm gốc tu nhân. Thì trước ngộ chân tâm diệu viên làm gốc phát tâm, nghĩa là dùng tâm này dứt dần tập khí để định vị thứ cạn sâu. Chính trong Khởi Tín Luận: “phát tâm tu hành lấy ngộ chơn như làm gốc”. Đến chỗ đoạn hoặc, luận lại phần nhiều y theo đoạn chứng của tướng tông, riêng theo lục thô tam tế để định vị thứ. Đây là trước ngộ sau tu. Nên luận lấy phá hoặc để định vị thì dễ rõ. Kinh này lấy phá ấm để định vị thì khó hợp. Vì sao? Nếu theo luận thì Tín vị đoạn chấp thủ, kế danh tự, khởi nghiệp là 3 loại hoặc thô. Tam Hiền đoạn trí tướng, tương tục là hai hoặc: tế trong thô và thô trong tế. Từ sơ địa đến thất địa đoạn Hiện tướng trong tam tế. Bát địa đến Đẳng giác đoạn Chuyên tướng. Kim Cang tối hậu đoạn Nghiệp tướng. Trong kinh này, văn nói rõ về đoạn và chứng. Nay nếu lấy ngũ ấm đối với hoặc, hợp vị thứ cao thấp, thì nghĩa kinh phần lớn chẳng đúng vậy.
       Vì kinh có nói rõ: “lý phải đốn ngộ, nương ngộ đều tiêu”. Đây không trải qua các vị. “Sự phải dần trừ, nhân thứ lớp mà hết”. Đây lại căn cứ theo sự đoạn để xác minh vị. Theo kinh này thì trước ngộ sau tu, chính là phù hợp với nghĩa luận vậy. Nếu theo nghĩa luận, trước đoạn hoặc nghiệp tại Tam hiền, sau đoạn vô minh thì đăng địa, như thế cùng kinh này có khác chút ít. Tường tận văn kinh này trong 3 thứ lớp, tức được vô sanh pháp nhẫn. Từ đây tiệm tu, an lập thánh vị. Nhưng vô sanh pháp nhẫn là đăng địa, đã chứng chơn như bình đẳng, mới được nghĩa này. Ý kinh lấy trong 3 thứ lớp chuyên dùng chơn như làm gốc hạnh. Lại nói:
Ngược dòng toàn nhất
Quốc độ mười phương
Ví như lưu ly
Sáu dụng chẳng hành
Rõ ràng thanh tịnh
Trong đựng trăng báu
(Phản lưu toàn nhất
Thập phương quốc độ
Thí như lưu ly
Lục dụng bất hành
Kiểu nhiên thanh tịnh
Nội hàm bảo nguyệt)
       Đoạn sau văn nói: “Thức ấm nếu hết, như lưu ly sạch, trong đựng trăng báu”. Như thế là vượt thập tín cho đến đẳng giác viên minh nhập vào biển Như Lai Đại Trang Nghiêm. Lấy lời này của Phật làm chứng, thì ở trong 3 thứ lớp đã vượt các vị, ứng với lúc trước chưa đăng vị, đã phá thức ấm, chẳng đợi đến tương tợ tín vị, lại đâu dám vọng đem phá thứ ấm thứ lớp phối hợp các vị sao? Xem kỹ ý Phật, thì chẳng đúng vậy. Nghĩa chính của kinh này phần lớn cùng các kinh không đồng. Vì các kinh tùy thời tùy cơ bàn nghĩa một đoạn trong tu chứng, chỗ phá hoặc cũng tùy cơ mà tùy chỗ nghiêng nặng, tức là thuốc ứng với bịnh trong một lúc. Kinh này gồm hết thời giáo một đời. Không cơ nào chẳng nhiếp, coi trọng chỗ chuyên phá cội gốc sanh tử. Chuyên chỉ tập khí dâm dục là gốc rễ sanh tử. Đại định là dụng cụ phá địch… Nên kinh đặc biệt đưa ra hai loại vô minh phát nghiệp và nhuận sinh, là đem đại định phá ngay 8 thức căn bản vô minh mà dùng định chặt đến cùng. Dù bát thức chưa phá mà kiến-tư hoặc, trần-sa hoặc tự nhiên (nhậm vận) rơi trước. Đến như dùng tâm bất sanh diệt làm gốc tu nhân, chính là dùng tâm Kim cang làm gốc thiền định. Nên kinh nói: “Đây gọi là Diệu Liên Hoa, Kim cang Vương Bảo Giác”. Do đây quán thì lúc mới tu định, ở trong 3 thứ lớp, lấy định nghiên cứu tận cùng đả phá bát thức, thấu suốt tâm địa Kim Cang. Đây là lý tu đốn ngộ, nương ngộ đều tiêu, thì có thể siêu vượt các vị vậy. Nếu nói: “từ đây an lập thánh vị”, thì việc này phải dần trừ, nhân thứ lớp hết, tức là theo sự xâm nhập, đoạn trừ tập khí vô minh nhiều kiếp. Riêng lấy sự dày mỏng, nhẹ nặng, theo địa vị để phán định sâu cạn, cao thấp vậy. Đây là theo đốn ngộ tiệm tu, do phá ấm mà nhập vị, nguyên không có hai đường.
