Thứ Ba, 18 tháng 6, 2013

BỒ ĐỀ ĐẠT MA QUÁN TÂM PHÁP - THÍCH MINH THIỀN phần 5

TUẦN THỨ SÁU
2 – 7 – 1972 (22 – 5 N. Tý)
THIÊN THỨ BA
LUẬN PHÁ TƯỚNG
Tôi rất bằng lòng ở điểm chúng ta - với một con
người rất bình thường – cùng nhau tột bực chân thật
để học hỏi. Với tôi, tất-cả những cái lạ xin gạt qua
hết. Nếu tôi chuộng cái lạ thì giờ đây cũng có vô số
người theo tôi. Nhưng đó là người ta theo cái lạ chớ
không phải theo tôi, cũng không phải theo Đạo.
Cũng như một người có thế lực thì có nhiều người
bon chen đi theo, đó là họ dong ruỗi theo thế lực
chớ không phải tìm Đạo. Do đó tôi bằng lòng với
việc tột bực chân thật với một con người bình
thường, xác thịt, nói chuyện về vấn đề con người, về
vấn đề sống mà không chen một chút xíu gì gọi là
cầu kỳ lạ lùng hết. Nên hễ ai chuộng cái thực thì đến
đây cùng học hỏi, không thích cái thực thì lần hồi
người ta sẽ tản đi. Ở đây tôi luôn luôn chỉ nhắm vào
sự thật mà nói.
Giờ đây chúng ta bắt đầu vào thiên thứ ba:
* Luận rằng : Ví có người hỏi : Nếu muốn cầu Đạo
phải tu cách nào cho đưọc chóng tắt nhất ? Đáp: chỉ
có pháp quán tâm nhiếp hết các pháp là chóng tắt
nhất.
Chữ “quán tâm” ở đây cũng như chữ soi trở vào
trong của Lục-Tổ vậy. Tất cả kinh điển nhà Phật,
ngàn kinh muôn pháp chung qui chỉ có pháp quay
trở vào trong chính con người của mình là pháp đi
thẳng chóng tắt nhất.
Con người sở dĩ khác hơn các loài thú-vật chẳng
qua chỉ là việc biết trở vào với chính con người của
mình. Nên nếu sợ quay về với chính con người của
mình, nghĩa là sợ giáp mặt với sự thật ; lẽ cố nhiên
là mình đã chấp nhận một cuộc sống chồng chất
kiến thức. Thế thì con người cũng là một sinh vật rất
đầy đủ khả-năng hơn tất-cả các sinh vật khác mà
thôi. Do đó con người cũng như con dao hai lưỡi,
như gươm bén, nếu không biết dùng vào việc lợi ích
lẽ tất nhiên sẽ dùng vào việc tai hại. Nên nếu con
người không trở về với mình thì so với các loài vật
khác còn thú vật hơn nhiều lắm. Đó là điều rất dĩ
nhiên không ai chối cãi được. Bằng cớ là bây giờ
chúng ta có thể nào tưởng tượng được ở trong loài
vật chưa hề có những thái độ đối đãi với nhau như
loài người đối đãi với loài người. – Con vật cấu xé
nhau bất qúa là một con cắn chết một con, còn loài
người có thể một người giết hằng triệu người. Cũng
như chỉ có con người mới đè cổ con gà con vịt cắt
cổ mà khấn :”Con gà con vịt ở dơ ở dáy đầu thai
kiếp khác làm ăn”. Loài vật không có kiểu đó. Nên
biết khi bộ óc con người phát triển qúa mạnh mà
không biết trở về với con người của mình, thì con
người sẽ thú vật hơn con thú nhiều lắm. Nhưng thú
vật dưới một hình thức mới mẻ, nên chúng ta nhìn
thấy bề ngoài cũng hấp dẫn như thường !
Do đó vấn đề trở lại với lòng không phải là việc
riêng của chùa chiền hay của ông Giáo-Chủ nào cả,
mà cũng không có ai là người đầu cơ được. Đó là
việc bổn phận của mỗi người đều phải làm như vậy.
– Và theo tôi, ý nghĩa của bổn phận một con người
hay bổn phận một công dân ít ra phải nhắm vào
điểm đó mới có nghĩa thật. Nên đối với ngày xưa,
trở về với con người của mình gọi là tu là điều
chánh pháp nhất. Vì đối với ngày xưa, nghiệp chung
còn nhẹ hơn nghiệp riêng, và con người ở xứ nào
sống theo xứ ấy. Nhưng ngày nay nghiệp riêng của
mỗi người đã nặng quá rồi, mà nghiệp chung lại
càng nặng hơn. Quả địa cầu trở nên vô cùng bé nhỏ
với thế vật chất năm châu họp chợ, tinh thần thì sát
mặt nhau mà lòng vẫn cách muôn trùng biển cả. Do
đó, theo tôi vấn đề trở về với mình là một điều
không ai được quyền chểnh mảng hết cả. - Nếu ai
đã chán ngán vấn đề giặc giã rồi thì phải như vậy.
Nhưng nếu còn sợ giặc, còn than khổ, mà sợ việc
trở về với mình, thế thì bất qúa là mình nói láo với
mình mà thôi, chẳng có sự thật chút nào hết. Nên tôi
thường hay đặt câu hỏi : “Có thể nào chúng ta vẫn
ăn uống, đi đứng, vẫn phát minh học hỏi … mà vẫn
không bị vướng vào vòng tục lụy được không ?” Đó
là câu hỏi từ trước tới giờ tôi thường nêu ra.
Còn vấn đề tôn giáo tín ngưỡng, theo tôi đối với
ngày nay nó đã đi đến chỗ cùng đường. Nhưng bởi
cái thế lười biếng của loài người chỉ thích nằm nhà
thương, thích uống thuốc ngủ, do đó vẫn còn hấp
dẫn đối với phần đông. Nhưng ở trong cơ vật chất
năm châu họp chợ, với lòng người cạn cợt, thì vấn
đề tôn giáo tín ngưỡng đã mãn nhiệm kỳ. Vì sao
thế? Vì qủa địa cầu càng hẹp, tôn giáo tín ngưỡng
càng giáp mặt nhau, thì sẽ chóng đi đến chiến tranh
cuối cùng cũng như bệnh tật cuối cùng. Tôi thường
hay nói : Cuối cùng con người phải lãnh hai hiện
tượng : một là bịnh ung thư tổng thể, hai là chiến
tranh tôn giáo, chiến tranh ý thức hệ ; đó là chưa kể
nạn nước lụt, lửa cháy và bão.
Phương chi, nếu chúng ta chịu khó tưởng tượng :
mỗi người chúng ta trên quả địa cầu này nếu cùng
xuất gia đi tu hết , thì rồi sẽ cũng phải trở về với
cảnh nhà ai nấy ở, và mỗi người cũng phải tự làm tự
sống. Khi xưa tôi chưa đi tu, tôi nhớ có một người
hỏi một vị đại đức : Nếu trọn hết thế gian này đều tu
thì cõi này thành ra cõi chết thì sao? Vị đại đức nói :
điều đó là tưởng tượng chớ không bao giờ có thật
được. Trả lời như thế là cũng có lối thoát, nhưng
không phải là lưu thông. Chớ sự thật mỗi người đều
cùng xuất gia thì mỗi người đều trở về nhà, đều tu.
Nghĩa là vẫn một cảnh, mà phát tâm tu.
