Thứ Bảy, 22 tháng 6, 2013

BỒ ĐỀ ĐẠT MA QUÁN TÂM PHÁP - THÍCH MINH THIỀN phần 6

TUẦN THỨ B ẢY
9 – 7 – 1972 (29 – 5 N. Tý)
Đêm hôm qua tôi chợt thức giấc vào khoảng 2 giờ
30, tĩnh-tọa xong tôi nằm - tự nhiên nước mắt bỗng
trào ra. Không phải bởi tôi buồn mà khóc, cũng
không phải bởi có chuyện vui qúa mà đến ra nước
mắt. Không biết là gì mà lòng còn nghe tức tối bực
dọc lạ … Nghiệm kỹ tôi mới nghĩ ra :
Nhớ lại trong kinh, mở đầu hội Pháp-Hoa Phật
nhập định không nói gì cả. Kế đó là cuộc phóng
quang rồi Phật mới mở mắt ra nói chuyện. Bắt đầu
Phật tán thán trí-huệ của chư Phật sâu vô lượng
không thể nghĩ bàn. Đi sâu vào càng đến phần
phương tiện, Phật mới thuật lại sau khi chứng thực
được rồi Phật có nói : Lạ qúa ! tất-cả chúng sanh
đều có đủ trí huệ đức tướng của Như-Lai, nghĩa là y
nguyên như ông Phật, đều có đủ khả năng để thấy
được sự thật. Mà lạ qúa ! Tại sao nó không thấy !
Nhưng tại sao ông Phật đã tỏ tận cùng lý tánh mà
còn lấy làm lạ ? Đó là vấn đề tôi rất bực dọc khi tôi
bước chân đi tu. Ngày một ngày hai, đến khi biết
được lý do tại sao rồi tôi mới yên được. Nhưng đến
phiên mình, thì tôi cũng mang một tâm trạng giống
y như vậy - lạ quá ! không biết tại sao chuyện sự
thật rất giản dị mà đối với mọi người đều trở nên
khó khăn vô cùng ! Bỗng sanh tức tối trong lòng,
mà không biết tức cái gì !
Nghiệm kỹ mới thấy hồi mình biết là cái biết đi
thẳng vào chỗ trọn vẹn bằng trực giác. Đến khi nói
ra cho mọi người nghe, khó ở chỗ là muốn nói bằng
thứ ngôn ngữ các ông Thiền-Sư. Người ngoài nghe
trừ một số rất ít, còn phần đông không sao biết
được. Còn nếu nói cho mọi người đều nghe được thì
đó là ngôn ngữ của lý-trí, chỉ nói ra vấn đề từ cục
riêng rẽ chớ không sao nói trọn được, phải lấy cái
này so sánh cái kia, mượn cái kia so sánh cái nọ.
Rốt cuộc người nghe biết bằng cách tưởng tượng
theo miệng của người nói chớ không phải biết sự
thật ; giống như mị thuật chỉ một vật nói là cái máy,
rồi mình tưởng tượng theo đó mà thấy ra vậy. Thành
ra một thứ nói để đừng biết. Đó là nỗi khổ tâm của
người muốn nói sự thật. Do đó sanh ra một trạng
thái lạ, tức mình mà không biết tức cái gì ! - Đến
chỗ đó, dù ông Phật cũng gặp phải khó khăn. Cho
nên biết khó khăn không phải tại các ông Thiền-Sư
hay tại ông Phật !
Từ đó tôi liên tưởng đến câu chuyện : Ai cũng thấy
khoa học vạn năng, nhưng sự thật chẳng có gì là vạn
năng cả. Vì khoa học chế được vô tuyến truyền hình
làm cho người ở bên kia thế giới biết được chuyện
bên này, ở đây biết được chuyện khắp 5 châu ..
Nhưng điều đáng nói nhất là không ai có thể làm
cho hai người thật giáp mặt nói chuyện mà thật hiểu
nhau được ! Chung qui tôi thấy chỉ có làm cách nào
trở lại với chính lòng mình thì tự nhiên ranh giới
của mỗi người mới có thể xóa bỏ mà cảm thông với
nhau được. Nếu không thì dù hỏi bộ óc điện tử
chăng nữa, bộ óc điện tử ra dấu rồi chúng ta cũng
chỉ nhận hiểu được bằng lối suy nghiệm qua bóng
dọi của ý thức mà thôi. Trong tuần báo khoa học có
thuật một câu chuyện rất thú vị : Một người mang
hai cái đồng hồ đến hỏi bộ óc điện tử ; một đồng hồ
hư và một đồng hồ chạy trễ, hỏi nên dùng đồng hồ
nào. Óc điện tử trả lời nên dùng đồng hồ hư. Hỏi tại
sao? – Đáp rằng dùng đồng hồ hư thì dù sao suốt
ngày đềm cũng còn có 1 giờ đúng ; còn đồng hồ trễ
thì giờ nào cũng bị trễ nên không dùng được !
Thế thì óc điện tử cũng không hơn gì óc con người,
vì nó do con người đẻ ra và để nhận lại bóng dọi của
chính lòng mình mà thôi.
Mãi mê với những ý nghĩ mà thời công phu sáng
đã gần mãn. Mấy câu chú kết thúc hòa với tiếng mõ,
vang cùng tiếng chuông … tôi buông mình trả lại
cho lưu thông . Bỗng thấy tất cả chúng ta không
phải lúc nào cũng mê ; mà hình như trong chúng ta
luôn luôn có hai phần. Một phần tỉnh và một phần
mê, và thường thì phần mê che khuất mất phần tỉnh.
Tôi sực nhớ đến câu thơ của một nhà thi sĩ Việt
Nam : “Đánh tan tục niệm hồi chuông sớm. Gõ vỡ
trần tâm tiếng mõ trưa”.
Quả thật trong khi tịnh, tôi thấy rõ từng ảnh-hưởng
của âm thanh. Tiếng chuông thuộc về âm thanh phá
mê cho bộ óc lý trí. Tiếng mõ thuộc âm thanh ảnh
hưởng thẳng vào Gan rồi đi lên Tim đánh thức trực
giác. Vấn đề ảnh hưởng trở ra của âm thanh, nói ra
ai cũng hiểu, nhưng chuyện chứng thực được ngay
trong lòng thì không thể dễ dàng với tất-cả mọi
người, phương chi con người chúng ta luôn luôn
phóng vọt ra ngoài thì việc chứng thực lại càng khó
khăn hơn. Có nhiều khi ngẫm nghĩ tôi bắt bực cười ;
trong khi chúng ta gặp mặt nhau là gặp cái gì ấy !
Thế mà có lắm người đi tu để kiếm cái gì, chớ
không phải để hiểu sự thật ! Như vậy khi hai người
gặp nhau là giữa 2 người đã có sẵn một tấm vách
ngăn. Người ở bên này nói vói qua người bên kia,
chớ không phải giáp mặt nhau bằng cách chân
thành. Lắm lúc tôi nghĩ mà cứ tức ! Chuyện rất giản
dị, mà cũng đáng buồn cười là vì trong mỗi người
thiếu tấm lòng thiết tha thành thật để khám phá
chính con người của mình, nên hóa ra mê muội
không biết gì hết ! Còn nếu có biết được tất-cả mọi
việc chăng nữa, mà biết bằng cách nhìn ra thì cái
biết đó cũng không mang lại ích lợi gì ! Sự thật mỗi
người đều có một đặc điểm, chỉ có chính mình tự
mê lấy chớ không ai làm cho mình mê hết.
* Hỏi : Như trên đã nói, tánh Phật chơn như, tất-cả
công đức đều nương nơi giác làm gốc, chằng hay
cái tâm vô minh lấy đâu làm gốc ?
Đáp : Cái tâm vô minh tuy có 84,000 phiền-não tình
dục và hà sa các điều ác đều nhân 3 độc làm gốc, 3
độc là tham sân si đó. Cái tâm 3 độc này tự nó đủ tất
cả khả năng làm ác cũng như cội cây to tuy chỉ có
một, nhưng có biết bao cành lá. Căn cội của 3 độc,
trong mỗi một cái rễ sanh ra các nghiệp ác vô lượng
vô biên không thể tỷ dụ. Tâm ba độc như thế từ
trong bản thể ứng hiện ra 6 căn, cũng gọi là 6 kẻ
giặc, tức là 6 thức đó !
