Bồ Đề Đạt Ma
Quán Tâm Pháp
Ch ánh V ăn
Thiền Sư Thích Minh Thiền Dịch
Bồ Đề Đạt Ma Quán Tâm Pháp Thích Minh Thiền
Viễn Lưu vô máy Vi Tính Rằm tháng 9 2009 253
THIÊN THỨ NHỨT
LUẬN HUYẾT MẠCH
CHÁNH VĂN * Ba cõi lăng xăng đều từ một tâm.
Phật trước Phật sau đều chỉ dùng tầm truyền tâm,
chẳng lập văn tự.
* Có người hỏi : Nếu không lập văn tự, vậy lấy gì
làm tâm ?
Đáp : Ông hỏi tôi tức là tâm của ông, tôi trả lời với
ông tức là tâm của tôi. Nếu tôi không có tâm thì lấy
đâu biết để trả lời với ông ; ông nếu không có tâm
làm sao ông biết hỏi tôi. Cho nên biết : hỏi tôi tức là
tâm của ông đó.
* Từ lũy kiếp đến giờ, nhẫn đến hành tung hoạt
động bất cứ lúc nào, bất cứ chỗ nào đều là cái tâm
vốn có của ông, đều là Phật vốn có của ông. Cái
nghĩa chính tâm mình là Phật là như thế.
* Ngoài tâm này, rốt-ráo không có Phật nào khác có
thể được. Nếu lìa tâm này mà tìm Bồ-Đề, Niết Bàn
thì thật là không tưởng.
* Tánh chơn thật của tự mình không phải pháp nhân
pháp qủa, đó là nghĩa của tâm
* Tự tâm là Niết-Bàn. Nếu nói ngoài tâm có Phật và
Bồ-Đề có thể được thì thật không tưởng.
* Phật và Bồ-Đề ở chỗ nào ? Ví như có người dang
tay bắt hư-không có được gì không ? Vì sao thế ? vì
hư không chỉ có tên chớ nào có hình tướng ! Bắt đã
chẳng được, bỏ cũng chẳng được. Thế là hư không
không thể bắt được. Trừ tâm này ra mà tìm Phật rốt
rồi không được cũng giống như vậy.
* Phật là tự tâm làm ra. Tại sao lìa tâm mà tìm
Phật !? Phật trước Phật sau chỉ nói về tâm. Tâm tức
là Phật, Phật tức là tâm : ngoài tâm không Phật,
ngoài Phật không tâm. Nếu nói ngoài tâm có Phật,
vậy Phật ở đâu ? Ngoài tâm đã không Phật sao lại
còn làm ra cái thấy có Phật để mà dối gạt lẫn nhau,
rồi không thể rõ được cái tâm vốn có của mình, lại
bị vật vô tình nó nhiếp mất tự do nếu không tin hiểu
như thế, để tự dối gạt thật là vô ích. Phật không lỗilầm,
chúng sanh điên-đảo chẳng biết giác-ngộ tâm
mình là Phật. Nếu biết tự tâm là Phật chớ nên tìm
Phật ngoài tâm.
* Phật chẳng độ Phật, nếu đem tâm tìm Phật là
chẳng biết Phật chỉ là tự tâm.
* Những người đi tìm Phật, hết thảy đều chẳng biết
tự tâm là Phật. Cũng chớ nên đem Phật lễ Phật, đem
tâm niệm Phật. Phật chẳng tụng kinh, chẳng giữ
giới, chẳng phạm giới. Phật không có giữ và phạm,
cũng chẳng tạo thiện tạo ác. Nếu chẳng thấy tánh
niệm Phật tụng kinh, ăn chay giữ giới cũng không
ích lợi gì.
* Niệm Phật chẳng qua được nhân qủa, tụng kinh
chẳng qua được thông minh, giữ giới chẳng qua
được sanh lên cõi trời, bố thí chẳng qua được phước
báo. Tìm Phật quyết định không thể được.
* Nếu tự mình không thấu suốt, thì phải nên tìm
tham học với thiện tri thức nào đã dứt khoát nguồn
cội sanh tử. Nếu chẳng thấy tánh thì không được gọi
là thiện tri thức.
* Nếu không như thế dẫu cho có giảng được hết cả
kinh Phật cũng chẳng khỏi sanh tử luân hồi, vẫn ở
trong 3 cõi chịu khổ mãi mãi.
* Xưa có Tỳ-Kheo Thiện-Tinh giảng được hết cả
kinh Phật nhưng vẫn chẳng khỏi luân-hồi, cũng chỉ
vì chẳng thấy tánh.
* Thiện-Tinh đã như thế, người nay bất qúa giảng
được năm ba bổn kinh luận rồi vội cho là mình thực
hành pháp Phật, đó là thuộc về hạng người mê. Nếu
chẳng biết tự tâm, chỉ tụng không theo mặt chữ của
kinh đều là vô dụng. Nếu muốn tìm Phật phải nên
thấy tánh. Tánh tức là Phật. Phật tức là tự tại, rảnh
rang, vô sự. Nếu chẳng thấy tánh suốt ngày chật vật
dong ruỗi ra ngoài mà tìm, tìm làm sao được !
* Tuy không một vật có thể được nhưng nếu muốn
cầu tỏ ngộ cũng phải nên tham học với thiện tri
thức. Phải thiết tha cầu khổ mà cầu đến bao giờ
được tỏ ngộ bổn tâm.
* Sanh tử việc lớn, không được phép để luống trôi
qua, tự dối gạt vô ích. Dẫu có của qúi như non,
quyến thuộc như cát sông Hằng, mở mắt thấy đó,
khi nhắm mắt rồi ra sao ? Phải biết các pháp hữu vi
đều như giấc mơ, như huyển hóa.
* Nếu chẳng gấp tìm thầy học Đạo, luống uổng một
kiếp trôi qua. Tuy rằng tánh Phật ai cũng vốn tự có,
nhưng nếu chẳng nhờ thầy chỉ-giáo rốt không thể tỏ
ngộ.
* Những bực chẳng nhờ thầy mà tỏ ngộ chỉ là hy
hữu trong muôn một mà thôi. Nếu tự mình được
nhân-duyên hợp ý thánh thì không cần phải tham
học với thiện-tri-thức ; trường hợp này gọi là sanh
ra đã biết còn hơn vậy.
* Nếu chưa được tỏ-ngộ phải nên cần khổ tham
học, nương nơi giáo mới được ngộ. Nếu đã ngộ rồi
chẳng học chả sao, không đồng với người mê. Nếu
chưa minh bạch được đen trắng mà kỳ vọng nói
tuyên-bày giáo-pháp của Phật, chê Phật kỵ pháp.
Những bọn như thế, thuyết-pháp như thế, hết thảy
đều là ma nói, không phải Phật nói, tức là ma
vương, đệ-tử của họ là ma dân. Người mê chịu cho
chúng nó chỉ-huy chẳng được giác-ngộ, đọa vào
biển sanh tử chỉ vì chẳng thấy tánh, vọng xưng là
Phật. Bọn chúng-sanh như thế là đại ma vương, gạtgẫm
tất cả chúng sanh cho vào cõi ma.
* Nếu chẳng thấy tánh dẫu cho giảng được hết kinh
Phật đi nữa cũng chẳng qua là ma nói, là quyếnthuộc
nhà ma, chẳng phải đệ-tử của Phật. Đã chẳng
biện được đen trắng thì căn cứ nơi đâu mà khỏi sanh
tử ? Nếu đã thấy tánh tức là Phật, chẳng thấy tánh
tức là chúng sanh. Nếu lìa tánh chúng sanh mà riêng
có tánh Phật có thể được, vậy Phật hiện ở chỗ nào ?
* Như thế chúng sanh là tánh Phật. Ngoài tánh
không Phật. Phật tức là tánh, ngoài tánh này không
có Phật nào có thể được. Ngoài Phật cũng không có
tánh nào có thể được.
* Hỏi : Nếu chẳng thấy tánh niệm Phật, tụng kinh,
bố-thí, giữ giới, tinh-tấn, mở rộng phúc duyên có
được thành Phật không ? – Đáp : không !
Hỏi : Vì sao không được ?
Đáp : Nếu có chút pháp nào có thể được đều là
pháp hữu vi, là pháp nhân qủa, là pháp thọ báo, là
pháp luân hồi, không khỏi sanh tử, biết chừng nào
mà thành Phật !
* Muốn thành Phật phải thấy tánh. Nếu chẳng giác
ngộ bổn-tánh thì dù có nói những nào nhân, nào qủa
đểu là pháp ngoại-đạo. Nếu là Phật thì chẳng tập
theo pháp ngoại-đạo.
* Phật là người không nghiệp, không nhân qủa, nếu
nói có chút pháp có thể được đều là chê bai Phật đó.
Căn cứ nơi đâu mà được thành Phật ?! Dẫu cho chỉ
trụ-chấp một tâm, một năng, một giải, một thấy
cũng đều bị Phật chẳng thừa nhận. Phật không giữ
và phạm. Tâm tánh vốn không, cũng không phải các
pháp dơ sạch, không tu không chứng, không nhân
không qủa. Phật chẳng giữ giới, chẳng tu thiện
chẳng tạo ác, chẳng tinh tiến, chẳng giải-đãi. Phật là
người vô tác, nếu có tâm đẵm chấp để thấy Phật là
bị không thừa nhận rồi. Phật chẳng phải Phật, đừng
làm ra hiểu Phật, nếu chẳng thấy nghĩa này thì luôn
luôn ở đâu cũng đều là mê-muội bổn tâm, nếu chẳng
thấy tánh mà luôn luôn tưởng-tượng làm ra cái rảnh
rang (vô tác), đó là tội nhân lớn, là người si, rơi vào
ngoan-không vô-ký, ngây ngây như người say,
chẳng phân được tốt xấu. Nếu muốn tu theo pháp vô
tác trước phải thấy tánh, rồi sau dứt các duyên lự
nơi tâm. Nếu chẳng thấy tánh mà được thành Phật,
thì thật là chuyện tưởng tượng. Có người bác cho
rằng không nhân qủa, tha hồ mà tạo nghiệp ác, vọng
nói vốn không, làm ác không tội, con người như thế
sẽ đọa địa ngục vô-gián tối-tăm mãi mãi. Nếu là
người trí không nên hiểu như thế.
* Hỏi : đã nói dầu cho làm lụng, hoạt động, lúc nào
cũng đều là bổn tâm. Vậy khi vô-thường đến với sắc
thân sao lại chẳng thấy bổn-tâm ?
Đáp : Bổn-tâm lúc nào cũng hiện bày, chỉ tại ông
tự chẳng thấy.
* Hỏi : Lúc nào cũng hiện-bày, vì sao chẳng thấy ?
Tổ-sư nói : « Ông có từng nằm mơ lần nào
không ? »
Đáp : Có.
Hỏi : khi ông nằm mơ có phải là bổn thân của ông
không ?
Đáp : Phải
Lại hỏi : Ông nói-năng hoạt-động với ông là một
hay khác ?
Đáp : Không khác
Nói : Nếu đã chẳng khác thì thân của ông đây
cũng chính là pháp-thân vốn có của ông đó. Chính
ngay pháp thân này là bổn-tâm của ông đó. Tâm này
từ lũy-kiếp đến giờ vẫn y nguyên như thế, chưa từng
có sanh tử. Chẳng sanh chẳng diệt, chẳng thêm
chẳng bớt, chẳng dơ chẳng sạch, chẳng tốt chẳng
xấu, chẳng đến chẳng đi, chẳng phải chẳng quấy,
chẳng tướng nam tướng nữ, cũng không phải tướng
tục tướng tăng, không già không trẻ, không thánh
không phàm, không Phật không chúng sanh, không
tu không chứng, không nhân không qủa, không gân
lực, không tướng mạo cũng như hư không, bắt
chẳng được, bỏ chẳng được, núi sông gành đá,
không chướng ngại được, hiển ẩn qua lại tự tại thần
thông, suốt 5 uẩn vượt sanh tử, tất cả nghiệp chướng
đối với pháp thân cũng đều không thể trói buộc
được. Tâm này rất vi diệu khó thấy, chẳng đồng với
cái tâm nghiệp-chướng do trần cảnh tạo nên.
* Cái pháp-thân, tâm tánh này ai ai cũng sẵn có.
Trong tâm ấy động tay máy chân nhất nhất đều
không lìa, nhưng khi hỏi đến đều không thể nói
được, giống như người gỗ. Hết thảy đều tự mình thọ
dụng nhưng sao lại không biết ? Phật nói : tất-cả
chúng sanh đều là mê muội, vì thế nên tạo nghiệp
đọa vào sanh tử, muốn ra rồi lại vào, chỉ vì chẳng
thấy tánh. Chúng sanh nếu chẳng mê tại sao khi hỏi
đến việc trong tâm tánh thì lại không có một người
biết được, tự mình động tay máy chân sao mình
không biết ? Cho nên biết thánh nhơn nói không
lầm, vì người tự mê-muội. Nên biết tánh này rất khó
tỏ, chỉ có Phật mới được tỏ ngộ thôi ; hết thảy
người, trời, chúng sanh đều không tỏ suốt.
* Nếu có trí-huệ tỏ suốt được tâm này thì gọi là
pháp tánh, cũng gọi là giải thoát, sanh tử không trói
buộc được, tất cả pháp không chướng ngại được, thế
gọi là Đại-Tự-Tại-Vương Như Lai. Cũng gọi là
không thể nghĩ bàn, cũng gọi là thánh thể, cũng gọi
là trường sanh bất tử, cũng gọi là đại tiên. Danh tuy
chẳng đồng, thể vẫn là một, bực thánh nhơn nói ra
dẫu có muôn vàn phân biệt cũng đều chẳng lìa tự
tâm. Tâm-lượng rộng lớn ứng-dụng vô cùng, ứng ra
mắt thấy sắc, ra tai nghe tiếng, ra mũi biết mùi, ra
lưỡi biết vị, cho đến hết thảy hành tung hoạt-động
cũng đều là tự tâm. Bất cứ lúc nào, chỉ có bặt đường
ngôn ngữ tức là tự tâm.
* Nên nói sắc Như Lai vô-tận, trí-huệ cũng vô-tận.
Sắc vô-tận là tự tậm, tâm khéo hay phân biệt tất cả
pháp, nhẫn đến tất cả hành-tung hoạt-động cũng đều
là trí huệ. Tâm không hình tướng nên trí-huệ cũng
vô tận. Nên nói sắc Như-Lai vô-tận, trí-huệ cũng
như thế. Còn cái thân tứ-đại tức là cái thân phiềnnão,
thân sanh diệt. Pháp-thân thường-trụ không chỗ
trụ ; pháp-thân của Như-Lai thường chẳng thay đổi
nên kinh nói : chúng sanh nên biết tánh Phật vốn tự
có ; ngài Ca-Diếp chỉ ngộ được bổn-tánh mà thành
Phật. Bổn tánh tức là tâm ; tâm tức là tánh, tánh với
tâm chư Phật không hai, Phật trước Phật sau chỉ
truyền tâm này, ngoài tâm này không có Phật nào
cả. Chúng-sanh điên đảo chẳng biết tự tâm là Phật,
dong-ruỗi ra ngoài mà tìm, suốt ngày chật vật niệm
Phật, lễ Phật, vậy Phật ở đâu ? Chớ nên hiểu như
thế, làm như thế. Chỉ biết bổn-tâm, ngoài tâm không
có Phật nào khác. Kinh nói : Phàm cái gì có tướng
đều là hư vọng.
* Lại nói : Phật ở đâu ? chỗ nào không Phật ? Tự
tâm là Phật, chẳng nên đem Phật lễ Phật, dẫu có
tướng Phật hoặc tướng Bồ Tát hiện tiền cũng quyếtđịnh
chớ nên lễ kỉnh. Tâm ta vắng-lặng vốn không
có tướng như thế. Nếu chấp tướng tức là ma, đều rơi
vào tà đạo, nếu là huyễn từ tâm khởi, lại càng không
nên lễ, lễ là không biết, biết thì chẳng lễ. Nếu lễ là
bị ma nhiếp.
* Sợ hậu-học chẳng biết nên phải biện-bạch như thế
này. Các Phật, Như-Lai trên bổn-tánh đều không có
tướng như thế, phải nên chú-ý. Khi thấy cảnh giới
lạ, quyết định không nên chấp, cũng đừng sanh sợ
hãi, chẳng cần nghi hoặc. Tâm ta bổn-lai thanh tịnh,
đâu có tướng như thế ! Nhẫn đến tướng Thiên-Long,
Dạ-xoa, qủi-thần, Đế-Thích, Phạm-Vương v.v. đi
nữa, cũng chẳng nên sanh tâm kỉnh trọng, cũng
đừng sợ hãi. Tâm ta bổn-lai vắng lặng, tất-cả tướng
đều là tướng hư vọng, chỉ đừng chấp tướng là hơn.
* Nếu khởi tâm thấy Phật thấy pháp và thấy các
tướng Bồ Tát mà sanh kỉnh trọng, tức là tự đọa vào
chúng sanh. Nếu muốn liền được tỏ-ngộ, chỉ đừng
nhận một pháp nào là được. Không cần nói gì thêm.
* Nên kinh nói : phàm cái gì có tướng đều là hưvọng,
đều không có thật. Huyễn, không có tướng
nhất-định, là pháp vô thường. - Chỉ đừng chấp
tướng là hợp với ý thánh. Nên kinh nói : lìa tất-cả
tướng là danh hiệu chư Phật.
* Hỏi : Tại sao không được lễ Phật, Bồ-Tát ?
Đáp : Thiên-Ma-Ba-Tuần, A-Tu-La cũng hiện
thần thông làm được tướng Bồ-Tát và nhiều cách
biến hóa. Đó là ngoại đạo chớ không phải Phật. Phật
là tự tâm, đừng lầm lễ lạy. Chữ Phật là tiếng Ấn-Độ,
theo xứ ta gọi là tánh giác. Giác nghĩa là linh-giác,
ứng cớ tiếp vật, nhướng mày, liếc mắt, động tay
máy chân đều là tánh linh-giác của mình. Tánh tức
là tâm. Tâm tức là Phật. Phật tức là Đạo. Đạo tức là
Thiền. Nội một chữ Thiền, phàm thánh cũng khó
lường được. - Lại nói thấy tánh là Thiền. Nếu chẳng
thấy tánh là không phải Thiền, dẫu cho giảng được
thiên kinh vạn luận, nếu chẳng thấy tánh cũng chỉ là
phàm phu. Đạo cả sâu mầu không thể dùng lời mà
tỏ được hết. Vậy kinh-điển căn-cứ nới đâu mà có
thể đến được. Chỉ thấy bổn-tánh, dầu cho không biết
một chữ cũng là thấy tánh, tức là thánh thể.
* Vốn nó thanh tịnh, không tạp không nhơ. Có nóinăng
điều gì đều là thánh nhơn từ tâm mà khởi
dụng. Dụng và thể bổn-lai là không. Danh ngôn còn
chẳng đến được, vậy 12 bộ kinh bằng cứ nơi đâu mà
đến được ? - Đạo vốn viên thành, chẳng phải tu
chứng. Đạo không phải sắc thinh, vi-diệu khó thấy.
Chỉ như người uống nước, lạnh ấm tự mình biết mà
thôi, không thể nói cho người khác nghe được. Chỉ
có Như-Lai biết được, ngoài ra người, trời các loại
đều không hay biết. Vì trí phàm phu không đến
được nên mới chấp tướng, chẳng rõ tự tâm vốn
vắng-lặng rỗng rang, nên vọng chấp tướng và tất-cả
pháp mới đọa ngoại đạo. Nếu biết các pháp đều từ
tâm sanh thì chẳng nên chấp, chấp là chẳng biết.
Nếu thấy bổn-tánh thì 12 bộ kinh chẳng qua chỉ là
văn-tự rỗng, ngàn kinh muôn luận chỉ cốt để tỏ
tâm ; nếu nói ra liền khế-hợp thì kinh giáo dùng
được vào đâu ! Chí lý hết nói-năng, kinh giáo chỉ là
từ ngữ, thiệt chẳng phải Đạo. Đạo vốn không nói
năng, nói năng là vọng.
* Người tu đêm đến nằm mơ thấy lâu đài, cung
điện, voi ngựa hoặc cây cối, rừng ao v.v.. chớ nên
mống lòng tham đắm, vì hết thảy cảnh ấy đều là chỗ
để thác sanh, điều này phải hết sức chú ý. Lại nữa,
khi lâm chung chẳng nên chấp tướng thì chướng
liền trừ. Nếu tâm nghi phát khởi là bị ma nhiếp.
* Pháp thân bổn lai thanh tịnh không thọ lãnh một
điều gì, chỉ vì mê muội không hay biết nên vọng thọ
báo, vì có tham đắm nên mất tự do, nếu ngộ được
bổn tâm thì chẳng đắm nhiễm.
* Nếu là từ thánh vào phàm thị hiện bao nhiêu tạp
loại tự làm chúng sanh, đó là một việc khác. Nên
thánh nhơn làm nghịch làm thuận đều được tự tại,
tất-cả nghiệp chướng không trói buộc đuợc, đối với
bực ấy có đại oai đức đã lâu cho nên tất cả nghiệp
chướng đều bị chuyển hết. – Thiên đường địa ngục
hết thành vấn đề.
* Còn phàm phu thần thức mê muội, chớ không
phải trong ngoài sáng suốt như thánh nhơn. Nếu có
chỗ nghi thì chớ nên làm, làm là bị trôi lăn theo
sanh tử, khi ăn năn đã muộn. Nghèo cùng khốn khó
đều từ vọng tưởng sanh, nếu ai tỏ được tâm này thì
nên lần lượt khuyên bảo lẫn nhau, chỉ làm mà không
trụ không chấp là vào được tri kiến Như Lai.
* Người mới phát tâm, thần thức chưa định, nếu khi
nằm mơ thấy cảnh lạ hiện đều là tự tâm khởi, quyết
định chớ nghi, không phải ngoài tâm có cảnh. Nếu
mơ thấy ánh sáng như mặt trời tức là tập nghiệp còn
thừa sắp hết, tánh pháp giới hiện. Đó là điềm sẽ
thành Đạo, chỉ tự mình biết chẳng nên nói cho ai
nghe. Hoặc khi dong chơi trong vườn vắng lặng, đi
đứng nằm ngồi mắt thấy ánh sáng; hoặc trong đêm
tối cũng thấy ánh sáng như ban ngày, đừng có lấy
làm lạ, đều là tự tâm muốn hiển hiện. Hoặc nằm mơ
thấy trăng sao tỏ sáng; đó cũng là điềm các duyên
muốn dứt, cũng chớ nên nói cho ai nghe. Còn như
nằm mơ thấy đi trong tối tăm u-ám, đó cũng là tự
tâm phiền não chướng nặng cũng chỉ nên tự biết.
