LUẬN NGỘ TÁNH
CHÁNH VĂN:
*Vã chăng Đạo là lấy vắng lặng làm thể. Tu là lìa
tướng làm tông.
Thưa, sở dĩ nói vắng-lặng hay không vắng-lặng là
tại ở lòng mình. Nói lấy lìa tướng làm tông
nghĩa là
vấn đề tướng – dù tất cả tướng của vũ trụ - cũng
chỉ
là tổ hợp, vô-thường. Hay nói cách khác là chớ
nên
chấp tướng. Chớ không phải nghĩa tướng vốn có
thật, mà mình phải lìa nó.
* Nên kinh nói: Vắng-lặng là Bồ-đề, vì dứt hết các
tướng. Phật nghĩa là giác. Người có tâm giác được
Đạo Bồ-đề nên gọi là Phật. Kinh nói: Lìa tất cả
các
tướng là danh hiệu chư Phật.
Người có tâm giác là sao? – Là người nhận ra
được
tận nguồn tâm linh của mình hồi chưa khởi thiện
khởi ác. – Và lúc nào cũng được như thế gọi là
người có tâm giác, là đạt Đạo.
Nói “lìa tất-cả tướng là danh hiệu chư Phật”. Có
thể nói khác hơn như câu tôi đã hỏi :”Tất-cả đều
không phải tâm, vậy cái gì là tâm?” – 2 câu đó
giá
trị ngang nhau.
Thưa, quí-vị mới đến nghe cách tôi nói đừng vội
cho là khó hiểu. Bởi vì ở đây không phải cắt
nghĩa
để chồng thêm kiến-thức trí-óc, mà cần phải có
một
tác dụng thâm sâu vào tâm-linh. Điều đó phải lưu
tâm.
Câu nói “lìa tất-cả tướng là danh hiệu chư
Phật”,
cũng như nói; Phật vốn không có tướng, tùy tâm
chúng sanh mà hiện tướng”; hay nói cách khác là
:”Bổn lai không có Phật nào ở ngoài. Tự-tánh là
Phật”. – Nên khi săn đuổi ra tìm Phật, thì ông
Phật
của qúy ông với ông Phật của tôi không giống
được.
* Thế mới biết: Có tướng là tướng mà không tướng.
Tại sao vậy? –Vì tất-cả tướng đều tổ-hợp, mà hết
thảy tổ-hợp đều vô thường. - Một viên gạch có vô
số hột cát, một hột cát có vô số hột bụi, một
hột bụi
có vô số hột mún, một hột mún có vô số hột mín …
tới chỗ nhỏ nữa thì mình không thể đặt tên. Do
đó
tất-cả đều vốn không. - Thế mới biết có tướng là
tướng mà không tướng.
* Không thể dùng mắt thấy, chỉ có thể dùng trí
biết.
Ai nghe pháp này mà sanh một niệm lòng tin, phải
biết người đó đã phát tâm đại-thừa, siêu 3 cõi. Ba
cõi tức là tham, sân, si. Đổi tham, sân, si ra
thành
giới, định, huệ - tức gọi là siêu ba cõi.
Chính ở trong thân mình có đủ 3 cõi chớ không có
ở đâu khác hơn. Do đó hễ kẹt vào tham, sân, si
thì
tự nhiên 3 cõi ở ngoài sẽ đến với mình.
* Nhưng tánh của tham, sân, si cũng không thật,
chỉ
tùy-thuận chúng sanh mà nói vậy thôi. Nếu ai có
thể
soi trở vào trong thì thấy rõ tánh của tham sân si
tức
là tánh Phật. Ngoài tham sân si không có tánh Phật
nào khác.
Thưa, đó là câu ở trong Chứng-Đạo-Ca có nói
:”Tánh chúng sanh vốn là tánh Phật”. Trong kinh
Pháp-Bảo-Đàn cũng có nói :”Dù cho chúng sanh ác
độc đến đâu cũng từ bổn tánh xuất hiện”. Vì tất
cả
vạn pháp đều cùng một thể, đều là hiện tượng: dù
là
chúng sanh hay Phật cũng thế.
* Kinh nói: chư Phật từ xưa đến nay thường ở trong
3 độc để nuôi lớn pháp giải thoát mà thành Thế-
Tôn. Ba độc là tham sân si đó.
Thưa, không một chúng sanh nào không có tánh
Phật, không một người nào trên dòng sinh mệnh
không gặp đắng cay chua-chát, cũng như không một
ông Phật nào không từ chúng-sanh mà ra. Nên chưa
có nếm mùi đắng cay chua chát thì không thể trở
nên thánh hiền được. Vạn cổ khẳng định như thế.
* Nói đại-thừa, tối thượng-thừa đều là nói chỗ sở-
hành của Bồ-Tát. Không chỗ thừa, không chỗ chẳng
thừa. Suốt ngày thừa mà chưa từng thừa, đó là Phật
thừa.
Nghĩa là không mắc kẹt, không đóng cứng là Phật
thừa. Đây muốn chú-thích nghĩa của kinh Kim Cang
gọi là vô-sở trụ. Nên đúng lý ra không có 3 hay
4
thừa gì hết, đó chỉ là chuyện tùy thuận theo thế
gian
mà nói thôi. Hễ thoát tục là thoát tục, chớ
không có
thoát từ từ. Hễ còn một chút xíu tục-lụy là còn
nguyên. – Do đó dầu một hột bụi rơi vào con mắt
cũng đủ che khuất cả bầu trời; một chút xíu mê
lầm
về mình cũng đủ làm mờ tánh linh-năng muôn thuở.
Nên nói đi lần lần là chuyện tùy thuận theo thế
gian,
chớ thật ra không phải vậy.
Có một ông giáo đến hỏi vị Thiền-sư:
Phật nói tu 3 a-tăng-kỳ kiếp mới thành Phật. Còn
thiền sư lại nói thành Phật một lần và liền bây
giờ,
làm sao có lý?
Thiền sư không trả lời hỏi lại: Thí dụ xưa nay
đại
đức là người trong sạch hoàn toàn, không bao giờ
gian-tham. Bất thần đi ngang qua chỗ có vật qúi,
nổi
tánh tham muốn ăn-cắp lấy một ít về xài. Hỏi vậy
chuyện ăn cắp đó chỉ có cái tay hay là nguyên
con?
Ông giáo đáp: hễ ăn cắp là ăn cắp nguyên con;
sao
lại ăn cắp có cái tay không!
Thiền sư bèn nói: Ăn cắp thì ăn cắp nguyên con.
Vậy sao thành Phật lại không thành Phật nguyên
con?
Nên biết hễ kẹt là kẹt. Sự thật vẫn là vậy.
* Kinh nói: “Không thừa là Phật thừa đó”. Nếu ai
biết được 6 căn không thật, 5 uẩn giả danh, khắp
thân tìm cầu hết thảy đều không có chỗ nhất định.