       Nghĩa này chính cùng với Quy Sơn nói: “Nếu người một niệm chóng rõ tự tâm, thì gọi là ngộ, rồi đem chỗ ngộ trừ sạch hiện nghiệp lưu thức, gọi là tu chẳng phải ngoài đây có cái tu khác. Vì chúng sanh theo dòng sanh tử (dòng có bốn loại: dục lưu - hữu lưu - kiến lưu và vô minh lưu), nay trong ba thứ lớp; dục ái khô sạch, căn cảnh chẳng gặp, hiện tiền người gì còn sống sót chẳng sanh lại nữa, tức là đoạn 3 dòng: dục, hữu và kiến.
       Gọi càn huệ địa là bảo càn huệ này chỉ khô sạch hữu, chưa cùng với nước pháp lưu của Như Lai tiếp xúc, tức là dòng vô minh vẫn chưa khô vậy. Dòng vô minh này là dòng vô minh trong tâm Kim Cương. Tông môn xem đó là chơn thường lưu chú.
       Nên văn kết hợp các địa vị của kinh nói: “thì biết mới được sơ càn huệ địa trong tâm Kim Cang”. Đây nói về thứ lớp (tiệm thứ) trước được càn huệ, về sau thẳng đến đẳng giác, lúc đó dòng tập khí vô minh trong tâm Kim Cang mới được khô vậy. Do đây mà quán thì ở trong ba thứ lớp đã phá bát thức, đốn ngộ tự tâm, từ nhập vào tín vị về sau thẳng đến thẳng giác thông đoạn tập khí vô minh, chính là phải dần trừ, do đó từ từ hết. Vì thế vô minh ắt phải trải qua các vị, sau đó mới hết. Vì từ trong cảnh giới chơn tịnh, khi vừa sanh một niệm vô minh, sanh tử liền khởi lên, vô lượng kiếp đến nay khởi hoặc, tạo nghiệp, đều là lỗi của vô minh vọng tưởng. Vì ở trong thời gian dài sanh tử, bao kiếp nhiễm trước ái dục, tập khí sâu dày, nên cần phải dùng tâm Kim Cương lớp lớp mài luyện, mới được trở về tâm địa cội nguồn. Cho nên từ tín vị nói: “Viên diệu mở bày, trung đạo thuần chơn”. Cuối cùng bèn nói: “lớp lớp như thế, đơn, kép có 12 lớp”. Chính là nêu rõ việc đem công phu đại định này làm tiêu mòn tập khí. Lại như kinh nói: “ngũ ấm mỗi mỗi đều lấy vọng tưởng làm gốc”. Nếu lấy phá ấm so với các địa thì kinh ban đầu trong tín văn nói: “Đem tâm này lưu nhập vào trong, tất cả vọng tưởng sẽ diệt hết không sót”. Thế thì đâu thể đem ấm mà nhập vào các vị được? Nếu đem vọng tưởng mà tu thì chẳng gọi là chơn tu. Lại trong 3 thứ lớp, hiện tiền mất hết không sanh lại nữa, thì đây đã ra khỏi 3 cõi sanh tử rồi.
       Văn sau nói thức ấm hết tức siêu mạng trược há chỉ phá thức ấm thôi sao? Thọ là chấp thọ tứ đại có khổ, vui v.v… Nếu thọ ấm chẳng phá, thì chẳng được chánh thọ. Nếu tưởng ấm chưa phá, thì khổ vào Xa-ma-tha (chỉ). Nếu hành ấm chưa phá, thì sanh diệt chẳng dừng, chẳng phải là chánh định. Nếu thức ấm chẳng phá, thì chưa ngộ chơn tâm, khó đứng vào các vị. Do chứng đắc như thế, thì trong 3 thứ lớp đã phá ngũ ấm, quyết chẳng đem ngũ ấm đối chiếu với các vị, thật là rõ ràng, há có thể riêng phá sắc ấm! Do ngũ ấm đều phá, mới gọi là chơn ngộ. Do phá bát thức tiến tu gọi là chơn tu. Đó là phá ngũ ấm mà đốn ngộ lý này. Sau đó đối với các vị, chỉ căn cứ đại định để tiêu ma tập khí vô minh nhiều kiếp. Chính là nói sự phải trừ dần. Đến như 55 vị, các điều công đức, vì trong Như Lai tàng đủ có hằng sa công đức, xứng tánh rồi bị vô minh biến làm hằng sa nghiệp tập sanh tử, nên nay dùng tam muội kim cương như huyễn, mài luyện nghiệp tập (tập khí vọng nghiệp) hóa làm thần thông diệu dụng.
       Vì chỗ hóa cạn nên vị thấp, chỗ hóa sâu nên vị cao.