Nếu đã thấy tánh, chẳng cần phải đọc kinh niệm
Phật, học rộng biết nhiều vô ích, còn làm cho thần
thức lại tối thêm. Kinh giáo chỉ để nêu tâm nếu rõ
được tâm đâu cần phải xem kinh giáo. Nếu là từ
phàm vào thánh phải nên ngừng nghiệp dưỡng thần,
tùy phận qua ngày. Nếu là người nhiều sân nhuế
làm cho tánh sanh chướng đạo, tự gạt gẫm vô ích.
* Thánh nhơn ở trong sanh tử tự-tại hiện ẩn ra vào
chẳng định, tất-cả nghiệp-chướng hết thành vấn đề.
Hết thảy chúng-sanh chỉ cần thấy bổn-tánh là tậpnghiệp
liền dứt, thần-thức không bị mê; nhưng phải
là tức thì liền nhận.
* Nếu luống thật ngộ đạo thì đừng chấp tất-cả
pháp, ngừng nghiệp dưỡng thần thì dư tập cũng hết,
tự nhiên minh bạch không cần dụng công. Ngoại
đạo chẳng rõ ý Phật, dụng công rất nhiều mà vẫn
trái với ý thánh. Suốt ngày bo-bo niệm Phật tụng
kinh mà vẫn mê-muội bổn-tánh, chẳng khỏi luân
hồi. Phật là người rảnh rang, đâu cần chật-vật rộng
cầu danh lợi. Chỉ có người chẳng thấy tánh mới đọc
kinh niệm Phật, siêng học, sáu thời hành đạo; ngồi
hoài chẳng nằm, học rộng nghe nhiều và cho đó là
pháp Phật. Chúng-sanh như thế đều là người khinh
pháp. Phật trước Phật sau chỉ nói thấy tánh, các
hành động đều là vô thường. Nếu chẳng thấy tánh
mà vội cho rằng mình đã được đạo vô-thượng Bồ
Đề, đó là hạng tội nhơn lớn. - Muời vị đệ tử lớn của
Phật, ngài A-Nan là người học rộng bực nhứt mà
với Phật còn không biết, chỉ học rộng nghe nhiều.
Hết thảy nhị thừa ngoại-đạo đều không biết Phật,
chỉ biết đếm theo pháp tu chứng, bị đọa vào trong
nhân qủa, đó là chúng-sanh nghiệp-báo chẳng khỏi
sanh tử, trái với ý Phật rất xa, là kẻ khinh Phật đó!
Hạng chúng sanh ấy thuộc Nhứt-xiển-đề. Trong
kinh có nói: kẻ Nhứt-xiển-đề chẳng có lòng tin; nếu
có lòng tin thì người ấy là một vị Phật.
* Nếu chẳng thấy tánh, chớ nên bắt chước chê bai
những người lương thiện, tự dối gạt vô ích. Thiện ác
rõ ràng, nhân qủa phân minh, thiên đường địa ngục
chỉ ở trước mắt, người ngu chẳng biết hiện đọa vào
địa ngục tối-tăm cũng không hay
* Chỉ vì nghiệp nặng nên không thể tin, ví như
người mù chẳng tin người ta nói có ánh sáng, dẫu có
cắt nghĩa thế nào cũng không tin được, vì đã mù lấy
đâu mà phân biệt được sáng tối! Người ngu cũng
thế. Hiện tiền đã bị đọa vào súc-sanh tạp loại, chỉ ở
trong nghèo cùng hạ-tiện, cầu sống chẳng được, cầu
chết cũng chẳng được. Tuy thọ khổ như thế nhưng
dẫu có ai hỏi họ cũng tự gọi mình được yên vui.
Nên biết tất-cả chúng-sanh dẫu sanh vào chỗ vui
thật cũng không hay biết. Hạng người ác như thế,
chỉ vì nghiệp chướng quá nặng nên không thể phát
lòng tin, không tự do được. Nếu thấy được tự tâm là
Phật chớ không phải ở tướng bên ngoài, thì dẫu
bạch-y-cư-sĩ cũng vẫn là Phật. Nếu chẳng thấy tánh
dù có đầu tròn vai vuông cũng là ngoại-đạo.
* Hỏi: Cư-si còn vợ con dâm-dục làm sao thành
Phật được?
Đáp: Chỉ nói thấy tánh; chẳng bàn đến dâm-dục.
Chỉ vì chẳng thấy tánh. Miễn được thấy tánh thì
dâm-dục vốn tự rỗng lặng, tự nhiên dứt trừ, không
còn tham-đắm nữa. Dẫu cho dư tập hãy còn cũng
chẳng làm hại được. Vì sao thế? Vì tự tánh vốn nó
tự thanh-tịnh. Tuy ở trong sắc thân 5 uẩn, tánh nó
cũng vốn thanh tịnh không ô nhiễm. Pháp-thân bổn
lai không thọ, không đói, không khát, không lạnh
nóng, không bịnh hoạn, không ân ái, không quyến
thuộc, không khổ vui tốt xấu, không vắn dài mạnh
yếu, vốn không một vật có thể được. Chỉ vì cố-chấp
cái thân này nên mới có các tướng đói khát, lạnh
nóng, bịnh chướng v.v..
* Nếu chẳng chấp là được tự-tại. Nếu trong sanh tử
mà được tự-tại, chuyển trở lại các pháp, đừng để các
pháp chuyển, cũng như thánh-nhơn, thì ở đâu lại
không yên?
* Nếu tâm có chỗ nghi, quyết-định không thể tự-tại,
không khỏi sanh tử luân-hồi. Nếu thấy tánh thì dẫu
bần cùng hạ tiện, đồ-tể sát sanh cũng vẫn thành
Phật.
* Hỏi : Đồ tể làm nghiệp sát sanh làm sao thành
Phật được ?
Đáp : chỉ nói thấy tánh, chẳng nói tạo nghiệp. Dẫu
có tạo nghiệp thế nào, nghiệp cũng không thể trói
buộc được. Từ lũy kiếp đến giờ, chỉ vì chẳng thấy
tánh nên mới có trôi lăn sa-đọa vào địa ngục, sanhtử
; khi ngộ được bổn-tánh sẽ không tạo nghiệp nữa.
Nếu chẳng thấy tánh, niệm Phật để khỏi nhân qủa
cũng không thể được, không luận là sát-sanh.
* Nếu được thấy tánh, tâm sát liền trừ, nghiệp sát
cũng không thể trói buộc được. Nên chi 27 vị Tổ ở
Tây-Trúc chỉ truyền nhau tâm ấn. Nay ta đến cõi
này cũng chỉ truyền đốn-giáo đại-thừa chính tâm
mình là Phật, chớ chẳng nói đến giữ giới, tinh-tiến,
khổ-hạnh. Nhẫn đến vào nước vào lửa, leo lên
gươm đao, ăn một ngày một bữa, ngồi hoài chẳng
nằm, hết thảy những cái ấy đều là pháp hữu-vi
ngoại-đạo. Nếu rõ được cái tánh linh giác chính là
tánh Phật, Phật trước Phật sau chỉ nói truyền tâm
chớ không có pháp nào khác. Nếu rõ được tâm này,
dẫu phàm-phu không biết một chữ cũng vẫn là Phật,
nếu chẳng rõ tự-tánh linh-giác của mìng, dẫu cho
đem thân này tán ra tro bụi để tìm Phật rốt cũng
chẳng được gì.
* Phật cũng gọi là pháp-thân, cũng gọi là bổn-tâm.
Tâm này không hình tướng, không nhân qủa, không
gân cốt. Vốn như hư không, bắt chẳng được ; chớ
không phải như vật chất, không phải như ngoại đạo
nói. Tâm này chỉ trừ Như-Lai ra, hết thảy chúng
sanh đều mê muội, đều chẳng tỏ ngộ. Nhưng tâm
này không phải lìa cái thân vật-chất này. Nếu thân
tứ-đại này mà lìa tâm là không có sự sống, làm sao
có biết ! Nhẫn đến nói năng vận-động, thấy nghe
hay biết đều là cái động-dụng của tâm. Động là tâm
động, dụng là tâm dụng. Ngoài động-dụng không
tâm, ngoài tâm không động-dụng. Động chẳng lìa
tâm, tâm chẳng lìa động. Lìa động không tâm, lìa
tâm không động. Động là tâm dụng, dụng là tâm
động. Động tức tâm dụng, dụng tức tâm động. -
Chẳng động, chẳng dụng, dụng và thể vốn không,
không vốn không động. Động dụng do tâm, tâm vốn
không động. – Nên kinh nói : « động nhưng không
chỗ động. Suốt ngày đi đến nhưng chưa từng đi đến.
Suốt ngày thấy nhưng chưa từng thấy, suốt ngày
cười nhưng chưa từng cười, suốt ngày nghe nhưng
chưa từng nghe, suốt ngày biết nhưng chưa từng
biết, suốt ngày mừng nhưng chưa từng mừng, suốt
ngày đi nhưng chưa từng đi, suốt ngày đứng nhưng
chưa từng đứng. » Nên kinh nói « bặt đường nói
năng dứt hết nơi chỗ, thấy nghe hay biết vốn tự tròn
vắng, nhẫn đến giận mừng, đau ngứa nào khác
người gỗ, chỉ vì suy tìm cái đau ngứa không thể
được. » Nên kinh nói « nghiệp ác thì được báo khổ,
nghiệp thiện thì được báo vui. » Chớ không phải chỉ
sân bị đọa địa-ngục, mừng được sanh thiên. Nếu rõ
được cái tánh mừng giận vốn không, chỉ đừng chấp
nghiệp là giải-thoát. Nếu chẳng thấy tánh, giảng
kinh quyết không bằng cứ. Nói không sao hết, chỉ
đại-lược tà chánh đôi điều mà thôi.
Tụng rằng :
Tâm tâm tâm không thể tìm
Rộng cùng khắp pháp giới,
Hẹp chẳng chứa đầu kim
Ta vốn cầu tâm chẳng cầu Phật
Biết rõ ba cõi rỗng không vật
Nếu muốn cầu Phật chỉ cầu tâm
Chỉ tâm này, tâm này mới là Phật
*
***
Ta vốn cầu tâm, tâm tự trì
Cầu tâm chẳng được, tự tâm hay.
Tánh Phật chẳng từ ngoài tâm được
Tâm sanh là lúc tội sanh rồi.
Kệ rằng :
Ta vốn đến cõi thế này
Truyền pháp cứu mê tình
Một hoa nở năm cánh
Kết-qủa tự nhiên thành
THIÊN THỨ HAI
LUẬN NGỘ TÁNH
CHÁNH VĂN:
*Vã chăng Đạo là lấy vắng lặng làm thể. Tu là lìa
tướng làm tông.
* Nên kinh nói: Vắng-lặng là Bồ-đề, vì dứt hết các
tướng. Phật nghĩa là giác. Người có tâm giác được
Đạo Bồ-đề nên gọi là Phật. Kinh nói: Lìa tất cả các
tướng là danh hiệu chư Phật.
* Thế mới biết: Có tướng là tướng mà không tướng.
* Không thể dùng mắt thấy, chỉ có thể dùng trí biết.
Ai nghe pháp này mà sanh một niệm lòng tin, phải
biết người đó đã phát tâm đại-thừa, siêu 3 cõi. Ba
cõi tức là tham, sân, si. Đổi tham, sân, si ra thành
giới, định, huệ - tức gọi là siêu ba cõi.
* Nhưng tánh của tham, sân, si cũng không thật, chỉ
tùy-thuận chúng sanh mà nói vậy thôi. Nếu ai có thể
soi trở vào trong thì thấy rõ tánh của tham sân si tức
là tánh Phật. Ngoài tham sân si không có tánh Phật
nào khác.
* Kinh nói: chư Phật từ xưa đến nay thường ở trong
3 độc để nuôi lớn pháp giải thoát mà thành Thế-
Tôn. Ba độc là tham sân si đó.
* Nói đại-thừa, tối thượng-thừa đều là nói chỗ sở-
hành của Bồ-Tát. Không chỗ thừa, không chỗ chẳng
thừa. Suốt ngày thừa mà chưa từng thừa, đó là Phật
thừa.
* Kinh nói: “Không thừa là Phật thừa đó”. Nếu ai
biết được 6 căn không thật, 5 uẩn giả danh, khắp
thân tìm cầu hết thảy đều không có chỗ nhất định.
Phải biết người đó rõ được nghĩa Phật nói.
* Kinh nói: Hang ổ của 5 uẩn là Thiển-viện. Soi trở
vào trong được tỏ ngộ là môn đại-thừa. Há chẳng rõ
lắm sao! Chẳng chứa tất-cả pháp gọi là Thiền-định.
Nếu rõ được câu này thì đi đứng nằm ngồi đều là
Thiền-định.
* Biết tâm là “không”, gọi là thấy Phật. Vì sao thế?
– Vì mười phương chư Phật đều là vô tâm.
* Chẳng thấy tâm gọi là thấy Phật
* Lìa chấp thân chẳng tiếc gọi là đại bố thí.
* Lìa các động, tịnh gọi là đại toạ thiền.
* Vì sao thế? – Vì phàm phu một niềm chấp động,
tiểu thừa một niềm chấp định. Nếu vượt khỏi cái tọa
thiền của tiểu thừa và phàm phu thì gọi là đại tọa
thiền. Nếu nhận được như thế thì tất cả các tướng
chẳng tìm cũng tự rõ, tất cả các bịnh chẳng trị cũng
tự khỏi. Đó là nhờ sức đại thiền định.
* Phàm ai đem tâm mà cầu pháp đều là mê, chẳng
đem tâm cầu pháp là ngộ.
* Chẳng đắm chấp văn tự gọi là giải thoát. Chẳng
nhiễm 6 trần gọi là hộ pháp. Lìa khỏi sanh tử gọi là
xuất gia. Chẳng thọ báo sau này gọi là đắc Đạo.
* Chẳng sanh vọng tưởng gọi là Niết Bàn.
Chẳng kẹt trong vô minh gọi là đại trí tuệ.
* Đến chỗ không phiền não gọi là Bát Niết Bàn.
Đến chỗ không có tướng tâm gọi là qua bờ bên kia.
Khi mê thì có bờ bên đây. Khi ngộ rồi thì bờ bên
đây cũng không có.
* Vì sao thế? – Vì phàm phu một niềm chấp bên
đây, nếu tỏ ngộ được pháp tối thượng thừa thì tâm
chẳng trụ bên đây cũng chẳng qua bên kia, nên lìa
được cả đây kia vậy.
* Nếu thấy bờ bên kia chẳng khác hơn bờ bên đây,
cái tâm của người ấy đã được cái định vô thiền.
* Phiền não gọi là chúng sanh, tỏ ngộ gọi là Bồ đề,
cũng chẳng một chẳng khác, chỉ khác nhau ở mê
ngộ.
* Khi mê có thế gian để ra khỏi, khi ngộ không có
thế gian để ra. Trong pháp bình đẳng chẳng thấy
phàm phu khác với thánh nhơn.
* Kinh nói: pháp bình đẳng nghĩa là phàm phu
không thể nhập, nhị thừa không thể hành. Chỉ có
bực đại Bồ Tát và chư Phật Như Lai có thể hành mà
thôi.
* Nếu thấy sanh khác với tử, động khác với tĩnh đều
gọi là chẳng bình đẳng.
* Chẳng thấy phiền não khác với Niết Bàn, thế mới
gọi là bình đẳng.
* Vì sao thế? Vì phiền não và Niết Bàn cùng một
tánh không. Cho nên người nhị thừa vọng dứt trừ
phiền não, vọng nhập Niết Bàn, tự tạo Niết Bàn để
trói buộc. Còn Bồ Tát biết được tánh phiền não vốn
không, nên chẳng lìa không, thường ở Niết Bàn.
Niết Bàn nghĩa là khơi mà chẳng sanh, tịch mà
chẳng chết, vượt khỏi sanh tử là bát Niết Bàn. Tâm
không có đi và đến là nhập Niết Bàn. Thế mới biết
Niết Bàn tức là tâm không.
* Chư Phật nhập Niết Bàn là ở chỗ không vọng
tưởng, Bồ tát vào đạo tràng là không tham sân si
vậy. Tham là cõi dục, sân là cõi sắc, si là cõi vô sắc.
* Nếu một niệm tâm sanh liền vào 3 cõi, một niệm
tâm diệt là ra 3 cõi.
* Thế mới biết : 3 cõi sanh diệt, vạn pháp có không
đều do một tâm. Phàm nói một pháp là cũng giống
như đập ngói gạch, chẻ tre gỗ vô tình.
* Nếu biết được tâm chỉ là giả danh tạm gọi chớ
không có tướng, thì liền biết cái tâm của tự mình
cũng không phải có không phải không.
* Vì sao thế ? – Vì phàm phu một niệm sanh tâm
gọi là có, tiểu thừa một niệm diệt tâm gọi là không.
Còn Bồ Tát và Phật chưa từng sanh tâm cũng chưa
từng diệt tâm, cho nên gọi không phải có không
phải không. Chỗ này cũng gọi là Trung đạo.
* Thế mới biết: chấp tâm học pháp thì cả tâm lẫn
pháp đều mê. Đừng chấp tâm mà học pháp thì cả
tâm và pháp đều ngộ.
* Phàm mê nghĩa là mê ở trong ngộ, ngộ là ngộ ở
trong mê..
* Con người chánh kiến biết được tâm vốn rỗng
không liền siêu mê ngộ.
* Như thế mới gọi là thấy biết đúng. Sắc chẳng tự
sắc, do tâm nên có sắc.
* Tâm chẳng tự tâm, do sắc nên có tâm.
* Thế mới biết tâm và sắc, cả hai cùng nương nhau
sanh diệt.
* Có là có ở trong không. Không là không ở trong
có. Thế gọi là thấy đúng.
* Vả chăng, nếu thật thấy là không chỗ chẳng thấy,
cũng không chỗ thấy.
* Tuy thấy khắp muời phương, nhưng chưa từng có
thấy. Vì sao thế ? – Vì không chỗ thấy, vì thấy được
cái không thấy, vì thấy không phải thấy.
* Cái mà phàm phu gọi là thấy ấy đều là vọng tưởng
cả.
* Nếu vắng lặng không chỗ thấy mới gọi là thấy
thật.
* Tâm và cảnh đối nhau, cái thấy trong đó phát sanh
* Nếu trong chẳng khởi tâm thì ngoài chẳng sanh
cảnh, cảnh và tâm đều vắng lặng, như thế mới gọi là
thấy thật.
* Chẳng thấy tất cả pháp mới gọi là được Đạo.
Chẳng biết tất cả pháp mới gọi là tỏ pháp.
* Vì sao thế? – Vì thấy và chẳng thấy đều là chẳng
thấy
* Hiểu cùng chẳng hiểu đều là chẳng hiểu. Cái thấy
không phải thấy mới gọi là thật thấy. Cái hiểu
không không hiểu mới gọi là hiểu rộng lớn.
* Vả chăng, thấy đúng nghĩa là không phải cái thấy
có thấy mà là cái thấy trong không thấy. Thật hiểu
nghĩa là không phải cái hiểu trong có tướng, mà là
cái hiểu trong không có tướng. Phàm hễ có cái bị
biết đều gọi là chẳng biết. Không có cái bị biết mới
gọi là thật biết. Biết cùng chẳng biết đều không phải
biết. Kinh nói chẳng bỏ trí tuệ gọi là ngu si. Nếu
tâm là không, hiểu cùng chẳng hiểu đều là thật cả.
Nếu tâm là có, hiểu cùng chẳng hiểu đều là vọng.
* Nếu tỏ ngộ thì pháp theo người. Nếu chẳng tỏ ngộ
thì người theo pháp.
* Nếu pháp theo người thì phi pháp trở thành pháp,
hết thảy pháp đều chơn. Nếu người theo pháp thì
pháp trở thành phi pháp, hết thảy pháp đều trở thành
vọng.
* Cho nên thánh nhơn chẳng đem tâm mà cầu pháp,
cũng chẳng đem pháp mà cầu tâm, cũng chẳng đem
tâm mà cầu tâm, đem pháp mà cầu pháp. Cho nên
tâm chẳng sanh pháp, pháp chẳng sanh tâm. Tâm
pháp đều vắng lặng nên thường ở trong định.
* Tâm chúng sanh sanh thì pháp Phật diệt. Tâm
chúng sanh diệt thì pháp Phật sanh.
* Nếu đã biết tất-cả pháp đều chẳng có tự tánh
riêng, thế gọi là người có Đạo. Biết tâm chẳng thuộc
về của riêng của các pháp – Đó là người thường ở
Đạo tràng.
* Khi mê có tội, ngộ rồi không tội. Vì sao thế ? Vì
tánh tội vốn không.
* Kinh nói: các Phật pháp không có tự tánh riêng,
thật dụng chớ nghi, nghi liền thành tội.
* Vì sao thế ? – Vì tội do nghi hoặc mà sanh.
* Khi mê thì 6 thức 5 ấm đều là pháp phiền não
sanh tử. Khi ngộ thì 6 thức 5 ấm đều là pháp Niết-
Bàn không sanh tử.
* Người học Đạo chớ nên tìm Đạo ở ngoài. Vì sao
thế ? – Vì biết tâm là Đạo.
* Nếu khi được tâm, không có tâm có thể được. Nếu
khi được Đạo, không có Đạo có thể được.
* Nếu nói đem tâm cầu Đạo mà được, thì gọi là tà
kiến.
* Khi mê có Phật có pháp. Khi ngộ không Phật
không pháp.
* Vì sao thế ? Vì ngộ tức là Phật, là pháp. Vả chăng
tu nghĩa là diệt cái thấy có thân riêng thì Đạo thành.
Cũng như hột giống nứt vỏ thì cây nẩy mầm.
* Cái thân sanh tử nghiệp báo luôn luôn vô thường;
là pháp không nhất định, chỉ tùy niệm mà tu, cũng
không nên chán sanh tử hay thích sanh tử.
* Chỉ làm sao trong tâm luôn luôn đừng vọng tưởng
thì khi sống nhập được hữu dư Niết-Bàn, khi chết
vào được vô-sanh pháp nhẫn.
* Khi mắt thấy sắc chẳng nhiễm sắc, tai nghe tiếng
chẳng nhiễm tiếng thì đều là giải thoát.
* Mắt chẳng đắm sắc thì mắt là cửa lễ, tai cũng vậy.
* Nói tóm lại, khi thấy sắc mà thấy được đến tánh
của sắc thì không nhiễm, thường giải thoát.
* Nếu mắc kẹt ở tướng của sắc là thường bị trói
buộc. Nếu chẳng bị phiền não trói buộc thì gọi là
giải thoát, chớ không có giải thoát nào khác hơn.