Phải biết người đó rõ được nghĩa Phật nói.
Thưa nhiều lần tôi có nói: Chúng ta hãy thử dứt
hết
các duyên, đừng móng sanh một điều nghĩ tưởng.
Rồi hãy soi trở vào lòng, nghiệm xem cái gì là
tâm
tánh của mình, cái gì không phải là tâm tánh của
mình?
Ai làm chuyện đó sẽ thấy câu :”Nếu ai biết được
6
căn không thật, 5 uẩn giả danh, khắp thân tìm
cầu
hết thảy đều không có chỗ nhất định. Phải biết
người đó rõ được nghĩa Phật nói.” – Câu này ăn
khớp với câu tôi vừa nêu lên hỏi.
* Kinh nói: Hang ổ của 5 uẩn là Thiển-viện. Soi
trở
vào trong được tỏ ngộ là môn đại-thừa. Há chẳng rõ
lắm sao! Chẳng chứa tất-cả pháp gọi là Thiền-định.
Nếu rõ được câu này thì đi đứng nằm ngồi đều là
Thiền-định.
Câu này rất quan-hệ! Nói “hang ổ của 5 uẩn là
Thiển-viện. Soi trở vào trong được tỏ ngộ là môn
đại-thừa”, nghĩa là không có cảnh chướng cảnh
nghịch, thì không thể lấy đâu để biết được lòng
mình. – Chưa bị người ta chửi thì sẽ không biết
được lòng mình ứng hiện ra sao. Nên một người
hoàn toàn chỉ gặp cảnh thuận, vị tất người đó có
thể
dễ dàng hiểu mình! Cũng như người tu mà định
chui
rút vào một nơi biệt lập, vị tất lòng người đó
đã
được yên! Đó là cảnh yên chớ không phải lòng
mình yên.
* Biết tâm là “không”, gọi là thấy Phật. Vì sao
thế?
– Vì mười phương chư Phật đều là vô tâm.
Thưa, chữ “vô tâm” ở đây không phải là không có
trái Tim; mà là nghĩa không có chấp chứa. Nếu
mình cố quên thì giống như lăn “ru-lô” đè cỏ cú.
Cỏ
lì xuống không lên nổi, nhưng qua một cơn mưa nó
sẽ mọc lại dữ-dội hơn. Cho nên không thể giả đò
mà
quên được. Chỉ đừng có chấp chứa thì chính thân
là
Bồ-đề.
Sự thật là vậy! – Tuy nhiên nói thì dễ, nhưng
nếu
không một phen tháo mồ hôi, xót con mắt vị tất
đã
thông rõ được!
* Chẳng thấy tâm gọi là thấy Phật
Câu này thật độc đáo! Bởi vì hễ còn tâm để thấy
thì còn kẹt trong hai-tướng. Mà không thấy tâm
thì
là si-mê. Khoảng giữa hai cái đó, không có, làm
sao
thì làm!
Thí dụ: Tôi nhìn trong gương thấy cái đầu của
tôi.
Đó chỉ là cái thấy trong gương thôi. Còn thiệt
thấy
là tay phải rờ đụng đầu, biết chắc chắn tôi có
cái
đầu. Cái đó không còn nghĩa thấy hay không thấy.
Nên nói không thấy cũng không chẳng thấy.
Trong kinh Lăng Nghiêm, Phật có kể chuyện ông
Diễn-Nhã-Đạt-Đa, một hôm tình cờ đi ngang qua
tấm gương thấy đầu mình hiện trên gương.
Hoảnghốt
ông la lên: Người trong gương có đầu, còn đầu
ta sao không thấy ?! Rồi bỗng phát điên cuồng bỏ
chạy. - Người ta theo bắt lại, lấy tay ông cho
rờ đầu
- Bấy giờ thiệt biết đầu của mình, ông dần tỉnh.
Phật
mới kết câu chuyện là : điên từ đâu đến – Và hết
điên từ đâu ra ?!
Thế mới biết: Còn thấy cái tâm, tâm đó chưa phải
thiệ_—_p_M__—t là tâm. Thường thường
mình chỉ thấy được cái
vọng tâm lăng xăng, còn lúc chưa mống khởi thì
không có nghĩa thấy và không thấy. - Nếu không
có
thấy là mình mê, nếu có thấy là mình cũng chưa
tỉnh.
Hỏi: Thưa, cái thấy đúng là phải thấy khách
quan.
Có phải thế không?
Đáp: Thưa, phải đề phòng chữ khách và chủ, hễ
còn mắc kẹt trong khách và chủ là không phải.
Nên
Thiền học chủ trương phá và trừ, đến khi nào hết
phá được, còn lại cái gì là cái đó đúng.
Nếu cái sân tôi thiệt bằng xi-măng, tất-cả những
gì
trong sân tôi quét trôi được thì đều là rác cả.
Còn lại
mới là cái sân xi-măng của tôi. Chuyện của Chúa
hay của Phật cũng thế thôi. Hễ còn phá được là
không phải. Khi nào hết phá được, còn lại cái y
nguyên đó muốn kêu bằng chi cũng được.
* Lìa chấp thân chẳng tiếc gọi là đại bố thí.
Hầu hết chúng ta tu-hành thường nghĩ rằng: Mình
đã cúng dường bố thí thật nhiều để kiếp sau được
hưởng. Đó chỉ là một cuộc mua bán đổi chác thôi.
Nói vậy không phải là tôi biểu đừng bố thí
cúngdường,
nhưng tôi muốn nói việc làm của chúng ta
phần nhiều xuất-phát từ tâm tham-lam, sợ-hãi.
Ở đây muốn định nghĩa chính xác việc tu-hành nên
nói :”Lìa chấp thân chẳng tiếc là đại bố-thí”.
Một
người không còn mắc kẹt trên cái chấp tôi nữa,
thì
dù bố thí cúng-dường cũng không phải là đổi
chác.
Còn không vậy thì tất cả đền chùa, nhà thờ, nhà
thánh đều biến thành cửa chợ hết. Đem của cải
vật
chất cúng-dường thì của cải vật-chất là tiền;
đem
con vật phóng-sanh là đem tiền để đổi vật cũng
thế
thôi! - Nếu tính buôn ra để lát nữa được cái gì
vô
cho cá-nhân mình thì đều ở phạm-vi mắc kẹt trong
cái Tôi cả. Nên lìa chấp Tôi mà không luyến
tiếc, đó
mới thật là bố-thí cúng-dường. Nếu không hiểu rõ
như vậy thì tu Phật mà sẽ thành Trời. Vì sao thế
?-
Vì bố thí cúng dường thật nhiều được sanh lên
cõi
Trời, hưởng hết phước rồi sẽ đọa xuống nặng nề
hơn.