Thưa, ở đây chắc ai cũng biết tượng đức Di Lặc có
6 thằng nhỏ bò trên người móc lỗ mũi, móc miệng,
móc tai, móc mắt, móc rún và một thằng vò đầu. Đó
là ý muốn nói vấn đề tai mắt miệng mũi thân và ý
của chúng ta lúc nào cũng phóng vọt ra ngoại cảnh
để quấy nhiễu làm rối ren tâm tánh của chúng ta.
* Do 6 thức này ra vào các căn tham đắm trần cảnh,
tạo thành nghiệp ác trái chướng với chơn thể, nên
gọi là 6 kẻ giặc.
Đây chúng ta có thể nói một cách nôm na cho dễ
hiểu là gió thổi, sóng to làm chướng ngại cho mặt
nước không thể yên lặng được. Nghĩa giản dị vậy.
* Tất cả chúng sanh đều bị ba độc 6 kẻ giặc này làm
mê loạn thân tâm, chìm đắm trong sanh tử, luân hồi
trong 6 nẻo chịu các điều đau khổ.
Vấn đề luân hồi chúng ta mới nghe qua hình như
có vẻ mê hoặc, dị đoan lắm. Nhưng nếu chỉ nhìn ở
hiện tại, chúng ta có dám tự bảo đảm rằng mình
đụng sắc không bị sắc lôi cuốn, mình nghe một bản
nhạc tuyệt vời không bị âm thanh cuốn hút. Và mùi
vị … cũng như tất-cả những chuyện khác đến với
chúng ta mình có bảo đảm là trong lòng mình đã
như mặt nước bằng, không xao xuyến hay không ? –
Và hiện giờ đây chúng ta có 5 giác quan ; nhưng tác
dụng không phải chỉ hạn hẹp ở trong phạm vi 5 giác
quan đó, mà cứu tận khắp người chúng ta đều có đủ
cả 5 giác quan. Tại sao biết thế ? – Vì mỗi khi mũi
chúng ta hít vào thì lỗ chân lông khắp mặt da đều
thở ra ; thết là khắp mặt da đều có miệng. Khi
miệng thở ra, khắp cả mặt da đều hít vào ; thế là
khắp mặt da đều có mũi. Vì thế chúng ta thoa dầu
mới có ảnh hưởng cảm biết nóng hay lạnh. Khi
chúng ta nghe mát nghĩa là cái hít vô nhiều hơn, khi
nghe nóng nghĩa là cái thở ra mạnh hơn. Nếu khắp
mặt da có mũi, miệng lẽ tất nhiên cũng phải có đủ
tai mắt. Một người điếc ngồi trên phản gỗ, muốn gọi
người đó tôi chỉ cần vỗ dưới phản thì họ sẽ quay lại
ngay. Thế là nghe bằng cái đít. Thêm nữa, mặt da có
thể tiếp xúc với tất-cả mọi vật để cảm biết nóng
lạnh, trơn nhám v.v… hình thể cũng như tánh chất
của vật, đó là xúc giác. Như vậy nghĩa là khắp cả
mặt da chúng ta đều có đủ 5 giác quan – Mà bây giờ
đây chúng ta nghe không ngoài lỗ tai, thấy không
ngoài con mắt, ngửi không ngoài lỗ mũi, nếm không
ngoài cái miệng. Thế tất hiện tại chúng ta đã bị đọa
vào trong giác quan rồi !
Phương chi trong khi chúng ta hướng ngoại vọt trở
ra thì bầu bao la khum khum này sẽ trở thành một
tấm gương phản chiếu, có vô số cặp mắt của mình
chiếu ngược trở vào để nhìn mình một cách quái gở
lạ kỳ làm thành một thế mâu thuẫn dọng đầu.
Ngược lại, khi quay trở vào chính con người của
mình, thì cũng ở trong bao la này mà khắp nơi đều
có cái biết của tai mắt miệng mũi của mình nhìn trở
ra theo chiều thuận. Thế nghĩa là hồi nhìn ra là cái
thế mâu thuẫn, nhìn vào là cái thế phá mâu thuẫn.
Chúng ta đã bị đọa vào trong giác quan, lại còn rơi
vào thế hướng ngoại thế là chúng ta bị gói trọn ở
trong vòng mâu thuẫn. Do mâu thuẫn đó mà chúng
ta luôn luôn bị cái thế ngoại cảnh hút, vì chúng ta đã
bị rơi hẳn vào trong cõi hiện tượng vật chất. Ở đình
làng tôi có xảy ra một câu chuyện : một ông đang
thổi kèn cho một đám hát đình, bỗng có một cậu bé
cầm trái me đến xem, đứng trước mặt ông mà cắn
nghe dòn rụm, khiến cho ông thổi ra nước đầy trong
kèn. Ông tức mình đánh lộn với thằng bé, cả hai đều
bị bắt đưa ra trước thầy Hương Quản. Thầy Hương
Quản hỏi : tại sao hai người lại đánh nhau giữa buổi
hội ?
- Ông thổi kèn thưa: tôi đang thổi kèn mà nó lại đem
me ăn trước mặt, làm tôi thổi nước đầy nhóc trong
kèn.
- Cậu bé bảo : bẩm thầy con ăn me miệng con, khi
không ổng đánh con … Thầy Hương Quản nghe ra
cũng chẳng biết phải xử làm sao, bèn phạt cả hai
người rồi đuổi về. Như vậy là ông thổi kèn đó đã bị
trái me nằm sẵn trong bụng tận tự hồi nào ; giờ đây
nghe thấy trái me ngoài, trong ngoài hút nhau mà
ông bị điều khiển. Tất cả những cái khác cũng thế.
Đó là nguyên lý luân hồi.
Thế thì hiện tại đây chúng ta đã không tự chủ
được, lẽ cố nhiên khi chết đến chúng ta không thể
làm chủ được. Nếu chúng ta cho rằng chết là hết, là
bị đọa vào trong chấp đoạn của duy vật. Nếu thấy
chết rồi còn linh hồn bất biến, bỏ xác thân này để
đút vào xác thân khác ; thì bị đọa vào trong chấp
thưòng của duy tâm Âu Châu ; cả hai đều sai cả.
Phương chi về phương diện vật lý, không một vật
nào không phải là tổ hợp, cho đến linh hồn cũng là
do nhiều điều kiện ráp lại. Do đó, vấn đề linh hồn,
vấn đề luân hồi sanh tử không phải là dị đoan. Nên
khi bỏ xác thân này rồi qua thân sau, tượng thai đôi
ba tháng rồi thì quên đứt các chuyện cũ. Nhưng đến
khi trưởng thành thì chuyện cũ đâu hiện ra đó, còn
đủ cả. Vì thế kiếp trước, mình cũng đã từng làm
nhiều chuyện “cọp hùm” (chuyện nam nữ) rồi, đến
kiếp này trải qua mười mấy hai mươi năm bây giờ
hiện tại cũng còn nguyên. Chớ nếu quên dứt đi được
hết thì vấn đề nam nữ chúng ta khỏi phải trở lại nữa.
Do chỗ đó dòng sanh mạng của chúng ta trở thành
từng đoạn, từng đoạn chuỗi hột xỏ xâu lại nên nhà
Phật gọi là “phân đoạn sanh tử”.
Tóm lại, đối với vấn đề sanh tử luân hồi theo tôi hễ
điều gì nghi thì nên để đó, chớ nếu có nghi mà
chống đối nghĩa là mình chẳng muốn biết nó. Bất cứ
vấn đề gì nếu chúng ta chống đối hẳn, hay khinh khi
cho rằng không có, đều là ngăn lấp trí thông minh
của chúng ta cả. Nếu có người hỏi vấn đề luân hồi
ra sao? Khi tôi chưa biết thì tôi phải trả lời thế nào ?
– Theo tôi, vấn đề cái TÔI làm che khuất trí thông
minh, điều đó tôi thấy rõ nên tôi chấp nhận việc
phải phá vỡ cái TÔI để mở sáng trí thông minh
trước, rồi sau đó tức khắc tôi sẽ thấy rõ mọi sự vật.