Do đó, ngay bây giờ vấn đề trở về với chính con
người của mình là một vấn đề vô cùng quan trọng,
không phải là đối với riêng ai, mà mỗi người đều
phải tự lo liệu. Bạn tôi là ông Nguyễn-Bá-Tước, khi
đọc Nội-Kinh rồi ông thấy thương tôi, thấy như
chuyện đó tôi chỉ lo cho một mình ông vậy. Tôi nói
: thật tình tôi lo cho ông là tôi lo cho thiên hạ, hễ
duyên gần cái nào thì lo cho cái ấy trước. Sự đời
vốn không hai, có việc nào là việc riêng tư !
Nhưng khốn đốn là chúng ta thường thường mắc
phải cái bịnh bò tới chớ không chịu trở lui vào con
người cuả mình ; nên cứ đi tìm cái vững để chỉ gặp
tất-cả những cái không vững. Như thế nghĩa là sâu
kín trong lòng chúng ta vẫn còn nghi sẽ có một pháp
nào vững hơn. Bởi thế nên hóa ra không vững. Sự
thật, một người khi đã tột bực tuyệt vọng rồi thì mới
chịu yên. Cũng như khi xưa người pháp chiếm tỉnh
Định Tường, lúc đó Thủ-Khoa-Huân trấn thủ.
Người Pháp bắt được ông đem lên đài xử tử. Ông
nghĩ đã đến lúc không còn làm gì được hơn, nên
ông bình tâm làm một bài thơ khẳng khái, để lại đến
ngày nay đã trở thành bất hủ. Do đó chỉ có trong
những khi tuyệt vọng hay khi đã thấy hết rồi thì
lòng người mới thiệt hết sạo sực. Bởi vậy nếu gặp
cảnh không vững mà mình còn chưa thiệt vững, lại
còn nghĩ tìm cách nào để tạm vững hơn thì không
bao giờ được. Nên tôi thường hay nói ở trong chúng
ta đều luôn luôn có toan tính, nương dựa. - tất-cả
mọi lãnh vực trong lòng mình đều có tính toán trước
hết. Nên bao giờ mưu mô trong lòng ngừng dứt thì
cuộc sống hiện tại này mới yên.
Bởi vậy việc trở về với mình ; nói thì dễ nhưng
chúng ta chớ coi thường, vì chính chỗ đó là then
máy. Nếu chúng ta không hằng soi trở lại, thì vấn đề
bản thân của chúng ta trong cuộc sống hằng ngày
đối với tất cả những tiếp xúc, ăn uống, và sâu hơn
nữa là những biến hóa của tâm tư v.v… chúng ta sẽ
không tài nào nắm vững sự kiểm soát được. Nên tôi
nói hầu hết chúng ta gần như là bị cái bịnh bò tới,
không lưu tâm đến vấn đề trở vào. Chính như con
người của tôi, khi tu độ 2 năm tôi rất lưu tâm đến
vấn đề tâm. Nhưng trong tâm tôi bị lệch nhìn trở ra
một chút, nhất là thấy qúi Thầy học kinh sách nhiều
quá làm cho tôi nôn, sợ theo không kịp người ta ;
nên rốt cuộc cũng chẳng tới đâu. Tới cuối cùng đục
nước thấy cái lội trở ra không xuể nữa. Tôi bằng
lòng đứng lại để soi trở vào chính con người của
mình. Bừng tỉnh ra mới thấy rõ từng chút, từng chút
trong con người của mình. Nên tôi nói chỉ có việc
dám đứng lại để soi trở vào trong là một nguyên tắc
thiết yếu nhất. Nếu vọng niệm tôi chưa đã thèm với
sự lội ra thì việc đứng lại sẽ không dễ gì đứng được.
Nhưng nhờ có thiện tri thức nói ra điều đó, may ra
chúng ta có phần nào nháng lên thấy được cái lý để
tin tưởng mà quay trở vào. Đó là một trong những
từng lớp của việc soi trở vào trong.
Thêm nữa chúng ta phần nhiều rất sợ sự thật.
Chúng ta luôn luôn đề cao sự thật, nhưng rất khó
thật với chính mình, huống chi là thật với kẻ khác.
Dù chúng ta là nhà giáo dục hay là chánh phủ cũng
vị tất đã dám thật ! (không hẳn có địa vị mà là dám
thật). Đó là điều chúng ta phải thận trọng lưu tâm.
Nên tóm lại, trong việc trở về với mình tuy có
nhiều cách, nhưng bước trước nhất là phải dám tột
bực thành thật với mình. Ví như thấy mình yếu đuối
không dám ngó ngay vào trong sự thật, thì tự chấp
nhận ngay là mình yếu đuối không dám nhìn thẳng
vào sự thật. Như thế có cơ mình sẽ dám nhìn thẳng.
Còn né tránh nó là không khi nào mình nhìn thẳng
được. Chỉ cần tột bực thành thật, theo dõi mình từng
ly từng tí, thì tất-cả những gì đến với mình biến hóa
con người mình ra sao, mới có thể biết được. Đó là
cách làm của những người luôn luôn thích giáp mặt
với sự thật, đương đầu với những biến động để giáp
mặt sự thật xem ra sao. Đến khi cùng cực rồi thấy
không có gì vững nữa, bỗng nhiên hồi ấy mình
vững. Đó là một cách.
Hoặc như king Kim-Cang dạy cho chúng ta quán
xét từ vật chất đến tinh thần, từ thân đến tâm … nếu
thấy được tất-cả đều là tổ hợp, tất-cả đều là mâu
thuẫn một cách thật rõ ràng ; và lúc nào cũng thấy
được như thế thì mọi vấn đề sẽ giải quyết được dễ
dàng, tới nơi tới chốn. Nên tôi thường hay nói, một
ông thầy tu ngồi lại để khám phá chính con người
của mình, với một vị bác sĩ tốt nghiệp y khoa cũng
theo đuổi vấn đề khám phá con người. Cuối cùng cả
hai đều thấy xác thân con người là một mớ tổ hợp
của những phần tử cực nhỏ, muốn gọi là tế bào hay
gọi là gì cũng được. Nhưng ông thầy tu đối với vấn
đề vật chất, sắc tướng lòng vẫn thản nhiên. Trái lại
vị bác sĩ thì không thể thản nhiên được. Tại sao vậy
? – Là tại thấy ngoại cảnh làm đối tượng khám phá,
mà bỏ quên việc soi trở vào chính con người của
mình. Do đó, kết qủa biết thì vẫn như nhau mà lý
với sự lại là hai nẻo. Cho nên biết nếu không quay
trở vào thì cái biết chẳng qua là thứ chồng thêm
kiến thức, và con người chỉ còn là một sinh vật chở
đầy nhóc kiến thức thế thôi. Đó là một cách.
Thêm nữa, có nhiều người lại không hợp với điểm
đó, mà lại đòi hỏi có sự giúp đỡ của Thiện tri thức,
bằng cách chỉ cho tạm thời quay trở vào trong dứt
hẳn những nghĩ tưởng để nghiệm xem bản sắc của
tâm linh ra sao ; tạm thời được rơi vào giữa ánh
sáng tâm linh ấy, để có được một cặp mắt không bị
méo mó, không bị thiên lệch phiến diện. Rồi từ đó
mới bắt đầu nhìn sự vật để khám phá chíng con
người của mình, cũng như khám phá ngoại cảnh ;
nhìn đến đâu sẽ rõ ràng, tỏ rõ đến đấy. – Như thế
cũng chẳng khác nào chúng ta muốn nhìn trọn một
qủa địa cầu, phải có dịp ngồi phi thuyền vượt thẳng
ra không gian nhìn lại quan sát địa cầu mới thấy rõ.