* Lìa các động, tịnh gọi là đại toạ thiền.
Thưa, phần nhiều hễ nói Thiền thì người ta chấp
vào cái bồ đoàn để ngồi; mà nói Tịnh thì người
ta
chấp xâu chuỗi! Đúng nghĩa của Thiền là không
mắc kẹt trong động và tĩnh. Bởi vì động tĩnh là
hai
mặt của một sự việc. Mắc kẹt trong tĩnh cũng là
một
thứ mắc kẹt trong động thôi.
* Vì sao thế? – Vì phàm phu một niềm chấp động,
tiểu thừa một niềm chấp định. Nếu vượt khỏi cái
tọa
thiền của tiểu thừa và phàm phu thì gọi là đại tọa
thiền. Nếu nhận được như thế thì tất cả các tướng
chẳng tìm cũng tự rõ, tất cả các bịnh chẳng trị
cũng
tự khỏi. Đó là nhờ sức đại thiền định.
Thưa, bịnh đây là bịnh của tinh thần.
Trong lu nước có để cây kim. Nếu cứ lắc cái lu
hoài thì muốn cây kim không thể được, bao giờ
nước lắng yên lại thì tức khắc thấy. Cũng như
đứng
ở phía bên này núi thì không thể thấy người ở
bên
kia núi, còn leo hẳn lên chót núi thì tất cả
những
cảnh chung quanh núi dù không muốn thấy cũng tức
khắc thấy. Nên khi lìa tất cả động, định nghĩa
là trả
cái tâm về mức bình thường thì vạn pháp vốn hiển
rõ, khỏi cần tìm; ông Phật không đợi rước cũng
đến.
Nên Phật có hiệu là “bạn không mời”. Và cũng vì
thế Thiên Chúa có câu “Hãy dọn mình cho trong
sạch để đón rước chúa”. Không phải Chúa hay Phật
đòi hỏi mình phải có đủ lễ mới đến. Mà có nghĩa
là :
tôi đang mang kính đen, nếu muốn tìm màu sắc
thật
sự của sự vật thì không thể được, nên việc đầu
tiên
của tôi phải là gỡ kính đen để xuống, thì màu
sắc
đích thật của sự vật sẽ hiển hiện ngay.
Do đó trong việc học Đạo, hay nhất là chỉ khám
phá con người của mình. Bởi vì tìm Phật, tìm
Chúa
hay tìm chân lý đều không thể được. Làm sao tìm
được cái thứ mình chưa từng biết chứ! Nên điều
chính xác nhất là đừng vướng bận vào trong cái
Tôi,
đừng bị kẹt vào trong cái mê chấp; thì tức khắc
nhìn
đến đâu sự vật sẽ hiển hiện đến đấy. Thế thì dù
có ai
bày ra cách thế nào, dù họ có cho rằng chân-lý
trên
hết chăng nữa, mình cũng vẫn có thể biết được sự
thật. Đành rằng chân lý vốn trên hết, nhưng vẫn
phải đề phòng chân lý của tôi, của ông và của
tất-cả
quí ngài đây có đồng một thứ hay không. Hay là
cùng một danh từ chân lý mà mỗi người hiểu một
cách!
Bởi vậy không thể nào chính xác bằng cách cứ
quay về với cái Tôi, để khi thấu suốt, lòng mình
hết
chấp, hết mê rồi tất cả bộ mặt thật của sự vật
hiển
hiện tức khắc. Khi tôi quá sợ rắn, thì tôi thấy
lúc nào
con rắn cũng chực cắn tôi. Còn khi tôi thiệt
lòng
bình thản, tôi tức khắc thấy rắn cũng có những
hồi
cần nương tôi để đi qua lộ tránh khỏi con diều
con
qụa đang chực xớt nó. – Hay là bởi tôi vốn qúa
nghèo, bây giờ bất thần tôi có được một hai trăm
ngàn – Quí nó qúa, tôi đem cất thật kín, mà lòng
cứ
sợ có người rình thấy, nên một lát tôi chạy ra
đường
coi có ai đi ngang không, một lát tôi vô thăm
thử coi
tiền còn hay mất. Thì tự nhiên đó là tôi kêu ăn
trộm
đến. Nên hễ có tướng giữ của là có tướng ăn trộm
vậy.
* Phàm ai đem tâm mà cầu pháp đều là mê, chẳng
đem tâm cầu pháp là ngộ.
Thưa, hễ nhận ra được thế nào là bổn tâm bổn
tánh
của mình, thì tức khắc vạn pháp vốn đầy đủ,
không
cầu cũng vẫn có. Do chỗ đó Phật có hiệu là “Pháp
vương”. – Bất cứ người nào tỏ ngộ được tâm tánh
rồi cũng đều có chuyện đó. Còn khi chưa tỏ ngộ
tâm
tánh mà vọt ra tìm thì càng tìm càng cách. Cho
nên
càng đi sâu vào chân lý chừng nào tôi càng không
gặp chân lý chừng ấy; càng đi tìm ông Phật chừng
nào tôi càng không gặp ông Phật chừng ấy.
Chỉ có một cách khi trở về với cái Tôi của tôi,
khi
tôi hết mê thì không mời ông Phật cũng tự hiện,
hay
nói khác hơn thì nghĩa thế nào là Phật sẽ hiện
rõ nơi
tôi. - Được như thế thì không đến nỗi xảy ra những
vụ tranh chấp là Trời lớn hay Phật lớn; hay có
những trường hợp trả lời: đó là tôn giáo tín
ngưỡng,
không nên đá động đến. Đó chỉ là những cách giải
quyết đập nhẹp, chớ không phải thấu rõ vấn đề.
* Chẳng đắm chấp văn tự gọi là giải thoát. Chẳng
nhiễm 6 trần gọi là hộ pháp. Lìa khỏi sanh tử gọi
là
xuất gia. Chẳng thọ báo sau này gọi là đắc Đạo.
Mấy định nghĩa này thật hay! Hầu hết chúng ta
đều
mắc kẹt trong thói “quen sợ tiếng dạ, lạ sợ bộ
đồ”.
Nên cứ nhìn thấy đầu tròn vai vuông thì kể đó là
người tu. Đến khi vào chùa, vẫn nghĩ rằng ai
cũng
tu, rủi gặp những ông đi vào chùa ẩn dương nương
Phật để trốn lính, hay để chùa nuôi cho ăn học
có
bằng cấp .. Nghe thấy những điều trái chướng rồi
về
chửi thầy chùa người nào cũng vậy hết. - Thiền
học
không nhìn con người bằng cái nhìn ấy. Bất cứ
người nào, dù đạp xích lô, phu bến tàu, ông thầy
tu,
người buôn bán …hễ người nào tỏ ngộ được tâm
tánh của mình, người đó là Phật, dù người đó
không
biết một chữ, hay không từng ở chùa một ngày
nào.