– Cũng như một người cầm chiếc máy ảnh mà nhảy
tưng tưng thì không thể nào chụp được ảnh cho
chính xác. Điều đó dễ hiểu tôi chấp nhận. Nên thôi,
để bao giờ đứng yên chụp được hình chính xác hẵn
hay ! Còn tôi vội cho vấn đề đó là không hay có đều
là bị đọa vào lãnh vực si mê cả. Vấn đề luân hồi giải
quyết là vậy, chỉ có cách đó để cho mọi người dễ
nhận nhất. Nên chúng ta đừng vội nghĩ chết rồi mới
có luân hồi, mà luân hồi có ngay ở hiện tại đây chỉ
chúng ta không hay mà thôi. Trong kinh thánh
Thiên Chúa cũng có nói : làm ác bị đọa địa ngục,
làm thiện được lên Thiên-Đàng. Đó là nhân qủa. Hễ
nhân qủa có thì tự nhiên vấn đề luân hồi phải có.
* Cũng như sông rộng mênh mông, bắt nguồn từ
khe suối nhỏ chảy mãi không ngừng, lần ra đến
sóng cuộn ba đào, mịt mờ muôn dặm. Nếu có người
lấp được tận nguồn thì dòng suối đều dứt. Người
cầu giải thoát nếu có thể chuyển 3 độc làm 3 tu tịnh
giới, chuyển 6 kẻ giặc làm 6 Ba-la-Mật tự nhiên lìa
dứt tất-cả nghiệp khổ.
Ba độc là tham sân si, đổi ra thành Giới Định Huệ.
Đó là thuật ngữ của nhà Phật.
Giới là tự mình thấy điều vô lý không còn nữa.
Định là lòng lúc nào cũng không xao xuyến và
dong đuổi theo ngoại cảnh.
Huệ là nhờ trong lòng không xao xuyến và dong
đuổi theo ngoại cảnh nên tự nhiên thấy đâu ra đấy.
Nghĩa là đứng yên thì tự nhiên chụp được hình
chính xác.
6 Ba-la-Mật là : Bố-thí, giữ-giới, nhẫn-nhục, tinhtấn,
thiền-định, trí-huệ.
Bố-thí là không còn tâm ôm đồm chứa giữ, hiểu
vấn đề chứa giữ là vô lý nên không làm nữa. Còn
cho người ta để mong hưởng cái gì đó là lòng đi
buôn chớ không phải nghĩa bố thí.
Giữ giới là dùng vấn đề phương tiện để giữ cái
tâm, chớ không phải dùng cái tâm tạo ra phương
tiện để tự trói mình.
Nhẫn nhục là thấy chuyện tranh dành hơn thua là
vô lý, không đi đến đâu nên không làm nữa ; chớ
không phải ráng bậm môi mà nhịn.
Tinh-tiến là biết được cái mê lúc nào cũng nối tiếp,
bây giờ mình trở vào chiều thuận, chiều ngộ cũng
phải nối tiếp. Hồi mê, mê không ngừng nên ngộ
cũng phải giữ cái ngộ không ngừng. Tinh tiến là
nghĩa khác của hộ niệm, thức tỉnh rồi từ đó về sau
phải giữ ý thức đó luôn.
Thiền-định : trong lòng không rối loạn, ngoài
không săn đuổi theo ngoại cảnh gọi là Thiền-định.
Trí-huệ : hễ có định thì mới có trí-huệ, có định là
có huệ, chớ không phải định rồi mới có huệ. Hễ
nước trong ngọc chiếu, mây vẹt trăng soi, không có
trước sau chi cả.
Do đó nghĩa bố-thí, giữ-giới, nhẫn-nhục, tinh-tiến,
thiền-định, trí-huệ là 6 pháp để đưa chúng ta đì vào
nẻo giải thoát; gọi là Ba-La-Mật (đó là danh từ Ấn
Độ). Nên chuyển 3 độc làm thành Giới Định Huệ
nghĩa là chuyển tham sân si thành Giới Định Huệ ;
chuyển nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý, 6 kẻ giặc thành 6
Ba-La-Mật gọi là Lục-Độ hạnh, tự nhiên tất-cả
nghiệp khổ đều dứt. Tiếp đến sẽ có nói thêm một
cách khác.
* Hỏi : Sáu nẻo 3 cõi rộng lớn mênh mông, nếu chỉ
quán tâm làm sao thoát khỏi biển khổ vô cùng ?
Sáu nẻo là : địa-ngục, ngạ-quỉ, súc-sanh, người, ATu-
La, chư Thiên.
A-Tu-La là danh từ Ấn Độ, nghĩa là phi Thiên (tức
là phước cũng như cõi Trời nhưng vẫn còn sân dữ
dội). Do đó 6 nẻo luân hồi là do 6 tác dụng của 6
khía cạnh tâm linh ở trong thân, chịu ảnh hưởng bầu
khí quyện ly tâm hương tâm của địa cầu, cộng với
sự mê lầm gom nhóm của tâm thức tạo thành 6 cách
hấp dẫn để về 6 hiện tượng gọi là 6 nẻo.
3 Cõi là : Cõi dục, cõi sắc và cõi vô sắc.
Cõi dục là hiện tượng nhìn thấy của một kẻ nặng
về vấn đề dục để bị hút về cõi đó. Cõi dục thuộc về
phần thần kinh ở thân dưới.
Cõi sắc : thuộc về thần kinh ở khoảng giữa thuộc
bộ tiêu-hóa ; còn từ chẻn-vừng trở lên thuộc về cõi
vô-sắc. Nói một cách khác hơn, thí dụ từ hồi nào
đến giờ trong tâm tôi gom nhóm hột giống mê sắc,
nghĩa là hột giống ý niệm về dục vọng, thì bây giờ
tôi nhìn ở đâu cũng thấy bằng kiểu đó. Cũng như
thầu khoán thì thấy gạch ngói và xi măng … Thợ
rừng thì nhìn thấy cây tốt hay xấu … Thầy thuốc thì
thấy chỗ nào cũng là thuốc.
Cõi vô-sắc : thuộc về thần kinh hệ ở bộ óc. Nói
một cách khác hơn, khi bị rơi vào cõi lý tưởng phiêu
phiêu phưởng phưởng, cũng như mấy ông nghiện
hút say tột bực rồi thì họ tưởng tượng ra đủ thứ hết.
Nên nghĩa của chữ cõi tùy vào nơi tâm thức của
chúng ta. Khi sống như thế thì lúc chết cũng tùy
theo duyên mà hút theo. Cũng như mọi người khi
sống dục vọng thái qúa thường tìm tới chốn lầu
xanh, thì khi chết họ đầu thai vào xóm đĩ là tự
nhiên.
Bây giờ tôi thấy hình như phải nói như vậy mới
kềm nổi sự lùng tung của khoa học hiện thời.
* Đáp: ba cõi nghiệp báo chỉ từ tâm sanh, nếu được
vô tâm, tuy ở trong 3 cõi nhưng liền thoát ly 3 cõi.
Nghĩa là nếu trong bụng tôi không có chứa vấn đề
dục, thì dù tôi ở xóm đĩ cũng không vì thế mà tôi đĩ.
Có một câu chuyện thế này : Có một ông hiền đi
đến một nơi nọ là xóm ăn cướp, kẹt không có chỗ ở
nên phải dừng chân tạm đó. Được bọn cướp rất
thương yêu thường hay chia sớt giúp đỡ cho, ông ở
đó đã 12 năm rồi mà không ai biết ông là ông hiền.
Một hôm chúng đánh cướp trúng mối lớn, ra về gặp
đàn chó đuổi theo sủa, chúng quất con chó chết
quảy về nấu ca ri ăn, đem cho ông một tô. Ông sợ
chúng nghi không dám từ chối. Ông phải nhận mà
không ăn, bèn đổ ca ri vào cái hũ đậy kín chôn
xuống đất. Rủi thay, ít ngày sau đó nhóm đó bị phát
giác, chánh quyền bắt tra khảo, chúng khai đến tô ca
ri đem cho ông, ông cũng bị mời đến hỏi. Ông thản
nhiên khai sự thật, và bằng cớ đào lên còn nguyên
đó nên ông được vô can. Chừng ấy người ta mới
hay ông là người hiền.
Bởi vậy nên ăn thua ở trong lòng mình, chớ không
phải ở đâu rồi cũng là một thứ như ở nơi đó. Nên
vấn đề cõi không có ranh giới. Thí dụ tôi sợ tu quá
nên vọt ra thế. Muốn cho khỏi đi lính tôi xin vào
nghành cảnh sát, rồi ít lâu sau tôi bị đẩy ra quân đội.
Ra quân đội ít lâu, tôi cũng nhớ lại chuyện tu ; đó là
luật tự nhiên như vậy.