Nên vấn đề quay trở vào con người của mình để
giáp mặt với hiện tại của tâm linh, rồi từ đó khám
phá mọi sự vật cũng tương tự như vậy. Đó cũng là
một cách.
Cho nên sống mỗi người mỗi nết, chết mỗi người
mỗi tật, đau mỗi người mỗi chứng, thuốc mỗi người
mỗi thang. Chúng ta gặp nhau đây không phải là
vấn đề qúi vị mong được truyền dạy cho một phép
lạ gì, hay là vấn đề tôi mong thu được nhiều người
theo phe cho oai. Không phải thế. Nhưng tôi nói
chẳng những cho quí vị nghe mà tôi cũng nghe.
Cũng như quí vị nghe đây không phải chỉ để quí vị
nghe mà còn giúp cho tôi nữa. Do chỗ đó, trong tôi
có tất-cả mọi người, trong tất cả mọi người đều có
tôi. Nghe như vậy nói như vậy mới đúng nghĩa nghe
đúng nghĩa nói. Và nếu chúng ta không dám phanh
phui hết sự thật ra, thì cuộc học hỏi của chúng ta
bằng lòng kéo dài ra vô lượng kiếp. Nên ở đây tôi
phải dám nói thẳng ra sự thật, tôi phải dám cố gắng
mà lớn lên cho bằng lời.
Nếu tôi nói như vậy mà chỉ còn độ 3,4 người đến
cùng nói chuyện, thì cũng còn hơn có được hằng
triệu người nghe mà chỉ đi theo vì thế lợi. Do đó,
theo tôi “nhơn sanh quí thích chí”. Hễ ai đã thèm sự
đời, muốn đi ra cứ việc ra, chúng ta sẽ cùng nhau
nói chuyện. Còn nếu thấy chưa đã thèm cuộc đời,
còn muốn thò tay vô nữa thì cứ việc làm. Cuộc đời
là một lò cừ, nên có câu hát rằng.
“Lò cừ nung nấu sự đời,
Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương” là vậy.
Hỏi: Thưa, nghĩa học Đạo có phải là tự mình
ngừng dứt các duyên thì sẽ tự rõ được mình, chớ
không phải cố đi tìm mình mà thấy được ?
Đáp: thật ra, nếu ai còn lội đi tìm, thì tôi biết người
đó chưa có thấy, hay ví dù có gặp được cũng chỉ là
thứ giả, chớ không phải thứ thiệt. Tôi nói lội đi tìm
đây là lòng phóng ra, chớ không phải là mình tránh
sự gặp gỡ với nhau. Không thể nào tôi đi tìm chân
lý, Chúa, hay Thượng đế, hay Phật … mà có thể gặp
được. Chỉ trừ khi lòng tôi thiệt hết sạo sục; Bỗng
dưng bừng tỉnh ra mới hay tôi chính là chân lý.
Lắm khi tôi cứ thắc mắc với vấn đề có Thượng-đế
hay không có Thượng-đế … Nhưng thật ra dù có
Thượng-Đế hay không, hằng ngày tôi vẫn phải làm
để sống, phải tu học để sửa đổi con người của tôi,
không ai làm thế cho tôi được cả. Thế thì tại sao
bỗng dưng tôi lại dựng lên một chuyện sạo sục vô lý
thế ! Lẽ cố nhiên có cái để mình gọi là Thượng-đế
hay không, điều đó không quan hệ. Đã không quan
hệ thì chúng ta phải coi chừng chữ Thượng-đế là do
chúng ta bày đặt ra mà thôi ! Vì nếu có bình tĩnh
một chút thì mới thấy rằng chúng ta có thể tự làm để
sống được, có thể học hỏi để tự sửa đổi được …
Đến chỗ tận cùng là thằng người có thể trở thành
ông Thánh, ông Tiên hay ông Phật .. nghĩa là trở
nên một người rất bình thường, một người đã cùng
với bao la đồng nhất. Khi ấy mới hay ra Thượng-đế,
Phật, Trời hay Chúa … chỉ là mình, chớ chẳng có
chi lạ !
Thưa, tôi nói vậy không phải là tôi thấy chỉ có
mình tôi mà không có quí vị ở ngoài tôi. Tất cả đều
là hiện tượng thì tôi cũng là một thứ hiện tượng.
Nên nếu tôi quay trở vô, cái TÔI của cái chấp hiện
tượng này mất đi, thì tất-cả trong qúi vị đều có tôi,
trong tôi có tất cả qúi vị. Cuộc sống này là đồng
nhất, tương quan, trật tự, biến hóa, lưu thông. Trở
lại nguồn gốc, cứ để y nguyên nó vậy đừng thêm gì
nữa. Nhưng lạ thay, chúng ta cứ ngồi tằn nắm lấy.
Chỉ cột thêm vô !
Hỏi : Thưa, theo nghĩa Thiền-học thì càng tìm
càng không thấy. Nhưng thực tế trong cuộc sống thì
càng tìm gạo mới có gạo, càng kiếm tiền mới có tiền
… như vậy lẽ phải ở đâu?
Đáp : Thưa, ngừng chỗ đó tôi nói cho nghe. Khốn
đốn cho chúng ta là khi có một bao gạo thì mình
thấy có, mà mất đi một hai ngàn thì không hay. Tôi
kể một chuyện xảy ra ở chùa này để mọi người thận
trọng. Một hôm có người đem cho chùa một rổ rau
đắng biển thật ngon. Tôi nói, ăn chay dùng rau đắng
biển không tốt, nhất là vào mùa lạnh, nên đem cho
người ăn mặn dùng tốt hơn ; đừng nên tiếc, vì ăn
vào rồi sẽ phải uống thuốc tốn nhiều hơn giá tiền rổ
rau ấy nữa ! Mọi người thấy tiếc uổng không nghe
tôi, đem nấu canh ăn. Ăn xong mỗi người đều phải
uống 2,3 thang thuốc. Thế thì khi có rổ rau mình chỉ
thấy cái có, còn khi đau mất tiền thuốc thì không
nghĩ tới ! Nên phần nhiều chúng ta chỉ thấy ở bề có
mà không thấy được bề không ; và thấy được bề nhỏ
chớ không thấy được bề lớn. - Trong tượng pháp
của nhà Phật có một bức tượng vẽ đức Phật cầm
bình bát ném xuống sông Găng và nói : Nếu qủa
chân lý có thật, thì bình bát ta ném xuống sông sẽ
ngược dòng trở lại với ta. Ném xong, bình bát trôi
ngược trở lại. - Nếu chúng ta cứ tin là câu chuyện
như vậy để lội đi tìm những thứ đó, thì tôi chắc chắn
là học Phật suốt kiếp mãn đời rồi cũng chỉ gặp ma
chớ không gặp Phật. Theo tôi hiểu thì giản dị như
thế này : Bao tử của người đời là bình bát bằng
sàng, còn bao tử của người tu qúi hơn nên bằng
vàng. Ở Ấn-Độ bình bát gọi là “Ứng lượng khí”, tức
là bằng cái bao tử của mỗi người. Vậy trong chỗ
không lời, bức tượng ấy muốn nói với chúng ta rằng
: đừng có sợ đói ! Ở trong bao la này vốn bất tăng
bất giảm, không mất đi đâu cả. Người nào sợ đói thì
mới bị mất. Cũng như những người bị lâm cảnh đói
thiếu, nếu lòng sợ đói thì cao lắm là 7-8 ngày chết,
còn nếu bằng lòng nhịn đói thì một tháng hơn cũng
chưa chết. Nên biết hễ bằng lòng cái gì thì cái đó trở
nên đẹp, cũng như hễ không bằng lòng thì thấy đủ
thứ mất mát. Tôi biết có rất nhiều người đang có đủ
ăn mà lòng vẫn sợ đói, thấy thiếu rồi lo lắng lặn lội
đi làm thêm, để rồi bị giựt hụi, lỗ lã … phải cố công
làm để trả nợ !