Con nếu chưa thấu suốt con người của mình, dù
mang tướng tăng ở chùa mãn đời cũng là phàm phu,
hay bất qúa chỉ là thầy chùa thôi! Điều đó phải
nên
biết.
Nói “chẳng đắm chấp văn tự gọi là giải thoát”,
tuy
nghe dễ vậy nhưng khó lắm!
Có lần tôi đã kể chuyện con rùa, đưa ra 2 trường
hợp để chúng ta nhận xét thử ra sao:
1) Thí dụ một người chưa từng biết con rùa ra
sao.
Một hôm đến chơi, tôi đưa con rùa cho coi nhưng
không nói tên con vật, rồi tôi làm thịt cho ăn.
Nghĩa
là anh ta đã thấy con vật có hình dáng như vậy,
cách
thế ăn uống .. và đã nếm mùi vị thịt của nó?
Nhưng
đến khi khác, có người cầm con rùa hỏi anh có
biết
con nầy là con gì không? Anh ta vội đáp: thật
tôi
chưa biết!
2) Một người khác cũng chưa từng biết con rùa ra
sao, được tôi chỉ cho biết con này tên con rùa.
Đến
khi gặp một người cầm con rùa hỏi anh biết con
này
không? Đáp: biết, con này là con rùa!
Hỏi vậy trong hai người đó, ai là người thiệt
biết?
Sự thật chính ông trước mới là người thiệt biết,
nhưng hỏi thì họ nói là không biết. Như vậy cái
biết
đó cũng chưa phải là thiệt biết, vì còn mắc kẹt
trong
tên chữ.
Ông thứ nhì trả lời biết liền, cũng là mắc kẹt
trong
cái tên mà thôi! Nên biết danh ngôn nó kẹt lắm!
Cũng như thí dụ tôi tên A; bây giờ có người kêu
tên A của một ông khác ra chửi. Tôi không từng
biết
ông A kia, nên nghe vậy là trong bụng tôi nổi
“bađào”
liền. Vậy tên A đó ở đâu? – Vì vốn hồi mới
sanh ra chưa có, nên biết cái đó do cha mẹ gắn
cho,
chẳng phải ai mang tên A, B gì cả!
Bởi vậy hầu hết chúng ta đều kẹt ở trong danh
ngôn, chớ không phải biết được sự thật. Nên phải
lìa
cái chấp ngữ ngôn văn tự thì mới được giải thoát
là
vậy.
* Chẳng sanh vọng tưởng gọi là Niết Bàn.
Chẳng kẹt trong vô minh gọi là đại trí tuệ.
Thưa, phần nhiều không có mấy ai hễ khi nói thì
nói đàng hoàng, minh bạch; hễ ngừng nói là ngừng
luôn ở trong bụng, không còn lào xào bàn cãi.
Ngược lại, phần nhiều hễ nói ra thì lắm lúc muốn
nói đàm bang, khi nín thinh thì ở trong lại lào
xào
bàn cãi.
Thế mới biết cái bịnh vọng niệm là bịnh gốc. Và
khi một người chẳng sanh vọng tưởng, chẳng kẹt
trong cái chấp tôi (hay chẳng kẹt trong vô minh)
thì
đi đứng hằng ngày vẫn thảnh thơi, không bị lo
lắng,
phiền não.
* Đến chỗ không phiền não gọi là Bát Niết Bàn.
Đến chỗ không có tướng tâm gọi là qua bờ bên kia.
Khi mê thì có bờ bên đây. Khi ngộ rồi thì bờ bên
đây cũng không có.
Nếu tâm còn tướng là tâm tương đối,chưa phải là
linh tánh (bổn lai diện mục). Chưa phải là bổn
tánh
vốn có của mình.
* Vì sao thế? – Vì phàm phu một niềm chấp bên
đây, nếu tỏ ngộ được pháp tối thượng thừa thì tâm
chẳng trụ bên đây cũng chẳng qua bên kia, nên lìa
được cả đây kia vậy.
Thưa, vấn đề cái “cặp” quan hệ ghê lắm. Chỉ như
vấn đề Nam với Bắc, mà chúng ta có nhiều
người đã
mọc gốc mọc rễ ở trong tâm. Cứ hễ người Nam
nghe nói đến người Bắc là ghét, người Bắc nghe
nói
đến người Nam là ghét. Vì vậy đánh nhau hoài
không dứt. – Nên chỉ có vấn đề chấp tướng, chấp
danh ngôn cũng đủ làm phòng tuyến dẫn hỏa châm
mồi cho trận chiến của cả thế giới dễ dàng.
* Nếu thấy bờ bên kia chẳng khác hơn bờ bên đây,
cái tâm của người ấy đã được cái định vô thiền.
Nghĩa là nếu thấy được cả hai bề lưng và lòng
của
một bàn tay thì thấy được bàn tay thiệt. Nếu
thấy
được hai bề thiện với ác, nghịch với thuận của
một
sự việc thì mới thấy được tận nguồn tâm linh. Hễ
động dụng ra thì có tướng thiện tướng ác. Lui vào
lúc chưa động dụng thì vốn không có hai tướng.
Thế
mới biết: thiện với ác chỉ là đồng tiền hai mặt.
Nếu
không có đen thì làm sao định được trắng; không
có
trắng làm sao định được đen! Không có những cái
chung quanh tôi làm sao định được cái TÔI !
Không
có thiện thì lấy đâu để định cái ác, không có ác
thì
lấy đâu để định cái thiện! Không có chúng sanh
lấy
đâu có Phật, không có Phật lấy đâu có chúng
sanh!
Nên biết có danh từ Phật là tại có danh từ chúng
sanh. Nếu biết được vậy, mới thấy rõ chúng sanh
với Phật không phải là hai chuyện. Phương chi
chúng ta ở trên qủa địa cầu này - Địa cầu là một
phần tử trong Thái dương hệ ; Thái dương hệ là
phần từ thật nhỏ trong khối ngân hà ; khối ngân
hà
là một phần tử ở trong vô số khối ngân hà trong
hư
không này. – Tôi muốn nói vốn từ cái “không có
gì
hết” mà hiện ra cái “có”. Đến khi có mình rồi,
tưởng
đâu cái MÌNH là chắc thật nên tranh chấp, tàn
hại
lẫn nhau. Những cái đó đều xuất phát từ sự không
hiểu biết, từ lòng không có yêu thương lẫn nhau
cả.
* Phiền não gọi là chúng sanh, tỏ ngộ gọi là Bồ
đề,
cũng chẳng một chẳng khác, chỉ khác nhau ở mê
ngộ.
Điều này rõ lắm. Thí dụ tôi vừa bị mất 20 ngàn
đồng, vì nghèo qúa nên tôi khổ sở đến muốn tự
tử.