* Ba cõi tức là 3 độc đó. Tham là cõi dục, sân là cõi
sắc, si là cõi vô sắc, nên gọi là 3 cõi. Từ 3 độc này
tạo nghiệp nặng nhẹ, thọ báo chẳng đồng, chia ra 6
nẻo nên gọi là 6 thú.
Hỏi : Sao gọi là nhẹ nặng chia làm 6 nẻo ?
Đáp : Chúng sanh chẳng rõ nhân chánh, quên tâm
tu nghiệp thiện vẫn chưa ra khỏi 3 cõi, sanh về 3
nẻo nhẹ.
Nghĩa là làm thì làm thiện mà không rõ được bổn
tánh, nên sanh về 3 nẻo nhẹ.
* Hỏi: Sao gọi là 3 nẻo nhẹ ?
Đáp: Là vì mê lầm lo tu 10 điều thiện, vọng cầu
khoái lạc chưa khỏi cõi tham, sanh về đường trời.
Mê giữ 5 giới, vọng khởi ghét yêu, chưa khỏi cõi
sân nên sanh về đường người. Mê chấp theo hữu vi,
tin tà cầu phước, chưa khỏi cõi si, nên sanh về nẻo
A-Tu-La. Ba loại như thế gọi là đường nhẹ.
Hỏi : Sao gọi là 3 đường nặng ?
Đáp : Nghĩa là từ tâm 3 độc, chỉ tạo nghiệp ác bị
đọa vào 3 đường nặng. Nếu nghiệp tham nặng thì
đọa vào đường ngạ quỉ, nghiệp sân nặng thì đọa vào
đường địa ngục, nghiệp si nặng thì đọa vào đường
súc sanh.
Thưa, tham nặng mà bị đọa vào đường ngạ quỉ là
chuyện có thể thấy ở ngay hiện tại đây. Lúc tôi chưa
đi tu còn làm thầy thuốc, tôi có gặp một bịnh rất lạ :
Một người đàn bà mắc phải chứng hễ khi ăn thức
ăn ngon, đắt tiền vào là bị đau bụng đi tiêu, khổ sở
đủ kiểu. Bà đi khắp thầy thuốc đều không chữa
khỏi. Đến tôi, tôi quan sát kỹ tướng tá, cách đi đứng
… rồi coi mạch xong tôi nói : bịnh này không thể
xem thường được ! bây giờ tôi không lấy tiền bà
đâu, bà hãy về rồi sáng mai trở lại đây thật sớm tôi
sẽ nói cho bà nghe. – Nghe nói không lấy tiền nên
bà mừng nghe theo. Thế là tôi có mối để vô. Sáng
hôm sau tôi mánh lới hỏi bà : “bây giờ bà có đồng ý
cho tôi nói tột bực thiệt cho bà nghe không? Nếu bà
chịu nghe không phiền thì tôi sẽ nói thiệt cho bà
nghe”.
Bà đồng ý. Tôi nói : bịnh của bà là bịnh “tiền liền
với ruột”. Vì mỗi khi bà ăn món ngon vật lạ bà nhớ
tới đồng tiền nên ruột bà thắt lại không hoạt động
được mà sanh ra bịnh này. Bà nghiệm kỹ xem phải
không?
Bà nghiệm rồi nói : Thầy nói có lý à !
Tôi nói : Được rồi, bây giờ bà có dám quên hẳn
vấn đề tiền, tôi cho bà ít thang thuốc sẽ hết ngay.
Chớ nếu bà còn nhớ đến chuyện đó thì công lao của
tôi đi mất. Bà nghe được đồng ý đàng hoàng, tôi cho
thuốc ít hôm bà khoẻ.
Đó là hiện tại bị đọa vào cõi ngạ quỉ. Ngạ quỉ là
thứ quỉ đói, miệng lớn, bụng lớn mà cổ họng nhỏ
như trôn kim, cũng như cảnh người sống bị thắt ruột
vậy.
Tôi xin kể thêm một chuyện nữa về vấn đề nghiệp
tham :
Tôi có người bạn thuật cho nghe một chuyện :
Người đi đâu hay đem theo cái ruột ngựa đựng tiền,
lúc đó đi chợ nhiều lắm là hai cắc. Một bà già nọ đi
chợ đánh rơi mất 2 cắc. Bà vừa khóc vừa tới lui tìm
kiếm trông rất khổ sở. Ông bạn tôi đi tới thấy vậy,
dừng xe lại hỏi tại sao bà khóc ? Bà kể lể … Ông
liền móc túi cho bà 2 cắc. Bà vội nói : không, tôi có
5 đồng ở trong này đây ! Hỏi vậy tại sao bà còn
khóc ? – Bà nói : bây giờ tôi kể là cả nhà ăn rồi,
chẳng thà chịu đói ngày nay chớ không thể xài nữa
được ! – Ông bạn tôi đành lắc đầu, không biết làm
sao hơn !
Xưa kia ở miền Trung, nhất là miền Quảng Trị
Thừa Thiên lúc bị bão lụt, có nhiều đoàn thuyền nan
đi vào Nam xin gạo. Miền Nam lúc đó giàu gạo nên
cho gạo thật ngon, tới mỗi nhà đều xúc cho một
chén gạo. Họ đem ra thuyền đến mấy giạ gạo, mà
mỗi lần nấu cơm là hốt thêm một nắm lúa trộn vô.
Người ta thấy lạ hỏi làm chi vậy. - Họ nói : để gạo
nguyên ăn ngon rồi ăn nhiều làm sao ! Như thế há
không phải do nghiệp tham mà hiện tại sắp biến
thành ngạ quỉ đó sao ? !
* Ba đường nặng này thông đồng với ba đường nhẹ,
cộng thành sáu đường. Nên biết tất-cả nghiệp khổ
đều từ tâm sanh. Nếu có thể nhiếp tâm, lìa các tà ác
thì cái khổ trong 3 cõi 6 đường tự nhiên tiêu diệt ;
lìa khổ là được giải thoát.
Hỏi: Như chỗ Phật nói : Ta ở trong 3 vô lượng kiếp
tu vô lượng khó nhọc nay mới thành Phật ; đây ngài
chỉ nói quán tâm, chế ngự 3 độc thì gọi là giải thoát
là tại làm sao ?
Đáp: Lời Phật nói thật không ngoa. Ba vô lượng
kiếp tức là 3 độc đó. Trong cái tâm 3 độc này có vô
số niệm ác, trong mỗi niệm đều là một kiếp cho nên
nói 3 vô số kiếp.
Đó là một biện chứng rất khủng khiếp không thể
nói được. Chúng ta đi ra đường gặp một cô nàng
nào vừa ý một chút xíu cạnh tai, sóng mũi, khoé
miệng … về nhà ngồi tưởng tượng nhớ lại thì đã
phải mang một kiếp rồi ! Thế nào cũng tới lúc đụng
nhau sống nửa tháng hay một tháng rồi thôi cũng
được. Đó là sắt với đá nam châm mà. Ghê lắm !
* Tánh chơn như đã bị 3 độc chất che khuất, nếu
chẳng siêu cái tâm có 3 vô lượng ác độc ấy thì làm
sao gọi là giải thoát ! Nay nếu có thể chuyển cái tâm
3 độc này làm 3 giải thoát, thế gọi là đã vượt qua
được 3 vô lượng vô số kiếp. Chúng sanh đời sau
ngu si căn độn, chẳng rõ cách nói bí mật của Như-
Lai bèn cho rằng việc thành Phật không thể tin
được. Như thế há chẳng là làm cho người tu nghi
lầm thối chuyển đạo Bồ-Đề đó sao !
Thật là khoa học và thực tế lắm ! Nếu tôi muốn
mời qúi vị vào trong nhà này thì tôi phải mở cửa,
dọn trống bên trong thì quí vị mới có chỗ vào.
Nên khi muốn biết sự thật vấn đề gì, dù tôi có biết
sẵn một điều gì cũng cứ gác qua đi, kể như tôi chưa
biết gì hết. Đó là điều hay nhất ở trong chuyện học
Đạo. Tôi có dám làm như thế không ? - Nếu không
thì đừng tìm học Đạo làm chi, vì chồng thêm kiến
thức thì bất qúa rồi cũng sẽ trở thành một thứ nghiệp
!.