Tôi nhắc lại là mình học thì phải biết áp dụng. Thí
dụ trong thân tôi xảy ra một chỗ ngứa ; nếu tôi bằng
lòng cái đó không thèm gãi, thì ngứa tới mức đó
thôi, lần hồi nó sẽ tan đi. Nhưng nếu tôi quên, tay
tôi mò tới thì cái ngứa sẽ nhân lên, càng gãi chỗ
ngứa càng nổi lớn ra. – Cũng như trên trường chánh
trị, hễ phía đàn áp phe xuống đường mạnh chừng
nào, thì xuống đường càng leo thang mạnh chừng
ấy. – Nên biết rằng việc tuy nhỏ vậy nhưng khó
thâm nhập lắm !
* Hỏi: Vì sao mà một pháp nhiếp được hết các
pháp?
Đáp: Vì tâm là nguồn cội của vạn pháp, hết thảy
pháp đều từ tâm sanh. Nếu tỏ được tâm thì vạn pháp
đều đủ. Cũng như cây to, cành lá hoa qủa sum sê
đều từ gốc cả. Khi trồng cây phải chú ý săn sóc ở
gốc cây thì cây mới được sanh sôi. Đốn cây cũng cứ
đốn ở gốc thì toàn thân cây đều chết. Nếu tỏ tâm mà
tu thì dụng lực ít mà thành công dễ ; chẳng tỏ tâm
mà tu phí công vô ích. – Nên biết tất cả thiện ác đều
từ tâm, lìa tâm mà tìm Đạo là việc luống công.
Thật rõ ràng lắm ! Nhưng chữ Tâm là gì? Chúng ta
đừng vội lầm với chữ Tâm thường dùng thuộc về
nghĩa duy tâm của Âu-Châu. Thưa, cái người ta gọi
là duy-tâm hay duy-vật ngày nay chỉ là một hệ
thống dòng họ bên nội, bên ngoại của một đầu ông
cố. Sự thật, tâm hay vật cũng chỉ là một thứ vật chất
mà thôi. Tại sao biết ? Vì Phật đã trình bày cho
chúng ta thấy rõ cái tâm lăng xăng hằng ngày của
chúng ta vốn là một tướng hiện tượng như bao nhiêu
hiện tượng vật chất khác, nên nó chỉ là một thứ vật
chất kết thành bởi những siêu nguyên tử tâm thức,
nghĩa là nó cũng là một hiện tượng tổ hợp như bao
nhiêu hiện tượng tổ hợp khác. Do đó việc tranh
nhau giữa phái duy tâm và duy vật cũng như con
cháu bên nội và bên ngoại tranh nhau miếng đất
hương hỏa, chớ không phải là hai thứ khác.
Còn chữ Tâm ở đây dùng là nghĩa mà Âu-Tây tạm
gọi là Vũ-trụ-tâm (rayonscosmiques), kinh Dịch gọi
là Tâm-thái-hư, hay trong Nội-Kinh lời giải tôi gọi
là tâm Linh-không vô cực đó. Ai có đọc Nội-Kinh
rồi sẽ thấy rõ nghĩa đó. Nhưng hễ nói đến vấn đề
Linh-không vô cực , nói Tâm-thái-hư, nói Vũ-trụ-
tâm thì người ta dễ rơi vào vấn đề ngoại quan triết
học. Nên muốn chứng thực cái Tâm đó là phải
chứng ngay ở trong lòng ; ngừng dứt hết các duyên
nghiệm trở vào trong, thì mới nhận được cái bao la
vô lượng vô biên của Tâm ra sao. Vì thế hôm trước
tôi có đưa ra câu chuyện “Chiếc xe ngựa” của Na-
Tiên Tỳ-Kheo và vua Na-Lan-Đà, với câu hỏi : Tất
cả đều không phải xe, vậy cái gì là xe ?- Cũng như
tất-cả vạn vật, hư không này đều không là tâm của
tôi, vậy cái gì là tâm của tôi ? – Đó chính là nghĩa
của chữ Tâm ở đây. Nên Khổng Tử cũng dựa vào
đó lập ra đạo Trung Dung và đường lối Tu Tề Trị
Bình, đều lấy việc phải trở về với tâm của mình làm
gốc. Do đó Đạo nếu nói lớn thì không có cái nào ở
ngoài, nếu nói nhỏ thì không có cái nào ở trong –
Nghĩa là không có cái thứ hai lọt ra ngoài.
* Hỏi : Vì sao quán tâm gọi là cứu cánh ? Đáp : Bực
đại Bồ-Tát khi thâm nhập vào pháp đại-trí-huệ, biết
được tứ đại vỗn rỗng không vô ngã.
Thưa, chữ Đại-Bồ-Tát đây là chỉ cho người đã soi
rõ nguồn tâm linh của mình rồi, từ đó mới khám phá
mọi việc. Chữ Đại-trí-huệ nghĩa là trí-huệ quan sát
đứng ở trên nguyên lý không hai. Nếu không phải
trở vào chính con người của mình đứng trên nguyên
lý không hai mà quán sát, thì gọi là tiểu-trí-huệ. Biết
được tứ đại vốn rỗng không vô ngã nghĩa là biết
được thân này do 4 yếu tố tổ hợp : yếu tố ẩm ướt,
yếu tố ngăn ngại, yếu tố dao động, và yếu tố ấm
nóng. - Tức là đất, nước, gió, lửa. - Biết được thân
tứ đại nay vốn là tổ hợp, và ở trong mỗi tế bào, mỗi
nguyên tử cũng vẫn tổ hợp. Do đó thân này cũng chỉ
là một hiện tượng như bao nhiêu hiện tượng khác,
không có gì là riêng của nó cả.
* Thấy được tự tâm khởi dụng có hai mặt khác nhau
: một là tâm nhiễm, hai là tâm tịnh. Hai mặt tâm
pháp này tự nhiên vốn đầy đủ.
Thưa, nếu nói về tự tâm, qúi vị có đọc Nội Kinh
đến thiên thứ năm thì sẽ thấy rõ.
* Tuy nhờ duyên hợp, nhưng hai tướng vẫn làm
nhân đối đãi lẫn nhau. Tâm tịnh thích làm nhân
lành, tâm nhiễm thường ưa nghiệp ác. Nếu chẳng
thọ nhiễm thì gọi là thánh, thoát ly các khổ, chứng
cái thật vui.