* Người khéo quán sắc, sắc chẳng sanh tâm, tâm
chẳng sanh sắc, thì sắc và tâm đều thanh tịnh
* Khi không vọng tưởng thì một tâm là một cõi
Phật. Khi vọng tưởng khởi thì một tâm là một cõi
địa ngục.
* Chúng sanh làm ra vọng tưởng, lấy tâm sanh tâm
nên thường ở địa ngục. Bồ-Tát quán sát vọng tưởng
chẳng lấy tâm sanh tâm, nên thường ở cõi Phật. Nếu
chẳng lấy tâm sanh tâm thì tâm tâm đều nhập vào
không, niệm niệm đều qui về tịnh, từ một cõi Phật
đến một cõi Phật. Nếu lấy tâm sanh tâm thì tâm tâm
đều chẳng tịnh, niệm niệm đều qui về động, từ một
địa ngục qua một địa ngục. Khi một niệm khởi thì
liền có 2 nghiệp thiện ác, có thiên đường địa ngục.
Nếu một niệm tâm chẳng khởi thì hai nghiệp đều
dứt, thiên đường địa ngục cũng không.
* Vì “Thể” vốn không phải có, không phải không. Ở
phàm là có, ở thánh là không.
* Thánh nhơn nhờ tâm ‘không’ nên trong lòng rỗng
rang, cùng trời đất đồng lượng.
* Đây đều là chúng trong đại đạo, không phải cảnh
giới của tiểu thừa và phàm phu. Khi tâm được Niết-
Bàn cũng không thấy có Niết-Bàn có thể được. Vì
sao thế ? – Vì tâm là Niết-Bàn. Nếu ngoài tâm còn
thấy có Niết-Bàn, thế gọi là đã nhiễm tà kiến.
* Phải biết tất-cả phiền não đều là hột giống tâm của
Như-Lai ; vì nhờ có phiền não mà được trí huệ.
* Chỉ có thể nói phiền não sanh Như-Lai, nhưng
không thể nói phiền não là Như-Lai. Nên tự tâm là
ruộng nương, phiền não là hột giống, trí tuệ là nẩy
mầm ; còn Như-Lai để dụ như kết qủa lúa thóc.
* Phật ở trong tâm như hương trong cây, giác mục
hết rồi thì lõi hương tự hiện ; phiền não hết rồi thì
Phật tâm tự hiện cũng như vậy.
* Cho nên biết ngoài cây không hương, ngoài tâm
không Phật. Nếu ngoài cây có hương tức là hương
chỗ khác, ngoài tâm có Phật tức là Phật từ ngoài ; là
không phải Phật.
* Trong lòng chứa 3 độc là cõi uế, trong lòng không
3 độc là cõi tịnh. Kinh nói : nếu cõi nước dơ bẩn ác
độc đầy dẫy mà muốn chư Phật xuất hiện thì không
thể có bao giờ ; mà dơ bẩn ác độc là tham sân si mê
muội đó.
* Chư Phật Thế-Tôn chính là cái tâm giác ngộ. Nếu
giác ngộ thì tất-cả nói năng đều là pháp Phật. Nếu
không nói mà nói thì suốt ngày nói đều là Đạo.
* Nếu chấp nói năng thì dầu suốt ngày nín thinh
cũng là phi Đạo.
* Cho nên Như-Lai nói mà không trái với nín, nín
chẳng trái với nói ; nói nín không lìa. Nếu ngộ được
nghĩa nói và nín đây là vào được chánh định. Nếu
nói đúng lúc, nói cũng là giải thoát. Nếu chẳng phải
lúc dẫu nín cũng là trói buộc. Cho nên nói cũng lìa
tướng, nói cũng là giải thoát. Nếu chấp tướng dẫu
nín cũng là trói buộc. - Vả chăng bổn tánh vốn giải
thoát văn tự không thể đến trói buộc được. Pháp
không cao thấp, nếu thấy có cao thấp là không phải
pháp rồi.
* Phi pháp là đò, pháp là người. Người nương đò để
qua sông thì phi pháp tức là pháp. – Nói theo thế tục
thì có nam nữ sang hèn, theo Đạo thì không có nam
nữ sang hèn. Cho nên Thiên nữ ngộ Đạo chẳng đổi
thân nữ, nữ Xa-Nặc thức tỉnh chẳng đổi danh xưng.
* Như thế không phải sang hèn nam nữ đều từ một
tướng đó sao ? ! Thiên-nữ suốt 12 năm tìm tướng nữ
cứu cánh không thể được, thì biết suốt 12 năm tìm
tướng nam cũng không thể được.
* Cái nghĩa 12 năm là 6 căn 6 trần đó. Lìa tâm
không Phật, lìa Phật không tâm. Cũng như lìa nước
không giá, lìa giá không nước.
* Phàm nói lià tâm không phải là nói chạy trốn cái
tâm. Chỉ nói đừng chấp ở phần tướng của tâm mà
thôi. Kinh nói : Chẳng thấy tướng gọi là thấy Phật,
tức là lìa tướng tâm đó. Nói lìa Phật không tâm
nghĩa là nói Phật từ tâm hiện, tâm có thể sanh Phật.
Phật tuy từ tâm sanh, nhưng tâm chưa từng sanh ra
Phật. Cũng như cá sanh ra từ nước chớ không phải
nước đẻ ra cá. Muốn xem cá, chưa thấy cá đã thấy
nước. Muốn quán Phật, chưa thấy Phật đã thấy tâm.
Thế mới biết khi thấy cá là quên nước, khi thấy Phật
là quên tâm. Nếu chẳng quên tâm là còn bị tâm mê
hoặc.
* Chúng sanh với Bồ-Đề cũng như giá với nước. Bị
3 độc làm rối loạn thì gọi là chúng sanh, được 3 giải
thoát thanh tịnh thì gọi là Bồ-Đề. Cũng như nước bị
mùa Đông làm đặc lại thì gọi là giá, bị mùa Hạ làm
lỏng ra thì gọi là nước. Nếu bỏ giá đi thì không có
nước nào khác, nếu bỏ chúng sanh đi cũng không có
Bồ-Đề nào khác.
* Nên biết tánh giá là tánh nước; tánh nước là tánh
giá. Tánh chúng sanh là tánh Bồ-Đề, chúng sanh và
Bồ-Đề đồng một thể tánh cũng như Ô-Đầu và Phụ-
Tử cùng một gốc, chỉ vì thời tiết chẳng đồng. Mê
ngộ khác cảnh nên có 2 tên chúng sanh và Bồ-Đề.
* Cho nên rắn hóa làm rồng mà chẳng đổi vảy,
phàm biến làm thánh mà chẳng đổi mặt, chỉ người
biết tâm thì trí soi trở vào trong, biết thân thì giới
giữ bên ngoài.
* Chúng sanh độ Phật, Phật độ chúng sanh, thế gọi
là Bình đẳng. Chúng sanh độ Phật nghĩa là nhờ
phiền não sanh tỏ ngộ; Phật độ chúng sanh nghĩa là
tỏ ngộ rồi diệt phiền-não. Thế mới biết không phiềnnão
không tỏ ngộ. Thế mới biết không phải phiềnnão
không lấy đâu sanh tỏ ngộ, không phải thức tỉnh
không lấy đâu diệt phiền-não. Khi mê là chúng sanh
độ Phật, khi ngộ là Phật độ chúng sanh. Vì sao thế?
Vì Phật chằng tự thành, đều do chúng sanh độ cả.
Chư Phật lấy vô minh làm cha, tham ái làm mẹ. Vô
minh và tham ái đều là biệt danh của chúng sanh.
Chúng sanh và vô minh cũng như tay trái và tay
phải chớ không phải 2 người.
* Khi mê là mắc kẹt bờ bên đây, khi ngộ là qua
được bờ bên kia. Nếu biết tâm không, chẳng chấp
tướng thì lìa mê ngộ, đã lìa mê ngộ thì không có bên
đây bên kia nữa. Như-Lai chẳng ở bên đây cũng
chẳng ở bên kia, chẳng ở giữa dòng. Vì sao thế? Vì
ở giữa dòng là Tiểu-Thừa, ở bên đây là phàm phu,
bên kia nghĩa là Bồ-Đề.
* Phật có 3 thân là hóa thân, báo thân và pháp thân.
Hóa thân cũng gọi là ứng thân ; Nếu chúng sanh
thường làm điều thiện tức là hóa thân. Khi hiện tu
trí huệ là báo thân. Hiện giác vô vi là pháp thân.
Thường hiện 10 phương, tùy nghi cứu tế, đó là hóa
thân Phật. Nếu dứt mê hoặc tức là Tuyết-Sơn thành
đạo là báo thân Phật. Không nói không năng, không
làm không được, rỗng lặng thường trụ là pháp thân
Phật. Nếu luận chí lý một Phật còn không có thay
làm gì có ba ! Nói có 3 là y cứ theo trí người đời
mà nói, người có 3 bực : người bực hạ trí vọng cầu
phước lực, vọng thấy hóa thân Phật.
* Người bực trung trí vọng dứt phiền não, vọng thấy
báo thân Phật.
* Người bực thượng trí vọng chứng Bồ-Đề, vọng
thấy pháp thân Phật. Người bực thượng-thượng trí
soi trở vào trong tròn lặng tỏ tánh là Phật, chẳng đợi
trừ tâm mà được trí Phật. Biết 3 thân và vạn pháp
đều không thể chấp, không thể nói.
* Đó là tâm giải thoát viên thành đạo cả Kinh nói :
Phật chẳng thuyết pháp, chẳng độ chúng sanh,
chẳng chứng Bồ-Đề là nghĩa thế.
* Chúng sanh tạo nghiệp, nghiệp chẳng tạo chúng
sanh. Đời này tạo nghiệp, đời sau thọ báo, quyết
định không sai. Chỉ có bực chí nhơn nơi thân này
chẳng tạo các nghiệp nên chẳng thọ báo. Kinh nói:
chẳng tạo các nghiệp tự nhiên được Đạo, há chẳng
đúng sao ?! Người hay tạo nghiệp, nghiệp chẳng
hay tạo người. Người nếu tạo nghiệp, nghiệp và
người cùng sanh. Người nếu chẳng tạo nghiệp,
nghiệp và người đều dứt. Thế mới biết nghiệp do
người tạo, người theo nghiệp sanh. Nếu người
chẳng tạo nghiệp, thì nghiệp không theo mà sanh
người. Cũng như người hay hoằng Đạo, Đạo chẳng
hay hoằng người. Phàm phu đời nay thường tạo
nghiệp, vọng nói không báo, há phải không khổ đâu
! Nếu luận chí lý thì tâm trước tạo, tâm sau thọ báo
làm sao thoát được !.
* Nếu tâm trước chẳng tạo thì tâm sau chẳng thọ
báo thì lấy đâu vọng thấy nghiệp báo. Kinh nói : ai
tin có Phật mà nói Phật có khổ hạnh, đó là tà kiến;
nói Phật bị quả báo cây thương vàng và ăn lúa ngựa,
đó gọi là đức tin chẳng đủ, gọi là Nhất-xiển-đề.
Ai tỏ được pháp thánh thì gọi là thánh nhơn, tỏ pháp
phàm thì gọi là phàm phu. Chỉ có thể bỏ pháp phàm
theo pháp thánh, là phàm phu thành thánh vậy. Thế
gian ngu mê, chỉ muốn cầu làm thánh nhơn mà
chẳng tin cái tâm tỏ ngộ là thánh nhơn. Kinh nói :
những kẻ không trí đừng cho nghe kinh này. Kinh
nói : “tâm là pháp”. Người không trí chẳng tin tâm
tỏ ngộ pháp trở thành thánh nhơn ; nên chỉ muốn
tìm cầu bên ngoài, ngưỡng mộ hình tượng màu sắc
v.v.. đều bị đọa vào tà kiến, tâm sanh cuồng loạn.
* Kinh nói : “nếu thấy các tướng không phải tướng
là thấy Như-Lai.” Tám muôn bốn ngàn pháp môn
đều do tâm khởi; nếu tướng tâm thanh tịnh như hư
không liền thoát ly thân tâm vậy. Tám muôn bốn
ngàn phiền não là căn bịnh. Phàm phu khi sống lại
lo chết, khi no lại lo đói, đều gọi là đại mê hoặc.
* Cho nên thánh nhơn chẳng lo trước, chẳng nghĩ
sau, không đắm hiện tại, niệm niệm đều qui Đạo
* Nếu ai chưa ngộ được lý này, thì nên sớm tìm
đường lành trời người, đừng để mất hết cả hai.
* Đêm ngồi kệ rằng :
Canh một ngồi ngay bắt kiết già,
Tĩnh thần lặng chiếu rỗng đồng hư.
Lũy kiếp đến nay không sanh diệt,
Đâu cần sanh diệt diệt Vô-Dư.
Vạn pháp chung qui đều như huyễn
Bổn tâm tự rỗng đâu dụng trừ
Nếu biết tâm tánh phi hình tượng,
Lặng yên chẳng động tự chơn như
*
Canh hai thần lắng chuyển suốt trong
Chẳng khởi ước mơ, chỉ một lòng
Sum-la vạn tượng đều qui Đạo,
Há chấp có không để bịnh chung !
Các pháp bổn lai không Không Có,
Phàm phu vọng tưởng luận cuồng ngông
Nếu tâm chẳng khởi sanh hai pháp,
Còn nói làm chi thánh khác phàm !
*
Canh ba lòng lặng tợ hư không,
Trùm khắp mười phương đều suốt thông
Núi sông ghềnh đá không sao chướng,
Hằng sa thế-giới sẵn ở trong.
Thế giới chơn như cùng bổn-tánh
Cũng không không tánh tức dung thông
Phải đâu chư Phật là như thết,
Hữu tình muôn loại thảy đều đồng.
*
Canh tư không diệt không sanh,
Hư-không pháp-giới đẳng bình như nhau
Đến đi khởi diệt được nào
Có không sáng tối làm sao tỏ tường
Không thấy là cái thấy Thế-Tôn.
Không tên không được là tên Phật mình
Ai có tỏ ngộ biết liền
Chúng sanh mê-muội còn nguyên đui-mù
*
Canh năm Bát-Nhã chiếu vô biên,
Một niệm chẳng khởi ba ngàn suốt qua.
Chơn như bình đẳng muốn thấy là ….
Tịnh tâm không loạn trước mắt ta hiện liền.
Đạo mầu tâm khó suy lường
Chớ nên tìm kiếm cho thêm mệt thần.
Nếu hay vô niệm là chơn,
Tìm cầu càng cách hết đường thấy nghe.
*
* * *
THIÊN THỨ BA
LUẬN PHÁ TƯỚNG
* Luận rằng : Ví có người hỏi : Nếu muốn cầu Đạo
phải tu cách nào cho đưọc chóng tắt nhất ? Đáp: chỉ
có pháp quán tâm nhiếp hết các pháp là chóng tắt
nhất.
* Hỏi: Vì sao mà một pháp nhiếp được hết các
pháp?
Đáp: Vì tâm là nguồn cội của vạn pháp, hết thảy
pháp đều từ tâm sanh. Nếu tỏ được tâm thì vạn pháp
đều đủ. Cũng như cây to, cành lá hoa qủa sum sê
đều từ gốc cả. Khi trồng cây phải chú ý săn sóc ở
gốc cây thì cây mới được sanh sôi. Đốn cây cũng cứ
đốn ở gốc thì toàn thân cây đều chết. Nếu tỏ tâm mà
tu thì dụng lực ít mà thành công dễ ; chẳng tỏ tâm
mà tu phí công vô ích. – Nên biết tất cả thiện ác đều
từ tâm, lìa tâm mà tìm Đạo là việc luống công.
* Hỏi : Vì sao quán tâm gọi là cứu cánh ? Đáp : Bực
đại Bồ-Tát khi thâm nhập vào pháp đại-trí-huệ, biết
được tứ đại vỗn rỗng không vô ngã.
* Thấy được tự tâm khởi dụng có hai mặt khác nhau
: một là tâm nhiễm, hai là tâm tịnh. Hai mặt tâm
pháp này tự nhiên vốn đầy đủ.
* Tuy nhờ duyên hợp, nhưng hai tướng vẫn làm
nhân đối đãi lẫn nhau. Tâm tịnh thích làm nhân
lành, tâm nhiễm thường ưa nghiệp ác. Nếu chẳng
thọ nhiễm thì gọi là thánh, thoát ly các khổ, chứng
cái thật vui.
* Nếu đọa vào tâm nhiễm thì tạo nghiệp, chịu trói
buộc; gọi là phàm, trôi lăn trong ba cõi, chịu muôn
điều thống khổ.
* Vì sao thế ? Vì tâm nhiễm trái chướng với thể
chơn như.
* Nên kinh Thập-Địa nói : Trong thân chúng sanh
có tánh Phật Kim-Cang tròn sáng như mặt trời, rộng
lớn không bờ mé. Vì bị mây 5 ấm che khuất như
đèn bị chậu úp, sáng không hiện được.
* Lại trong kinh Niết-Bàn có nói : hết thảy chúng
sanh đều có tánh Phật, vì bị vô minh che khuất nên
chẳng được giải thoát, tánh Phật tức là tánh giác đó
! Chỉ tự giác và làm cho kẻ khác giác ngộ. Giác ngộ
rõ suốt thì gọi là giải thoát.
* Nên biết tất-cả việc thiện đều lấy giác làm gốc.
Nhờ giác mới có thể hiển hiện các cội công đức, qủa
Niết-Bàn cũng nhân đây mà thành tựu. Quán tâm
như thế có thể gọi là “liễu”.
* Hỏi : Như trên đã nói, tánh Phật chơn như, tất-cả
công đức đều nương nơi giác làm gốc, chằng hay
cái tâm vô minh lấy đâu làm gốc ?
Đáp : Cái tâm vô minh tuy có 84,000 phiền-não tình
dục và hà sa các điều ác đều nhân 3 độc làm gốc, 3
độc là tham sân si đó. Cái tâm 3 độc này tự nó đủ tất
cả khả năng làm ác cũng như cội cây to tuy chỉ có
một, nhưng có biết bao cành lá. Căn cội của 3 độc,
trong mỗi một cái rễ sanh ra các nghiệp ác vô lượng
vô biên không thể tỷ dụ. Tâm ba độc như thế từ
trong bản thể ứng hiện ra 6 căn, cũng gọi là 6 kẻ
giặc, tức là 6 thức đó !
* Do 6 thức này ra vào các căn tham đắm trần cảnh,
tạo thành nghiệp ác trái chướng với chơn thể, nên
gọi là 6 kẻ giặc.
* Tất cả chúng sanh đều bị ba độc 6 kẻ giặc này làm
mê loạn thân tâm, chìm đắm trong sanh tử, luân hồi
trong 6 nẻo chịu các điều đau khổ.
* Cũng như sông rộng mênh mông, bắt nguồn từ
khe suối nhỏ chảy mãi không ngừng, lần ra đến
sóng cuộn ba đào, mịt mờ muôn dặm. Nếu có người
lấp được tận nguồn thì dòng suối đều dứt. Người
cầu giải thoát nếu có thể chuyển 3 độc làm 3 tu tịnh
giới, chuyển 6 kẻ giặc làm 6 Ba-la-Mật tự nhiên lìa
dứt tất-cả nghiệp khổ.
* Hỏi : Sáu nẻo 3 cõi rộng lớn mênh mông, nếu chỉ
quán tâm làm sao thoát khỏi biển khổ vô cùng ?
* Đáp: ba cõi nghiệp báo chỉ từ tâm sanh, nếu được
vô tâm, tuy ở trong 3 cõi nhưng liền thoát ly 3 cõi.
* Ba cõi tức là 3 độc đó. Tham là cõi dục, sân là cõi
sắc, si là cõi vô sắc, nên gọi là 3 cõi. Từ 3 độc này
tạo nghiệp nặng nhẹ, thọ báo chẳng đồng, chia ra 6
nẻo nên gọi là 6 thú.
Hỏi : Sao gọi là nhẹ nặng chia làm 6 nẻo ?
Đáp : Chúng sanh chẳng rõ nhân chánh, quên tâm
tu nghiệp thiện vẫn chưa ra khỏi 3 cõi, sanh về 3
nẻo nhẹ.
* Hỏi: Sao gọi là 3 nẻo nhẹ ?
Đáp: Là vì mê lầm lo tu 10 điều thiện, vọng cầu
khoái lạc chưa khỏi cõi tham, sanh về đường trời.
Mê giữ 5 giới, vọng khởi ghét yêu, chưa khỏi cõi
sân nên sanh về đường người. Mê chấp theo hữu vi,
tin tà cầu phước, chưa khỏi cõi si, nên sanh về nẻo
A-Tu-La. Ba loại như thế gọi là đường nhẹ.
Hỏi : Sao gọi là 3 đường nặng ?
Đáp : Nghĩa là từ tâm 3 độc, chỉ tạo nghiệp ác bị
đọa vào 3 đường nặng. Nếu nghiệp tham nặng thì
đọa vào đường ngạ quỉ, nghiệp sân nặng thì đọa vào
đường địa ngục, nghiệp si nặng thì đọa vào đường
súc sanh.
* Ba đường nặng này thông đồng với ba đường nhẹ,
cộng thành sáu đường. Nên biết tất-cả nghiệp khổ
đều từ tâm sanh. Nếu có thể nhiếp tâm, lìa các tà ác
thì cái khổ trong 3 cõi 6 đường tự nhiên tiêu diệt ;
lìa khổ là được giải thoát.
Hỏi: Như chỗ Phật nói : Ta ở trong 3 vô lượng kiếp
tu vô lượng khó nhọc nay mới thành Phật ; đây ngài
chỉ nói quán tâm, chế ngự 3 độc thì gọi là giải thoát
là tại làm sao ?
Đáp: Lời Phật nói thật không ngoa. Ba vô lượng
kiếp tức là 3 độc đó. Trong cái tâm 3 độc này có vô
số niệm ác, trong mỗi niệm đều là một kiếp cho nên
nói 3 vô số kiếp.
* Tánh chơn như đã bị 3 độc chất che khuất, nếu
chẳng siêu cái tâm có 3 vô lượng ác độc ấy thì làm
sao gọi là giải thoát ! Nay nếu có thể chuyển cái tâm
3 độc này làm 3 giải thoát, thế gọi là đã vượt qua
được 3 vô lượng vô số kiếp. Chúng sanh đời sau
ngu si căn độn, chẳng rõ cách nói bí mật của Như-
Lai bèn cho rằng việc thành Phật không thể tin
được. Như thế há chẳng là làm cho người tu nghi
lầm thối chuyển đạo Bồ-Đề đó sao !
* Hỏi : Bực đại Bồ-Tát do giữ 3 tụ tịnh giới, 6 Ba-
La-Mật mới được thành Phật. Nay ngài bảo người tu
chỉ quán tâm chẳng tu giới hạnh làm sao thành
Phật?