Bây giờ có người cho tôi biết: Ở đời muôn sự của
chung. Chuyện đã lỡ mất không tìm được. Bây giờ
nếu khổ thì lại càng kéo dài cái khổ tăng thêm.
Nếu
không khổ thì ngay bây giờ được lời cái không
khổ,
mà mình còn làm được việc khác để sống. Thôi,
nên
bỏ qua chuyện đó đi thì khỏe hơn! – Tôi nghe
được,
nhờ bỏ qua mà khỏe. Vậy cái mệt hồi nãy với cái
khỏe bây giờ có một thằng chớ đâu phải hai! –
Nên
biết hễ mê thì mệt, hết mê thì khoẻ chớ không có
thêm bớt gì hơn!
* Khi mê có thế gian để ra khỏi, khi ngộ không có
thế gian để ra. Trong pháp bình đẳng chẳng thấy
phàm phu khác với thánh nhơn.
Sự thiệt, chính hồi tôi mới đi tu, lòng tôi luôn
bồn
chồn làm sao cho ra khỏi thế gian. Đến khi nhận
ra
được thằng mình là gì rồi, thì thấy không có chỗ
nào
là thế gian hay không thế gian hết. Chỉ có mình
tỏ
ngộ hay không tỏ ngộ mà thôi.
Phần đông chúng ta hồi mới đi tu thì thấy thiên
hạ
đều quấy hết, chỉ có mình phải. Tu một lúc lâu
thấy
thiên hạ có quấy có phải, mình cũng có quấy có
phải. – Tu thật lâu hơn nữa rồi mới thấy thiên
hạ
không ai quấy hết, chỉ có mình quấy hay không
quấy mà thôi. Do đó thằng MÌNH là cái đầu dọc. –
Mình đi ra đường có kẻ hầu trước, người hầu sau,
nên tưởng là mình mạnh lắm; nhưng nhớ lại thì
mình là thứ yếu xìu, có đủ thứ sợ hãi lo âu
trong
lòng. Cũng như đi tu mà ra đường phải có người
hầu. Tự cho là mình oai lắm; nhưng đó chíng là
lòng
sợ người ngoài nhìn mình không to bự mà ra. Nên
rốt cuộc là mình bị mắc kẹt. Chỉ bao nhiêu đó
cũng
khó lắm rồi!
Nên phần đông chúng ta hồi mới tu thì nôn nao đi
tìm lối thoát cho ra khỏi thế gian. Đến khi nhận
ra
được tâm tánh rồi, mới thấy thế gian chính là
cái
tâm của mình, chớ không có ở đâu ra. Khi mê thì
có
thế gian để thoát, khi ngộ thì không có nghĩa
thế
gian để thoát nữa.
Vấn đề ở trong pháp bình đẳng, không có thấy
phàm phu khác thánh nhơn. Thật ra, tại mình lầm
thánh nhơn là cái gì ở trên cao, còn mình là thứ
ở
dưới đất cáy; thì mới thấy phàm phu khác thánh
nhơn. Bởi vì chính mình mới là người bịnh hoạn
mất bình thường, nên làm thế nào chữa cho hết
bịnh
mất bình thường của mình, thì tự nhiên thấy phàm
phu với thánh nhơn vốn không phải hai. Nếu chúng
ta không có cái thấy đó thì việc dùng pháp sẽ
trở
nên tai hại vô cùng. Thí dụ nhà Phật bày ra pháp
khi
vô tu đốt mấy liều trên đầu, là để tượng trưng ý
nghĩa xả thân cầu Đạo. Nhưng bây giờ thì nó đã
trở
thành cái “ga lông”! Hễ có một hai liều thì càng
tự
cao thêm. Tai hại đến thế!
* Kinh nói: pháp bình đẳng nghĩa là phàm phu
không thể nhập, nhị thừa không thể hành. Chỉ có
bực đại Bồ Tát và chư Phật Như Lai có thể hành mà
thôi.
Nói như vậy không có nghĩa là phàm phu thì muôn
thuở là phàm phu. Đó là nghĩa người nào tỏ ngộ
tâm
tánh, người đó là Bồ Tát. Người nào biết được
tâm
linh, áp dụng hết mọi mặt, thì người đó là Phật.
Người nào chưa phải như vậy, dù có nói gì cũng
là
chúng sanh nói mà thôi. Chỗ đó Lục Tổ định nghĩa
rất xác thực : “Minh tâm mới là Bồ Tát”. Hễ
không
minh tâm là không phải Bồ Tát. Vậy minh tâm là
gì? - Là tỏ ngộ nguồn tâm tánh của mình. Hễ tỏ
ngộ
suốt nguồn tâm tánh của mình thì tự nhiên 6 độ
muôn hạnh vốn đủ; là vì đến đó không còn hai
tướng nữa. – Do vậy, dù không muốn tạo ra lòng
từ
bi, lòng từ bi cũng vốn sẵn. Nên lòng từ bi
kkhông
phải là thứ đặt tên, không phải là thứ từ bi ở
ngoài
ráp vào, hay là thứ ban ơn nghĩa cho kẻ yếu hơn
mình. Đó là cái thấy tất cả sự đời với mình vốn
chỉ
có một thân thôi. Bây giờ “từ bi” đã biến ra
nghĩa
ban bố, thi ân chớ không còn nghĩa đích thực
nữa.
* Nếu thấy sanh khác với tử, động khác với tĩnh
đều
gọi là chẳng bình đẳng.
Sự thật là mình thì ham sống sợ chết: còn qua
cõi
chết, nó thấy cõi chết mới sống, con người sống
là
chết. Nên biết chúng sanh hễ ở chỗ nào thì chấp
chỗ
ấy.
Cái chấp tuy vậy nhưng lạ lắm. Tất cả mọi người
không có ai giống ai dù cho thân thể xấu xí,
bịnh
hoạn chăng nữa, cũng vẫn thấy vừa ý, đeo chắc
lấy
thân này. – Chúng ta thử nghĩ: nếu hồi tới lãnh
cái
thân, người ban cho cái thân xấu thì thật mình
không vui. Nhưng lãnh cái thân rồi qua ngày sau,
dù
nó xấu thế nào mình cũng thấy tốt; cũng thấy cần
đeo chắc lấy nó. Qủa thật lạ!
Có lần một người tu Tịnh Độ đến than với tôi:
Thầy ơi Thầy, sao tôi cứ đau hoài chịu gì nổi! –
Tôi
nói: nếu nó không làm vậy thì làm sao chết được!
Vả lại bà muốn mau vãng sanh mà sợ chết quá sao
được! Bà cười. Thành ra một mặt niệm Phật để cầu
mau vãng sanh, một mặt lại sợ chết; một mình mà
mâu thuẫn hai việc.