Nên cất nhà lầu muốn xây cao bao nhiêu cũng phải
có nền cho vững chắc trước. Chúng ta dẫu có kiến
thức nhiều bao nhiêu thì cũng phải gọt rửa tâm hồn
trước. Thiên Chúa cũng có nói : phải dọn mình cho
trong sạch để đón rước Chúa.
Thật ra danh từ Chúa không phải là có một ông
chúa tể ở trên, cũng như cuộc đời này không phải là
một cây thước dài có nấc từ thấp đến cao. Sự thật là
một người khi gọt rửa tâm hồn mình rồi nhìn ra tấtcả
không có vật nào không linh cũng không vật nào
linh. Chừng đó mới thấy tất-cả ở trên một thực thể
lạ lùng tùy theo duyên biến hiện một cách thích thú
; mà chính mình lại là nó. Rổi hễ mình nhìn bằng
hướng linh thì cục đá cục gạch cũng linh, nhìn bằng
hướng không linh thì cái gì cũng không linh. Nên
vấn đề linh với không linh tùy theo chỗ dùng. Mấy
ông thầy phù thủy có thể trổ một khúc cây thành
một cái đầu có 4 mặt xanh, đỏ, trắng, vàng. Đem đặt
lên bàn thờ, mỗi ngày đốt hương cúng, đọc thần
chú. Qua 2,3 năm bất thần một tuần lễ không cúng
thì rồi sẽ biết nó ! – Nó vốn không phải là con đẻ
của mình đó sao ! Chuyện đó giản dị quá !
Nên nếu không biết tận nguồn cội như vậy thì danh
từ Phật, Chúa, hay Thượng Đế … đều là những liều
thuốc độc mình nuốt vào không tiêu mà hại lại
mình. Còn nếu biết quay trở vào trong thấy được sự
thật thì muốn gọi bằng gì cũng được, chẳng sao !
* Hỏi : Bực đại Bồ-Tát do giữ 3 tụ tịnh giới, 6 Ba-
La-Mật mới được thành Phật. Nay ngài bảo người tu
chỉ quán tâm chẳng tu giới hạnh làm sao thành
Phật?
Đáp : Ba tụ-tịnh-giới tức là chế ngự cái tâm ba độc
đó. Chế ngự 3 độc thành vô lượng pháp thiện tụ.
Chữ tụ là gom lại ; vô lượng pháp thiện đều tụ nơi
tâm nên gọi là 3 tụ-tịnh-giới. Còn nói 6 Ba-La-Mật
nghĩa là 6 tịnh căn ; vì 6 căn thanh tịnh chẳng nhiễm
6 trần tức là qua được sông phiền-não đến bến Bồ-
Đề, nên gọi là 6 Ba-La-Mật.
Nghĩa là hằng ngày chúng ta phải dùng con mắt,
mỗi khi có ý thức thấy một cái gì nghĩa là cái đó ở
sâu trong lòng chúng ta đã từng thấy rồi. Cũng như
ông thổi kèn thấy thằng bé ăn me mà không thổi
được, là bởi đã qua ông từng nếm vị me, thấy trái
me. Hột giống của quá khứ còn đủ trong lòng chúng
ta, để mỗi khi gặp đúng hình bóng đó đi qua lập tức
hột giống đó sống lại, chúng ta lôi cái cũ trong bụng
ra để chồng thêm vào cho cái mới. Đó là điều rất
quan hệ. Nên mắt chúng ta có nhìn thấy sắc cũng
chỉ là chuyện tự nhiên, sắc đầu thể làm đắm mình
được. Chỉ có chúng ta đem ý niệm chồng thêm lên
để đi theo nó nên mới bị đắm sắc. – Nên phải làm
thế nào tôi nhìn vật gì là y nguyên vật đó, đừng
thêm ý niệm gì nữa thì tự nhiên vật không hút tôi
được. Qua 6 căn : tai mắt miệng mũi thân ý đều giữ
như vậy thì chuyện hết thành vấn đề. Còn nếu
không giữ được vậy thì chúng ta hoàn toàn bị động
hút theo ngoại cảnh.
Chính tôi thấy có một bà già tuổi độ 50, nghèo
phải đi làm mướn. Một hôm vo gạo nấu cơm chiều,
sửa soạn đem bắc lên bếp, bỗng nghe tiếng Út-TràÔn
từ máy phát thanh cất giọng đưa một câu hát rao
thật mùi để quảng cáo cho tuồng hát tối. Tiếng ca
xuống giọng bà cũng theo đó ríu-ríu đặt nồi cơm
xuống đất, vội đi vay tiền để đêm đến đi gặp Út-
Trà-Ôn.
Khi chưa đi tu, tôi có được xem một vở hài kịch do
ông Trần-văn-Trạch đóng. Ông mặc một bộ đồ 4, 5
thứ kiểu, quần áo xốc-xếch, mặt mày tùm lum ; ông
ca một bài gồm 4, 5 thứ tiếng, diễn vai một người
mang thân chạy giặc đến ở mướn nhà người ta. Gặp
trúng nhà ông nghệ sĩ có tài nhưng nghèo mạt kiếp.
Ở mấy tháng rồi mà không được lãnh tiền lương,
anh buồn muốn bỏ đi. Mỗi lần ngỏ ý thì ông nghệ sĩ
đem đàn ra đánh. Nghe tiếng nhạc ông lại đi không
được, đành ở lại ! Ông nhạc sĩ đánh đàn, ông Trầnvăn-
Trạch bị hút theo âm điệu, bộ tướng cũng rung
chuyển theo. Ở hàng ghế khán giả, một ông Pháp
cũng bị hút theo điệu bộ ông Trần-văn-Trạch, ngồi
trên ghế mà rung mình theo điệu nhạc. nước mắt
nước mũi chảy tùm lum mà không hay ; làm cho tôi
cũng phải một bữa cười gần đứt ruột ! Chuyện bị
hút là vậy. Nếu không bị sức hấp dẫn của ngoại
cảnh đối với 6 giác quan tức là chúng ta đã được tự
tại.
* Hỏi: Như kinh nói : ba tụ-tịnh-giới là thệ dứt tất cả
nghiệp ác ; nguyện tu tất cả việc thiện ; nguyện độ
tất cả chúng sanh. Nay chỉ nói chế ngự cái tâm 3
độc há chẳng không hợp đó sao ?
Đáp: Phật nói ra điều gì là chân thật, bực Đại-Bồ-
Tát trong nhân tu hành của quá khứ là đối ba độc
phát ba thệ nguyện giữ tất cả tịnh giới.
Nghĩa là phát lòng thệ nguyện để phá trừ ba độc.
thí dụ nói : tôi bằng lòng giúp đỡ tất-cả người nghèo
khó. Thế là hồi đó tôi đã có một thái độ để đối trừ
lòng keo kiết. Còn nếu tôi nghĩ rằng giúp đỡ người
nghèo khó để kiếp sau tôi được hưởng cái gì ; thì
không những hồi đó tôi không đối trừ được lòng keo
kiết mà tôi còn chồng thêm một lòng tham kiểu mới
bằng cách mua bán.
* Đối với tham thì nguyện dứt các điều ác, thường
tu các điều thiện. Đối với sân thì nguyện độ tất-cả
chúng sanh, nên thường tu huệ. Đối với si nhờ hành
trì 3 pháp tịnh Giới Định Huệ ấy nên có thể siêu 3
độc mà thành Phật. Các ác tiêu diệt gọi là đoạn. Vì
hay giữ được 3 tụ-tịnh-giới thì các thiện đều đủ, gọi
đó là tu.
Nghĩa là không phải cạo trọc, ăn chay ở chùa mới
là tu. Nhưng tôi nói vậy không phải là xúi người ta
ăn mặn. Sự thật hễ quay trở vào thì tất-cả pháp thiện
đều hiện, tự nhiên vậy. Thế mới gọi là tu.
* Vì hay dứt ác tu thiện thì vạn hạnh thành tựu,
mình người đều lợi, giúp khắp quần sanh, nên gọi là
giải thoát.
Thưa, tất-cả vạn pháp trên thế gian này như một
con dao 2 lưỡi, hễ có bề lợi tất có bề hại. Hễ tham
bề lợi thì phải lãnh luôn bề hại. Cũng như hễ may
đối với phe này thì rủi đối với phe kia, rủi ở phe này
thì may đối với phe kia vậy. Nên làm cách nào để
cho tất-cả đều có lợi mà không có hại thì mới là
chánh pháp. Muốn được thế thì chỉ có cách quay trở
vào mình là hay nhất.