Sự thật con người chúng ta là một khối bùi nhùi
bằng rơm ; hễ nước đến dễ ngấm, lửa đến dễ cháy.
Nhưng nếu tất-cả những việc đến với chúng ta,
đừng vội chống cũng đừng vội theo, thì tự nhiên
không tiêm nhiễm được. Vì theo tất nhiên là bị
nhiễm, mà chống cũng là bị nhiễm một kiểu khác
nữa. Nên Phật đưa ra nguyên tắc là : Thương không
được gần, ghét không thể xa. Do nguyên tắc đó mà
trong kinh Hoa-Nghiêm Phật nói : Dù chửi Phật đi
nữa, cũng đã kết duyên với Phật chắc lắm rồi ! Như
thế đủ biết lý của Phật sâu mầu cỡ nào !
Bởi vậy Phật kể câu chuyện xưa kia có một bà già
ghét cay ghét đắng Phật - Phật biết tâm lý đó không
thể độ thuận được nên nghĩ cách độ nghịch. Một
hôm Phật nói sẽ đi đến nhà độ bà già ấy. Các vị đệ
tử đều lắc đầu, nghĩ việc chắc khó thành. Nhưng
Phật vẫn thản nhiên đi. Đến độ 3 lần, đều bị chửi đủ
3.- Lúc về đệ tử hỏi Phật độ được không? Phật nói :
độ rồi ! – Nghĩa là khi còn cái Tôi thì dù lớn thế nào
cũng ở trong bàn tay của cái KHÔNG mà thôi. Nhứt
định là chạy không khỏi. Nên có vị Thiền-Sư nói
:”Cái CÓ của mầy có hạn, còn cái KHÔNG của tao
vốn vô cùng”.
Trong kinh Hoa-Nghiêm có nói một câu vô cùng
thắm thía : “Chẳng thà ở dưới địa ngục mà còn được
nghe tiếng niệm Phật, còn hơn ở trên cõi Trời mà
chỉ hưởng yên vui”. Nghĩa là ở trong cảnh khổ bao
giờ cũng dễ nghe pháp, dễ giác ngộ hơn. Còn ở cõi
Trời chỉ hưởng phước, thì hết phước sẽ bị đọa
xuống cõi dưới ; cũng như con nhà giàu có sẵn của
từ thuở nhỏ thì không thể nào biết sử dụng của cải.
Cho nên thà ở địa ngục được nghe pháp, còn hơn ở
cõi Trời hưởng yên vui. Nghĩa là một cách nói khéo
cho chúng ta rằng : đừng ham tu phước, vì tu phước
không phải là tu. Nếu chỉ nói đừng làm phước thì sẽ
sanh ra thứ ích kỷ. Nên phải nói cách nào cho họ
đừng bỏn sẻn mà cũng đừng mong cầu, nếu không
thì làm phước chỉ là một cuộc mua bán.
Do đó chúng ta đọc kinh sách thì nên đọc ở sau
lưng, bề không có chữ mới gặp được kinh thiệt.
Nhưng như vậy chúng ta lại không đọc được ! Cũng
như thầy trò Tam Tạng đi thỉnh kinh, dọc đường về
mở ra thấy giấy trắng không bèn đem đổi lại. Người
phát kinh nói : Tại người xứ ông nghiệp chướng
nhiều quá nên đọc kinh này không được, chớ kinh
vô tự đây mới chính là kinh thiệt đó !
* Nếu đọa vào tâm nhiễm thì tạo nghiệp, chịu trói
buộc; gọi là phàm, trôi lăn trong ba cõi, chịu muôn
điều thống khổ.
Thưa, ba cõi tức là cõi dục, cõi sắc và cõi vô sắc.
Ba cõi ấy không ở đâu lạ hơn là chính trong thân
chúng ta. Học Phật chúng ta nên nhớ nằm lòng
nguyên lý quan trọng nhất là : Phật khéo tháo banh
con người chúng sanh ra để cho thấy hiểu hết rồi
mới thâu lại. Nghĩa là muốn biết hết tất-cả chỉ có trở
về với con người của chính mình trước. Vì con
người là cả bầu bao la và bề mặt địa cầu thu hẹp lộn
ngược trở vào. Qúi vị đã đọc Nội-Kinh, nếu có để ý
về mặt giải phẩu cơ thể sẽ thấy rõ có nhiều điều hay
lắm !
Thí dụ từ thượng từng bầu khí quyển vô đến trung
tâm địa cầu chia làm 3 cặp khí (3 âm 3 dương), thì
thân con người cũng chia ra 3 phần : từ chẻn vừng
trở lên gọi là pháp thiên, từ rún trở xuống gọi là
pháp địa, khoảng giữa gọi là pháp nhơn. Đó là Dịch
lý biểu hiện nghĩa Tam Tài ở trong thân. Nhà Phật
căn cứ vào lý đó mà định ăn sớm mai là chư Thiên
ăn, ăn trưa là Phật ăn, ăn chiều là súc sanh ăn, ăn tối
là ma qủi ăn. Nhưng nghe nói thế, chúng ta lại ra
sức cố ăn cho thật no buổi trưa, để buổi chiều không
ăn, tránh khỏi làm súc sanh ! Chớ không hiểu rằng
đó là Phật muốn mượn vấn đề trong thân để lập
pháp cho được điều hòa. Còn việc lấy bữa trưa làm
chánh là tục lệ tu hành của xứ Ấn Độ, tuy nhiên nó
cũng không phải là việc hiểu rõ về con người.
Vả chăng, nghiệm kỹ vào thân người chúng ta sẽ
thấy ăn bữa sáng vào từ cuống bao tử có điểm tâm
vị là nơi giao dịch với thần kinh tim - sẽ liên lạc
nuôi ở phần trên nhiều hơn. Vì từ chẻn vừng trở lên
là pháp thiên, thuộc về phần ảnh hưởng của ánh
sáng và không khí. Thức ăn buổi sáng vào đều đi
lên nuôi các tế bào của phần thân trên nhiều hơn,
nên gọi là chư Thiên ăn. Do đó những người làm
việc bàn giấy hay làm việc trong nhà, thì buổi sáng
ăn no không được.
Buổi trưa là buổi giữa không khí giao, âm dương
giao nhau ra đến tột bực ngoài bầu khí quyển rồi bắt
đầu trở vào trong ; nên ứng vào người, thức ăn đi
vào lúc đó có ảnh hưởng nhiều ở khoảng giữa thân.
Còn buổi chiều, bầu khí quyển đã đi lần vào đến
trung tâm lòng đất, nên ăn buổi chiều ảnh hưởng
đến phần bên dưới nhiều hơn. Do đó ăn chiều là súc
sanh ăn, ăn tối là qủi ăn.
Về phương diện tâm thức cũng vậy, phần nặng đều
chứa từ rún trở xuống, phần trung bình chứa từ rún
lên đến chẻn vừng, phần nhẹ chứa từ chẻn vừng trở
lên. Nên ở trên thuộc về cõi vô sắc, ở giữa thuộc cõi
sắc, ở dưới thuộc về gan chỉ huy nên gọi cõi dục. Ở
đây chúng ta chỉ đại lược là thế, nếu có đọc Nội-
Kinh thì qúi vị sẽ tường tận hơn về nghĩa 3 cõi trong
thân.