Thêm nữa, tâm lý con người bình thường ai cũng
sợ chết. Nhưng khi xuông vào cõi tình trường,
được
chết trong vòng tay người khác phái mình thương
yêu thì lại thấy đó là cái “đã” chớ không phải
cái
chết! Cũng như trường hợp đau ban, nếu để người
khác phái nuôi thì dễ chết lắm mà là cái chết
“đã”!
hay trong những cuộc tình duyên của anh em họ,
bị
dòng họ không bằng lòng. Hai người bèn dắt nhau
vào hang núi, đổ dầu lửa, châm hột quẹt đốt rồi
ôm
nhau cùng chết. Vậy là cái chết “đã” chớ đâu
phải
chết khổ. Cái chết “đã” tuy làm vậy nhưng không
phải đó là bằng lòng. Bởi nếu bằng lòng sao lại
khóc! Đó là nghĩa kẹt lắm, vì cuộc sống không
thể y
như ý muốn được, nên bây giờ tìm thử qua cõi bên
kia. – Nên tham sống sợ chết hay tham chết sợ
sống
cũng là một thứ trở hai bề vậy thôi. Sợ sống
khổ, ra
cầu Bình Lợi nhảy xuống để tìm cái yên, thì cũng
là
một thứ sợ sống, chớ không phải là không khoái
sống. Nếu cuộc sống đừng có lộn xộn thì thích,
vì
kẹt qúa nên mới làm như vậy.
Nên nghĩa ham sống sợ chết là tại mình thấy nằm
làm thinh nhăn răng mà ngán. Sự thật, khi cái
chết
đến liền tức thì, sẽ không có ai sợ hết.
* Chẳng thấy phiền não khác với Niết Bàn, thế mới
gọi là bình đẳng.
Nói cách khác: Nếu thấy sóng với nước không
khác thì mới là bình đẳng. Nếu chỉ nhìn thấy
sóng
có lên lên xuống xuống. Nhìn luôn cả sóng với
nước
thì thấy chỉ toàn là nước. Nên biết: sóng là
hình của
nước, nước là từng đáy của sóng.
* Vì sao thế? Vì phiền não và Niết Bàn cùng một
tánh không. Cho nên người nhị thừa vọng dứt trừ
phiền não, vọng nhập Niết Bàn, tự tạo Niết Bàn để
trói buộc. Còn Bồ Tát biết được tánh phiền não vốn
không, nên chẳng lìa không, thường ở Niết Bàn.
Niết Bàn nghĩa là khơi mà chẳng sanh, tịch mà
chẳng chết, vượt khỏi sanh tử là bát Niết Bàn. Tâm
không có đi và đến là nhập Niết Bàn. Thế mới biết
Niết Bàn tức là tâm không.
Nghĩa là một người trong tâm rỗng rang,
rời-rảnh,
động dụng đừng mê, cuộc sống tự tại, không có bị
cái gì ràng buộc. Đó là Niết Bàn.
* Chư Phật nhập Niết Bàn là ở chỗ không vọng
tưởng, Bồ tát vào đạo tràng là không tham sân si
vậy. Tham là cõi dục, sân là cõi sắc, si là cõi vô
sắc.
Thưa, « si » là cái chết « đã » tôi vừa nói đó.
Còn
tham và sân thì chúng ta ai cũng biết rồi.
* Nếu một niệm tâm sanh liền vào 3 cõi, một niệm
tâm diệt là ra 3 cõi.
Nói cách khác là : Nếu một niệm lià khỏi nguồn
tâm linh của mình thì vào 3 cõi. Một niệm vẫn tỏ
ngộ nguồn tâm linh của mình thì 3 cõi dứt. Bởi
vì
đến chỗ đó không có 2 tướng nữa.
* Thế mới biết : 3 cõi sanh diệt, vạn pháp có
không
đều do một tâm. Phàm nói một pháp là cũng giống
như đập ngói gạch, chẻ tre gỗ vô tình.
Nghĩa là hễ nói có một, là có đủ thứ. Bởi vì
mình
nhìn vào từ tướng, chớ bổn lai vốn không có lìa.
Nếu nói có lìa, tại sao cầm cây quạt quạt nghe
nặng ?! Nếu nói rời từ cục, từ cục, tại sao
chúng ta
nói chuyện với nhau được, tại sao vô tuyến
truyền
thanh truyền hình thực hành được ?
Nhưng phải đề phòng khi tôi dùng trí óc phóng
trở
ra mà nghiệm, tôi cũng thấy được hình như bao la
này không có hai tướng ; nhưng sự thật khi lui
lại
nơi con người tôi thì tham sân si vẫn còn
ngưyên.
Do vậy Phật gọi cái đó là « sở tri ngu », nghĩa
là
biết qúa hóa ra ngu, vì biết trở ra không phải
là thiệt
biết. Cái biết đó không giúp ích gì cho chính
con
người của mình cả. Cũng như khoa học ngày nay đã
rơi thẳng vào cái mà Phật gọi là « sở tri ngu »
là
vậy.
Đến đây tôi xin nói thêm qua bộ Tây Du Ký, là
một bộ sách viết theo thể tài lạ kỳ để diễn tả ý
nghĩa
kinh Phật. – « Tôn-Ngộ-Không » là tượng trưng
cho sự hiểu biết bằng cái trí ; nên mặc dù cái
biết đó
có thể lui tới xứ Phật đều được, nghĩa là thấy
được 2
tướng không phân, nhưng cái tên đó chỉ là pháp
danh mà thôi, nên vẫn còn phải đội Kim cô và thờ
Tam Tạng làm thầy. - Do đó lý trí dù đến như
khoa
học ngày nay lên được cung trăng, phóng phi
thuyền
vượt không gian, đổi trái tim, thay tròng mắt
v.v...
cũng vẫn ở trong phạm vi nhân qủa, nghĩa là vẫn
bị
đội niềng Kim Cô. Chừng nào trở vô trong con
người của mình, hoàn toàn tỏ ngộ chính con người
của mình rồi, thì khỏi dùng thước bảng để cạy
Kimcô
cũng tự nó rớt ra. Khi đó trọn nguồn tâm linh
chúng ta mới chảy một chiều ; nên qua tới xứ
Phật
rổi Kim-cô tự rớt hồi nào không hay. Nghĩa là hễ
một người đã giác ngộ thì không ai trói buộc
được.
Nếu chưa giác ngộ mà còn nghinh ngang thì không
lãnh sợi dây chuối cũng lãnh cái còng bằng
« inoxidable » cũng thế thôi !
Bộ sách đó do một người tu chứng viết, trong đó
nhiếp cả Khổng-Mạnh-Lão-Trang và Phật. Vô đề
bằng lối Dịch Lý với văn minh Trung Hoa, cốt để
dùng văn minh Trung Hoa mà diễn tả văn minh Ấn
Độ. – Có lần tôi thử hỏi một ông tăng :
- Ông đọc bộ Tây Du rồi thấy trong đó ai hay
nhất ?