Đáp : Ba tụ-tịnh-giới tức là chế ngự cái tâm ba độc
đó. Chế ngự 3 độc thành vô lượng pháp thiện tụ.
Chữ tụ là gom lại ; vô lượng pháp thiện đều tụ nơi
tâm nên gọi là 3 tụ-tịnh-giới. Còn nói 6 Ba-La-Mật
nghĩa là 6 tịnh căn ; vì 6 căn thanh tịnh chẳng nhiễm
6 trần tức là qua được sông phiền-não đến bến Bồ-
Đề, nên gọi là 6 Ba-La-Mật.
* Hỏi: Như kinh nói : ba tụ-tịnh-giới là thệ dứt tất cả
nghiệp ác ; nguyện tu tất cả việc thiện ; nguyện độ
tất cả chúng sanh. Nay chỉ nói chế ngự cái tâm 3
độc há chẳng không hợp đó sao ?
Đáp: Phật nói ra điều gì là chân thật, bực Đại-Bồ-
Tát trong nhân tu hành của quá khứ là đối ba độc
phát ba thệ nguyện giữ tất cả tịnh giới.
* Đối với tham thì nguyện dứt các điều ác, thường
tu các điều thiện. Đối với sân thì nguyện độ tất-cả
chúng sanh, nên thường tu huệ. Đối với si nhờ hành
trì 3 pháp tịnh Giới Định Huệ ấy nên có thể siêu 3
độc mà thành Phật. Các ác tiêu diệt gọi là đoạn. Vì
hay giữ được 3 tụ-tịnh-giới thì các thiện đều đủ, gọi
đó là tu.
* Vì hay dứt ác tu thiện thì vạn hạnh thành tựu,
mình người đều lợi, giúp khắp quần sanh, nên gọi là
giải thoát.
* Thế mới biết giới hạnh để tu ấy chẳng lìa tự tâm.
Nếu tự tâm thanh tịnh thì tất-cả cõi Phật đều thanh
tịnh.
* Nên kinh nói : hễ tâm dơ bẩn thì chúng sanh dơ
bẩn, tâm trong sạch thì chúng sanh trong sạch.
* Muốn được cõi Phật phải tịnh cái tâm, tùy cái tâm
tịnh thì cõi Phật tịnh, ba tụ-tịnh-giới tự nhiên thành
tựu.
* Hỏi : Như kinh nói : 6 Ba-La-Mật cũng gọi là 6
độ. Nay nói 6 căn thanh tịnh gọi là Ba-La-Mật vậy
chỗ dung thông phải như thế nào ?
Đáp : Muốn tu 6 độ phải tịnh 6 căn, trước hàng
phục 6 kẻ giặc … Hễ xả được giặc mắt, đừng đắm
theo sắc thì gọi là Bố thí. Ngăn được giặc tai, đừng
đắm theo âm thinh thì gọi là giữ giới. Phục được
giặc mũi, không đắm theo mùi thì gọi là nhẫn nhục.
Chế được giặc miệng, không tham theo vị, không
đắm theo giọng, không buông lung theo nói năng
tạp loạn thì gọi là tinh tấn. Hàng được giặc thân,
chẳng đắm theo xúc dục - Rỗng rang chẳng động,
gọi là Thiền-định. Điều phục được giặc ý, chẳng
thuận với vô thường, thường tu giác huệ, gọi là tríhuệ.
Độ nghĩa là chuyên chở. Sáu độ ví dụ cũng như
đò, có thể đưa chúng sanh qua bờ sông bên kia nên
gọi là 6 độ.
* Hỏi : Kinh nói đức Thích Ca khi còn làm Bồ-Tát
đã từng uống 3 đấu 6 thăng sữa mới thành Phật (3
đấu 6 thăng : hơn 3 lít rưỡi). Trước nhờ uống sữa rồi
sau mới chứng quả, há chỉ quán tâm mà được giải
thoát ư ?
Đáp: Đúng thế ! đúng thế ! Phải trước uống sữa rồi
sau mới thành Phật. Nhưng phải biết sữa có hai thứ.
Thứ sữa Phật uống đây không phải là sữa trâu, sữa
bò, sữa dê của thế gian đâu, mà là thanh tịnh pháp
nhũ đó ! Ba đấu tức là 3 tụ-tịnh-giới, 6 thăng là 6
độ. Thành Phật phải nhờ uống thứ sữa pháp thanh
tịnh như thế mới chứng được quả. Nhưng phải biết
đây là một cách nói kín. Nếu hiểu Như-Lai uống các
thứ sữa vật chất thế gian thì thật là lầm lắm ! Chân
như vốn tự là pháp thân vô lậu bất hoại, lìa hẳn tấtcả
các cái khổ thế gian, há lại phải nhờ vật chất bất
tịnh thế gian để khỏi đói khát ! Trong kinh có nói :
thứ bò này chẳng ở cao nguyên, chẳng ở đất thấp,
chẳng ăn lúa cám, chẳng cùng loại bò bô nhập bầy,
màu lông vàng ánh tia. Chữ bò ở đây là để ám chỉ
cho Phật Tỳ-Lô-Giá-Na, vì lòng từ bi rộng lớn,
thương xót tất-cả chúng sanh, nên từ trong pháp thể
thanh tịnh xuất hiện ra thứ sữa pháp 3 tụ tịnh giới và
6 độ vi diệu như thế đề mà nuôi dưỡng cho tất-cả
những ai cầu giải thoát.
* Cái nghĩa bò và sữa thanh tịnh như thế không
những Như-Lai uống vào là được thành đạo, mà dẫu
cho ai uống vào cũng đều được đạo Vô Thượng Bồ-
Đề cả.
* Hỏi : trong kinh nói : Phật dạy chúng sanh cất
chùa, đúc vẽ hình tượng, thắp hương đèn, rải hoa,
ngày đêm 6 thời quanh tháp hành đạo, ăn chay lễ bái
; làm hết thảy công đức ấy đều được thành đạo. Nếu
chỉ quán tâm nhiếp hết các hạnh, như thế té ra bao
nhiêu chuyện kinh nói đều thành hư luống sao ?
Đáp: Phật có nói ra điều gì đều là vô lượng phương
tiện vì tất-cả chúng sanh ngu tối, căn cơ thấp kém
chẳng tỏ nghĩa lý sâu mầu, nên mới mượn việc thế
gian hữu vi để mà thí dụ. Nếu chẳng lo tu hạnh ở
trong, chỉ chạy ra ngoài mà cầu hy vọng được
phước thì thật là vô lý. Nói chùa cũng như nói nơi
thanh tịnh. Nếu dứt trừ 3 độc, thường tịnh 6 căn,
thân tâm rỗng lặng, trong ngoài thanh tịnh, đó là
nghĩa cất chùa. Còn nói đúc vẽ hình tượng là nói tấtcả
chúng sanh mong cầu đạo quả ; cách hạnh giác
để tu là phỏng theo chân dung diệu tướng cuả Như-
Lai, chớ đâu phải nói chuyện hữu vi vật chất. Cho
nên người cầu giải thoát phải lấy thân làm lò, dùng
pháp làm lửa, dùng trí huệ làm thợ khéo, 3 tụ-tịnhgiới
6 độ là khuôn. Ung-đúc chơn như tánh Phật
trong thân cho vào khuôn giới luật.
Nếu kỉnh nhận thực hành đừng cho sai chạy, tự
nhiên thành tựu. Còn nói tượng chân dung là nói
pháp thân thường trụ, vi diệu cứu cánh, chớ không
phải cái thân hữu vi bại hoại. Nếu người cầu đạo
chẳng rõ cái nghĩa ung đúc như thế, vậy vẽ chân
dung bằng cứ nơi đâu mà nói là công đức ?
* Còn nghĩa thắp hương cũng vậy ; là thứ hương
chánh pháp vô vi, xông lên để tẩy sạch các uế
nghiệp ác vô minh, hết thảy đều tiêu diệt. Hương
chánh pháp có mấy thứ : Một là hương Giới, nghĩa
là ý nói hay dứt các ác, hay tu các điều thiện. Hai là
hương Định, nghĩa là tin sâu Đại Thừa, tâm không
thối chuyển. Ba là hương Huệ, là thường quán sát
trở vào trong tự thân tâm. Bốn là hương Giải Thoát,
là dứt hết cả vô minh trói buộc. Năm là hương Giảithoát-
tri-kiến, là xét soi thường tỏ, thông suốt không
ngại. Năm thứ hương như thế gọi là hương tối
thượng, thế gian không sánh được. Phật ở thế gian
bảo các đồ đệ dùng lửa trí huệ đốt thứ hương vô giá
này để cúng dường mười phương chư Phật.- Chúng
sanh đời nay chẳng rõ nghĩa chơn thật của Như-Lai,
chỉ dùng lửa ở ngoài mà thắp các thứ hương vật chất
thế gian để mong cầu phước báo làm kết qủa.
Còn nghĩa rải hoa cũng vậy, là nói công đức đem
chánh pháp mà giảng dạy lợi ích chúng sanh, thấm
nhuần khắp tánh chơn như, bố thí trang nghiêm.
Thứ hoa công đức này Phật thường khen ngợi, cứu
cánh hằng còn không bao giờ héo tàn. Nếu ai rải hoa
như thế sẽ được phước báo vô lượng - Nếu nói Phật
dạy chúng sanh cắt xén bông hoa, tổn thương thảo
mộc cho được hoa để rải thì thật là vô lý. Vì sao thế
? Vì người giữ giới thanh tịnh thì tất-cả sum la vạn
tượng trong trời đất cũng không xúc phạm. Khi lầm
phạm còn có ăn năn thay huống chi là dạy cổ phá
tịnh giới, tổn thương vạn vật để cầu phước báo ;
muốn lợi lại hại, há có như thế sao ?
Lại nữa nói luôn luôn đốt đèn sáng là ý nói cái tâm
chánh giác tỏ suốt ví cũng như đèn sáng. Cho nên ai
muốn cầu giải thoát phải lấy thân làm đài, tâm làm
tim, các giới hạnh làm dầu, trí huệ tỏ suốt làm lửa.
Thường thắp đèn chơn chánh giác, chiếu phá tất-cả
vô minh ngu tối, hay dùng pháp này lần lượt khai thị
lẫn nhau tức là một ngọn đèn mổi ra trăm ngàn ngọn
; cứ như thế mãi mãi vô cùng, nên gọi là Vô-tậnđăng.
* Xưa có Phật tên là Nhiên Đăng, ý nghĩa Nhiên
Đăng là thế. Chúng sanh ngu si chẳng rõ lối nói
phương tiện của Như-Lai, luống làm theo sự, đam
chấp việc hữu vi ; bèn dùng các thứ đèn dầu thế gian
đốt lên luống soi nhà trống, rồi bảo là làm đúng theo
kinh, há chẳng lầm lắm sao ? Vì sao thế ? – Vì Phật
phóng một đạo hào quang trắng ở giữa hai chơn
mày, có thể chiếu suốt 18 ngàn cõi nước phương
Đông, há đợi nhờ đèn dầu thế gian leo nheo như thế
để làm lợi ích ! Gẫm xét cái lý phải chẳng thế sao !
* Lại nữa, 6 thời hành đạo nghĩa là nói nơi 6 căn
luôn luôn thực hành đạo Phật, tu các hạnh giác.
Điều phục 6 căn, mãi mãi không hở, gọi là 6 thời.
Còn quanh tháp hành đạo, chữ tháp nơi đây là ám
chỉ cho thân tâm đó ! Nghĩa thường sanh giác huệ
tuần sát thân tâm luôn luôn chẳng hở, gọi là quanh
tháp. Các bực thánh đã qua đều nhờ thực hành cách
ấy mà được Niết-Bàn. Người đời nay chẳng rõ lý
này, chẳng thực hành nơi tâm, chỉ chấp trở ra mà
tìm, đem cái thân chướng ngại đi quanh tháp thế
gian ngày đêm lũ lượt, luống uổng nhọc công, đối
với chơn tánh không chút lợi ích. Còn nói ăn chay
lại phải càng thêm để ý, nếu chẳng rõ lý này thì
càng nhọc công vô ích. Chữ chay ở chữ Hán là chữ
Trai, mà chữ Trai lại từ chữ Tề mà biến, nhưng chữ
Tề cũng như nghĩa chữ Bình. Nghĩa là tề bình thân
tâm, chẳng để tán loạn.- Chữ ăn nơi đây cũng như
nghĩa chữ giữ. Nghĩa là giữ các giới hạnh, đúng
phép tu hành. Ở ngoài phải ngăn ngừa 6 tình, ở
trong phải chế ngự 3 độc, siêng giác sát, tịnh thân
tâm, biết rõ nghĩa này mới gọi là ăn chay.
* Lại nữa, chữ ăn ở đây có 5 nghĩa:
Một, ăn bằng vui với pháp, nghĩa là giữ y chánh
pháp hoan hỷ vâng làm.
Hai, ăn là vui với Thiền-định, nghĩa là trong ngoài
lặng suốt, thân tâm vui đẹp.
Ba là ăn bằng suy nghĩ, nghĩa là thường nghĩ chư
Phật lòng miệng như nhau.
Bốn là ăn bằng nguyện, nghĩa là đi đứng nằm ngồi
thường cầu nguyện lành.
Năm là ăn bằng giải thoát, nghĩa là tâm thường
thanh tịnh, chẳng nhiễm tục trần.
Năm nghĩa ăn này gọi là ăn chay. Nếu ai chẳng
nhận 5 nghĩa chay tịnh này mà tự hào là ăn chay đều
là làm việc vô lý. Cần nhứt phải dứt cho được cái ăn
mê muội. Nếu phải va chạm gọi là phá trai.
Ăn mê muội nghĩa là thí dụ nghe nói ăn sáng là
chư thiên ăn, trưa là Phật ăn, chiều là súc sanh ăn,
tối là ma quỉ ăn ; nghe thế rồi bữa trưa ráng ăn thật
no để chiều khỏi đói, ăn rồi nằm thở. Như vậy mới
thật là súc sanh ăn !
* Nếu đã phá trai sao gọi là được phước ? - Đời có
người mê chẳng rõ lý này, thân tâm phóng túng theo
các nghiệp ác, tham dục, buông tình, chẳng biết xấu
hổ. Chỉ ăn được ba thứ rau cải rồi tự hào là ăn chay
thì thật là phi lý.
Còn nói lễ lạy đúng theo phép thì ở trong phải tỏ
thông lý thể, ở ngoài thì sự tùy quyền thông. Lý có
khi phải hiện, có khi phải ẩn. Biết được nghĩa như
thế mới gọi là y theo pháp. - Vả chăng lễ nghĩa là
kỉnh, lạy nghĩa là phục. Nghĩa là cung kỉnh chơn
tánh, hàng phục vô minh ; đó là lễ bái. Nếu có thể
dứt trừ lòng ác, thiện niệm hằng giữ ; tuy chẳng hiện
tướng, nhưng đó mới thật là lễ lạy.
* Tướng là pháp tướng. Thế Tôn muốn làm cho
người đời tỏ lòng khiêm tốn cũng là lễ lạy. Nên phải
ở trong khuất phục, ngoài hiện khiêm cung ; nêu cái
bên ngoài để rõ bên trong, tánh tướng như nhau.
Nếu không căn cứ trên pháp lý, chỉ chấp tướng bên
ngoài mà cầu, trong thì mở cửa 3 độc, thường làm
nghiệp ác, ngoài làm ra tướng ghê gớm, trá hiện oai
nghi, chẳng khỏi luân hồi, há thành công đức ? !
Hỏi : Như kinh Ôn-Thất nói : Tắm gội chúng tăng
phước đức vô lượng. Đó là rõ ràng dựa vào sự pháp
mới thành công đức ; nếu là quán tâm có thể tương
ưng được sao ?
Đáp : Nói tắm gội chúng tăng cũng chỉ là một thứ
ẩn ngữ, chớ phải đâu bảo làm theo sự tướng thế gian
! Đức Thế-Tôn thường vì các đệ tử mà giảng kinh
Ôn-Thất để cho thọ trì phép tắm gội, nên mượn việc
thế gian để ví dụ. Mật nói công đức của 7 việc cúng
dường như sau đây : 1 là nước trong, 2 là nhúm lửa,
3 là xà phòng (chất tẩy), 4 là bàn chải, 5 là phấn bột,
6 là dầu ướp, 7 là áo lót. Dùng 7 việc này để ví dụ
cho 7 pháp. Tất cả chúng sanh theo 7 pháp tắm gội
trang nghiêm này, thì có thể trừ được tâm độc vô
minh dơ bẩn. Bảy pháp ấy là :
8) Dùng tịnh giới gội rửa mê lầm cũng như dùng
nước trong gội rửa bụi bặm.
9) Dùng trí huệ quán sát, trong ngoài sáng suốt
cũng như nhúm lửa nấu nước trong.
10) Lừa lọc các điều ác, cũng như xà phòng
rửa sạch dơ bẩn.
11) Chơn thật dứt trừ vọng tưởng, cũng
như bàn chải hay làm sạch miệng hôi.
12) Chánh tín quyết định không nghĩ cũng
như phấn bột dùng để xoa trong thân có thể
ngăn ngừa các chứng phong ngoại cảm.
13) Nhu hòa nhẫn nhục, cũng như dầu ướp
làm thông nhuận mặt da.
14) Biết hổ thẹn ăn năn các nghiệp ác cũng
như áo lót mình để che khuất bớt các chỗ bất
tiện trong cơ thể.
Bảy pháp vừa nói trên là nghĩa bí mật trong kinh.
Lúc đó Như-Lai vì các bực đại thừa lợi căn mà nói,
chớ đâu phải vì phàm phu trí kém mà nói đâu ! Đó
là chỗ người nay không thể rõ. Còn nghĩa Ôn-Thất
cũng là ám chỉ cho thân đó. Cho nên nhúm lửa trí
huệ, nấu nước tịnh giới để tắm gội chơn như tánh
Phật trong thân. Thọ trì 7 pháp để tự trang nghiêm.
Hạng Tỳ-Kheo lúc đó thông minh lanh lợi đều ngộ
ý thánh, theo chỗ nói mà tu hành, công đức thành
tựu, đều chứng quả thánh. Chúng sanh đời nay
không rõ tự sự, đem nước thết gian để tắm rửa cái
thân tứ đại mà tự cho là làm theo kinh ; như thế há
chẳng lầm lắm sao ! Vả lại tánh Phật chơn như đâu
phải thứ có hình ; phiền-não bợn nhơ bổn lai không
tướng. Há có thể đem nước vật chất để gội rửa cái
thân vô vi được sao ? Trên sự đã chẳng tương ưng
làm sao ngộ được đạo ! Nếu muốn thân được tịnh,
phải quán thân này vốn từ tham dục hôi hám dơ bẩn
sanh ra, trong ngoài đầy dẫy ; thế mà muốn gội rửa
cho thân này được sạch thì nào có khác chi rửa
đường mương. Chỉ đừng có đường mương thì mới
sạch cho. Cứ theo đây mà nghiệm thì đủ rõ tắm gội
bên ngoài không phải là ý của Phật vậy.
Hỏi : Kinh nói chỉ chí tâm niệm Phật tất được vãng
sanh về cõi Cực Lạc, chỉ một môn này là được
thành Phật, đâu cần phải quán tâm để cầu giải thoát
? !
Đáp : Niệm Phật nghĩa là phải niệm chánh. Nghĩa
rốt ráo mới là nghĩa chánh, chẳng rốt ráo là tà. Nếu
niệm chánh tất được vãng sanh, niệm tà làm sao đến
được. Phật nghĩa là giác, nghĩa là giác sát thân tâm
đừng để khởi ác. Niệm nghĩa là nhớ, nghĩa là giữ
giới hạnh, đừng vọng tinh tấn. Cần rõ nghĩa như thế
mới gọi là niệm. Nên biết niệm ở nơi tâm, chớ
chẳng phải ở miệng, mượn ngôn ngữ để cầu ý, được
ý phải quên lời. Đã nói niệm danh hiệu Phật cũng
phải biết cái đạo niệm Phật. Nếu tâm không thật,
miệng niệm danh hiệu suông, 3 độc lẫy lừng, chấp
mình chấp người cả bụng ; dùng cái tâm vô minh
vọng cầu thấy Phật luống uổng tốn công. Đến như
tụng với niệm cũng khác nhau. Ở miệng gọi là tụng,
ở tâm gọi là niệm. Nên biết niệm từ tâm khởi, gọi là
môn giác hạnh. Còn tụng ở miệng là tướng âm
thanh, chấp tướng cầu lý thật là không phải. Phải
biết các thánh xưa tu hành đều không phải nói bên
ngoài, mà luôn luôn phải lấy tâm làm chủ, vì tâm là
nguồn cội vạn pháp, tâm là chủ của muôn đức, vắng
lặng thường vui đều bởi ngừng vọng. Ba cõi luân
hồi cũng từ tâm khởi, tâm là cửa của cuộc đời, tâm
là bờ giải thoát. Biết được cửa tâm rồi lo gì khó
thành ! Thấy được tâm rồi lo gì chẳng đạt ! Người
nay thấy biết nông nổi, chỉ biết sự tướng làm công,
hao phí của cải, tổn thương vạn loại. Luống công
xây đắp, gom nhóm vật liệu, vẽ vời rằn ri đem hết
tâm lực, tổn mình mê người, chưa biết tỉnh ngộ có
đâu sợ khó. Hễ thấy việc hữu vi thì nôn nao mê
đắm, còn nói đến vô tướng thì trơ trơ như mê. Chỉ
tham kế quả nhỏ nhen hiện tại ; chớ biết đâu cái khổ
biển cả sau này. Tu học như thế luống thêm nhọc
sức, trái chánh theo tà, vọng nói được phước. Nếu
chỉ có thể nhiếp tâm soi trở vào trong, giác quán ở
ngoài cho tỏ, dứt trừ 3 độc, đóng hết 6 cửa giặc
đừng cho nhiễu loạn ; tự nhiên vô lượng công đức,
bao thứ trang nghiêm, vô số pháp môn đều được
thành tựu, siêu phàm chứng thánh, tận mặt sát một
bên, ngộ trong giây lát, đâu đến nỗi khó khăn. Môn
chơn thật nhiệm mầu đâu thể nào trình bày hết. Nơi
đây chỉ thuật sơ về quán tâm, nói rõ ra chút ít vậy
thôi.
Kệ rằng:
Ta vốn cầu tâm tâm tự gìn
Cầu tâm chẳng được để tâm minh
Tánh Phật chẳng từ ngoài tâm được
Tâm sanh chính là lúc tội sanh
Ta vốn cầu tâm chẳng cầu Phật
Rõ biết ba cõi rỗng – không, suốt
Nếu muốn cầu Phật chỉ cầu tâm,
Chỉ tâm này, tâm này là Phật.