Thêm nữa, nếu chúng ta dong ruỗi theo từng phần
của ngoại cảnh để gom bó vào thân, thì chính ngay
khi sống đây, chúng ta vẫn đuổi theo thèm khát dục
vọng của tai mắt miệng mũi thân ; tất nhiên khi
chết, thành phần nào giàu nhất sẽ làm chủ để điều
động chúng ta trong vòng luân hồi. Do đó khi sống
ở trong mê thì khi chết bị trôi lăn trong 3 cõi, đó là
chuyện dĩ nhiên. Thí dụ bây giờ mình đắm đuối theo
sắc thì đêm sẽ nằm mơ. Nằm mơ mà tưởng là thật
nên mới bị đi theo. Đó chính là dục vọng phóng rọi
ra mà thôi.
Lư-Tín, một nhà bác học cận đại có nói : Thiên hạ
vốn vô sự, chỉ tại người vụng về tự rối ren (thế
thượng bổn vô sự, dung nhơn tự nhiễu chi). - Sự
thật, nếu không có thằng người thì không có vấn đề.
Có vấn đề là chỉ tại thằng người bày đặt mà thôi.
* Vì sao thế ? Vì tâm nhiễm trái chướng với thể
chơn như.
Nghĩa là hễ nổi lên vọng niệm là gây thành mâu
thuẫn nội tại. Chúng ta nhìn thấy sáng tối, động tĩnh,
thân cảnh, mình người … không biết đó là hiện
tượng âm dương tương đối, mà chúng ta lầm hiện
tượng tương đối là định luật mâu thuẫn nên ôm nó
vào lòng làm thành mâu thuẫn nội tại. Mâu thuẫn
nội tại lại được dựng lên tán dương, để rồi dựa vào
đó mà đánh giết lẫn nhau. Chỉ có con người mới
làm kiểu đó !
Có một câu chuyện thật thú vị để nói lên vấn đề
mâu thuẫn là chuyện “Vừa bán mộc vừa bán giáo”:
có một ông gánh hàng đi bán, một đầu gánh đựng
giáo một đầu gánh đựng khiêng. Rao rằng : Khiêng
này vật gì đâm vào cũng không lủng. Rồi lại tiếp :
Giáo này đâm vào vật gì cũng lủng. Có người nghe
ra thấy buồn cười bèn hỏi : bây giờ lấy giáo của ông
đâm vào khiêng của ông thì sao? Ông không trả lời
được.
Cũng như thuyết duy vật gặp phải hai nhược điểm
to tát mà không ai để ý tới là : Chỉ đưa ra hai chữ
“duy vật” tức là đã chấp nhận duy tâm rồi ! Tôi tự
xưng tôi thuộc phe duy vật tức là tôi đã chỉ người
phe khác là duy tâm; nghĩa là tôi vẫn còn ở trong
tương đối. Như thế đâu phải là chân lý ! Đó là
nhược điểm thứ nhất.
Nhược điểm thứ hai là : Duy vật cho tất-cả vũ trụ
này chỉ là hóa trình biến hóa lưu động, nghĩa là tấtcả
đều không thật, đều tổ hợp, đều vô thường. Đã
qua qua rồi, hiện tại không dừng, vị lai chưa đến. -
Lời nói nghe thật lưu thông không khác lời Phật nói,
nhưng sao lại dựa vào đó để kêu gọi người ta giết
nhau mà giành giựt vật chất ? ! Đó là phải chủ nghĩa
rồi ! Thuyết duy vật trở thành lạc hậu vì vừa bán
giáo lại vừa bán mộc.
Thật ra, vấn đề duy tâm và duy vật ngày nay là hai
phe bên nội và bên ngoại của cùng một đầu ông
đánh nhau để dành của hương quả, chớ tâm hay vật
cũng là một thứ vật chất mà thôi. Còn chữ duy tâm
của nhà Phật dùng là bởi không có chữ để nói nên
phải tạm dùng. Sự thật Phật muốn nói là “Tam giới
duy tâm, vạn pháp duy thức”, tức là nghĩa “vạn vật
đồng nhất thể” của Khổng Tử. Nhưng nếu nói “vạn
vật đồng nhất thể” thì chúng ta phải đề phòng mình
bị rơi vào ngoại giáo, triết học ; vì Khổng Tử nói
câu đó là để người nghe phải quay trở vào mà chứng
thực nơi mình. Vì thế kinh Dịch mới nói : “Kiết
hung hối lẫn quan hồ động – Bất động vi đại” (Lành
dữ khổ vui đều bởi động. Chẳng động là to nhất). -
Vậy cái gì động ? Cái gì chẳng động? Tại sao lại
chẳng động ? Chẳng động bằng cách nào ? Nếu
không có MÌNH thì có thành vấn đề không ?- Qủa
thật khi chưa có tôi thì chuyện không thành vấn đề ;
sau khi tôi chết thì chuyện cũng không thành vấn đề
! Nên biết : có chuyện này là tại có TÔI, nên cũng
có đủ thứ hết. Do đó vẫn đề quan trọng là có TÔI,
nếu không nhắm vào chỗ đó thì sẽ bị lạc đường.
Hỏi : Thưa, nếu chỗ quan trọng là chỉ nhắm vào
cái TÔI, tại sao chính Phật, cũng phải tu qua nhiều
kiếp mới thành Phật ?
Đáp : Thưa, chúng ta khỏi phải nói nhiều đời nhiều
kiếp gì hết. Hễ người nào thấy được chỗ quan trọng
đó mà dám buông mình là hết chuyện. Còn thấy
được mà không dám buông thì phải qua 3 A-tăng-tỳ
kiếp chớ nói chi là nhiều đời nhiều kiếp. – Nên tôi
xin kể câu chuyện ông Giáo đến nói chuyện với ông
Thiền-Sư. Ông Giáo hỏi : trong kinh Phật dạy tu
phải qua 3 A-tăng-tỳ kiếp mới đến được, còn Thiền-
Sư lại nói tu liền một kiếp này thành Phật thì đâu có
lý !
Ông Thiền-Sư không trả lời lại hỏi : Thí dụ từ
trước đến giờ ông là người tốt, ngay thẳng, không
gian tham. Rồi một hôm bỗng dưng thấy của qúi
ông động lòng thò tay lấy. Vậy hồi ấy ăn cắp
nguyên con hay chỉ có cánh tay ?
Ông Giáo đáp: Ăn cắp thì ăn cắp nguyên con, sao
chỉ có cánh tay thôi !
Thiền-Sư nói : Ăn cắp thì nguyên con, sao thành
Phật không nguyên con được !
Cho nên chỉ có bằng lòng với không bằng lòng ;
nếu chưa chán còn muốn đi nữa thì cứ đi.
Tôi xin nói thêm về chữ 3 A-tăng-tỳ kiếp của Phật
nói - tức là 3 Vô-lượng kiếp. Nên nhớ đó là thuộc
phần giáo, phần triết học. Nếu học Phật mà không
hiểu cho rành thì chỉ mùi kinh cũng đủ làm cho
chúng ta ra không được. Cứ mỗi một Thái-dương-hệ
là một tiểu thế giới, một ngàn Thái-dương-hệ gọi là
một trung thiên thế giới, một ngàn Trung-thiên thế
giới gọi là một Đại-thiên thế giới. Mà có 3 ngàn
Đại-thiên thế giới như vậy - Tức là vô lượng vô số,
không còn có thể làm toán được nữa. Mà có 3 vô
lượng như thế thì là cả một sự vô lý không có bao
giờ ! Nhưng nên nhớ Phật sở dĩ nói vậy là có tác
dụng để nói : Mày giỏi xài trí óc thì tao cho mày
xài, nhảy cho tới hết đường, chói lòa rồi ngừng. –
Như vậy chúng ta lắng nghe được ý ngoài lời là :
hướng trở ra mà tu thì không thành gì hết. – Nhưng
nếu nói không thành thì e chúng sanh thấy khó mà
bỏ lơ đi, nên buộc lòng Phật phải nói qua 3 A-tăngtỳ
kiếp mới thành. Chỗ đó là lòng từ của Phật, và
cũng là chỗ can trường dữ dội nhất của Phật.