       Khuê Sơn nói: “Giác tiên tiên phi, danh hậu hậu vị” (biết điều trước, điều trước là sai, gọi sau, sau mới định vị). Lấy đây mà quán đại nghĩa kinh này, chỉ lấy việc quán tâm nghiên cứu kỳ cùng, tiến phá vô minh, theo vị để xác minh sự cạn sâu của chứng nhập, thì chẳng phải phần đoạn, phần chứng có thể so sánh vậy. Do trước phá ấm mà sau nhập vị. Chẳng phải căn cứ phá ngũ ấm để phối hợp với các vị, điều này đã rõ ràng. Đâu thể chấp cứng rằng tùy theo sự phá ấm mà xếp đặt vị thứ được? Nhưng nói “phá ấm” là vị Phật sợ các người tu hành được chút ít cho là đủ, lầm loạn tu tập, nên đặc biệt nêu rõ để ngừa tà lầm. Chẳng phải lấy đây để xác minh vị thứ. Hơn nữa thức ấm chưa phá, dễ rơi vào nhị thừa, điều này thật để biết. Chỉ có Thiền môn đốn ngộ tự tâm, chóng ra khỏi sanh tử thì chẳng rơi vào giai cấp. Như thế trong 3 tiệm thứ (thứ lớp), chóng phá bát thức, tự nhiên siêu vượt các vị. Nhưng Tổ sư tuy nói: “siêu vượt” là chỉ nói pháp thân Phật thôi, chưa hẳn đủ có tướng quang trang nghiêm, thần thông diệu dụng. Nghĩa là chư Phật Như Lai chưa ai không ngộ tự tâm mà thành Phật. Nếu một lần ngộ mà được vô sự ngay, thì chư Phật vì sao lại trải qua 3 đại a-tăng-kỳ kiếp? Nay người ngồi trên bồ đoàn chưa ổn, muốn đem cái thông minh thế trí, ăn trộm công án cổ nhân, tự khoe tri kiến, vọng nói chứng thánh, tự cho siêu Phật vượt Tổ, thật là người tăng thượng mạn, chưa được mà nói được, đọa đại vọng ngữ chẳng đáng sợ? Bọn này há có thể đem phá ấm hay chẳng phá ấm cùng với bậc chơn tu ra so sánh ngang hàng sao? Vừa rồi đi về phía Đông, thấy thiền giả rất nhiều, mà người rơi vào thượng mạn chẳng ít, tôi (sơn dã), đặc biệt nêu phá ấm để ấn chính. Người nghe hổ thẹn mà phục, có thể bẻ gảy cái tà. Thấy cư sĩ (bạch y) bàn thiền, phần nhiều rơi vào bệnh này. Bây giờ nếu chơn thật tu hành, chỉ lấy 3 thứ lớp (giai đoạn) thực hành, chỉ tự tâm, quyết một phen mau ra khỏi sanh tử là việc gấp. Nếu tự tâm một lần sáng, thức ấm phá được thì 4 ấm trước, chẳng đợi phá mà tự phá. Lại như:
Đưa đầu vào kiếm bén
Giống như chém gió xuân
(Tương đầu lâm bạch nhẫn
Nhất tợ trảm xuân phong)
       Há sắc ấm có thể làm ngại được. Lại nói: “Lão tăng hay chuyển 12 thời”. Lại nói: “Thở vào không ở trong ấm giới, thở ra chẳng dính các duyên” há nằm trong thọ, tưởng, hành ấm sao? Lục Tổ lúc lâm chung tự biết chỗ đi, há chẳng phải chỗ đến tùy nguyện sao?
       Như thế thì chẳng phải chỗ cho người nói bừa là chứng thánh, có thể nghĩ tới. Chúng ta chỉ quý tham cứu cho sáng tự tâm, cầu một phen ra khỏi sanh tử, chẳng cần phải bàn luận phá ấm cùng vị thứ có hợp hay chẳng hợp. Đem lý mà suy lường, lấy lời thánh chứng minh. Cái thấy dở tệ của tôi như thế đó, bậc cao minh có gì xin dạy cho.

Tây Đường Quảng Trí
Thỉnh ích giáo thừa, có 6 điều nghi:
1. Hỏi:
Cổ nhân phán giáo nói:
       Song thùy lưỡng tướng
       Nhị thủy đồng thời
       Sơ thuyết Hoa Nghiêm
       Bổn bị đại thừa
       Nhị thừa tuyệt phần
       (Hai lần chỉ dạy – Hai tướng khác nhau – Hai sự bắt đầu một lúc. Đầu tiên thuyết Hoa Nghiêm - Vốn dành cho đại thừa - Nhị thừa chẳng có phần). Lúc chuyển Tứ - Đế tại vườn Lộc Uyển, Thâu Tử (XLP) và Mục Kiền Liên còn chưa bỏ tà xuất gia, cớ sao trong văn kết thúc Hoa Nghiêm có Thinh – văn Xá Lợi Phất v.v... Nếu căn cứ theo văn kết thì nhị thừa được nghe Hoa Nghiêm, cớ sao trách rằng Nhị thừa không phần? Văn nghĩa đều trái nhau, mong Thầy rủ lòng phân tích rõ.