Đáp : Tôn Ngộ Không hay hơn hết.
Tôi nói : Không phải.
Hỏi : Vậy ai hay ?
Tôi nói : Người viết hay hơn hết ! vì tác giả đẻ
ra
được Tôn Ngộ Không mà ! - Người đó nếu chưa
chứng thì không viết được như vậy.
* Nếu biết được tâm chỉ là giả danh tạm gọi chớ
không có tướng, thì liền biết cái tâm của tự mình
cũng không phải có không phải không.
Nghĩa là tâm không phải là thứ đem tướng mà mò
kiếm được, vì thế nên biết được bao la với tâm
ta
không phải là hai, không có trong ngoài. Đây là
nghĩa trong kinh Kim Cang nói : Nếu mắc kẹt vào
trong sắc mà tìm sự thật, mắc kẹt vào âm thanh
mà
tìm sự thật, thì người đó đã lầm rồi, sẽ không
bao
giờ thấy được sự thật (nhược dĩ sắc kiếm ngã, dĩ
âm
thanh cầu ngã, thị nhơn hành tà đạo, bất năng
kiến
Như Lai).
Nói rộng hơn, các nhà khoa học ngày nay, nhìn
cái lớn họ không dám nhìn đến mất cái tướng, mà
nhìn cái nhỏ cũng không dám nhìn đến mất cái
hình.
Vì thế khoa học nhìn cái lớn, bất qúa chỉ tới
các
tướng tinh cầu trong vũ trụ này ; nhìn cái nhỏ
cũng
chỉ tới siêu nguyên tử mà thôi. Đến chỗ máy móc
không thể nhìn được nữa, rồi hoảng sợ quay trở
lại.
Bởi lẽ khoa học chỉ toàn áp dụng ngôn ngữ văn
tự,
lý trí tính toán, máy móc dụng cụ, nên kết qủa
không đi đến đâu. Lý trí cũng như đèn Pin, hễ
pin
nhiều thì cầm rọi được thật xa, nhưng chỉ sáng
suốt
được một hướng thôi, dời sang hướng khác thì
hướng kia sẽ tối. – Nên lý trí khó bắt được sự
thật là
vậy.
Còn tôi nói đây, không phải là cách xài như thế
!
Thí dụ tôi bố trí bóng đèn điện khắp chung quanh
chùa này, công tắc để trong phòng, tôi tắt đèn
đi ngủ
- Đến khuya có người hay ăn trộm đang rình ở
ngoài. Bây giờ tôi bật công tắc, đèn sáng khắp
nơi,
thì tên trộm đó chạy đâu cho thoát !
Mỗi con người chúng ta vì cái thấy bị kẹt ở
trong
con mắt, cái nghe bị kẹt trong lỗ tai, cái ngửi
bị kẹt
ở mũi, cái nếm kẹt ở miệng, cái trí kẹt ở đầu
... từng
khối đều riêng nên cái biết không được suốt
khắp.
Sự thật không phải vậy – Khi mũi hít vô thì trọn
hết
mặt da thở ra, miệng thở ra thì trọn hết da mặt
hít
vô. – Mỗi một tế bào trong thân chúng ta là một
con
người, đều có đủ cơ cấu thấy nghe hay biết. Nên
phải lìa cái TÔI thì cái thấy mới trọn vẹn được.
Chỗ
đó khoa học ngày nay chưa biết chỗ đó cũng là
chỗ
đáng thích thú nhất !
Phương chi, bao la vốn không có vách ngăn. Nếu
có vách ngăn hẳn thì làm sao chế được vô tuyến
truyền hình ! Nhưng chúng ta chế được vô tuyến
truyền hình mà vẫn bị ngu là tại sao ? – Là tại
mình
để sự việc ở ngoài mà nhìn, nên bỏ quên mình ở
ngoài. Cũng như chúng ta học y khoa, mổ bịnh
nhơn
ra ai cũng thấy thân này chỉ là từng phần tổ hợp
chớ
không có gì hết. Nhưng tốt nghiệp ra trường,
đụng
vấn đề sắc thì cũng vẫn bị kẹt như thường, cả
vấn đề
tình tài cũng không qua khỏi được. Còn mấy ông
thầy tu khám phá chính mình trước, nên rồi nhìn
ở
đâu cũng thấy suốt. Nên biết việc gỡ cặp kính
đen
để xuống là việc làm khôn ngoan nhất. Hiển nhiên
vậy !
* Vì sao thế ? – Vì phàm phu một niệm sanh tâm
gọi là có, tiểu thừa một niệm diệt tâm gọi là
không.
Còn Bồ Tát và Phật chưa từng sanh tâm cũng chưa
từng diệt tâm, cho nên gọi không phải có không
phải không. Chỗ này cũng gọi là Trung đạo.
Nghĩa là một đàng ráng phủ nhận cái « có », còn
một đàng mắc kẹt trong cái « có ». Sự thật, nếu
đừng mắc kẹt thì tâm cũng giống như cái gương,
nên còn gọi là gương lòng. Cái gì đi qua thì có
bóng
dọi, bóng này qua tiếp đến bóng khác, chớ không
chứa giữ lại. Trái lại, khi mê thì tâm giống như
phim hình ; hễ bấm thì nó chụp, bấm nữa thì cứ
chụp chồng lên tiếp. Đó không phải là nghĩa
Trung
đạo.
Đến đây còn một khoảng thời gian, tôi xin nói
qua
về chuyện Tây Du. Trong đó có chép chuyện Thầy
Trò Tam Tạng đi đến Tiểu-Lôi-Âm, bị con yêu phá
rối không qua được. Con yêu đó là đồng tử của
ngài
Di Lặc, nhân lúc ông ngủ quên nó lén cắp cái
chặp
chỏa và cái ruột ngựa (còn gọi là đải hậu
thiên),
đem 2 món bửu bối đó xuống làm yêu quái thâu cả
thầy trò Tam Tạng nhốt vào. Quan hệ đáng nói là
cái đải hậu thiên ; đó chỉ là một cái túi bẳng
vải màu
vàng, không có gì ở trong cả nhưng nó thâu hết
thầy
trò Tam Tạng và tất cả những người đến tiếp viện
cho Thầy trò Tam Tạng như Tứ vị công-tào, Ngũ
phương Yết đế .... đều bị kẹt hết. Chỉ có Ngộ
Không
nhờ cái trí nên nhảy khỏi, nhưng vẫn phải tránh
mệt
lắm vì hễ nhảy lên là bị thâu !