Phật ví bổn tánh chúng ta như mặt đất, những thứ
thâu vào như hột giống. Hột giống thâu vào nếu là
chuyện hữu hạn, tầm thường thường thì nó thuộc
hột giống sanh diệt ; nếu là chuyện cao cả hằng còn
thì thuộc hột giống bất sanh bất diệt. Do đó Phật
thường nói : nếu Phật, Bồ-Tát mà thiệt tình nhìn
thấy có tướng chúng sanh, tướng thọ yểu, tướng
mình người … thì đâu làm việc nổi !- Nên Phật nói
thì cứ nói, mình nghe thì cứ nghe. Vì chuyện Phật
nói vốn bất sanh bất diệt, khi nghe dù muốn giữ hay
không giữ cũng vẫn còn đó ; nếu xô ra nghĩa là lòng
chưa chán cái không thiệt, thì hột giống đó càng đeo
gần mình hơn nữa. Do đó, khi xưa các người tu
chứng nhập rồi phải nhờ các vị Thiền-Sư thử đủ
cách. Thật ra nếu không có thiện-tri-thức thì không
biết lấy đâu mà giác ngộ, cũng như nếu không có
phiền não thì cũng không biết lấy đâu để thức tỉnh.
– Con gà con khi còn trong trứng, trước khi muốn
chun ra phải khai mỏ cho trứng vỡ. Đúng thì trứng
nứt, nếu còn dính vỏ, người ta mới gỡ giúp cho.
Nên sự đời này, lý của nó là cái nhân tổ hợp, chỉ có
thêm điều kiện hay bớt điều kiện mà thôi. Tất cả
mọi việc đều không phải khi không bỗng nhiên mà
có được. Cũng vì thế tổ Huyền-Giác sau khi tỏ ngộ
có nói một câu : “Phấn cốt toái thân vị túc thù” (sau
khi được tỏ ngộ rồi dù tán thân này ra thành tro bụi
cũng chưa đủ đền đáp) – Nói như vậy là bổn phận
của người nhận ; còn nhìn thấy không có công ơn gì
cả là bổn phận của người cho. - Nếu người nhận như
vậy mà xem thường là không phải người biết nhận. -
Người cho nếu thấy có công ơn thì không phải thật
lòng của người cho. Sự đời đến chỗ đó mới thật
thắm thía, thật can trường ! và cũng là một thú vị
cao cả nhất của con người !
* Nên kinh Thập-Địa nói : Trong thân chúng sanh
có tánh Phật Kim-Cang tròn sáng như mặt trời, rộng
lớn không bờ mé. Vì bị mây 5 ấm che khuất như
đèn bị chậu úp, sáng không hiện được.
Nói đèn bị chậu úp cũng như nói mang cặp kính
đen mà đi tìm màu sắc thực của sự vật là vô lý, hay
có thể nói mình ôm máy chụp hình nhảy tưng tưng
thì dù cảnh vật đứng yên cũng không chụp được. –
Nhưng lạ thay ! con người dùng cái máy nào cũng
biết điều chỉnh trước khi dùng, còn dùng cái máy
MÌNH thì cứ để nguyên vậy, có trục trặc cũng mặc !
Tôi nói điều đó hiển nhiên, rõ ràng, dù tuổi nhỏ
cũng dễ thấy. Chỉ việc nhìn lên trời thấy cụm mây
nhỏ bay ngang che khuất mặt trời, thì ở dưới này
liền bị tối. Nên Lục-Tổ nói : Tuy mắt có thấy tối,
nhưng sự thật bề trên sáng bề dưới tối. Khi có luồng
gió quét qua thì trên dưới đều như nhau.
Chữ “ấm” cũng là chữ “uẩn” để chỉ sắc, thọ,
tưởng, hành, thức. Nguyên của chữ “ấm” là chữ âm,
nghĩa là trùm kín lại. Cứ mỗi một uẩn là có 5 uẩn
trùm kín, mà 5 uẩn đều như vậy, thế là 5 lớp chồng
chất bao trùm. – Lãnh vực của sắc là không với sắc
(có); lãnh vực của thọ là xúc với ly ; lãnh vực của
tưởng là nhớ với quên ; lãnh vực của hành là sanh
với diệt; lãnh vực của thức là được với bị. Tóm lại
đó là lãnh vực của những cặp mâu thuẫn. Nếu còn
thấy có mình người, thân cảnh, tâm vật, Phật và
chúng sanh … nghĩa là còn thấy có “cặp” là còn bị
che khuất. Dù mắc kẹt với không cũng là một thứ
mắc kẹt sắc, vì không với sắc là hai bề của sắc ấm.
Còn nếu không kẹt vào “cặp” mà thấy đặc một khối
như bánh đúc thì là không biết gì hết.
Nên thế thường có nói:
“Lồng đèn chậu úp không soi,
Mãn coi nhan sắc quên coi cẳng cùi” là vậy.
* Lại trong kinh Niết-Bàn có nói : hết thảy chúng
sanh đều có tánh Phật, vì bị vô minh che khuất nên
chẳng được giải thoát, tánh Phật tức là tánh giác đó
! Chỉ tự giác và làm cho kẻ khác giác ngộ. Giác ngộ
rõ suốt thì gọi là giải thoát.
Đúng lý ra chỉ nói tự giác là đủ, nhưng vì chúng ta
chỉ nghe được có bề có chữ mà không nghe được bề
không chữ. Do đó nếu chỉ nói tự giác thì sẽ sanh ra
ích kỷ, nên phải nói chỉ có tự giác và giác ngộ kẻ
khác thì cái nghe mới tròn. – Cũng như nói “tận
nhơn lực”, phải thêm câu “tri thiên mạng”. Vì nếu
chỉ nói tận nhơn lực thì chúng ta sẽ cố tận sức làm
để rồi gặp thất bại sẽ chán nản mà tự tử. Còn nếu chỉ
nói “tri thiên mạng” thì chúng ta sẽ ỷ lại số mạng để
không thèm cố gắng làm gì cả. Đó là chỗ đặc sắc
của ngôn ngữ người xưa.
* Nên biết tất-cả việc thiện đều lấy giác làm gốc.
Nhờ giác mới có thể hiển hiện các cội công đức, qủa
Niết-Bàn cũng nhân đây mà thành tựu. Quán tâm
như thế có thể gọi là “liễu”.