       Đáp:
       Trong kinh nói chư Phật mười phương đồng một thân, một trí huệ như nhau nên trong cõi Phật mười phương chỉ nói pháp Nhất thừa. Do đó trong trường Bồ Đề lúc mới thành chánh giác, Phật liền thuyết Hoa Nghiêm là pháp Nhất thừa tối thượng dành riêng cho chúng sanh đại căn, là nói xứng hợp với thực trí mà thuyết. Đâu dè chúng sanh căn cơ bất nhất. Có cái hiểu trung, liệt, chẳng thấy nghe thì gọi là tuyệt phần. Nên tùy cơ hạ liệt mà Phật cảm hiện hóa thân nhỏ bé, có 8 tướng thành đạo ở Lộc Dã Uyển nói pháp tam thừa. Nghĩa là pháp thân chân thật của Phật giống như hư không, ứng vật hiện hình như trăng trong nước. Vì chỉ tùy cơ cảm nên hiện thân như vậy. Chỗ thuyết pháp là dùng quyền trí phương tiện.
       Trên hội Hoa Nghiêm, trong rừng Thệ Đa, Tượng vương của Văn Thù xoay mình thì Xá Lợi Phất v.v... có 6 ngàn tỳ kheo thành đạo ngay dưới lời. Đó cũng là Bồ Tát địa thượng gọi là Đại A La Hán. Nay Phật đã hiện ứng thân nhỏ bé, thị hiện sanh trong nhân gian mà các ngoại đạo chấp chặt ngã kiến, chưa dễ nhiếp hóa, nên Xá Lợi Phất v.v... cũng tùy hiện tướng Thanh văn, phụ giúp tuyên dương Phật pháp giáo hóa để gây ảnh hưởng đến mọi người. Chỗ nói những người “nội bí ngoại hiện” chẳng phải là thực Thanh văn. Còn trách nhị thừa không có phần là trách Thanh văn thực hành chấp tướng mà Xá Lợi Phất v.v... chịu nghe quở trách. Chính là phương pháp đánh trống thổi tiêu để giáo hóa vậy. Giống như trên sân khấu, mỗi người một vai để diễn tả tình tiết buồn vui, lìa hợp. Đến lúc vãn tuồng thì không dính dáng gì với mình cả. Nên Bồ Tát lợi sanh như đùa chơi vậy: điều hòa mà ứng, ngẫu nhiên mà hợp. Há là pháp thực sao?
       2. Hỏi:
       Trong kinh Hoa Nghiêm, Phổ Nhãn chẳng thấy Phổ Hiền, như thế ba phen nhập định, xem khắp tam thiên đại thiên thế giới cũng chẳng thấy. Liền đến bạch Phật, Phật dạy: “Ông trong tam muội lặng lẽ, khởi niệm sẽ thấy”. Phổ Nhãn vừa khởi một niệm, liền thấy đức Phổ Hiền ở trong hư không.
       Nếu thân Phổ Hiền là nhất chân pháp giới, đáng lẽ ở trong tam muội thấy được, cớ sao lại chẳng thấy. Nếu Phổ Hiền là thân sắc tướng, lúc chưa nhập định phải thấy. Cớ sao Phật dạy khởi niệm mới thấy?
       Đáp:
       Pháp thân vô tướng, dù cho Phổ Nhãn cũng chẳng nhìn thấy. Ở trong định, cầu mà chẳng thấy. Vì pháp thân không có kia, đây để có thể thấy lẫn nhau. Thì biết có thể thấy là cửa thứ hai, nên khởi niệm mới thấy.
       3. Hỏi:
       Trong Khởi Tín Luận:
       “Chân Như huân bên trong nên có vọng tâm, rồi chán khổ sanh tử, mong cầu Niết bàn”. Vọng tâm có 2:
- phàm phu, nhị thừa nương sự-thức huân tu.
- Bồ Tát nương nghiệp-thức huân tu.
Nay người học tham cứu, chỉ nương sự-thức, chẳng thể nương nghiệp-thức. Tham thiền vốn là pháp môn Đại thừa, nếu y sự-thức mà tham thì trở thành hạnh quả phàm phu, nhị thừa. Nếu lúc tham, hai thức cùng dùng thì lại trái lời cổ nhân nói: “lìa tâm, ý, thức mà tham”. Mong thầy rủ lòng khai quyết.
       Đáp:
       Kinh thuyết phàm phu, nhị thừa nương sự thức tu. Bồ Tát nương nghiệp thức tu là căn cứ chỗ nương thức phát tâm thủ chứng vậy. Nay người tham thiền phát tâm, tuy từ sự thức mà dùng chỉ cốt phá ngay thùng sơn nghiệp thức, thấy thẳng một lần hướng thượng trước lúc chưa mê. Chẳng rơi vào hang ổ của hai thức. Nếu được chút ít cho là đủ thì chẳng thể lìa tâm, ý, thức vậy.
       4. Hỏi:
       Cổ nhân nói: “Chẳng quý chỗ thực hành (hành lý) của lông, chỉ quý kiến địa của ông” Lại nói: “Kiến địa chẳng sáng, rơi xuống hầm hố”. Nay các nơi giải nói có hai:
- Thuyết học rộng kinh luận, nương chỗ hiểu gọi là kiến địa.
- Thuyết sau khi ngộ sáng rồi mới là kiến địa.
       Nếu học hiểu là kiến địa, cớ sao tông môn chẳng cho xem kinh? Nếu sau khi ngộ mới là kiến địa thì nay người sơ tâm thực hành lấy pháp nào làm kiến địa để tránh khỏi tai họa rơi hầm?