* Thế mới biết giới hạnh để tu ấy chẳng lìa tự tâm.
Nếu tự tâm thanh tịnh thì tất-cả cõi Phật đều thanh
tịnh.
Nói cách khác, hễ tâm thanh tịnh thì có cõi Phật ;
tâm không thanh tịnh thì không có cõi Phật. Hay có
thể nói hễ tâm chúng sanh còn sạo sục thì không có
thánh hiền ở đâu mà tìm ; hễ tâm hết sạo sục thì
chính mình là thánh hiền, và nhìn ra ai là thánh hiền
ai là phàm tục tức khắc biết. Nếu tâm chúng ta còn
sạo sục thì tự nơi mình còn không thể biết làm gì
biết được ai !
Nên hỏi quỉ thần là gì, và quỉ thần có thiệt hay
không sao bằng hỏi : mình là gì? Mình có thiệt hay
không ? - Nếu biết được vậy thì biết được quỉ thần.
Nếu không biết được mình là gì thì hỏi quỉ thần làm
sao biết !- Cũng như có người hỏi Khổng Tử : chết
rồi ra sao ? Ông hỏi lại : Sống ra sao ? Đáp : không
biết. Khổng Tử mới nói : Sống còn không biết làm
sao biết chết !
Nên khi tâm còn sạo sục thì không thể sống bình
yên được.
* Nên kinh nói : hễ tâm dơ bẩn thì chúng sanh dơ
bẩn, tâm trong sạch thì chúng sanh trong sạch.
Nói một cách khác hơn, khi trong tâm tôi nổi lên ý
muốn ăn trộm thì nguyên con tôi chỗ nào cũng là ăn
trộm, mỗi tế bào tôi đều có mùi ăn trộm. Khi trong
tâm tôi khởi lòng thánh hiền thì mỗi tế bào tôi đều
có mùi thánh hiền.
* Muốn được cõi Phật phải tịnh cái tâm, tùy cái tâm
tịnh thì cõi Phật tịnh, ba tụ-tịnh-giới tự nhiên thành
tựu.
“Cõi” là ở đâu? Nếu chỗ này không phải là tôi ở
đây thì quí ngài đâu có tới đây. Mà nếu tôi là ông
chăn vịt ở đây thì tự nhiên chỉ có đám chăn vịt với
tôi.
* Hỏi : Như kinh nói : 6 Ba-La-Mật cũng gọi là 6
độ. Nay nói 6 căn thanh tịnh gọi là Ba-La-Mật vậy
chỗ dung thông phải như thế nào ?
Đáp : Muốn tu 6 độ phải tịnh 6 căn, trước hàng
phục 6 kẻ giặc … Hễ xả được giặc mắt, đừng đắm
theo sắc thì gọi là Bố thí. Ngăn được giặc tai, đừng
đắm theo âm thinh thì gọi là giữ giới. Phục được
giặc mũi, không đắm theo mùi thì gọi là nhẫn nhục.
Chế được giặc miệng, không tham theo vị, không
đắm theo giọng, không buông lung theo nói năng
tạp loạn thì gọi là tinh tấn. Hàng được giặc thân,
chẳng đắm theo xúc dục - Rỗng rang chẳng động,
gọi là Thiền-định. Điều phục được giặc ý, chẳng
thuận với vô thường, thường tu giác huệ, gọi là tríhuệ.
Độ nghĩa là chuyên chở. Sáu độ ví dụ cũng như
đò, có thể đưa chúng sanh qua bờ sông bên kia nên
gọi là 6 độ.
Nghĩa là có thể giúp cho chúng ta từ mê sang giác.
* Hỏi : Kinh nói đức Thích Ca khi còn làm Bồ-Tát
đã từng uống 3 đấu 6 thăng sữa mới thành Phật (3
đấu 6 thăng : hơn 3 lít rưỡi). Trước nhờ uống sữa rồi
sau mới chứng quả, há chỉ quán tâm mà được giải
thoát ư ?
Đáp: Đúng thế ! đúng thế ! Phải trước uống sữa rồi
sau mới thành Phật. Nhưng phải biết sữa có hai thứ.
Thứ sữa Phật uống đây không phải là sữa trâu, sữa
bò, sữa dê của thế gian đâu, mà là thanh tịnh pháp
nhũ đó ! Ba đấu tức là 3 tụ-tịnh-giới, 6 thăng là 6
độ. Thành Phật phải nhờ uống thứ sữa pháp thanh
tịnh như thế mới chứng được quả. Nhưng phải biết
đây là một cách nói kín. Nếu hiểu Như-Lai uống các
thứ sữa vật chất thế gian thì thật là lầm lắm ! Chân
như vốn tự là pháp thân vô lậu bất hoại, lìa hẳn tấtcả
các cái khổ thế gian, há lại phải nhờ vật chất bất
tịnh thế gian để khỏi đói khát ! Trong kinh có nói :
thứ bò này chẳng ở cao nguyên, chẳng ở đất thấp,
chẳng ăn lúa cám, chẳng cùng loại bò bô nhập bầy,
màu lông vàng ánh tia. Chữ bò ở đây là để ám chỉ
cho Phật Tỳ-Lô-Giá-Na, vì lòng từ bi rộng lớn,
thương xót tất-cả chúng sanh, nên từ trong pháp thể
thanh tịnh xuất hiện ra thứ sữa pháp 3 tụ tịnh giới và
6 độ vi diệu như thế đề mà nuôi dưỡng cho tất-cả
những ai cầu giải thoát.
Đây là những đoạn dùng ẩn ngữ trong kinh nhà
Phật. Có những ví dụ rất lạ : ông Phật ví với con bò,
Bồ-Tát ví với con sư tử. Có rất nhiều cách nói, nếu
không hiểu được ý muốn nói thì chúng ta cứ chạy
theo ví dụ thôi.
* Cái nghĩa bò và sữa thanh tịnh như thế không
những Như-Lai uống vào là được thành đạo, mà dẫu
cho ai uống vào cũng đều được đạo Vô Thượng Bồ-
Đề cả.
Ý muốn nói nếu là 3 tụ-tịnh-giới và 6 Ba-La-Mật
thì ai cũng cần.
* Hỏi : trong kinh nói : Phật dạy chúng sanh cất
chùa, đúc vẽ hình tượng, thắp hương đèn, rải hoa,
ngày đêm 6 thời quanh tháp hành đạo, ăn chay lễ bái
; làm hết thảy công đức ấy đều được thành đạo. Nếu
chỉ quán tâm nhiếp hết các hạnh, như thế té ra bao
nhiêu chuyện kinh nói đều thành hư luống sao ?
Đáp: Phật có nói ra điều gì đều là vô lượng phương
tiện vì tất-cả chúng sanh ngu tối, căn cơ thấp kém
chẳng tỏ nghĩa lý sâu mầu, nên mới mượn việc thế
gian hữu vi để mà thí dụ. Nếu chẳng lo tu hạnh ở
trong, chỉ chạy ra ngoài mà cầu hy vọng được
phước thì thật là vô lý. Nói chùa cũng như nói nơi
thanh tịnh. Nếu dứt trừ 3 độc, thường tịnh 6 căn,
thân tâm rỗng lặng, trong ngoài thanh tịnh, đó là
nghĩa cất chùa. Còn nói đúc vẽ hình tượng là nói tấtcả
chúng sanh mong cầu đạo quả ; cách hạnh giác
để tu là phỏng theo chân dung diệu tướng cuả Như-
Lai, chớ đâu phải nói chuyện hữu vi vật chất. Cho
nên người cầu giải thoát phải lấy thân làm lò, dùng
pháp làm lửa, dùng trí huệ làm thợ khéo, 3 tụ-tịnhgiới
6 độ là khuôn. Ung-đúc chơn như tánh Phật
trong thân cho vào khuôn giới luật.
Nếu kỉnh nhận thực hành đừng cho sai chạy, tự
nhiên thành tựu. Còn nói tượng chân dung là nói
pháp thân thường trụ, vi diệu cứu cánh, chớ không
phải cái thân hữu vi bại hoại. Nếu người cầu đạo
chẳng rõ cái nghĩa ung đúc như thế, vậy vẽ chân
dung bằng cứ nơi đâu mà nói là công đức ?
Nghĩa là tận cùng nguồn tâm tánh của mình thì gọi
là chân dung.