Quán Tâm Pháp
Ch ánh V ăn
Thiền Sư Thích Minh Thiền Dịch
Bồ Đề Đạt Ma Quán Tâm Pháp Thích Minh Thiền
Viễn Lưu vô máy Vi Tính Rằm tháng 9 2009 253
THIÊN THỨ NHỨT
LUẬN HUYẾT MẠCH
CHÁNH VĂN * Ba cõi lăng xăng đều từ một tâm.
Phật trước Phật sau đều chỉ dùng tầm truyền tâm,
chẳng lập văn tự.
* Có người hỏi : Nếu không lập văn tự, vậy lấy gì
làm tâm ?
Đáp : Ông hỏi tôi tức là tâm của ông, tôi trả lời với
ông tức là tâm của tôi. Nếu tôi không có tâm thì lấy
đâu biết để trả lời với ông ; ông nếu không có tâm
làm sao ông biết hỏi tôi. Cho nên biết : hỏi tôi tức là
tâm của ông đó.
* Từ lũy kiếp đến giờ, nhẫn đến hành tung hoạt
động bất cứ lúc nào, bất cứ chỗ nào đều là cái tâm
vốn có của ông, đều là Phật vốn có của ông. Cái
nghĩa chính tâm mình là Phật là như thế.
* Ngoài tâm này, rốt-ráo không có Phật nào khác có
thể được. Nếu lìa tâm này mà tìm Bồ-Đề, Niết Bàn
thì thật là không tưởng.
* Tánh chơn thật của tự mình không phải pháp nhân
pháp qủa, đó là nghĩa của tâm
* Tự tâm là Niết-Bàn. Nếu nói ngoài tâm có Phật và
Bồ-Đề có thể được thì thật không tưởng.
* Phật và Bồ-Đề ở chỗ nào ? Ví như có người dang
tay bắt hư-không có được gì không ? Vì sao thế ? vì
hư không chỉ có tên chớ nào có hình tướng ! Bắt đã
chẳng được, bỏ cũng chẳng được. Thế là hư không
không thể bắt được. Trừ tâm này ra mà tìm Phật rốt
rồi không được cũng giống như vậy.
* Phật là tự tâm làm ra. Tại sao lìa tâm mà tìm
Phật !? Phật trước Phật sau chỉ nói về tâm. Tâm tức
là Phật, Phật tức là tâm : ngoài tâm không Phật,
ngoài Phật không tâm. Nếu nói ngoài tâm có Phật,
vậy Phật ở đâu ? Ngoài tâm đã không Phật sao lại
còn làm ra cái thấy có Phật để mà dối gạt lẫn nhau,
rồi không thể rõ được cái tâm vốn có của mình, lại
bị vật vô tình nó nhiếp mất tự do nếu không tin hiểu
như thế, để tự dối gạt thật là vô ích. Phật không lỗilầm,
chúng sanh điên-đảo chẳng biết giác-ngộ tâm
mình là Phật. Nếu biết tự tâm là Phật chớ nên tìm
Phật ngoài tâm.
* Phật chẳng độ Phật, nếu đem tâm tìm Phật là
chẳng biết Phật chỉ là tự tâm.
* Những người đi tìm Phật, hết thảy đều chẳng biết
tự tâm là Phật. Cũng chớ nên đem Phật lễ Phật, đem
tâm niệm Phật. Phật chẳng tụng kinh, chẳng giữ
giới, chẳng phạm giới. Phật không có giữ và phạm,
cũng chẳng tạo thiện tạo ác. Nếu chẳng thấy tánh
niệm Phật tụng kinh, ăn chay giữ giới cũng không
ích lợi gì.
* Niệm Phật chẳng qua được nhân qủa, tụng kinh
chẳng qua được thông minh, giữ giới chẳng qua
được sanh lên cõi trời, bố thí chẳng qua được phước
báo. Tìm Phật quyết định không thể được.
* Nếu tự mình không thấu suốt, thì phải nên tìm
tham học với thiện tri thức nào đã dứt khoát nguồn
cội sanh tử. Nếu chẳng thấy tánh thì không được gọi
là thiện tri thức.
* Nếu không như thế dẫu cho có giảng được hết cả
kinh Phật cũng chẳng khỏi sanh tử luân hồi, vẫn ở
trong 3 cõi chịu khổ mãi mãi.
* Xưa có Tỳ-Kheo Thiện-Tinh giảng được hết cả
kinh Phật nhưng vẫn chẳng khỏi luân-hồi, cũng chỉ
vì chẳng thấy tánh.
* Thiện-Tinh đã như thế, người nay bất qúa giảng
được năm ba bổn kinh luận rồi vội cho là mình thực
hành pháp Phật, đó là thuộc về hạng người mê. Nếu
chẳng biết tự tâm, chỉ tụng không theo mặt chữ của
kinh đều là vô dụng. Nếu muốn tìm Phật phải nên
thấy tánh. Tánh tức là Phật. Phật tức là tự tại, rảnh
rang, vô sự. Nếu chẳng thấy tánh suốt ngày chật vật
dong ruỗi ra ngoài mà tìm, tìm làm sao được !
* Tuy không một vật có thể được nhưng nếu muốn
cầu tỏ ngộ cũng phải nên tham học với thiện tri
thức. Phải thiết tha cầu khổ mà cầu đến bao giờ
được tỏ ngộ bổn tâm.
* Sanh tử việc lớn, không được phép để luống trôi
qua, tự dối gạt vô ích. Dẫu có của qúi như non,
quyến thuộc như cát sông Hằng, mở mắt thấy đó,
khi nhắm mắt rồi ra sao ? Phải biết các pháp hữu vi
đều như giấc mơ, như huyển hóa.
* Nếu chẳng gấp tìm thầy học Đạo, luống uổng một
kiếp trôi qua. Tuy rằng tánh Phật ai cũng vốn tự có,
nhưng nếu chẳng nhờ thầy chỉ-giáo rốt không thể tỏ
ngộ.
* Những bực chẳng nhờ thầy mà tỏ ngộ chỉ là hy
hữu trong muôn một mà thôi. Nếu tự mình được
nhân-duyên hợp ý thánh thì không cần phải tham
học với thiện-tri-thức ; trường hợp này gọi là sanh
ra đã biết còn hơn vậy.
* Nếu chưa được tỏ-ngộ phải nên cần khổ tham
học, nương nơi giáo mới được ngộ. Nếu đã ngộ rồi
chẳng học chả sao, không đồng với người mê. Nếu
chưa minh bạch được đen trắng mà kỳ vọng nói
tuyên-bày giáo-pháp của Phật, chê Phật kỵ pháp.
Những bọn như thế, thuyết-pháp như thế, hết thảy
đều là ma nói, không phải Phật nói, tức là ma
vương, đệ-tử của họ là ma dân. Người mê chịu cho
chúng nó chỉ-huy chẳng được giác-ngộ, đọa vào
biển sanh tử chỉ vì chẳng thấy tánh, vọng xưng là
Phật. Bọn chúng-sanh như thế là đại ma vương, gạtgẫm
tất cả chúng sanh cho vào cõi ma.
* Nếu chẳng thấy tánh dẫu cho giảng được hết kinh
Phật đi nữa cũng chẳng qua là ma nói, là quyếnthuộc
nhà ma, chẳng phải đệ-tử của Phật. Đã chẳng
biện được đen trắng thì căn cứ nơi đâu mà khỏi sanh
tử ? Nếu đã thấy tánh tức là Phật, chẳng thấy tánh
tức là chúng sanh. Nếu lìa tánh chúng sanh mà riêng
có tánh Phật có thể được, vậy Phật hiện ở chỗ nào ?
* Như thế chúng sanh là tánh Phật. Ngoài tánh
không Phật. Phật tức là tánh, ngoài tánh này không
có Phật nào có thể được. Ngoài Phật cũng không có
tánh nào có thể được.
* Hỏi : Nếu chẳng thấy tánh niệm Phật, tụng kinh,
bố-thí, giữ giới, tinh-tấn, mở rộng phúc duyên có
được thành Phật không ? – Đáp : không !
Hỏi : Vì sao không được ?
Đáp : Nếu có chút pháp nào có thể được đều là
pháp hữu vi, là pháp nhân qủa, là pháp thọ báo, là
pháp luân hồi, không khỏi sanh tử, biết chừng nào
mà thành Phật !
* Muốn thành Phật phải thấy tánh. Nếu chẳng giác
ngộ bổn-tánh thì dù có nói những nào nhân, nào qủa
đểu là pháp ngoại-đạo. Nếu là Phật thì chẳng tập
theo pháp ngoại-đạo.
* Phật là người không nghiệp, không nhân qủa, nếu
nói có chút pháp có thể được đều là chê bai Phật đó.
Căn cứ nơi đâu mà được thành Phật ?! Dẫu cho chỉ
trụ-chấp một tâm, một năng, một giải, một thấy
cũng đều bị Phật chẳng thừa nhận. Phật không giữ
và phạm. Tâm tánh vốn không, cũng không phải các
pháp dơ sạch, không tu không chứng, không nhân
không qủa. Phật chẳng giữ giới, chẳng tu thiện
chẳng tạo ác, chẳng tinh tiến, chẳng giải-đãi. Phật là
người vô tác, nếu có tâm đẵm chấp để thấy Phật là
bị không thừa nhận rồi. Phật chẳng phải Phật, đừng
làm ra hiểu Phật, nếu chẳng thấy nghĩa này thì luôn
luôn ở đâu cũng đều là mê-muội bổn tâm, nếu chẳng
thấy tánh mà luôn luôn tưởng-tượng làm ra cái rảnh
rang (vô tác), đó là tội nhân lớn, là người si, rơi vào
ngoan-không vô-ký, ngây ngây như người say,
chẳng phân được tốt xấu. Nếu muốn tu theo pháp vô
tác trước phải thấy tánh, rồi sau dứt các duyên lự
nơi tâm. Nếu chẳng thấy tánh mà được thành Phật,
thì thật là chuyện tưởng tượng. Có người bác cho
rằng không nhân qủa, tha hồ mà tạo nghiệp ác, vọng
nói vốn không, làm ác không tội, con người như thế
sẽ đọa địa ngục vô-gián tối-tăm mãi mãi. Nếu là
người trí không nên hiểu như thế.
* Hỏi : đã nói dầu cho làm lụng, hoạt động, lúc nào
cũng đều là bổn tâm. Vậy khi vô-thường đến với sắc
thân sao lại chẳng thấy bổn-tâm ?
Đáp : Bổn-tâm lúc nào cũng hiện bày, chỉ tại ông
tự chẳng thấy.
* Hỏi : Lúc nào cũng hiện-bày, vì sao chẳng thấy ?
Tổ-sư nói : « Ông có từng nằm mơ lần nào
không ? »
Đáp : Có.
Hỏi : khi ông nằm mơ có phải là bổn thân của ông
không ?
Đáp : Phải
Lại hỏi : Ông nói-năng hoạt-động với ông là một
hay khác ?
Đáp : Không khác
Nói : Nếu đã chẳng khác thì thân của ông đây
cũng chính là pháp-thân vốn có của ông đó. Chính
ngay pháp thân này là bổn-tâm của ông đó. Tâm này
từ lũy-kiếp đến giờ vẫn y nguyên như thế, chưa từng
có sanh tử. Chẳng sanh chẳng diệt, chẳng thêm
chẳng bớt, chẳng dơ chẳng sạch, chẳng tốt chẳng
xấu, chẳng đến chẳng đi, chẳng phải chẳng quấy,
chẳng tướng nam tướng nữ, cũng không phải tướng
tục tướng tăng, không già không trẻ, không thánh
không phàm, không Phật không chúng sanh, không
tu không chứng, không nhân không qủa, không gân
lực, không tướng mạo cũng như hư không, bắt
chẳng được, bỏ chẳng được, núi sông gành đá,
không chướng ngại được, hiển ẩn qua lại tự tại thần
thông, suốt 5 uẩn vượt sanh tử, tất cả nghiệp chướng
đối với pháp thân cũng đều không thể trói buộc
được. Tâm này rất vi diệu khó thấy, chẳng đồng với
cái tâm nghiệp-chướng do trần cảnh tạo nên.
* Cái pháp-thân, tâm tánh này ai ai cũng sẵn có.
Trong tâm ấy động tay máy chân nhất nhất đều
không lìa, nhưng khi hỏi đến đều không thể nói
được, giống như người gỗ. Hết thảy đều tự mình thọ
dụng nhưng sao lại không biết ? Phật nói : tất-cả
chúng sanh đều là mê muội, vì thế nên tạo nghiệp
đọa vào sanh tử, muốn ra rồi lại vào, chỉ vì chẳng
thấy tánh. Chúng sanh nếu chẳng mê tại sao khi hỏi
đến việc trong tâm tánh thì lại không có một người
biết được, tự mình động tay máy chân sao mình
không biết ? Cho nên biết thánh nhơn nói không
lầm, vì người tự mê-muội. Nên biết tánh này rất khó
tỏ, chỉ có Phật mới được tỏ ngộ thôi ; hết thảy
người, trời, chúng sanh đều không tỏ suốt.
* Nếu có trí-huệ tỏ suốt được tâm này thì gọi là
pháp tánh, cũng gọi là giải thoát, sanh tử không trói
buộc được, tất cả pháp không chướng ngại được, thế
gọi là Đại-Tự-Tại-Vương Như Lai. Cũng gọi là
không thể nghĩ bàn, cũng gọi là thánh thể, cũng gọi
là trường sanh bất tử, cũng gọi là đại tiên. Danh tuy
chẳng đồng, thể vẫn là một, bực thánh nhơn nói ra
dẫu có muôn vàn phân biệt cũng đều chẳng lìa tự
tâm. Tâm-lượng rộng lớn ứng-dụng vô cùng, ứng ra
mắt thấy sắc, ra tai nghe tiếng, ra mũi biết mùi, ra
lưỡi biết vị, cho đến hết thảy hành tung hoạt-động
cũng đều là tự tâm. Bất cứ lúc nào, chỉ có bặt đường
ngôn ngữ tức là tự tâm.
* Nên nói sắc Như Lai vô-tận, trí-huệ cũng vô-tận.
Sắc vô-tận là tự tậm, tâm khéo hay phân biệt tất cả
pháp, nhẫn đến tất cả hành-tung hoạt-động cũng đều
là trí huệ. Tâm không hình tướng nên trí-huệ cũng
vô tận. Nên nói sắc Như-Lai vô-tận, trí-huệ cũng
như thế. Còn cái thân tứ-đại tức là cái thân phiềnnão,
thân sanh diệt. Pháp-thân thường-trụ không chỗ
trụ ; pháp-thân của Như-Lai thường chẳng thay đổi
nên kinh nói : chúng sanh nên biết tánh Phật vốn tự
có ; ngài Ca-Diếp chỉ ngộ được bổn-tánh mà thành
Phật. Bổn tánh tức là tâm ; tâm tức là tánh, tánh với
tâm chư Phật không hai, Phật trước Phật sau chỉ
truyền tâm này, ngoài tâm này không có Phật nào
cả. Chúng-sanh điên đảo chẳng biết tự tâm là Phật,
dong-ruỗi ra ngoài mà tìm, suốt ngày chật vật niệm
Phật, lễ Phật, vậy Phật ở đâu ? Chớ nên hiểu như
thế, làm như thế. Chỉ biết bổn-tâm, ngoài tâm không
có Phật nào khác. Kinh nói : Phàm cái gì có tướng
đều là hư vọng.
* Lại nói : Phật ở đâu ? chỗ nào không Phật ? Tự
tâm là Phật, chẳng nên đem Phật lễ Phật, dẫu có
tướng Phật hoặc tướng Bồ Tát hiện tiền cũng quyếtđịnh
chớ nên lễ kỉnh. Tâm ta vắng-lặng vốn không
có tướng như thế. Nếu chấp tướng tức là ma, đều rơi
vào tà đạo, nếu là huyễn từ tâm khởi, lại càng không
nên lễ, lễ là không biết, biết thì chẳng lễ. Nếu lễ là
bị ma nhiếp.
* Sợ hậu-học chẳng biết nên phải biện-bạch như thế
này. Các Phật, Như-Lai trên bổn-tánh đều không có
tướng như thế, phải nên chú-ý. Khi thấy cảnh giới
lạ, quyết định không nên chấp, cũng đừng sanh sợ
hãi, chẳng cần nghi hoặc. Tâm ta bổn-lai thanh tịnh,
đâu có tướng như thế ! Nhẫn đến tướng Thiên-Long,
Dạ-xoa, qủi-thần, Đế-Thích, Phạm-Vương v.v. đi
nữa, cũng chẳng nên sanh tâm kỉnh trọng, cũng
đừng sợ hãi. Tâm ta bổn-lai vắng lặng, tất-cả tướng
đều là tướng hư vọng, chỉ đừng chấp tướng là hơn.
* Nếu khởi tâm thấy Phật thấy pháp và thấy các
tướng Bồ Tát mà sanh kỉnh trọng, tức là tự đọa vào
chúng sanh. Nếu muốn liền được tỏ-ngộ, chỉ đừng
nhận một pháp nào là được. Không cần nói gì thêm.
* Nên kinh nói : phàm cái gì có tướng đều là hưvọng,
đều không có thật. Huyễn, không có tướng
nhất-định, là pháp vô thường. - Chỉ đừng chấp
tướng là hợp với ý thánh. Nên kinh nói : lìa tất-cả
tướng là danh hiệu chư Phật.
* Hỏi : Tại sao không được lễ Phật, Bồ-Tát ?
Đáp : Thiên-Ma-Ba-Tuần, A-Tu-La cũng hiện
thần thông làm được tướng Bồ-Tát và nhiều cách
biến hóa. Đó là ngoại đạo chớ không phải Phật. Phật
là tự tâm, đừng lầm lễ lạy. Chữ Phật là tiếng Ấn-Độ,
theo xứ ta gọi là tánh giác. Giác nghĩa là linh-giác,
ứng cớ tiếp vật, nhướng mày, liếc mắt, động tay
máy chân đều là tánh linh-giác của mình. Tánh tức
là tâm. Tâm tức là Phật. Phật tức là Đạo. Đạo tức là
Thiền. Nội một chữ Thiền, phàm thánh cũng khó
lường được. - Lại nói thấy tánh là Thiền. Nếu chẳng
thấy tánh là không phải Thiền, dẫu cho giảng được
thiên kinh vạn luận, nếu chẳng thấy tánh cũng chỉ là
phàm phu. Đạo cả sâu mầu không thể dùng lời mà
tỏ được hết. Vậy kinh-điển căn-cứ nới đâu mà có
thể đến được. Chỉ thấy bổn-tánh, dầu cho không biết
một chữ cũng là thấy tánh, tức là thánh thể.
* Vốn nó thanh tịnh, không tạp không nhơ. Có nóinăng
điều gì đều là thánh nhơn từ tâm mà khởi
dụng. Dụng và thể bổn-lai là không. Danh ngôn còn
chẳng đến được, vậy 12 bộ kinh bằng cứ nơi đâu mà
đến được ? - Đạo vốn viên thành, chẳng phải tu
chứng. Đạo không phải sắc thinh, vi-diệu khó thấy.
Chỉ như người uống nước, lạnh ấm tự mình biết mà
thôi, không thể nói cho người khác nghe được. Chỉ
có Như-Lai biết được, ngoài ra người, trời các loại
đều không hay biết. Vì trí phàm phu không đến
được nên mới chấp tướng, chẳng rõ tự tâm vốn
vắng-lặng rỗng rang, nên vọng chấp tướng và tất-cả
pháp mới đọa ngoại đạo. Nếu biết các pháp đều từ
tâm sanh thì chẳng nên chấp, chấp là chẳng biết.
Nếu thấy bổn-tánh thì 12 bộ kinh chẳng qua chỉ là
văn-tự rỗng, ngàn kinh muôn luận chỉ cốt để tỏ
tâm ; nếu nói ra liền khế-hợp thì kinh giáo dùng
được vào đâu ! Chí lý hết nói-năng, kinh giáo chỉ là
từ ngữ, thiệt chẳng phải Đạo. Đạo vốn không nói
năng, nói năng là vọng.
* Người tu đêm đến nằm mơ thấy lâu đài, cung
điện, voi ngựa hoặc cây cối, rừng ao v.v.. chớ nên
mống lòng tham đắm, vì hết thảy cảnh ấy đều là chỗ
để thác sanh, điều này phải hết sức chú ý. Lại nữa,
khi lâm chung chẳng nên chấp tướng thì chướng
liền trừ. Nếu tâm nghi phát khởi là bị ma nhiếp.
* Pháp thân bổn lai thanh tịnh không thọ lãnh một
điều gì, chỉ vì mê muội không hay biết nên vọng thọ
báo, vì có tham đắm nên mất tự do, nếu ngộ được
bổn tâm thì chẳng đắm nhiễm.
* Nếu là từ thánh vào phàm thị hiện bao nhiêu tạp
loại tự làm chúng sanh, đó là một việc khác. Nên
thánh nhơn làm nghịch làm thuận đều được tự tại,
tất-cả nghiệp chướng không trói buộc đuợc, đối với
bực ấy có đại oai đức đã lâu cho nên tất cả nghiệp
chướng đều bị chuyển hết. – Thiên đường địa ngục
hết thành vấn đề.
* Còn phàm phu thần thức mê muội, chớ không
phải trong ngoài sáng suốt như thánh nhơn. Nếu có
chỗ nghi thì chớ nên làm, làm là bị trôi lăn theo
sanh tử, khi ăn năn đã muộn. Nghèo cùng khốn khó
đều từ vọng tưởng sanh, nếu ai tỏ được tâm này thì
nên lần lượt khuyên bảo lẫn nhau, chỉ làm mà không
trụ không chấp là vào được tri kiến Như Lai.
* Người mới phát tâm, thần thức chưa định, nếu khi
nằm mơ thấy cảnh lạ hiện đều là tự tâm khởi, quyết
định chớ nghi, không phải ngoài tâm có cảnh. Nếu
mơ thấy ánh sáng như mặt trời tức là tập nghiệp còn
thừa sắp hết, tánh pháp giới hiện. Đó là điềm sẽ
thành Đạo, chỉ tự mình biết chẳng nên nói cho ai
nghe. Hoặc khi dong chơi trong vườn vắng lặng, đi
đứng nằm ngồi mắt thấy ánh sáng; hoặc trong đêm
tối cũng thấy ánh sáng như ban ngày, đừng có lấy
làm lạ, đều là tự tâm muốn hiển hiện. Hoặc nằm mơ
thấy trăng sao tỏ sáng; đó cũng là điềm các duyên
muốn dứt, cũng chớ nên nói cho ai nghe. Còn như
nằm mơ thấy đi trong tối tăm u-ám, đó cũng là tự
tâm phiền não chướng nặng cũng chỉ nên tự biết.