       Đáp:
       Hiểu là kiến địa có 3 loại chẳng đồng: có học hiểu, có tin hiểu và có ngộ hiểu. Nếu theo lời dạy, hoặc trên công án Tổ sư hiểu được chỗ cứu cánh của Phật Tổ chẳng rơi lối tẻ. Đây gọi là học hiểu nghĩa là nương địa sinh hiểu.
       Lại có người chưa gần ngôn giáo, nhưng chỉ quyết định tin tự tâm, trọn không một vật. Đó là tin hiểu (tín giải).
       Nếu tham cứu, một sáng rõ được bổn hữu đây là ngộ hiểu (ngộ giải).
       Ba cái này đều gọi là kiến địa. Nếu nương theo cái khác mà hiểu đều rơi vào chướng-tri-kiến. Còn tin hiểu như vậy, cũng cần tu tập để đến chỗ thực chứng. Còn ngộ giải tuy một niệm đốn ngộ còn có hoặc chướng vi tế từ vô thủy cũng cần trừ sạch.
       Ba kiến địa này tuy quý, nếu chẳng thực hành, trọn khó được cứu cánh. Nay, cổ nhân quý kiến địa chỉ lấy căn khí làm gốc. Chẳng phải hoàn toàn không thực hành. Lời nói một lần của cổ nhân chẳng thể cho là thực pháp để hội.
       5. Hỏi:
       Cổ nhân nói: Tham cứu ở chỗ bửa củi, gánh nước, hành cước mà tham. Nay người học cốt ở ngồi yên lặng. Công tham có sức. Nếu ở trong 4 oai nghi cùng vật giao tiếp, tâm niệm bay nhảy thì thoại đầu chìm mất. Nếu chỉ tĩnh tọa thì lại trái với sự luyện tập của cổ nhân. Nếu dùng vật giáo tiếp thì trọn ngày tán tâm. Làm sao khiến người học trong nhật dụng, động tĩnh không trái nhau?
       Đáp:
       Cổ nhân hành công phu, cốt ở đi, đứng, nằm, ngồi, trong 4 oai nghi khán giữ, chẳng phải dạy ông ngồi chết khô. Vì mới vào thiền, tâm phần nhiều tán loạn, quấy động, mới phải ngồi yên nhiếp tâm. Kỳ thực cốt đem việc làm trong tĩnh lặng đi vào chỗ động nghiệm xem thế nào? Nếu dụng tâm miên mật tự nhiên động tĩnh như một, làm thành một mảnh. Nay đối cảnh tâm niệm bay nhảy, là đối với thoại đầu toàn không đắc lực. Há là người chân tham sao? Nay chỉ cần thoại đầu đắc lực, chẳng câu nệ động tĩnh, tự nhiên chẳng bị chúng chuyển.
       6. Hỏi:
       Kinh nói: “Tâm, Phật, chúng sinh cả ba không sai khác”. Lại nói: “Cõi Phật đồng, cõi chúng sanh đồng”. Lại nói: “Độ hết chúng sanh mới thành Phật đạo”. Nếu chúng sanh và Phật bình đẳng, Phật không có nghĩa độ sanh. Làm sao độ hết chúng sanh mới thành Phật đạo? Nếu Phật, Bồ Tát độ hết chúng sanh, cõi Phật dường như tăng dần, cõi chúng sanh dường như giảm dần. Làm sao bảo chúng sanh và Phật bình đẳng?
       Đáp:
       Tâm, Phật, chúng sanh xưa nay bình đẳng vì chúng sanh là chúng sanh trong tâm Phật, nên Phật độ chúng sanh của tự tâm. Nếu tướng chúng sanh đã không, tức là độ tận chúng sanh, tức thành Phật của tự tâm. Dù một tâm đều làm chúng sanh, thì chúng sanh tự làm chúng sanh của tự tâm, mà cõi Phật chẳng giảm. Dù cõi chúng sanh hết, chỉ là tiêu hết mỗi mỗi cõi chúng sanh, vì tâm bình đẳng nên Phật cũng chẳng thêm. Phật quán cõi chúng sanh không. Nếu chúng sanh tự tâm chẳng không thì chúng sanh cũng chẳng giảm. Ví như bầu trời mây mù, u ám, hư không cũng chẳng giảm, mây tan sương tiêu, hư không cũng chẳng tiêu, mà thể hư không vẫn lặng lẽ. Thế thì cõi Phật há có tăng giảm sao?

Đáp Đại Khiết
Có 6 câu:
       1. Hỏi:
       Người Trì luật nói: mới học không biết trì luật e cử động sai lầm. Thọ giới có thứ tự quyết không nên mãng liệp. Nhưng trong đây đại, tiểu thừa quyền thực ứng dụng. Tuy căn cơ nhân nơi lợi, độn, tùy cạn sâu không phải là không có tệ đoan, may có nêu ra quỹ tắc để khiến người lanh lợi kính mộ tuân theo, và người độn căn bắt chước hay chăng?