* Còn nghĩa thắp hương cũng vậy ; là thứ hương
chánh pháp vô vi, xông lên để tẩy sạch các uế
nghiệp ác vô minh, hết thảy đều tiêu diệt. Hương
chánh pháp có mấy thứ : Một là hương Giới, nghĩa
là ý nói hay dứt các ác, hay tu các điều thiện. Hai là
hương Định, nghĩa là tin sâu Đại Thừa, tâm không
thối chuyển. Ba là hương Huệ, là thường quán sát
trở vào trong tự thân tâm. Bốn là hương Giải Thoát,
là dứt hết cả vô minh trói buộc. Năm là hương Giảithoát-
tri-kiến, là xét soi thường tỏ, thông suốt không
ngại. Năm thứ hương như thế gọi là hương tối
thượng, thế gian không sánh được. Phật ở thế gian
bảo các đồ đệ dùng lửa trí huệ đốt thứ hương vô giá
này để cúng dường mười phương chư Phật.- Chúng
sanh đời nay chẳng rõ nghĩa chơn thật của Như-Lai,
chỉ dùng lửa ở ngoài mà thắp các thứ hương vật chất
thế gian để mong cầu phước báo làm kết qủa.
Còn nghĩa rải hoa cũng vậy, là nói công đức đem
chánh pháp mà giảng dạy lợi ích chúng sanh, thấm
nhuần khắp tánh chơn như, bố thí trang nghiêm.
Thứ hoa công đức này Phật thường khen ngợi, cứu
cánh hằng còn không bao giờ héo tàn. Nếu ai rải hoa
như thế sẽ được phước báo vô lượng - Nếu nói Phật
dạy chúng sanh cắt xén bông hoa, tổn thương thảo
mộc cho được hoa để rải thì thật là vô lý. Vì sao thế
? Vì người giữ giới thanh tịnh thì tất-cả sum la vạn
tượng trong trời đất cũng không xúc phạm. Khi lầm
phạm còn có ăn năn thay huống chi là dạy cổ phá
tịnh giới, tổn thương vạn vật để cầu phước báo ;
muốn lợi lại hại, há có như thế sao ?
Lại nữa nói luôn luôn đốt đèn sáng là ý nói cái tâm
chánh giác tỏ suốt ví cũng như đèn sáng. Cho nên ai
muốn cầu giải thoát phải lấy thân làm đài, tâm làm
tim, các giới hạnh làm dầu, trí huệ tỏ suốt làm lửa.
Thường thắp đèn chơn chánh giác, chiếu phá tất-cả
vô minh ngu tối, hay dùng pháp này lần lượt khai thị
lẫn nhau tức là một ngọn đèn mổi ra trăm ngàn ngọn
; cứ như thế mãi mãi vô cùng, nên gọi là Vô-tậnđăng.
Đúng nghĩa Thiền là phải như vậy. Rõ-ràng lắm !
* Xưa có Phật tên là Nhiên Đăng, ý nghĩa Nhiên
Đăng là thế. Chúng sanh ngu si chẳng rõ lối nói
phương tiện của Như-Lai, luống làm theo sự, đam
chấp việc hữu vi ; bèn dùng các thứ đèn dầu thế gian
đốt lên luống soi nhà trống, rồi bảo là làm đúng theo
kinh, há chẳng lầm lắm sao ? Vì sao thế ? – Vì Phật
phóng một đạo hào quang trắng ở giữa hai chơn
mày, có thể chiếu suốt 18 ngàn cõi nước phương
Đông, há đợi nhờ đèn dầu thế gian leo nheo như thế
để làm lợi ích ! Gẫm xét cái lý phải chẳng thế sao !
Sự thiệt trí huệ thì vốn vô lượng vô biên.
* Lại nữa, 6 thời hành đạo nghĩa là nói nơi 6 căn
luôn luôn thực hành đạo Phật, tu các hạnh giác.
Điều phục 6 căn, mãi mãi không hở, gọi là 6 thời.
Còn quanh tháp hành đạo, chữ tháp nơi đây là ám
chỉ cho thân tâm đó ! Nghĩa thường sanh giác huệ
tuần sát thân tâm luôn luôn chẳng hở, gọi là quanh
tháp. Các bực thánh đã qua đều nhờ thực hành cách
ấy mà được Niết-Bàn. Người đời nay chẳng rõ lý
này, chẳng thực hành nơi tâm, chỉ chấp trở ra mà
tìm, đem cái thân chướng ngại đi quanh tháp thế
gian ngày đêm lũ lượt, luống uổng nhọc công, đối
với chơn tánh không chút lợi ích. Còn nói ăn chay
lại phải càng thêm để ý, nếu chẳng rõ lý này thì
càng nhọc công vô ích. Chữ chay ở chữ Hán là chữ
Trai, mà chữ Trai lại từ chữ Tề mà biến, nhưng chữ
Tề cũng như nghĩa chữ Bình. Nghĩa là tề bình thân
tâm, chẳng để tán loạn.- Chữ ăn nơi đây cũng như
nghĩa chữ giữ. Nghĩa là giữ các giới hạnh, đúng
phép tu hành. Ở ngoài phải ngăn ngừa 6 tình, ở
trong phải chế ngự 3 độc, siêng giác sát, tịnh thân
tâm, biết rõ nghĩa này mới gọi là ăn chay.
Thưa, nói vậy không phải là biều đừng ăn chay.
Nhưng muốn nói chúng ta đừng ỷ lại vào việc ăn
chay để mong một lát nữa thành cái gì, như thế
không phải.
* Lại nữa, chữ ăn ở đây có 5 nghĩa:
Một, ăn bằng vui với pháp, nghĩa là giữ y chánh
pháp hoan hỷ vâng làm.
Hai, ăn là vui với Thiền-định, nghĩa là trong ngoài
lặng suốt, thân tâm vui đẹp.
Ba là ăn bằng suy nghĩ, nghĩa là thường nghĩ chư
Phật lòng miệng như nhau.
Bốn là ăn bằng nguyện, nghĩa là đi đứng nằm ngồi
thường cầu nguyện lành.
Năm là ăn bằng giải thoát, nghĩa là tâm thường
thanh tịnh, chẳng nhiễm tục trần.
Năm nghĩa ăn này gọi là ăn chay. Nếu ai chẳng
nhận 5 nghĩa chay tịnh này mà tự hào là ăn chay đều
là làm việc vô lý. Cần nhứt phải dứt cho được cái ăn
mê muội. Nếu phải va chạm gọi là phá trai.
Ăn mê muội nghĩa là thí dụ nghe nói ăn sáng là
chư thiên ăn, trưa là Phật ăn, chiều là súc sanh ăn,
tối là ma quỉ ăn ; nghe thế rồi bữa trưa ráng ăn thật
no để chiều khỏi đói, ăn rồi nằm thở. Như vậy mới
thật là súc sanh ăn !
* Nếu đã phá trai sao gọi là được phước ? - Đời có
người mê chẳng rõ lý này, thân tâm phóng túng theo
các nghiệp ác, tham dục, buông tình, chẳng biết xấu
hổ. Chỉ ăn được ba thứ rau cải rồi tự hào là ăn chay
thì thật là phi lý.
Còn nói lễ lạy đúng theo phép thì ở trong phải tỏ
thông lý thể, ở ngoài thì sự tùy quyền thông. Lý có
khi phải hiện, có khi phải ẩn. Biết được nghĩa như
thế mới gọi là y theo pháp. - Vả chăng lễ nghĩa là
kỉnh, lạy nghĩa là phục. Nghĩa là cung kỉnh chơn
tánh, hàng phục vô minh ; đó là lễ bái. Nếu có thể
dứt trừ lòng ác, thiện niệm hằng giữ ; tuy chẳng hiện
tướng, nhưng đó mới thật là lễ lạy.
Nghĩa là lạy để phá cái kỳ khôi ngã mạn chớ
không phải lạy để cầu xin, chúng ta dùng pháp chớ
không phải để pháp nó dùng.
* Tướng là pháp tướng. Thế Tôn muốn làm cho
người đời tỏ lòng khiêm tốn cũng là lễ lạy. Nên phải
ở trong khuất phục, ngoài hiện khiêm cung ; nêu cái
bên ngoài để rõ bên trong, tánh tướng như nhau.