Nếu đã thấy tánh, chẳng cần phải đọc kinh niệm
Phật, học rộng biết nhiều vô ích, còn làm cho thần
thức lại tối thêm. Kinh giáo chỉ để nêu tâm nếu rõ
được tâm đâu cần phải xem kinh giáo. Nếu là từ
phàm vào thánh phải nên ngừng nghiệp dưỡng thần,
tùy phận qua ngày. Nếu là người nhiều sân nhuế
làm cho tánh sanh chướng đạo, tự gạt gẫm vô ích.
* Thánh nhơn ở trong sanh tử tự-tại hiện ẩn ra vào
chẳng định, tất-cả nghiệp-chướng hết thành vấn đề.
Hết thảy chúng-sanh chỉ cần thấy bổn-tánh là tậpnghiệp
liền dứt, thần-thức không bị mê; nhưng phải
là tức thì liền nhận.
* Nếu luống thật ngộ đạo thì đừng chấp tất-cả
pháp, ngừng nghiệp dưỡng thần thì dư tập cũng hết,
tự nhiên minh bạch không cần dụng công. Ngoại
đạo chẳng rõ ý Phật, dụng công rất nhiều mà vẫn
trái với ý thánh. Suốt ngày bo-bo niệm Phật tụng
kinh mà vẫn mê-muội bổn-tánh, chẳng khỏi luân
hồi. Phật là người rảnh rang, đâu cần chật-vật rộng
cầu danh lợi. Chỉ có người chẳng thấy tánh mới đọc
kinh niệm Phật, siêng học, sáu thời hành đạo; ngồi
hoài chẳng nằm, học rộng nghe nhiều và cho đó là
pháp Phật. Chúng-sanh như thế đều là người khinh
pháp. Phật trước Phật sau chỉ nói thấy tánh, các
hành động đều là vô thường. Nếu chẳng thấy tánh
mà vội cho rằng mình đã được đạo vô-thượng Bồ
Đề, đó là hạng tội nhơn lớn. - Muời vị đệ tử lớn của
Phật, ngài A-Nan là người học rộng bực nhứt mà
với Phật còn không biết, chỉ học rộng nghe nhiều.
Hết thảy nhị thừa ngoại-đạo đều không biết Phật,
chỉ biết đếm theo pháp tu chứng, bị đọa vào trong
nhân qủa, đó là chúng-sanh nghiệp-báo chẳng khỏi
sanh tử, trái với ý Phật rất xa, là kẻ khinh Phật đó!
Hạng chúng sanh ấy thuộc Nhứt-xiển-đề. Trong
kinh có nói: kẻ Nhứt-xiển-đề chẳng có lòng tin; nếu
có lòng tin thì người ấy là một vị Phật.
* Nếu chẳng thấy tánh, chớ nên bắt chước chê bai
những người lương thiện, tự dối gạt vô ích. Thiện ác
rõ ràng, nhân qủa phân minh, thiên đường địa ngục
chỉ ở trước mắt, người ngu chẳng biết hiện đọa vào
địa ngục tối-tăm cũng không hay
* Chỉ vì nghiệp nặng nên không thể tin, ví như
người mù chẳng tin người ta nói có ánh sáng, dẫu có
cắt nghĩa thế nào cũng không tin được, vì đã mù lấy
đâu mà phân biệt được sáng tối! Người ngu cũng
thế. Hiện tiền đã bị đọa vào súc-sanh tạp loại, chỉ ở
trong nghèo cùng hạ-tiện, cầu sống chẳng được, cầu
chết cũng chẳng được. Tuy thọ khổ như thế nhưng
dẫu có ai hỏi họ cũng tự gọi mình được yên vui.
Nên biết tất-cả chúng-sanh dẫu sanh vào chỗ vui
thật cũng không hay biết. Hạng người ác như thế,
chỉ vì nghiệp chướng quá nặng nên không thể phát
lòng tin, không tự do được. Nếu thấy được tự tâm là
Phật chớ không phải ở tướng bên ngoài, thì dẫu
bạch-y-cư-sĩ cũng vẫn là Phật. Nếu chẳng thấy tánh
dù có đầu tròn vai vuông cũng là ngoại-đạo.
* Hỏi: Cư-si còn vợ con dâm-dục làm sao thành
Phật được?
Đáp: Chỉ nói thấy tánh; chẳng bàn đến dâm-dục.
Chỉ vì chẳng thấy tánh. Miễn được thấy tánh thì
dâm-dục vốn tự rỗng lặng, tự nhiên dứt trừ, không
còn tham-đắm nữa. Dẫu cho dư tập hãy còn cũng
chẳng làm hại được. Vì sao thế? Vì tự tánh vốn nó
tự thanh-tịnh. Tuy ở trong sắc thân 5 uẩn, tánh nó
cũng vốn thanh tịnh không ô nhiễm. Pháp-thân bổn
lai không thọ, không đói, không khát, không lạnh
nóng, không bịnh hoạn, không ân ái, không quyến
thuộc, không khổ vui tốt xấu, không vắn dài mạnh
yếu, vốn không một vật có thể được. Chỉ vì cố-chấp
cái thân này nên mới có các tướng đói khát, lạnh
nóng, bịnh chướng v.v..
* Nếu chẳng chấp là được tự-tại. Nếu trong sanh tử
mà được tự-tại, chuyển trở lại các pháp, đừng để các
pháp chuyển, cũng như thánh-nhơn, thì ở đâu lại
không yên?
* Nếu tâm có chỗ nghi, quyết-định không thể tự-tại,
không khỏi sanh tử luân-hồi. Nếu thấy tánh thì dẫu
bần cùng hạ tiện, đồ-tể sát sanh cũng vẫn thành
Phật.
* Hỏi : Đồ tể làm nghiệp sát sanh làm sao thành
Phật được ?
Đáp : chỉ nói thấy tánh, chẳng nói tạo nghiệp. Dẫu
có tạo nghiệp thế nào, nghiệp cũng không thể trói
buộc được. Từ lũy kiếp đến giờ, chỉ vì chẳng thấy
tánh nên mới có trôi lăn sa-đọa vào địa ngục, sanhtử
; khi ngộ được bổn-tánh sẽ không tạo nghiệp nữa.
Nếu chẳng thấy tánh, niệm Phật để khỏi nhân qủa
cũng không thể được, không luận là sát-sanh.
* Nếu được thấy tánh, tâm sát liền trừ, nghiệp sát
cũng không thể trói buộc được. Nên chi 27 vị Tổ ở
Tây-Trúc chỉ truyền nhau tâm ấn. Nay ta đến cõi
này cũng chỉ truyền đốn-giáo đại-thừa chính tâm
mình là Phật, chớ chẳng nói đến giữ giới, tinh-tiến,
khổ-hạnh. Nhẫn đến vào nước vào lửa, leo lên
gươm đao, ăn một ngày một bữa, ngồi hoài chẳng
nằm, hết thảy những cái ấy đều là pháp hữu-vi
ngoại-đạo. Nếu rõ được cái tánh linh giác chính là
tánh Phật, Phật trước Phật sau chỉ nói truyền tâm
chớ không có pháp nào khác. Nếu rõ được tâm này,
dẫu phàm-phu không biết một chữ cũng vẫn là Phật,
nếu chẳng rõ tự-tánh linh-giác của mìng, dẫu cho
đem thân này tán ra tro bụi để tìm Phật rốt cũng
chẳng được gì.
* Phật cũng gọi là pháp-thân, cũng gọi là bổn-tâm.
Tâm này không hình tướng, không nhân qủa, không
gân cốt. Vốn như hư không, bắt chẳng được ; chớ
không phải như vật chất, không phải như ngoại đạo
nói. Tâm này chỉ trừ Như-Lai ra, hết thảy chúng
sanh đều mê muội, đều chẳng tỏ ngộ. Nhưng tâm
này không phải lìa cái thân vật-chất này. Nếu thân
tứ-đại này mà lìa tâm là không có sự sống, làm sao
có biết ! Nhẫn đến nói năng vận-động, thấy nghe
hay biết đều là cái động-dụng của tâm. Động là tâm
động, dụng là tâm dụng. Ngoài động-dụng không
tâm, ngoài tâm không động-dụng. Động chẳng lìa
tâm, tâm chẳng lìa động. Lìa động không tâm, lìa
tâm không động. Động là tâm dụng, dụng là tâm
động. Động tức tâm dụng, dụng tức tâm động. -
Chẳng động, chẳng dụng, dụng và thể vốn không,
không vốn không động. Động dụng do tâm, tâm vốn
không động. – Nên kinh nói : « động nhưng không
chỗ động. Suốt ngày đi đến nhưng chưa từng đi đến.
Suốt ngày thấy nhưng chưa từng thấy, suốt ngày
cười nhưng chưa từng cười, suốt ngày nghe nhưng
chưa từng nghe, suốt ngày biết nhưng chưa từng
biết, suốt ngày mừng nhưng chưa từng mừng, suốt
ngày đi nhưng chưa từng đi, suốt ngày đứng nhưng
chưa từng đứng. » Nên kinh nói « bặt đường nói
năng dứt hết nơi chỗ, thấy nghe hay biết vốn tự tròn
vắng, nhẫn đến giận mừng, đau ngứa nào khác
người gỗ, chỉ vì suy tìm cái đau ngứa không thể
được. » Nên kinh nói « nghiệp ác thì được báo khổ,
nghiệp thiện thì được báo vui. » Chớ không phải chỉ
sân bị đọa địa-ngục, mừng được sanh thiên. Nếu rõ
được cái tánh mừng giận vốn không, chỉ đừng chấp
nghiệp là giải-thoát. Nếu chẳng thấy tánh, giảng
kinh quyết không bằng cứ. Nói không sao hết, chỉ
đại-lược tà chánh đôi điều mà thôi.
Tụng rằng :
Tâm tâm tâm không thể tìm
Rộng cùng khắp pháp giới,
Hẹp chẳng chứa đầu kim
Ta vốn cầu tâm chẳng cầu Phật
Biết rõ ba cõi rỗng không vật
Nếu muốn cầu Phật chỉ cầu tâm
Chỉ tâm này, tâm này mới là Phật
*
***
Ta vốn cầu tâm, tâm tự trì
Cầu tâm chẳng được, tự tâm hay.
Tánh Phật chẳng từ ngoài tâm được
Tâm sanh là lúc tội sanh rồi.
Kệ rằng :
Ta vốn đến cõi thế này
Truyền pháp cứu mê tình
Một hoa nở năm cánh
Kết-qủa tự nhiên thành
THIÊN THỨ HAI
LUẬN NGỘ TÁNH
CHÁNH VĂN:
*Vã chăng Đạo là lấy vắng lặng làm thể. Tu là lìa
tướng làm tông.
* Nên kinh nói: Vắng-lặng là Bồ-đề, vì dứt hết các
tướng. Phật nghĩa là giác. Người có tâm giác được
Đạo Bồ-đề nên gọi là Phật. Kinh nói: Lìa tất cả các
tướng là danh hiệu chư Phật.
* Thế mới biết: Có tướng là tướng mà không tướng.
* Không thể dùng mắt thấy, chỉ có thể dùng trí biết.
Ai nghe pháp này mà sanh một niệm lòng tin, phải
biết người đó đã phát tâm đại-thừa, siêu 3 cõi. Ba
cõi tức là tham, sân, si. Đổi tham, sân, si ra thành
giới, định, huệ - tức gọi là siêu ba cõi.
* Nhưng tánh của tham, sân, si cũng không thật, chỉ
tùy-thuận chúng sanh mà nói vậy thôi. Nếu ai có thể
soi trở vào trong thì thấy rõ tánh của tham sân si tức
là tánh Phật. Ngoài tham sân si không có tánh Phật
nào khác.
* Kinh nói: chư Phật từ xưa đến nay thường ở trong
3 độc để nuôi lớn pháp giải thoát mà thành Thế-
Tôn. Ba độc là tham sân si đó.
* Nói đại-thừa, tối thượng-thừa đều là nói chỗ sở-
hành của Bồ-Tát. Không chỗ thừa, không chỗ chẳng
thừa. Suốt ngày thừa mà chưa từng thừa, đó là Phật
thừa.
* Kinh nói: “Không thừa là Phật thừa đó”. Nếu ai
biết được 6 căn không thật, 5 uẩn giả danh, khắp
thân tìm cầu hết thảy đều không có chỗ nhất định.
Phải biết người đó rõ được nghĩa Phật nói.
* Kinh nói: Hang ổ của 5 uẩn là Thiển-viện. Soi trở
vào trong được tỏ ngộ là môn đại-thừa. Há chẳng rõ
lắm sao! Chẳng chứa tất-cả pháp gọi là Thiền-định.
Nếu rõ được câu này thì đi đứng nằm ngồi đều là
Thiền-định.
* Biết tâm là “không”, gọi là thấy Phật. Vì sao thế?
– Vì mười phương chư Phật đều là vô tâm.
* Chẳng thấy tâm gọi là thấy Phật
* Lìa chấp thân chẳng tiếc gọi là đại bố thí.
* Lìa các động, tịnh gọi là đại toạ thiền.
* Vì sao thế? – Vì phàm phu một niềm chấp động,
tiểu thừa một niềm chấp định. Nếu vượt khỏi cái tọa
thiền của tiểu thừa và phàm phu thì gọi là đại tọa
thiền. Nếu nhận được như thế thì tất cả các tướng
chẳng tìm cũng tự rõ, tất cả các bịnh chẳng trị cũng
tự khỏi. Đó là nhờ sức đại thiền định.
* Phàm ai đem tâm mà cầu pháp đều là mê, chẳng
đem tâm cầu pháp là ngộ.
* Chẳng đắm chấp văn tự gọi là giải thoát. Chẳng
nhiễm 6 trần gọi là hộ pháp. Lìa khỏi sanh tử gọi là
xuất gia. Chẳng thọ báo sau này gọi là đắc Đạo.
* Chẳng sanh vọng tưởng gọi là Niết Bàn.
Chẳng kẹt trong vô minh gọi là đại trí tuệ.
* Đến chỗ không phiền não gọi là Bát Niết Bàn.
Đến chỗ không có tướng tâm gọi là qua bờ bên kia.
Khi mê thì có bờ bên đây. Khi ngộ rồi thì bờ bên
đây cũng không có.
* Vì sao thế? – Vì phàm phu một niềm chấp bên
đây, nếu tỏ ngộ được pháp tối thượng thừa thì tâm
chẳng trụ bên đây cũng chẳng qua bên kia, nên lìa
được cả đây kia vậy.
* Nếu thấy bờ bên kia chẳng khác hơn bờ bên đây,
cái tâm của người ấy đã được cái định vô thiền.
* Phiền não gọi là chúng sanh, tỏ ngộ gọi là Bồ đề,
cũng chẳng một chẳng khác, chỉ khác nhau ở mê
ngộ.
* Khi mê có thế gian để ra khỏi, khi ngộ không có
thế gian để ra. Trong pháp bình đẳng chẳng thấy
phàm phu khác với thánh nhơn.
* Kinh nói: pháp bình đẳng nghĩa là phàm phu
không thể nhập, nhị thừa không thể hành. Chỉ có
bực đại Bồ Tát và chư Phật Như Lai có thể hành mà
thôi.
* Nếu thấy sanh khác với tử, động khác với tĩnh đều
gọi là chẳng bình đẳng.
* Chẳng thấy phiền não khác với Niết Bàn, thế mới
gọi là bình đẳng.
* Vì sao thế? Vì phiền não và Niết Bàn cùng một
tánh không. Cho nên người nhị thừa vọng dứt trừ
phiền não, vọng nhập Niết Bàn, tự tạo Niết Bàn để
trói buộc. Còn Bồ Tát biết được tánh phiền não vốn
không, nên chẳng lìa không, thường ở Niết Bàn.
Niết Bàn nghĩa là khơi mà chẳng sanh, tịch mà
chẳng chết, vượt khỏi sanh tử là bát Niết Bàn. Tâm
không có đi và đến là nhập Niết Bàn. Thế mới biết
Niết Bàn tức là tâm không.
* Chư Phật nhập Niết Bàn là ở chỗ không vọng
tưởng, Bồ tát vào đạo tràng là không tham sân si
vậy. Tham là cõi dục, sân là cõi sắc, si là cõi vô sắc.
* Nếu một niệm tâm sanh liền vào 3 cõi, một niệm
tâm diệt là ra 3 cõi.
* Thế mới biết : 3 cõi sanh diệt, vạn pháp có không
đều do một tâm. Phàm nói một pháp là cũng giống
như đập ngói gạch, chẻ tre gỗ vô tình.
* Nếu biết được tâm chỉ là giả danh tạm gọi chớ
không có tướng, thì liền biết cái tâm của tự mình
cũng không phải có không phải không.
* Vì sao thế ? – Vì phàm phu một niệm sanh tâm
gọi là có, tiểu thừa một niệm diệt tâm gọi là không.
Còn Bồ Tát và Phật chưa từng sanh tâm cũng chưa
từng diệt tâm, cho nên gọi không phải có không
phải không. Chỗ này cũng gọi là Trung đạo.
* Thế mới biết: chấp tâm học pháp thì cả tâm lẫn
pháp đều mê. Đừng chấp tâm mà học pháp thì cả
tâm và pháp đều ngộ.
* Phàm mê nghĩa là mê ở trong ngộ, ngộ là ngộ ở
trong mê..
* Con người chánh kiến biết được tâm vốn rỗng
không liền siêu mê ngộ.
* Như thế mới gọi là thấy biết đúng. Sắc chẳng tự
sắc, do tâm nên có sắc.
* Tâm chẳng tự tâm, do sắc nên có tâm.
* Thế mới biết tâm và sắc, cả hai cùng nương nhau
sanh diệt.
* Có là có ở trong không. Không là không ở trong
có. Thế gọi là thấy đúng.
* Vả chăng, nếu thật thấy là không chỗ chẳng thấy,
cũng không chỗ thấy.
* Tuy thấy khắp muời phương, nhưng chưa từng có
thấy. Vì sao thế ? – Vì không chỗ thấy, vì thấy được
cái không thấy, vì thấy không phải thấy.
* Cái mà phàm phu gọi là thấy ấy đều là vọng tưởng
cả.
* Nếu vắng lặng không chỗ thấy mới gọi là thấy
thật.
* Tâm và cảnh đối nhau, cái thấy trong đó phát sanh
* Nếu trong chẳng khởi tâm thì ngoài chẳng sanh
cảnh, cảnh và tâm đều vắng lặng, như thế mới gọi là
thấy thật.
* Chẳng thấy tất cả pháp mới gọi là được Đạo.
Chẳng biết tất cả pháp mới gọi là tỏ pháp.
* Vì sao thế? – Vì thấy và chẳng thấy đều là chẳng
thấy
* Hiểu cùng chẳng hiểu đều là chẳng hiểu. Cái thấy
không phải thấy mới gọi là thật thấy. Cái hiểu
không không hiểu mới gọi là hiểu rộng lớn.
* Vả chăng, thấy đúng nghĩa là không phải cái thấy
có thấy mà là cái thấy trong không thấy. Thật hiểu
nghĩa là không phải cái hiểu trong có tướng, mà là
cái hiểu trong không có tướng. Phàm hễ có cái bị
biết đều gọi là chẳng biết. Không có cái bị biết mới
gọi là thật biết. Biết cùng chẳng biết đều không phải
biết. Kinh nói chẳng bỏ trí tuệ gọi là ngu si. Nếu
tâm là không, hiểu cùng chẳng hiểu đều là thật cả.
Nếu tâm là có, hiểu cùng chẳng hiểu đều là vọng.
* Nếu tỏ ngộ thì pháp theo người. Nếu chẳng tỏ ngộ
thì người theo pháp.
* Nếu pháp theo người thì phi pháp trở thành pháp,
hết thảy pháp đều chơn. Nếu người theo pháp thì
pháp trở thành phi pháp, hết thảy pháp đều trở thành
vọng.
* Cho nên thánh nhơn chẳng đem tâm mà cầu pháp,
cũng chẳng đem pháp mà cầu tâm, cũng chẳng đem
tâm mà cầu tâm, đem pháp mà cầu pháp. Cho nên
tâm chẳng sanh pháp, pháp chẳng sanh tâm. Tâm
pháp đều vắng lặng nên thường ở trong định.
* Tâm chúng sanh sanh thì pháp Phật diệt. Tâm
chúng sanh diệt thì pháp Phật sanh.
* Nếu đã biết tất-cả pháp đều chẳng có tự tánh
riêng, thế gọi là người có Đạo. Biết tâm chẳng thuộc
về của riêng của các pháp – Đó là người thường ở
Đạo tràng.
* Khi mê có tội, ngộ rồi không tội. Vì sao thế ? Vì
tánh tội vốn không.
* Kinh nói: các Phật pháp không có tự tánh riêng,
thật dụng chớ nghi, nghi liền thành tội.
* Vì sao thế ? – Vì tội do nghi hoặc mà sanh.
* Khi mê thì 6 thức 5 ấm đều là pháp phiền não
sanh tử. Khi ngộ thì 6 thức 5 ấm đều là pháp Niết-
Bàn không sanh tử.
* Người học Đạo chớ nên tìm Đạo ở ngoài. Vì sao
thế ? – Vì biết tâm là Đạo.
* Nếu khi được tâm, không có tâm có thể được. Nếu
khi được Đạo, không có Đạo có thể được.
* Nếu nói đem tâm cầu Đạo mà được, thì gọi là tà
kiến.
* Khi mê có Phật có pháp. Khi ngộ không Phật
không pháp.
* Vì sao thế ? Vì ngộ tức là Phật, là pháp. Vả chăng
tu nghĩa là diệt cái thấy có thân riêng thì Đạo thành.
Cũng như hột giống nứt vỏ thì cây nẩy mầm.
* Cái thân sanh tử nghiệp báo luôn luôn vô thường;
là pháp không nhất định, chỉ tùy niệm mà tu, cũng
không nên chán sanh tử hay thích sanh tử.
* Chỉ làm sao trong tâm luôn luôn đừng vọng tưởng
thì khi sống nhập được hữu dư Niết-Bàn, khi chết
vào được vô-sanh pháp nhẫn.
* Khi mắt thấy sắc chẳng nhiễm sắc, tai nghe tiếng
chẳng nhiễm tiếng thì đều là giải thoát.
* Mắt chẳng đắm sắc thì mắt là cửa lễ, tai cũng vậy.
* Nói tóm lại, khi thấy sắc mà thấy được đến tánh
của sắc thì không nhiễm, thường giải thoát.
* Nếu mắc kẹt ở tướng của sắc là thường bị trói
buộc. Nếu chẳng bị phiền não trói buộc thì gọi là
giải thoát, chớ không có giải thoát nào khác hơn.