       Đáp:
       Phật thiết giới, bộ Luật ghi đã rõ ràng. Bổn ý vì chúng sanh có tám vạn bốn ngàn phiền não nên đặt 84.000 luật nghi làm thuốc trị bệnh. Muốn khiến bệnh phiền-não tiêu trừ, pháp thân được thanh tịnh. Vì căn cơ có lớn, nhỏ. Nên giới có 3 bậc: Sa Di 10 giới, Tỳ kheo 250 giới, Bồ Tát 10 giới trọng, 48 giới khinh. Vì 2 loại giới Sa Di, Tỳ kheo là nhân sự mà đặt nên gọi là giá giới, nghĩa là ngăn dứt lỗi lầm. Tuy Đại Tiểu Thừa đều tuân theo mà phần nhiều vì Tiểu Thừa chỉ chấp thân không hành; có người có thể chấp tâm chẳng khởi tức là Đại thừa, cũng ở sự tướng mà đặt giới. Đến như kinh Phạm Võng nói giới 10 trọng, 48 khinh, gọi là tánh giới. La Bảo Thân Phật Bổn Sư Lô Xá Na thuyết: pháp môn tâm địa của chư Phật, gọi là Kim Cang bao giới, trao cho Thích Ca Văn Phật lần lượt truyền hóa, nói tánh giới nghĩa là liễu đạt tự tánh thanh tịnh, xưa nay chẳng nhiễm, chóng ngộ pháp thân thanh tịnh sẵn có, tánh tự đầy đủ, nên gọi là giới.
       Kinh nói: “Nếu người thọ giới Phật tức nhập địa vị Phật”. Nên đức Thích Ca trong 49 năm thuyết pháp, chỉ truyền giới-pháp này mà thôi. Cuối cùng niệm hoa chỉ dạy, cũng dạy giới tánh này mà thôi. Chỗ ngộ của Lịch Đại Tổ Sư cũng là viên thành giới quang này mà thôi. Nên quán tất cả chúng sanh, hạt giống Phật tánh xưa nay bình đẳng, vì đông đủ pháp thân bình đẳng. Lấy Phật tánh mà quán chúng sanh thì phàm khởi một niệm sát, đạo, dâm, vọng cho đến nói lỗi của tứ chúng, tự khen mình, chê người, báng Tam Bảo tức đoạn huệ mạng Phật, cùng giết Phật không khác. Nên kê khoa 10 tội nặng. Nếu đem pháp thân bình đẳng mà quán chúng sanh thì không thể sát, đạo, dâm, vọng cho đến hủy báng, vậy là viên mãn đốn giới. Nhưng quan trọng là riêng tại chủng tử Phật tánh tức huệ mạng Phật, do đó chẳng những thượng căn lợi trí có thể thọ mà hoàng hai căn, dâm nam, dâm nữ, cho đến quỷ thần như hiểu lời pháp sư đều kham thọ lãnh. Chỉ cần tin chủng tử Phật tánh của tất cả chúng sanh tức là pháp thân bình đẳng. Nếu có thể quán như thế, thì đối với tất cả việc làm trước mắt hằng ngày, cảnh giới gặp gỡ đều là ánh giới sáng soi. Như thế chẳng những chấp thân chẳng hành mà ở sát, đạo, dâm, vọng, chạm mắt, niệm niệm Phật tánh hiện tiền, ắt chóng hóa thành khối ánh sáng (quang minh tụ), há chỉ chấp tâm chẳng khởi mà thôi ư? Nhưng pháp trì giới tại giá giới đã đành là khó, đầu mối ở giữ gìn 3 nghiệp, chế phục tội lỗi. Chỉ có tánh giới này mới thật khó. Cốt đem một mảnh tâm kim cương giữ gìn chẳng mất. Nếu một niệm mờ mất tức hoàn toàn đọa lạc. Há là việc nhỏ sao? Nên hàng sơ tâm thập tín trong Hoa Nghiêm, trì giới này thuyết phẩm Tịnh Hạnh 120 đại nguyện thì chỗ dùng hằng ngày không rỉ chảy. Còn theo sự tướng đến như sơ tâm thập trụ trì giới có phẩm hạnh quán xét lìa tướng tức là phương pháp trì giới này. Sơ cơ thường trì 2 phẩm kinh này, lâu dần tự nhiên tương ưng.
       Nói “tệ” là tại giá giới có chấp tướng, tức là phần đông ngã mạn tự cao, có cái tệ ghét người huy giới.
       Người trì tánh giới có cái tệ chưa đắc nói đắc, buông lung mặc tình nhận giặc làm con. Trừ hai mối này, chẳng hỏi lợi, độn. Đều gọi là người chân thật giữ giới.
       2. Hỏi:
       Tham thiền nói:
“Giữ luật chẳng bằng tự tánh”, trọn thuộc lầm lẫn. Muốn cầu kiến tánh không gì qua tham cứu, trong đó nghi-ngộ xen nhau, con-giặc khó đoán. Mong rủ lòng xem cho chắc để khỏi đọa hầm mê?