Chúng ta đừng hiểu chữ Thiện đây giống như cái
hiểu thường tình là sai rồi ! Đừng tưởng như chuyện
gặp người đi xin thì lấy gạo đem cho, hay mua chim
thả … là pháp lành. Vì nhiều khi chúng ta làm thiện
là mục đích để cầu cho mình được một điều gì …
thì việc đó đã trở thành pháp dữ chớ không còn là
pháp lành nữa, vì đó chỉ là việc mua bán. Chúng ta
phải thận trọng chỗ đó. Tất cả pháp lành đều từ tâm
giác nảy sanh, phải mắc gốc tận tự trung tâm, chớ
không ở trên tướng. - Nếu một người từ trước làm
nghề lùa trâu trộm của người ta , bây giờ tu chứng
rồi không làm chuyện đó nữa. Nhưng với khả năng
cũ người ấy vẫn đi lùa trâu của những tên trộm trâu
mà đem trả lại cho chủ mất trâu. Việc làm như thế
đâu thể gọi là pháp ác !
Sự thật hễ có trứng thì phải nở. Nên theo thường
tình thế gian thì có phân ra ác nhiều hay ít, nhưng sự
thật hễ ác vẫn là ác. – Khi giặc đến mọi người đều
hoảng chạy. Đến lúc về, người chạy gần cười người
chạy xa cho là nhát. Thật ra cùng là nhát cả, vì nếu
dạn sao có chạy ! Do đó mới có câu :”Tọa mật thất
như thông cù, ngự thốn tâm như lục mã” (Ngồi
trong phòng kín như ở ngoài đường cái, chế ngự tấc
lòng như điều khiển 6 ngựa). Và cũng có câu
:”Thốn tâm bất muội, vạn pháp giai minh” (khi lòng
mới chớm phát mà thấy được thì tự nhiên mọi việc
đều được tỏ sáng). Do đó Nội-Kinh còn nói :”Cơ
mầu dấy động, họa phúc liền sanh ; điềm đạm rỗng
rang bịnh nào phát khởi”. Mũi tên đã lắp vào cung,
quan hệ chỉ ở lúc buông tên hay không buông thôi,
nếu tên đã buông thì không bao giờ lấy lại kịp.
Đến đây tôi xin thuật lại câu chuyện của Trang Tử
để mỗi người thưởng thức : Một hôm Trang Tử
mang cung tên đi săn bắn. Đến vườn của một vị
tướng quốc thấy có con chim Phướng to đậu trong
vườn. Thích qúa ông tìm lỗ hổng chui vào. Trên
cành chim Phướng đang đứng rình mồi bất động
như chim gỗ, ông liền lắp đạn vào cung, nhắm vừa
tầm sửa soạn buông. Bỗng thấy lạ, sao chim đứng
im thế kia ! Thì ra, nhìn trước con chim là một chú
bọ ngựa – cũng đang im lìm rình châu chấu con, mà
châu châu kia cũng đang vật lộn với một con sâu
quăn – trông rõ cảnh tượng, Trang-Tử giựt mình,
tay cung bỗng chùn lại. Liền khi ấy lão già giữ vườn
xuất hiện, bắt kẻ đi săn trộm về giam. Ít hôm sau
được trở về, Trang Tử không nói năng gì vào phòng
đóng cửa ở luôn 5 ngày. Lúc ra, học trò đến thăm,
hỏi : Thầy có bịnh gì không?
Ông đáp : Không bịnh gì cả. Nhưng kể từ nay ta
không đi săn nữa.
Học trò hỏi. Trang Tử bèn thuật lại hết câu chuyện
xảy ra.
Nghĩa là hết thảy thế gian đều săn đuổi trở ra, mà
quên rằng phía sau lưng mình cũng đang có người
săn đuổi – Nên đừng săn đuổi nữa là hết chuyện !
Đến đây còn ít thời giờ, tôi xin trình bày vài nhận
định đối với cái cơ tối yếu hiện thời. Theo tôi thấy,
thế tiến triển kỳ lạ của lượn sóng vật chất 5 châu
họp chợ của loài người ngày nay đã đưa con người
vào một tình trạng bế tắc khủng khiếp. Ví như một
người tâm đã thấy tạm lưu thông chăng nữa cũng
khó có một khả năng có thể điểm đâu tất cả những
sinh hoạt vật chất đưa đến với chính con người của
mình. Nên chỉ thiếu vấn đề đương đầu với sinh hoạt
vật chất cũng đủ để bị lượn sóng vật chất nó nhận
chìm. Do đó tất-cả các nguồn thiền học ngày nay
không còn đứng vững nữa. Đó là chỗ tôi đang tột
bực băn khoăn. Mong qúi vị nếu đã đọc NỘI KINH
rồi nên cố gắng lưu tâm – Cho đến đối với một
người có thể nói là thông đạt không có người thứ
hai ở trong giai đoạn này là ông Krishnamurti,
nhưng chỉ vì thiếu vấn đề hiểu biết trên xác thân vật
chất, vấn đề ăn uống sinh hoạt, với tất cả vật chất
đến với mình ; nên ngài rất muốn đặt lại một nền
tảng giáo dục, văn hóa cho loài người cũng tìm
không có cách trọn vẹn được. – Tôi không dám nói
là tôi hơn ông, chỉ nói rằng tôi đã thấy được lối
thoát ở chỗ nào. Tôi đã làm rồi chuyện của tôi và đã
có một đường hướng. Nhưng tôi biết công trình này
phải dày dặn lắm ! Đúng lý ra tất-cả đều phải chầu
về làm việc này mới có thể giúp chúng ta thoát vòng
tục lụy được. Nhưng bây giờ không có ai hơn là qúi
vị có mặt nơi đây, tôi rất mong qúi vị lưu tâm về
hướng đó. Chỉ nhìn trong nhóm người chúng ta hiện
giờ đây đã có bao nhiêu người cận thị. Như thế trọn
đất nước Việt Nam còn bao nhiêu người nữa ; và cả
thể giới sẽ ra sao ! Chúng ta may mắn lắm là biết
tránh được vấn để tủ lạnh, radio, tivi, ngoài ra còn
bao nhiêu vấn đề khác chúng ta chưa biết đến, nên
phải rất thận trọng. – Tôi nói chỉ vấn đề hằng ngày
mua rau cải ngoài chợ ngày nay cũng có lúc làm cho
con người gặp phải bao nhiêu khó khăn. Và vấn đề
loài người đánh nhau để tranh hơn tranh thua cũng
đã làm xáo trộn cả trật tự thiên nhiên, để rồi sẽ đưa
con người đến đâu không ai biết được ! – Nên chỉ có
thâm nhập vào tinh thần NỘI KINH trước thì mới
đủ sức đương đầu với cơ hiện tại. Tôi thẳng thắn nói
rằng chính tôi thấy chuyện của ngày giờ này trước
đây hai, ba mươi năm. Muốn đem nói ra nhưng
chưa đủ cơ duyên cho người nghe. Tôi phải chờ bao
nhiêu năm nay, đến ngày giờ này đã già, tôi không
muốn để sẽ có người phải mang nhiều ân hận, nên
ráng nói ra đây được đến đâu hay đến đấy. Thật ra,
theo tôi thấy hiện nay chưa có một nền tảng giáo
dục, văn hóa, y-khoa … và cả mọi ngành một cách
đúng nghĩa, nên tôi rất băn khoăn. Nghĩa băn khoăn
đây không phải là tôi sợ chết làm không kịp, hay sợ
nhiều người không biết tôi. Nhưng lòng tôi chỉ
thương xót cho cuộc đau khổ của loài người sắp tới
mà thôi. Nên rất mong hàng thức giả hãy cùng lưu
tâm !.