Nếu không căn cứ trên pháp lý, chỉ chấp tướng bên
ngoài mà cầu, trong thì mở cửa 3 độc, thường làm
nghiệp ác, ngoài làm ra tướng ghê gớm, trá hiện oai
nghi, chẳng khỏi luân hồi, há thành công đức ? !
Hỏi : Như kinh Ôn-Thất nói : Tắm gội chúng tăng
phước đức vô lượng. Đó là rõ ràng dựa vào sự pháp
mới thành công đức ; nếu là quán tâm có thể tương
ưng được sao ?
Đáp : Nói tắm gội chúng tăng cũng chỉ là một thứ
ẩn ngữ, chớ phải đâu bảo làm theo sự tướng thế gian
! Đức Thế-Tôn thường vì các đệ tử mà giảng kinh
Ôn-Thất để cho thọ trì phép tắm gội, nên mượn việc
thế gian để ví dụ. Mật nói công đức của 7 việc cúng
dường như sau đây : 1 là nước trong, 2 là nhúm lửa,
3 là xà phòng (chất tẩy), 4 là bàn chải, 5 là phấn bột,
6 là dầu ướp, 7 là áo lót. Dùng 7 việc này để ví dụ
cho 7 pháp. Tất cả chúng sanh theo 7 pháp tắm gội
trang nghiêm này, thì có thể trừ được tâm độc vô
minh dơ bẩn. Bảy pháp ấy là :
1) Dùng tịnh giới gội rửa mê lầm cũng như dùng
nước trong gội rửa bụi bặm.
2) Dùng trí huệ quán sát, trong ngoài sáng suốt
cũng như nhúm lửa nấu nước trong.
3) Lừa lọc các điều ác, cũng như xà phòng rửa
sạch dơ bẩn.
4) Chơn thật dứt trừ vọng tưởng, cũng như bàn
chải hay làm sạch miệng hôi.
5) Chánh tín quyết định không nghĩ cũng như
phấn bột dùng để xoa trong thân có thể ngăn
ngừa các chứng phong ngoại cảm.
6) Nhu hòa nhẫn nhục, cũng như dầu ướp làm
thông nhuận mặt da.
7) Biết hổ thẹn ăn năn các nghiệp ác cũng như
áo lót mình để che khuất bớt các chỗ bất tiện
trong cơ thể.
Bảy pháp vừa nói trên là nghĩa bí mật trong kinh.
Lúc đó Như-Lai vì các bực đại thừa lợi căn mà nói,
chớ đâu phải vì phàm phu trí kém mà nói đâu ! Đó
là chỗ người nay không thể rõ. Còn nghĩa Ôn-Thất
cũng là ám chỉ cho thân đó. Cho nên nhúm lửa trí
huệ, nấu nước tịnh giới để tắm gội chơn như tánh
Phật trong thân. Thọ trì 7 pháp để tự trang nghiêm.
Hạng Tỳ-Kheo lúc đó thông minh lanh lợi đều ngộ
ý thánh, theo chỗ nói mà tu hành, công đức thành
tựu, đều chứng quả thánh. Chúng sanh đời nay
không rõ tự sự, đem nước thết gian để tắm rửa cái
thân tứ đại mà tự cho là làm theo kinh ; như thế há
chẳng lầm lắm sao ! Vả lại tánh Phật chơn như đâu
phải thứ có hình ; phiền-não bợn nhơ bổn lai không
tướng. Há có thể đem nước vật chất để gội rửa cái
thân vô vi được sao ? Trên sự đã chẳng tương ưng
làm sao ngộ được đạo ! Nếu muốn thân được tịnh,
phải quán thân này vốn từ tham dục hôi hám dơ bẩn
sanh ra, trong ngoài đầy dẫy ; thế mà muốn gội rửa
cho thân này được sạch thì nào có khác chi rửa
đường mương. Chỉ đừng có đường mương thì mới
sạch cho. Cứ theo đây mà nghiệm thì đủ rõ tắm gội
bên ngoài không phải là ý của Phật vậy.
Hỏi : Kinh nói chỉ chí tâm niệm Phật tất được vãng
sanh về cõi Cực Lạc, chỉ một môn này là được
thành Phật, đâu cần phải quán tâm để cầu giải thoát
? !
Đáp : Niệm Phật nghĩa là phải niệm chánh. Nghĩa
rốt ráo mới là nghĩa chánh, chẳng rốt ráo là tà. Nếu
niệm chánh tất được vãng sanh, niệm tà làm sao đến
được. Phật nghĩa là giác, nghĩa là giác sát thân tâm
đừng để khởi ác. Niệm nghĩa là nhớ, nghĩa là giữ
giới hạnh, đừng vọng tinh tấn. Cần rõ nghĩa như thế
mới gọi là niệm. Nên biết niệm ở nơi tâm, chớ
chẳng phải ở miệng, mượn ngôn ngữ để cầu ý, được
ý phải quên lời. Đã nói niệm danh hiệu Phật cũng
phải biết cái đạo niệm Phật. Nếu tâm không thật,
miệng niệm danh hiệu suông, 3 độc lẫy lừng, chấp
mình chấp người cả bụng ; dùng cái tâm vô minh
vọng cầu thấy Phật luống uổng tốn công. Đến như
tụng với niệm cũng khác nhau. Ở miệng gọi là tụng,
ở tâm gọi là niệm. Nên biết niệm từ tâm khởi, gọi là
môn giác hạnh. Còn tụng ở miệng là tướng âm
thanh, chấp tướng cầu lý thật là không phải. Phải
biết các thánh xưa tu hành đều không phải nói bên
ngoài, mà luôn luôn phải lấy tâm làm chủ, vì tâm là
nguồn cội vạn pháp, tâm là chủ của muôn đức, vắng
lặng thường vui đều bởi ngừng vọng. Ba cõi luân
hồi cũng từ tâm khởi, tâm là cửa của cuộc đời, tâm
là bờ giải thoát. Biết được cửa tâm rồi lo gì khó
thành ! Thấy được tâm rồi lo gì chẳng đạt ! Người
nay thấy biết nông nổi, chỉ biết sự tướng làm công,
hao phí của cải, tổn thương vạn loại. Luống công
xây đắp, gom nhóm vật liệu, vẽ vời rằn ri đem hết
tâm lực, tổn mình mê người, chưa biết tỉnh ngộ có
đâu sợ khó. Hễ thấy việc hữu vi thì nôn nao mê
đắm, còn nói đến vô tướng thì trơ trơ như mê. Chỉ
tham kế quả nhỏ nhen hiện tại ; chớ biết đâu cái khổ
biển cả sau này. Tu học như thế luống thêm nhọc
sức, trái chánh theo tà, vọng nói được phước. Nếu
chỉ có thể nhiếp tâm soi trở vào trong, giác quán ở
ngoài cho tỏ, dứt trừ 3 độc, đóng hết 6 cửa giặc
đừng cho nhiễu loạn ; tự nhiên vô lượng công đức,
bao thứ trang nghiêm, vô số pháp môn đều được
thành tựu, siêu phàm chứng thánh, tận mặt sát một
bên, ngộ trong giây lát, đâu đến nỗi khó khăn. Môn
chơn thật nhiệm mầu đâu thể nào trình bày hết. Nơi
đây chỉ thuật sơ về quán tâm, nói rõ ra chút ít vậy
thôi.
Kệ rằng:
Ta vốn cầu tâm tâm tự gìn
Cầu tâm chẳng được để tâm minh
Tánh Phật chẳng từ ngoài tâm được
Tâm sanh chính là lúc tội sanh
Ta vốn cầu tâm chẳng cầu Phật
Rõ biết ba cõi rỗng – không, suốt
Nếu muốn cầu Phật chỉ cầu tâm,
Chỉ tâm này, tâm này là Phật.
Luận Phá-Tướng đến đây là hết.
Thưa quí vị thiện hữu ! nghe qua 3 thiên luận rồi,
tôi chỉ mong chúng ta nên nhìn và kiểm điểm lại
cuộc tu hành của tất-cả chúng ta ngày nay là đúng
hay sai, và 3 thiên luận này có hợp lý hay không để
chúng ta chỉnh đốn lại cuộc sống đạo của chúng ta.
Sanh tử đối với biển cộng nghiệp ngày nay không
thể là chuyện trò đùa, chẳng ai thay thế cho ai được
cả. Mong tất-cả chúng ta nên nghĩ lại.
*
* * * *
HỘI TÔNG TỰ
Kết tập xong ngày 15-12 Qúy Sửu
- (1973) P.L 2517 -