* Người khéo quán sắc, sắc chẳng sanh tâm, tâm
chẳng sanh sắc, thì sắc và tâm đều thanh tịnh
* Khi không vọng tưởng thì một tâm là một cõi
Phật. Khi vọng tưởng khởi thì một tâm là một cõi
địa ngục.
* Chúng sanh làm ra vọng tưởng, lấy tâm sanh tâm
nên thường ở địa ngục. Bồ-Tát quán sát vọng tưởng
chẳng lấy tâm sanh tâm, nên thường ở cõi Phật. Nếu
chẳng lấy tâm sanh tâm thì tâm tâm đều nhập vào
không, niệm niệm đều qui về tịnh, từ một cõi Phật
đến một cõi Phật. Nếu lấy tâm sanh tâm thì tâm tâm
đều chẳng tịnh, niệm niệm đều qui về động, từ một
địa ngục qua một địa ngục. Khi một niệm khởi thì
liền có 2 nghiệp thiện ác, có thiên đường địa ngục.
Nếu một niệm tâm chẳng khởi thì hai nghiệp đều
dứt, thiên đường địa ngục cũng không.
* Vì “Thể” vốn không phải có, không phải không. Ở
phàm là có, ở thánh là không.
* Thánh nhơn nhờ tâm ‘không’ nên trong lòng rỗng
rang, cùng trời đất đồng lượng.
* Đây đều là chúng trong đại đạo, không phải cảnh
giới của tiểu thừa và phàm phu. Khi tâm được Niết-
Bàn cũng không thấy có Niết-Bàn có thể được. Vì
sao thế ? – Vì tâm là Niết-Bàn. Nếu ngoài tâm còn
thấy có Niết-Bàn, thế gọi là đã nhiễm tà kiến.
* Phải biết tất-cả phiền não đều là hột giống tâm của
Như-Lai ; vì nhờ có phiền não mà được trí huệ.
* Chỉ có thể nói phiền não sanh Như-Lai, nhưng
không thể nói phiền não là Như-Lai. Nên tự tâm là
ruộng nương, phiền não là hột giống, trí tuệ là nẩy
mầm ; còn Như-Lai để dụ như kết qủa lúa thóc.
* Phật ở trong tâm như hương trong cây, giác mục
hết rồi thì lõi hương tự hiện ; phiền não hết rồi thì
Phật tâm tự hiện cũng như vậy.
* Cho nên biết ngoài cây không hương, ngoài tâm
không Phật. Nếu ngoài cây có hương tức là hương
chỗ khác, ngoài tâm có Phật tức là Phật từ ngoài ; là
không phải Phật.
* Trong lòng chứa 3 độc là cõi uế, trong lòng không
3 độc là cõi tịnh. Kinh nói : nếu cõi nước dơ bẩn ác
độc đầy dẫy mà muốn chư Phật xuất hiện thì không
thể có bao giờ ; mà dơ bẩn ác độc là tham sân si mê
muội đó.
* Chư Phật Thế-Tôn chính là cái tâm giác ngộ. Nếu
giác ngộ thì tất-cả nói năng đều là pháp Phật. Nếu
không nói mà nói thì suốt ngày nói đều là Đạo.
* Nếu chấp nói năng thì dầu suốt ngày nín thinh
cũng là phi Đạo.
* Cho nên Như-Lai nói mà không trái với nín, nín
chẳng trái với nói ; nói nín không lìa. Nếu ngộ được
nghĩa nói và nín đây là vào được chánh định. Nếu
nói đúng lúc, nói cũng là giải thoát. Nếu chẳng phải
lúc dẫu nín cũng là trói buộc. Cho nên nói cũng lìa
tướng, nói cũng là giải thoát. Nếu chấp tướng dẫu
nín cũng là trói buộc. - Vả chăng bổn tánh vốn giải
thoát văn tự không thể đến trói buộc được. Pháp
không cao thấp, nếu thấy có cao thấp là không phải
pháp rồi.
* Phi pháp là đò, pháp là người. Người nương đò để
qua sông thì phi pháp tức là pháp. – Nói theo thế tục
thì có nam nữ sang hèn, theo Đạo thì không có nam
nữ sang hèn. Cho nên Thiên nữ ngộ Đạo chẳng đổi
thân nữ, nữ Xa-Nặc thức tỉnh chẳng đổi danh xưng.
* Như thế không phải sang hèn nam nữ đều từ một
tướng đó sao ? ! Thiên-nữ suốt 12 năm tìm tướng nữ
cứu cánh không thể được, thì biết suốt 12 năm tìm
tướng nam cũng không thể được.
* Cái nghĩa 12 năm là 6 căn 6 trần đó. Lìa tâm
không Phật, lìa Phật không tâm. Cũng như lìa nước
không giá, lìa giá không nước.
* Phàm nói lià tâm không phải là nói chạy trốn cái
tâm. Chỉ nói đừng chấp ở phần tướng của tâm mà
thôi. Kinh nói : Chẳng thấy tướng gọi là thấy Phật,
tức là lìa tướng tâm đó. Nói lìa Phật không tâm
nghĩa là nói Phật từ tâm hiện, tâm có thể sanh Phật.
Phật tuy từ tâm sanh, nhưng tâm chưa từng sanh ra
Phật. Cũng như cá sanh ra từ nước chớ không phải
nước đẻ ra cá. Muốn xem cá, chưa thấy cá đã thấy
nước. Muốn quán Phật, chưa thấy Phật đã thấy tâm.
Thế mới biết khi thấy cá là quên nước, khi thấy Phật
là quên tâm. Nếu chẳng quên tâm là còn bị tâm mê
hoặc.
* Chúng sanh với Bồ-Đề cũng như giá với nước. Bị
3 độc làm rối loạn thì gọi là chúng sanh, được 3 giải
thoát thanh tịnh thì gọi là Bồ-Đề. Cũng như nước bị
mùa Đông làm đặc lại thì gọi là giá, bị mùa Hạ làm
lỏng ra thì gọi là nước. Nếu bỏ giá đi thì không có
nước nào khác, nếu bỏ chúng sanh đi cũng không có
Bồ-Đề nào khác.
* Nên biết tánh giá là tánh nước; tánh nước là tánh
giá. Tánh chúng sanh là tánh Bồ-Đề, chúng sanh và
Bồ-Đề đồng một thể tánh cũng như Ô-Đầu và Phụ-
Tử cùng một gốc, chỉ vì thời tiết chẳng đồng. Mê
ngộ khác cảnh nên có 2 tên chúng sanh và Bồ-Đề.
* Cho nên rắn hóa làm rồng mà chẳng đổi vảy,
phàm biến làm thánh mà chẳng đổi mặt, chỉ người
biết tâm thì trí soi trở vào trong, biết thân thì giới
giữ bên ngoài.
* Chúng sanh độ Phật, Phật độ chúng sanh, thế gọi
là Bình đẳng. Chúng sanh độ Phật nghĩa là nhờ
phiền não sanh tỏ ngộ; Phật độ chúng sanh nghĩa là
tỏ ngộ rồi diệt phiền-não. Thế mới biết không phiềnnão
không tỏ ngộ. Thế mới biết không phải phiềnnão
không lấy đâu sanh tỏ ngộ, không phải thức tỉnh
không lấy đâu diệt phiền-não. Khi mê là chúng sanh
độ Phật, khi ngộ là Phật độ chúng sanh. Vì sao thế?
Vì Phật chằng tự thành, đều do chúng sanh độ cả.
Chư Phật lấy vô minh làm cha, tham ái làm mẹ. Vô
minh và tham ái đều là biệt danh của chúng sanh.
Chúng sanh và vô minh cũng như tay trái và tay
phải chớ không phải 2 người.
* Khi mê là mắc kẹt bờ bên đây, khi ngộ là qua
được bờ bên kia. Nếu biết tâm không, chẳng chấp
tướng thì lìa mê ngộ, đã lìa mê ngộ thì không có bên
đây bên kia nữa. Như-Lai chẳng ở bên đây cũng
chẳng ở bên kia, chẳng ở giữa dòng. Vì sao thế? Vì
ở giữa dòng là Tiểu-Thừa, ở bên đây là phàm phu,
bên kia nghĩa là Bồ-Đề.
* Phật có 3 thân là hóa thân, báo thân và pháp thân.
Hóa thân cũng gọi là ứng thân ; Nếu chúng sanh
thường làm điều thiện tức là hóa thân. Khi hiện tu
trí huệ là báo thân. Hiện giác vô vi là pháp thân.
Thường hiện 10 phương, tùy nghi cứu tế, đó là hóa
thân Phật. Nếu dứt mê hoặc tức là Tuyết-Sơn thành
đạo là báo thân Phật. Không nói không năng, không
làm không được, rỗng lặng thường trụ là pháp thân
Phật. Nếu luận chí lý một Phật còn không có thay
làm gì có ba ! Nói có 3 là y cứ theo trí người đời
mà nói, người có 3 bực : người bực hạ trí vọng cầu
phước lực, vọng thấy hóa thân Phật.
* Người bực trung trí vọng dứt phiền não, vọng thấy
báo thân Phật.
* Người bực thượng trí vọng chứng Bồ-Đề, vọng
thấy pháp thân Phật. Người bực thượng-thượng trí
soi trở vào trong tròn lặng tỏ tánh là Phật, chẳng đợi
trừ tâm mà được trí Phật. Biết 3 thân và vạn pháp
đều không thể chấp, không thể nói.
* Đó là tâm giải thoát viên thành đạo cả Kinh nói :
Phật chẳng thuyết pháp, chẳng độ chúng sanh,
chẳng chứng Bồ-Đề là nghĩa thế.
* Chúng sanh tạo nghiệp, nghiệp chẳng tạo chúng
sanh. Đời này tạo nghiệp, đời sau thọ báo, quyết
định không sai. Chỉ có bực chí nhơn nơi thân này
chẳng tạo các nghiệp nên chẳng thọ báo. Kinh nói:
chẳng tạo các nghiệp tự nhiên được Đạo, há chẳng
đúng sao ?! Người hay tạo nghiệp, nghiệp chẳng
hay tạo người. Người nếu tạo nghiệp, nghiệp và
người cùng sanh. Người nếu chẳng tạo nghiệp,
nghiệp và người đều dứt. Thế mới biết nghiệp do
người tạo, người theo nghiệp sanh. Nếu người
chẳng tạo nghiệp, thì nghiệp không theo mà sanh
người. Cũng như người hay hoằng Đạo, Đạo chẳng
hay hoằng người. Phàm phu đời nay thường tạo
nghiệp, vọng nói không báo, há phải không khổ đâu
! Nếu luận chí lý thì tâm trước tạo, tâm sau thọ báo
làm sao thoát được !.
* Nếu tâm trước chẳng tạo thì tâm sau chẳng thọ
báo thì lấy đâu vọng thấy nghiệp báo. Kinh nói : ai
tin có Phật mà nói Phật có khổ hạnh, đó là tà kiến;
nói Phật bị quả báo cây thương vàng và ăn lúa ngựa,
đó gọi là đức tin chẳng đủ, gọi là Nhất-xiển-đề.
Ai tỏ được pháp thánh thì gọi là thánh nhơn, tỏ pháp
phàm thì gọi là phàm phu. Chỉ có thể bỏ pháp phàm
theo pháp thánh, là phàm phu thành thánh vậy. Thế
gian ngu mê, chỉ muốn cầu làm thánh nhơn mà
chẳng tin cái tâm tỏ ngộ là thánh nhơn. Kinh nói :
những kẻ không trí đừng cho nghe kinh này. Kinh
nói : “tâm là pháp”. Người không trí chẳng tin tâm
tỏ ngộ pháp trở thành thánh nhơn ; nên chỉ muốn
tìm cầu bên ngoài, ngưỡng mộ hình tượng màu sắc
v.v.. đều bị đọa vào tà kiến, tâm sanh cuồng loạn.
* Kinh nói : “nếu thấy các tướng không phải tướng
là thấy Như-Lai.” Tám muôn bốn ngàn pháp môn
đều do tâm khởi; nếu tướng tâm thanh tịnh như hư
không liền thoát ly thân tâm vậy. Tám muôn bốn
ngàn phiền não là căn bịnh. Phàm phu khi sống lại
lo chết, khi no lại lo đói, đều gọi là đại mê hoặc.
* Cho nên thánh nhơn chẳng lo trước, chẳng nghĩ
sau, không đắm hiện tại, niệm niệm đều qui Đạo
* Nếu ai chưa ngộ được lý này, thì nên sớm tìm
đường lành trời người, đừng để mất hết cả hai.
* Đêm ngồi kệ rằng :
Canh một ngồi ngay bắt kiết già,
Tĩnh thần lặng chiếu rỗng đồng hư.
Lũy kiếp đến nay không sanh diệt,
Đâu cần sanh diệt diệt Vô-Dư.
Vạn pháp chung qui đều như huyễn
Bổn tâm tự rỗng đâu dụng trừ
Nếu biết tâm tánh phi hình tượng,
Lặng yên chẳng động tự chơn như
*
Canh hai thần lắng chuyển suốt trong
Chẳng khởi ước mơ, chỉ một lòng
Sum-la vạn tượng đều qui Đạo,
Há chấp có không để bịnh chung !
Các pháp bổn lai không Không Có,
Phàm phu vọng tưởng luận cuồng ngông
Nếu tâm chẳng khởi sanh hai pháp,
Còn nói làm chi thánh khác phàm !
*
Canh ba lòng lặng tợ hư không,
Trùm khắp mười phương đều suốt thông
Núi sông ghềnh đá không sao chướng,
Hằng sa thế-giới sẵn ở trong.
Thế giới chơn như cùng bổn-tánh
Cũng không không tánh tức dung thông
Phải đâu chư Phật là như thết,
Hữu tình muôn loại thảy đều đồng.
*
Canh tư không diệt không sanh,
Hư-không pháp-giới đẳng bình như nhau
Đến đi khởi diệt được nào
Có không sáng tối làm sao tỏ tường
Không thấy là cái thấy Thế-Tôn.
Không tên không được là tên Phật mình
Ai có tỏ ngộ biết liền
Chúng sanh mê-muội còn nguyên đui-mù
*
Canh năm Bát-Nhã chiếu vô biên,
Một niệm chẳng khởi ba ngàn suốt qua.
Chơn như bình đẳng muốn thấy là ….
Tịnh tâm không loạn trước mắt ta hiện liền.
Đạo mầu tâm khó suy lường
Chớ nên tìm kiếm cho thêm mệt thần.
Nếu hay vô niệm là chơn,
Tìm cầu càng cách hết đường thấy nghe.
*
* * *
THIÊN THỨ BA
LUẬN PHÁ TƯỚNG
* Luận rằng : Ví có người hỏi : Nếu muốn cầu Đạo
phải tu cách nào cho đưọc chóng tắt nhất ? Đáp: chỉ
có pháp quán tâm nhiếp hết các pháp là chóng tắt
nhất.
* Hỏi: Vì sao mà một pháp nhiếp được hết các
pháp?
Đáp: Vì tâm là nguồn cội của vạn pháp, hết thảy
pháp đều từ tâm sanh. Nếu tỏ được tâm thì vạn pháp
đều đủ. Cũng như cây to, cành lá hoa qủa sum sê
đều từ gốc cả. Khi trồng cây phải chú ý săn sóc ở
gốc cây thì cây mới được sanh sôi. Đốn cây cũng cứ
đốn ở gốc thì toàn thân cây đều chết. Nếu tỏ tâm mà
tu thì dụng lực ít mà thành công dễ ; chẳng tỏ tâm
mà tu phí công vô ích. – Nên biết tất cả thiện ác đều
từ tâm, lìa tâm mà tìm Đạo là việc luống công.
* Hỏi : Vì sao quán tâm gọi là cứu cánh ? Đáp : Bực
đại Bồ-Tát khi thâm nhập vào pháp đại-trí-huệ, biết
được tứ đại vỗn rỗng không vô ngã.
* Thấy được tự tâm khởi dụng có hai mặt khác nhau
: một là tâm nhiễm, hai là tâm tịnh. Hai mặt tâm
pháp này tự nhiên vốn đầy đủ.
* Tuy nhờ duyên hợp, nhưng hai tướng vẫn làm
nhân đối đãi lẫn nhau. Tâm tịnh thích làm nhân
lành, tâm nhiễm thường ưa nghiệp ác. Nếu chẳng
thọ nhiễm thì gọi là thánh, thoát ly các khổ, chứng
cái thật vui.
* Nếu đọa vào tâm nhiễm thì tạo nghiệp, chịu trói
buộc; gọi là phàm, trôi lăn trong ba cõi, chịu muôn
điều thống khổ.
* Vì sao thế ? Vì tâm nhiễm trái chướng với thể
chơn như.
* Nên kinh Thập-Địa nói : Trong thân chúng sanh
có tánh Phật Kim-Cang tròn sáng như mặt trời, rộng
lớn không bờ mé. Vì bị mây 5 ấm che khuất như
đèn bị chậu úp, sáng không hiện được.
* Lại trong kinh Niết-Bàn có nói : hết thảy chúng
sanh đều có tánh Phật, vì bị vô minh che khuất nên
chẳng được giải thoát, tánh Phật tức là tánh giác đó
! Chỉ tự giác và làm cho kẻ khác giác ngộ. Giác ngộ
rõ suốt thì gọi là giải thoát.
* Nên biết tất-cả việc thiện đều lấy giác làm gốc.
Nhờ giác mới có thể hiển hiện các cội công đức, qủa
Niết-Bàn cũng nhân đây mà thành tựu. Quán tâm
như thế có thể gọi là “liễu”.
* Hỏi : Như trên đã nói, tánh Phật chơn như, tất-cả
công đức đều nương nơi giác làm gốc, chằng hay
cái tâm vô minh lấy đâu làm gốc ?
Đáp : Cái tâm vô minh tuy có 84,000 phiền-não tình
dục và hà sa các điều ác đều nhân 3 độc làm gốc, 3
độc là tham sân si đó. Cái tâm 3 độc này tự nó đủ tất
cả khả năng làm ác cũng như cội cây to tuy chỉ có
một, nhưng có biết bao cành lá. Căn cội của 3 độc,
trong mỗi một cái rễ sanh ra các nghiệp ác vô lượng
vô biên không thể tỷ dụ. Tâm ba độc như thế từ
trong bản thể ứng hiện ra 6 căn, cũng gọi là 6 kẻ
giặc, tức là 6 thức đó !
* Do 6 thức này ra vào các căn tham đắm trần cảnh,
tạo thành nghiệp ác trái chướng với chơn thể, nên
gọi là 6 kẻ giặc.
* Tất cả chúng sanh đều bị ba độc 6 kẻ giặc này làm
mê loạn thân tâm, chìm đắm trong sanh tử, luân hồi
trong 6 nẻo chịu các điều đau khổ.
* Cũng như sông rộng mênh mông, bắt nguồn từ
khe suối nhỏ chảy mãi không ngừng, lần ra đến
sóng cuộn ba đào, mịt mờ muôn dặm. Nếu có người
lấp được tận nguồn thì dòng suối đều dứt. Người
cầu giải thoát nếu có thể chuyển 3 độc làm 3 tu tịnh
giới, chuyển 6 kẻ giặc làm 6 Ba-la-Mật tự nhiên lìa
dứt tất-cả nghiệp khổ.
* Hỏi : Sáu nẻo 3 cõi rộng lớn mênh mông, nếu chỉ
quán tâm làm sao thoát khỏi biển khổ vô cùng ?
* Đáp: ba cõi nghiệp báo chỉ từ tâm sanh, nếu được
vô tâm, tuy ở trong 3 cõi nhưng liền thoát ly 3 cõi.
* Ba cõi tức là 3 độc đó. Tham là cõi dục, sân là cõi
sắc, si là cõi vô sắc, nên gọi là 3 cõi. Từ 3 độc này
tạo nghiệp nặng nhẹ, thọ báo chẳng đồng, chia ra 6
nẻo nên gọi là 6 thú.
Hỏi : Sao gọi là nhẹ nặng chia làm 6 nẻo ?
Đáp : Chúng sanh chẳng rõ nhân chánh, quên tâm
tu nghiệp thiện vẫn chưa ra khỏi 3 cõi, sanh về 3
nẻo nhẹ.
* Hỏi: Sao gọi là 3 nẻo nhẹ ?
Đáp: Là vì mê lầm lo tu 10 điều thiện, vọng cầu
khoái lạc chưa khỏi cõi tham, sanh về đường trời.
Mê giữ 5 giới, vọng khởi ghét yêu, chưa khỏi cõi
sân nên sanh về đường người. Mê chấp theo hữu vi,
tin tà cầu phước, chưa khỏi cõi si, nên sanh về nẻo
A-Tu-La. Ba loại như thế gọi là đường nhẹ.
Hỏi : Sao gọi là 3 đường nặng ?
Đáp : Nghĩa là từ tâm 3 độc, chỉ tạo nghiệp ác bị
đọa vào 3 đường nặng. Nếu nghiệp tham nặng thì
đọa vào đường ngạ quỉ, nghiệp sân nặng thì đọa vào
đường địa ngục, nghiệp si nặng thì đọa vào đường
súc sanh.
* Ba đường nặng này thông đồng với ba đường nhẹ,
cộng thành sáu đường. Nên biết tất-cả nghiệp khổ
đều từ tâm sanh. Nếu có thể nhiếp tâm, lìa các tà ác
thì cái khổ trong 3 cõi 6 đường tự nhiên tiêu diệt ;
lìa khổ là được giải thoát.
Hỏi: Như chỗ Phật nói : Ta ở trong 3 vô lượng kiếp
tu vô lượng khó nhọc nay mới thành Phật ; đây ngài
chỉ nói quán tâm, chế ngự 3 độc thì gọi là giải thoát
là tại làm sao ?
Đáp: Lời Phật nói thật không ngoa. Ba vô lượng
kiếp tức là 3 độc đó. Trong cái tâm 3 độc này có vô
số niệm ác, trong mỗi niệm đều là một kiếp cho nên
nói 3 vô số kiếp.
* Tánh chơn như đã bị 3 độc chất che khuất, nếu
chẳng siêu cái tâm có 3 vô lượng ác độc ấy thì làm
sao gọi là giải thoát ! Nay nếu có thể chuyển cái tâm
3 độc này làm 3 giải thoát, thế gọi là đã vượt qua
được 3 vô lượng vô số kiếp. Chúng sanh đời sau
ngu si căn độn, chẳng rõ cách nói bí mật của Như-
Lai bèn cho rằng việc thành Phật không thể tin
được. Như thế há chẳng là làm cho người tu nghi
lầm thối chuyển đạo Bồ-Đề đó sao !
* Hỏi : Bực đại Bồ-Tát do giữ 3 tụ tịnh giới, 6 Ba-
La-Mật mới được thành Phật. Nay ngài bảo người tu
chỉ quán tâm chẳng tu giới hạnh làm sao thành
Phật?