       Đáp:
       Phật dạy sa mon tu tập Giới-Định-Huệ tam học Luật tức là Giới học, tham cứu là Định học. Nhưng trong kinh bày định-học là diệu môn Tam Quán, là đường tắt ngộ tâm. Sau nhân đạo Thiền đến, trong chỗ chỉ thẳng truyền riêng, kiến tánh là thiền mà chẳng nói định. Nhưng thiền tức là định vậy. Ban đầu Đạt Ma dạy Nhị Tổ chỉ là cái “tìm tâm trọn chẳng được” gọi là đốn ngộ. Cho đến Lục Tổ chỉ là dạy người “chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, cái gì là bổn lai diện mục của chính mình?” Tức từ đây cầu ngược lại tự tâm liền là công phu tham cứu. Lúc đầu không có thuyết khán thoại đầu, hạ nghi tình, sau đến Hoàng Bá trở xuống mới dạy người khán thoại đầu, đem một tắc công án của cổ nhân làm bổn tham, truyền nhau làm pháp thực. Kịp đến bây giờ, sư-gia dạy người chỉ tham công án, chẳng cứu xét tự tâm. Nhân đây làm nghi lầm nhiều người. Nên nay người tham thiền tuy đông, chưa có được người chánh tri kiến. Hơn nữa, đem tham-thiền hủy báng kinh là bởi vì chẳng phải chân thật tham thiền vậy. Riêng chẳng biết cổ nhân vì muốn người học có chỗ vào, đặc biệt dùng một lần phương tiện quyền nghi, chỉ cốt cho người biết bổn tâm mình. Phật Tổ há có hai tâm sao? Riêng chẳng biết đề thoại đầu, ngăn dứt ý căn, chẳng cho một niệm sinh diệt trôi chảy là yếu môn nhập định. Mà nay riêng làm cái tưởng kỳ đặc nên phần nhiều tự lầm.
       Nếu nay tham cứu thì không thể không tham thoại đầu, vì sơ tâm tán loạn khó chế phục. Cốt ở đây làm “lỗ mũi”, nên lúc chưa đề tên, phải cần trước hết đem thân tâm trong ngoài nhất tề buông xuống, buông đến chỗ không thể buông; từ đây thong thả, hết sức đề khởi thoại đầu. Nhìn lại chỗ khởi, rốt cuộc là cái gì? Vì chưa thấy rõ tự tâm nên hạ nghi tình: “Thế nào là bổn mạng nguyên thần của chính mình?”. Như thế truy cầu, gọi là tham cứu. Cần niệm niệm chẳng mê, tâm tâm chẳng đổi. Ngày đêm tựa chắc bỏ ngủ quên ăn. Hốt nhiên đậu nổ trong tro lạnh. Bổn thể một niệm hiện tiền. Đó là ngộ bổn tâm mình. Đến đây y nguyên chỉ là người thuở xưa. Lại không có một chỗ kỳ đặc mảy may nào. Nếu được một niệm hoan hỷ mà tự cho là đủ, gọi là nhận giặc làm con, hà huống tạo các thứ tri kiến, nói kệ, nói tụng làm của lạ ư? Cần thiết chẳng nên rơi vào lưới ma này.
       3. Hỏi:
       Công án nói:
       Thoại đầu phá nát rồi thì 1700 cát đằng (công án) chẻ dễ như phá tre. Nhưng một tắc nếu sai lầm thì một loạt mây mù nổi dậy từ những cái phá nát trước, mới tin đó là cửa quỷ. Nếu chẳng biết cái tệ này mà đùa bỡn tinh hồn thì tam đồ ẩn sẵn vậy.
       Đáp:
       Người học quả có thể thấy rõ tự tâm, đến đất chẳng nghi thì cùng mười phương chư Phật, lịch đại Tổ Sư chung lỗ mũi thở ra. Lại nói cái gì là công án với chẳng công án? Việc này chẳng phải việc trên phần người sơ cơ. Hãy để riêng đó, chẳng cần để ý.
       4. Hỏi:
       Ấn giáo nói: Người chẳng hướng trên kinh ấn chứng, thì chẳng được chánh tri kiến. Đây là lời dạy cũ của Hòa Thượng. Nhưng đường nghĩa giải là tập khí cũ, tập khí cũ khó tiêu, như dầu vào trong bún, nếu vạn nhất trong chỗ ấn có một tơ ý thức, thì người ngộ chuyển rơi vào ấm ma, rồi phát tà kiến, làm hại chẳng nhỏ. Mong chỉ bảo chỗ thắc mắc.
       Đáp:
       Lão nhân tầm thường muốn người tu hành dùng giáo (kinh) ấn tâm. Nghĩa là vì chỗ thấy, chỗ biết của mình một bề không người sáng suốt chỉ dạy tà chánh, muốn đem kinh Phật ấn chính. Như trong kinh Lăng Nghiêm, Lăng Già, Viên Giác đều thuyết công phu thiền định là cốt yếu của ngộ tâm. Đem tự tâm đối chiếu xem. Như chỗ Phật nói ra chẳng bằng Phật không nói. Nên nói: “Lấy Thánh giáo làm gương sáng chiếu soi tự tâm, chẳng phải đem câu lời huyền diệu trong trở lại cho là cái hiểu của mình. Như chỗ hiểu của ông, chính là chẳng biết chỗ rơi của thoại đầu. Đến như chúng ta, các thứ bịnh tâm, chỉ có Phật mới bày tỏ hầu hết: như trạng thái thăng trầm 7 thứ, hình thức của 50 loại ấm ma trong kinh Lăng Nghiêm, Tà kiến của ngoại đạo nhị thừa trong kinh Lăng Già, Phật nói chẳng phải ít mà đâu biết sợ, còn theo ư? Ta nói ấn tâm là chỗ này vậy. Chỉ cốt lấy kinh chiếu tâm, chẳng ở nghĩa lộ (theo đường nghĩa giải). Chẳng phải chỗ nghĩa lộ đến, các thứ tập khí xưa lại chẳng chỉ ở nghĩa lộ vậy.