Đáp : Ba tụ-tịnh-giới tức là chế ngự cái tâm ba độc
đó. Chế ngự 3 độc thành vô lượng pháp thiện tụ.
Chữ tụ là gom lại ; vô lượng pháp thiện đều tụ nơi
tâm nên gọi là 3 tụ-tịnh-giới. Còn nói 6 Ba-La-Mật
nghĩa là 6 tịnh căn ; vì 6 căn thanh tịnh chẳng nhiễm
6 trần tức là qua được sông phiền-não đến bến Bồ-
Đề, nên gọi là 6 Ba-La-Mật.
* Hỏi: Như kinh nói : ba tụ-tịnh-giới là thệ dứt tất cả
nghiệp ác ; nguyện tu tất cả việc thiện ; nguyện độ
tất cả chúng sanh. Nay chỉ nói chế ngự cái tâm 3
độc há chẳng không hợp đó sao ?
Đáp: Phật nói ra điều gì là chân thật, bực Đại-Bồ-
Tát trong nhân tu hành của quá khứ là đối ba độc
phát ba thệ nguyện giữ tất cả tịnh giới.
* Đối với tham thì nguyện dứt các điều ác, thường
tu các điều thiện. Đối với sân thì nguyện độ tất-cả
chúng sanh, nên thường tu huệ. Đối với si nhờ hành
trì 3 pháp tịnh Giới Định Huệ ấy nên có thể siêu 3
độc mà thành Phật. Các ác tiêu diệt gọi là đoạn. Vì
hay giữ được 3 tụ-tịnh-giới thì các thiện đều đủ, gọi
đó là tu.
* Vì hay dứt ác tu thiện thì vạn hạnh thành tựu,
mình người đều lợi, giúp khắp quần sanh, nên gọi là
giải thoát.
* Thế mới biết giới hạnh để tu ấy chẳng lìa tự tâm.
Nếu tự tâm thanh tịnh thì tất-cả cõi Phật đều thanh
tịnh.
* Nên kinh nói : hễ tâm dơ bẩn thì chúng sanh dơ
bẩn, tâm trong sạch thì chúng sanh trong sạch.
* Muốn được cõi Phật phải tịnh cái tâm, tùy cái tâm
tịnh thì cõi Phật tịnh, ba tụ-tịnh-giới tự nhiên thành
tựu.
* Hỏi : Như kinh nói : 6 Ba-La-Mật cũng gọi là 6
độ. Nay nói 6 căn thanh tịnh gọi là Ba-La-Mật vậy
chỗ dung thông phải như thế nào ?
Đáp : Muốn tu 6 độ phải tịnh 6 căn, trước hàng
phục 6 kẻ giặc … Hễ xả được giặc mắt, đừng đắm
theo sắc thì gọi là Bố thí. Ngăn được giặc tai, đừng
đắm theo âm thinh thì gọi là giữ giới. Phục được
giặc mũi, không đắm theo mùi thì gọi là nhẫn nhục.
Chế được giặc miệng, không tham theo vị, không
đắm theo giọng, không buông lung theo nói năng
tạp loạn thì gọi là tinh tấn. Hàng được giặc thân,
chẳng đắm theo xúc dục - Rỗng rang chẳng động,
gọi là Thiền-định. Điều phục được giặc ý, chẳng
thuận với vô thường, thường tu giác huệ, gọi là tríhuệ.
Độ nghĩa là chuyên chở. Sáu độ ví dụ cũng như
đò, có thể đưa chúng sanh qua bờ sông bên kia nên
gọi là 6 độ.
* Hỏi : Kinh nói đức Thích Ca khi còn làm Bồ-Tát
đã từng uống 3 đấu 6 thăng sữa mới thành Phật (3
đấu 6 thăng : hơn 3 lít rưỡi). Trước nhờ uống sữa rồi
sau mới chứng quả, há chỉ quán tâm mà được giải
thoát ư ?
Đáp: Đúng thế ! đúng thế ! Phải trước uống sữa rồi
sau mới thành Phật. Nhưng phải biết sữa có hai thứ.
Thứ sữa Phật uống đây không phải là sữa trâu, sữa
bò, sữa dê của thế gian đâu, mà là thanh tịnh pháp
nhũ đó ! Ba đấu tức là 3 tụ-tịnh-giới, 6 thăng là 6
độ. Thành Phật phải nhờ uống thứ sữa pháp thanh
tịnh như thế mới chứng được quả. Nhưng phải biết
đây là một cách nói kín. Nếu hiểu Như-Lai uống các
thứ sữa vật chất thế gian thì thật là lầm lắm ! Chân
như vốn tự là pháp thân vô lậu bất hoại, lìa hẳn tấtcả
các cái khổ thế gian, há lại phải nhờ vật chất bất
tịnh thế gian để khỏi đói khát ! Trong kinh có nói :
thứ bò này chẳng ở cao nguyên, chẳng ở đất thấp,
chẳng ăn lúa cám, chẳng cùng loại bò bô nhập bầy,
màu lông vàng ánh tia. Chữ bò ở đây là để ám chỉ
cho Phật Tỳ-Lô-Giá-Na, vì lòng từ bi rộng lớn,
thương xót tất-cả chúng sanh, nên từ trong pháp thể
thanh tịnh xuất hiện ra thứ sữa pháp 3 tụ tịnh giới và
6 độ vi diệu như thế đề mà nuôi dưỡng cho tất-cả
những ai cầu giải thoát.
* Cái nghĩa bò và sữa thanh tịnh như thế không
những Như-Lai uống vào là được thành đạo, mà dẫu
cho ai uống vào cũng đều được đạo Vô Thượng Bồ-
Đề cả.
* Hỏi : trong kinh nói : Phật dạy chúng sanh cất
chùa, đúc vẽ hình tượng, thắp hương đèn, rải hoa,
ngày đêm 6 thời quanh tháp hành đạo, ăn chay lễ bái
; làm hết thảy công đức ấy đều được thành đạo. Nếu
chỉ quán tâm nhiếp hết các hạnh, như thế té ra bao
nhiêu chuyện kinh nói đều thành hư luống sao ?
Đáp: Phật có nói ra điều gì đều là vô lượng phương
tiện vì tất-cả chúng sanh ngu tối, căn cơ thấp kém
chẳng tỏ nghĩa lý sâu mầu, nên mới mượn việc thế
gian hữu vi để mà thí dụ. Nếu chẳng lo tu hạnh ở
trong, chỉ chạy ra ngoài mà cầu hy vọng được
phước thì thật là vô lý. Nói chùa cũng như nói nơi
thanh tịnh. Nếu dứt trừ 3 độc, thường tịnh 6 căn,
thân tâm rỗng lặng, trong ngoài thanh tịnh, đó là
nghĩa cất chùa. Còn nói đúc vẽ hình tượng là nói tấtcả
chúng sanh mong cầu đạo quả ; cách hạnh giác
để tu là phỏng theo chân dung diệu tướng cuả Như-
Lai, chớ đâu phải nói chuyện hữu vi vật chất. Cho
nên người cầu giải thoát phải lấy thân làm lò, dùng
pháp làm lửa, dùng trí huệ làm thợ khéo, 3 tụ-tịnhgiới
6 độ là khuôn. Ung-đúc chơn như tánh Phật
trong thân cho vào khuôn giới luật.
Nếu kỉnh nhận thực hành đừng cho sai chạy, tự
nhiên thành tựu. Còn nói tượng chân dung là nói
pháp thân thường trụ, vi diệu cứu cánh, chớ không
phải cái thân hữu vi bại hoại. Nếu người cầu đạo
chẳng rõ cái nghĩa ung đúc như thế, vậy vẽ chân
dung bằng cứ nơi đâu mà nói là công đức ?
* Còn nghĩa thắp hương cũng vậy ; là thứ hương
chánh pháp vô vi, xông lên để tẩy sạch các uế
nghiệp ác vô minh, hết thảy đều tiêu diệt. Hương
chánh pháp có mấy thứ : Một là hương Giới, nghĩa
là ý nói hay dứt các ác, hay tu các điều thiện. Hai là
hương Định, nghĩa là tin sâu Đại Thừa, tâm không
thối chuyển. Ba là hương Huệ, là thường quán sát
trở vào trong tự thân tâm. Bốn là hương Giải Thoát,
là dứt hết cả vô minh trói buộc. Năm là hương Giảithoát-
tri-kiến, là xét soi thường tỏ, thông suốt không
ngại. Năm thứ hương như thế gọi là hương tối
thượng, thế gian không sánh được. Phật ở thế gian
bảo các đồ đệ dùng lửa trí huệ đốt thứ hương vô giá
này để cúng dường mười phương chư Phật.- Chúng
sanh đời nay chẳng rõ nghĩa chơn thật của Như-Lai,
chỉ dùng lửa ở ngoài mà thắp các thứ hương vật chất
thế gian để mong cầu phước báo làm kết qủa.
Còn nghĩa rải hoa cũng vậy, là nói công đức đem
chánh pháp mà giảng dạy lợi ích chúng sanh, thấm
nhuần khắp tánh chơn như, bố thí trang nghiêm.
Thứ hoa công đức này Phật thường khen ngợi, cứu
cánh hằng còn không bao giờ héo tàn. Nếu ai rải hoa
như thế sẽ được phước báo vô lượng - Nếu nói Phật
dạy chúng sanh cắt xén bông hoa, tổn thương thảo
mộc cho được hoa để rải thì thật là vô lý. Vì sao thế
? Vì người giữ giới thanh tịnh thì tất-cả sum la vạn
tượng trong trời đất cũng không xúc phạm. Khi lầm
phạm còn có ăn năn thay huống chi là dạy cổ phá
tịnh giới, tổn thương vạn vật để cầu phước báo ;
muốn lợi lại hại, há có như thế sao ?
Lại nữa nói luôn luôn đốt đèn sáng là ý nói cái tâm
chánh giác tỏ suốt ví cũng như đèn sáng. Cho nên ai
muốn cầu giải thoát phải lấy thân làm đài, tâm làm
tim, các giới hạnh làm dầu, trí huệ tỏ suốt làm lửa.
Thường thắp đèn chơn chánh giác, chiếu phá tất-cả
vô minh ngu tối, hay dùng pháp này lần lượt khai thị
lẫn nhau tức là một ngọn đèn mổi ra trăm ngàn ngọn
; cứ như thế mãi mãi vô cùng, nên gọi là Vô-tậnđăng.
* Xưa có Phật tên là Nhiên Đăng, ý nghĩa Nhiên
Đăng là thế. Chúng sanh ngu si chẳng rõ lối nói
phương tiện của Như-Lai, luống làm theo sự, đam
chấp việc hữu vi ; bèn dùng các thứ đèn dầu thế gian
đốt lên luống soi nhà trống, rồi bảo là làm đúng theo
kinh, há chẳng lầm lắm sao ? Vì sao thế ? – Vì Phật
phóng một đạo hào quang trắng ở giữa hai chơn
mày, có thể chiếu suốt 18 ngàn cõi nước phương
Đông, há đợi nhờ đèn dầu thế gian leo nheo như thế
để làm lợi ích ! Gẫm xét cái lý phải chẳng thế sao !
* Lại nữa, 6 thời hành đạo nghĩa là nói nơi 6 căn
luôn luôn thực hành đạo Phật, tu các hạnh giác.
Điều phục 6 căn, mãi mãi không hở, gọi là 6 thời.
Còn quanh tháp hành đạo, chữ tháp nơi đây là ám
chỉ cho thân tâm đó ! Nghĩa thường sanh giác huệ
tuần sát thân tâm luôn luôn chẳng hở, gọi là quanh
tháp. Các bực thánh đã qua đều nhờ thực hành cách
ấy mà được Niết-Bàn. Người đời nay chẳng rõ lý
này, chẳng thực hành nơi tâm, chỉ chấp trở ra mà
tìm, đem cái thân chướng ngại đi quanh tháp thế
gian ngày đêm lũ lượt, luống uổng nhọc công, đối
với chơn tánh không chút lợi ích. Còn nói ăn chay
lại phải càng thêm để ý, nếu chẳng rõ lý này thì
càng nhọc công vô ích. Chữ chay ở chữ Hán là chữ
Trai, mà chữ Trai lại từ chữ Tề mà biến, nhưng chữ
Tề cũng như nghĩa chữ Bình. Nghĩa là tề bình thân
tâm, chẳng để tán loạn.- Chữ ăn nơi đây cũng như
nghĩa chữ giữ. Nghĩa là giữ các giới hạnh, đúng
phép tu hành. Ở ngoài phải ngăn ngừa 6 tình, ở
trong phải chế ngự 3 độc, siêng giác sát, tịnh thân
tâm, biết rõ nghĩa này mới gọi là ăn chay.
* Lại nữa, chữ ăn ở đây có 5 nghĩa:
Một, ăn bằng vui với pháp, nghĩa là giữ y chánh
pháp hoan hỷ vâng làm.
Hai, ăn là vui với Thiền-định, nghĩa là trong ngoài
lặng suốt, thân tâm vui đẹp.
Ba là ăn bằng suy nghĩ, nghĩa là thường nghĩ chư
Phật lòng miệng như nhau.
Bốn là ăn bằng nguyện, nghĩa là đi đứng nằm ngồi
thường cầu nguyện lành.
Năm là ăn bằng giải thoát, nghĩa là tâm thường
thanh tịnh, chẳng nhiễm tục trần.
Năm nghĩa ăn này gọi là ăn chay. Nếu ai chẳng
nhận 5 nghĩa chay tịnh này mà tự hào là ăn chay đều
là làm việc vô lý. Cần nhứt phải dứt cho được cái ăn
mê muội. Nếu phải va chạm gọi là phá trai.
Ăn mê muội nghĩa là thí dụ nghe nói ăn sáng là
chư thiên ăn, trưa là Phật ăn, chiều là súc sanh ăn,
tối là ma quỉ ăn ; nghe thế rồi bữa trưa ráng ăn thật
no để chiều khỏi đói, ăn rồi nằm thở. Như vậy mới
thật là súc sanh ăn !
* Nếu đã phá trai sao gọi là được phước ? - Đời có
người mê chẳng rõ lý này, thân tâm phóng túng theo
các nghiệp ác, tham dục, buông tình, chẳng biết xấu
hổ. Chỉ ăn được ba thứ rau cải rồi tự hào là ăn chay
thì thật là phi lý.
Còn nói lễ lạy đúng theo phép thì ở trong phải tỏ
thông lý thể, ở ngoài thì sự tùy quyền thông. Lý có
khi phải hiện, có khi phải ẩn. Biết được nghĩa như
thế mới gọi là y theo pháp. - Vả chăng lễ nghĩa là
kỉnh, lạy nghĩa là phục. Nghĩa là cung kỉnh chơn
tánh, hàng phục vô minh ; đó là lễ bái. Nếu có thể
dứt trừ lòng ác, thiện niệm hằng giữ ; tuy chẳng hiện
tướng, nhưng đó mới thật là lễ lạy.
* Tướng là pháp tướng. Thế Tôn muốn làm cho
người đời tỏ lòng khiêm tốn cũng là lễ lạy. Nên phải
ở trong khuất phục, ngoài hiện khiêm cung ; nêu cái
bên ngoài để rõ bên trong, tánh tướng như nhau.
Nếu không căn cứ trên pháp lý, chỉ chấp tướng bên
ngoài mà cầu, trong thì mở cửa 3 độc, thường làm
nghiệp ác, ngoài làm ra tướng ghê gớm, trá hiện oai
nghi, chẳng khỏi luân hồi, há thành công đức ? !
Hỏi : Như kinh Ôn-Thất nói : Tắm gội chúng tăng
phước đức vô lượng. Đó là rõ ràng dựa vào sự pháp
mới thành công đức ; nếu là quán tâm có thể tương
ưng được sao ?
Đáp : Nói tắm gội chúng tăng cũng chỉ là một thứ
ẩn ngữ, chớ phải đâu bảo làm theo sự tướng thế gian
! Đức Thế-Tôn thường vì các đệ tử mà giảng kinh
Ôn-Thất để cho thọ trì phép tắm gội, nên mượn việc
thế gian để ví dụ. Mật nói công đức của 7 việc cúng
dường như sau đây : 1 là nước trong, 2 là nhúm lửa,
3 là xà phòng (chất tẩy), 4 là bàn chải, 5 là phấn bột,
6 là dầu ướp, 7 là áo lót. Dùng 7 việc này để ví dụ
cho 7 pháp. Tất cả chúng sanh theo 7 pháp tắm gội
trang nghiêm này, thì có thể trừ được tâm độc vô
minh dơ bẩn. Bảy pháp ấy là :
8) Dùng tịnh giới gội rửa mê lầm cũng như dùng
nước trong gội rửa bụi bặm.
9) Dùng trí huệ quán sát, trong ngoài sáng suốt
cũng như nhúm lửa nấu nước trong.
10) Lừa lọc các điều ác, cũng như xà phòng
rửa sạch dơ bẩn.
11) Chơn thật dứt trừ vọng tưởng, cũng
như bàn chải hay làm sạch miệng hôi.
12) Chánh tín quyết định không nghĩ cũng
như phấn bột dùng để xoa trong thân có thể
ngăn ngừa các chứng phong ngoại cảm.
13) Nhu hòa nhẫn nhục, cũng như dầu ướp
làm thông nhuận mặt da.
14) Biết hổ thẹn ăn năn các nghiệp ác cũng
như áo lót mình để che khuất bớt các chỗ bất
tiện trong cơ thể.
Bảy pháp vừa nói trên là nghĩa bí mật trong kinh.
Lúc đó Như-Lai vì các bực đại thừa lợi căn mà nói,
chớ đâu phải vì phàm phu trí kém mà nói đâu ! Đó
là chỗ người nay không thể rõ. Còn nghĩa Ôn-Thất
cũng là ám chỉ cho thân đó. Cho nên nhúm lửa trí
huệ, nấu nước tịnh giới để tắm gội chơn như tánh
Phật trong thân. Thọ trì 7 pháp để tự trang nghiêm.
Hạng Tỳ-Kheo lúc đó thông minh lanh lợi đều ngộ
ý thánh, theo chỗ nói mà tu hành, công đức thành
tựu, đều chứng quả thánh. Chúng sanh đời nay
không rõ tự sự, đem nước thết gian để tắm rửa cái
thân tứ đại mà tự cho là làm theo kinh ; như thế há
chẳng lầm lắm sao ! Vả lại tánh Phật chơn như đâu
phải thứ có hình ; phiền-não bợn nhơ bổn lai không
tướng. Há có thể đem nước vật chất để gội rửa cái
thân vô vi được sao ? Trên sự đã chẳng tương ưng
làm sao ngộ được đạo ! Nếu muốn thân được tịnh,
phải quán thân này vốn từ tham dục hôi hám dơ bẩn
sanh ra, trong ngoài đầy dẫy ; thế mà muốn gội rửa
cho thân này được sạch thì nào có khác chi rửa
đường mương. Chỉ đừng có đường mương thì mới
sạch cho. Cứ theo đây mà nghiệm thì đủ rõ tắm gội
bên ngoài không phải là ý của Phật vậy.
Hỏi : Kinh nói chỉ chí tâm niệm Phật tất được vãng
sanh về cõi Cực Lạc, chỉ một môn này là được
thành Phật, đâu cần phải quán tâm để cầu giải thoát
? !
Đáp : Niệm Phật nghĩa là phải niệm chánh. Nghĩa
rốt ráo mới là nghĩa chánh, chẳng rốt ráo là tà. Nếu
niệm chánh tất được vãng sanh, niệm tà làm sao đến
được. Phật nghĩa là giác, nghĩa là giác sát thân tâm
đừng để khởi ác. Niệm nghĩa là nhớ, nghĩa là giữ
giới hạnh, đừng vọng tinh tấn. Cần rõ nghĩa như thế
mới gọi là niệm. Nên biết niệm ở nơi tâm, chớ
chẳng phải ở miệng, mượn ngôn ngữ để cầu ý, được
ý phải quên lời. Đã nói niệm danh hiệu Phật cũng
phải biết cái đạo niệm Phật. Nếu tâm không thật,
miệng niệm danh hiệu suông, 3 độc lẫy lừng, chấp
mình chấp người cả bụng ; dùng cái tâm vô minh
vọng cầu thấy Phật luống uổng tốn công. Đến như
tụng với niệm cũng khác nhau. Ở miệng gọi là tụng,
ở tâm gọi là niệm. Nên biết niệm từ tâm khởi, gọi là
môn giác hạnh. Còn tụng ở miệng là tướng âm
thanh, chấp tướng cầu lý thật là không phải. Phải
biết các thánh xưa tu hành đều không phải nói bên
ngoài, mà luôn luôn phải lấy tâm làm chủ, vì tâm là
nguồn cội vạn pháp, tâm là chủ của muôn đức, vắng
lặng thường vui đều bởi ngừng vọng. Ba cõi luân
hồi cũng từ tâm khởi, tâm là cửa của cuộc đời, tâm
là bờ giải thoát. Biết được cửa tâm rồi lo gì khó
thành ! Thấy được tâm rồi lo gì chẳng đạt ! Người
nay thấy biết nông nổi, chỉ biết sự tướng làm công,
hao phí của cải, tổn thương vạn loại. Luống công
xây đắp, gom nhóm vật liệu, vẽ vời rằn ri đem hết
tâm lực, tổn mình mê người, chưa biết tỉnh ngộ có
đâu sợ khó. Hễ thấy việc hữu vi thì nôn nao mê
đắm, còn nói đến vô tướng thì trơ trơ như mê. Chỉ
tham kế quả nhỏ nhen hiện tại ; chớ biết đâu cái khổ
biển cả sau này. Tu học như thế luống thêm nhọc
sức, trái chánh theo tà, vọng nói được phước. Nếu
chỉ có thể nhiếp tâm soi trở vào trong, giác quán ở
ngoài cho tỏ, dứt trừ 3 độc, đóng hết 6 cửa giặc
đừng cho nhiễu loạn ; tự nhiên vô lượng công đức,
bao thứ trang nghiêm, vô số pháp môn đều được
thành tựu, siêu phàm chứng thánh, tận mặt sát một
bên, ngộ trong giây lát, đâu đến nỗi khó khăn. Môn
chơn thật nhiệm mầu đâu thể nào trình bày hết. Nơi
đây chỉ thuật sơ về quán tâm, nói rõ ra chút ít vậy
thôi.
Kệ rằng:
Ta vốn cầu tâm tâm tự gìn
Cầu tâm chẳng được để tâm minh
Tánh Phật chẳng từ ngoài tâm được
Tâm sanh chính là lúc tội sanh
Ta vốn cầu tâm chẳng cầu Phật
Rõ biết ba cõi rỗng – không, suốt
Nếu muốn cầu Phật chỉ cầu tâm,
Chỉ tâm này, tâm này là Phật.