       5. Hỏi:
       Xiển giáo nói: Pháp bố thí thì lớn, pháp cúng dường thì cao nhất. Do ngộ ấn giáo, tức ấn xiển giáo, tợ hồ khế hợp tri kiến Phật, chuyển Pháp luân lớn, nhưng ngộ chẳng phải chân ngộ. Do ấn tự tin, ấn chẳng phải chân ấn, do xiển dương (suy-diễn) tự gánh vác, xóa sạch các chú cước, riêng khoe cái sáng của mình. Là sư-tử hay là chồn cáo: dễ đổi với việc tự quấy động. Là xiển dương, là báng dèm: khó đối với sự tự tri. Mong rủ lòng phân định rõ. Xin vâng làm quy củ mãi.
       Đáp:
       Làm đệ tử Phật, nhớ ơn Phật khó đền, chỉ có thay Phật truyền bá giáo pháp là người chơn thật báo ơn. Nên chư sư ngày xưa hoằng pháp có 3 loại chẳng đồng:
       + Tự ngộ bổn tánh, khéo khế hợp tâm Phật. Đối với lời dạy của Phật như từ trong ngực của mình lưu xuất. Tứ biện tài vô ngại. Hơn nữa, thâm nhập biển kinh, sóng bủa mông mênh, như các đại Tổ Sư Thiên Thai, Thanh Lương, Khuê Phong vậy.
       + Tuy chưa ngộ tự tâm, y lời Phật dạy ấn định tự tâm, rộng dò biển giáo, như chỗ hiểu mà thuyết, chẳng lầm ý Phật. Đây tuy chưa vượt khỏi ngôn tượng mà chẳng dám vọng đem cái thấy của mình nói bừa, y theo giáo phô diễn, là như chư đại pháp sư từ trước.
       + Có chủng tử Bát Nhã huân tập sẵn có như có công phu thiền định, tự sáng tâm mình, khéo khế hợp ý Phật, chỉ chưa kinh nghiệm (quảng thiệp) nhiều, nghe nhiều, mà chính kiên chẳng lầm.
       Tuy có cái lỗi lấy cạn làm sâu mà không có tội hủy báng pháp. Chỗ hoằng dương đều lấy pháp thí làm tâm, chẳng cầu danh lợi cung kính của thế gian như là các lão Ôn Lăng, Tịch Âm vậy.
Đây đều là cái lớn của pháp thí. Còn có người thông minh lợi căn, chỉ cậy cái thấy của mình là được, bài xích cổ kim, rộng miệng bàn ngang, chỉ dùng hoằng pháp làm lợi, đây chẳng người phá hoại Phật pháp, còn làm người sau lầm đọa. Như thế há có thể xứng là xiển dương Phật pháp sao? Đây rõ-ràng dễ thấy, chẳng hỏi cũng có thể biết.
       6. Hỏi:
       Tụng Cổ nói: Cổ nhân ngộ rồi, tụng cổ như vẽ vời hư không, không rơi vào sắc tướng. Nay người ngộ chưa thể triệt, vội dễ dàng tụng cổ, buông câu nghĩ thơ, cơ giống như hài hước, cho là lời ngộ, cảnh ngộ, như nem nướng đút miệng người. Một lần chuyển thân đọa vào loài hồ, điềm nhiên không biết sợ. Đây là lưu lệ thời mạt pháp. Chúng con dễ mắc vào hầm này. Mong ban lời khuyên ngăn, khắp nơi nhờ ơn sâu.
       Đáp:
       Tụng Cổ từ trước đã có. Chẳng qua phát huy chỗ cổ nhân nêu sơ lược để dạy thi thiết (công việc tỉ mỉ) của môn đình. Vì làm sáng tỏ đại cơ đại dụng, và ra tay tha, bắt, giết chết, cứu sống. Chẳng phải lo nói cho đã miệng (thỉ khẩu túng tình), lờ mờ mà được. Tụng này, người xưa xiển dương giáo pháp có hai việc đều chẳng phải chỗ người sơ cơ nóng nảy làm. Đâu cần chuẩn bị. Cổ Đức nói: “Chỉ được liễu ngộ tự tâm, chẳng lo chẳng biết nói pháp”. Như thế thì người sơ tâm chỉ lấy việc tham cứu tâm, cầu sáng đại sự của mình là cấp thiết, không nên ôm cái thấy này vậy. Chúng ta nếu có thể liễu ngộ tự tâm, dù chẳng xiển dương giáo pháp, chẳng tụng cổ cũng là chơn thật xuất gia, chẳng phụ mặc áo cà sa vậy.