Hồi nhỏ đọc chuyện Tây Du, đến đây tôi không
hiểu nói gì cả. Đến khi tôi đi tu trên núi, một
hôm ăn
sáng xong rồi đi đốn cây cất cốc, bỗng tôi sực
nhớ :
Sao lại gọi đó là đải hậu thiên ! Mới nhớ ra hai
chữ
« hậu thiên » theo tinh thần Á Đông là ám chỉ bộ
tiêu hóa, hai đầu trên dưới đều trống. Chính cái
túi
trống hai đầu đó là nền tảng cho cuộc sống mà
cũng
là nguồn cội của vấn đề kinh tế chiến tranh. –
Do đó
hễ còn kẹt vào vấn đề ăn uống kinh tế thì bị đải
hậu
thiên tóm thấu hết. Ông Di-Lặc là người đi vào
nểo
của thức thứ 6, lý trí, còn cái xác bỏ lại là
thẳng
đồng tử và cái đải hậu thiên. Trong kinh Pháp
Hoa
nói tiền thân của Di Lặc là « Cầu Danh Bồ Tát »,
tu
hành mà làm biếng tụng niệm, ưa dựa theo quyền
thế mấy ông nhà giàu, nên kẹt lâu giải thoát.
Tôi sực nghĩ ra thằng đồng tử đó không ai đâu lạ
là
trận giặc hiện giờ. Đó là trận giặc lấy kinh tế
làm
nền tảng để thắt chặt cái ăn, nắm then máy cái
ăn
mà khơi chiến tranh. Nên bây giờ hầu hết các cửa
chùa, nhà thờ, nhà thánh ... đều bị lung lay về
vấn
đề kinh tế. Ai cũng sợ đói, cũng đua nhau vấn đề
là
mình phải. Do đó tất cả các cửa tôn giáo đều khuyến
khích làm phước ; chớ nếu không đưa vấn đề phước
ra, e rằng không hấp dẫn được Phật tử, thì vấn
đề ăn
của mình sẽ cũng bị ảnh hưởng chăng ?! Thế là
tất
cả đều chạy đua theo việc làm phước. Hiện nay
thế
giới đang lâm vào tình trạng : phe bên kia Cộng Sản
cũng lấy kinh tế làm bàn đạp tính gom thế lực về
mình ; phe tư bản cũng lấy kinh tế làm bàn đạp
để
thao túng vấn đề ăn uống, gom thế lực về mình. –
Tôi bừng thấy hết mọi chuyện - Bỗng tôi hoảng
hốt,
nghĩ rằng bộ Tây Du đã xưa lắm rồi, thế mà người
ta biết đến tình cảnh bây giờ như vậy, qủa thật
không phải là chuyện chơi !
Chúng ta hãy để ý bao nhiêu vấn đề tranh nhau để
phá hoại nền tảng tất cả các dân tộc nhược tiểu,
phá
hoại đến tận cùng tinh thần dân tộc cũng đều lấy
vấn
đề kinh tế làm nền tảng. – Cũng từ chỗ đó, tôi
làm
cho ông thiệt nghèo, để ông không có chỗ theo ai
mà phải theo tôi. Hay tôi giúp cho ông thật dư
dã để
ông bại hoại và sẽ theo phe tôi. – Cũng như tôi
nuôi
con bò, bắt kéo xe làm việc vất vả mà không cho
ăn
thì con bò oán tôi. Còn tôi nuôi con heo cho ăn
đầy
đủ, o bế tắm rửa kỹ lưỡng, thì con heo thấy
khoái ý ;
nhưng không dè tôi làm vậy để một lát tôi bán
được
nhiều tiền ! Hai thế đó cũng là một, thế thôi !
Chúng ta hãy để ý thêm một chuyện này cũng rất
quan hệ : Tôi vẫn còn nhớ rõ khi tôi còn nhỏ,
hãng
thuốc Melia mới lập, đem thuốc cho đồng bào hút
thử. Nhiều người không biết hút, nhưng nghĩ
người
ta cho không mà không lấy là dại ; nên lấy đốt
ngậm
thử. Ít ngày quen lần, muốn hút phải mua. Thế là
hãng thuốc bán được mối. Một lúc thấy bán không
chạy, hãng bèn chế ra ống điếu đem cho để ghim
thuốc vào hút cho oai. Được ống điếu cho không
nữa, nên ai cũng thích ghim vào hút. Đến chừng
đó,
mình nhìn người không có kẹp điếu thuốc, vắt ống
điếu ; thấy như người đó không phải là người ta
vậy ! Đến một lúc thấy đình đốn nữa, hãng làm
mỗi
gói thuốc đều có chụp hình một cô đầm lõa thể đủ
kiểu. – Lâu ngày người ta nếu không ghiền thuốc
thì
cũng ghiền cái hình đó !
Người xưa nói : « Đói cơm khát nước tèm hèm.
No cơm ấm áo lại đòi nọ kia ».
Nên biết thiệt sướng và thiệt khổ tai hại y
nhau,
không có nghĩa lý gì hết. - Nếu không biết như
vậy
thì chết với cả hai thứ đó – Cũng như người Mỹ
sang đây viện trợ cho chúng ta, bày ra phân hóa
học
để bón cây cho tốt. Bình thường đất đai xứ mình
làm không cần bỏ phân mà vẫn tốt, nay bón thêm
phân vào vì tham huê lợi được gấp bội, nhưng chỉ
được 2,3 năm đầu, về sau hễ không có phân thì
đất
chai cứng, cây cỏ héo xèo hết. Nên trái cây
trồng ở
đất bón phân cũng ăn không tốt như trái cây tự
nhiên. Cũng như cơ thể của chúng ta vốn là một
kho
tàng chế hóa các thức ăn uống đưa vào, bây giờ
không có bịnh, mà cứ cho thuốc bổ thêm vào. Lâu
ngày, cơ thể mất khả năng chế hóa mà sanh ra
lười
biếng . Đó là cách viện trợ kiểu Mỹ, là một cách
phá
hoại vậy. Cũng như con nhà giàu phần đông được
tiếp dưỡng đầy đủ đều không ra gì hết.
Do chỗ đó, chỉ có quay trở vào trong mình thì
mới
tránh được gọng kềm kinh tế chánh trị nó xiết
chặt.
Nên tất cả chúng ta, nếu cuộc sống không còn bị
vấn đề kinh tế thao túng thì mới được bình an
yên
ổn.
Hỏi : Thưa, Thầy nghĩ sao về vấn đề châm cứu
hiện nay ? Người Mỹ đang xôn xao về vấn đề Trung
Cộng đã áp dụng châm cứu vào khoa giải phẩu,
ghép da, nhổ răng ... không đau đớn mà người vẫn
khoẻ như thường.
Đáp : Thưa, cái đó không có chi lạ hết. Chúng ta
bây giờ tinh thần đã bị phá sản rồi, nên dễ bị
người
ta ý hà lắm ; cho đến người Mỹ cũng bị Trung
Cộng
ý hà, nên đổ sang Trung Cộng tìm học. - Thật ra
chuyện châm cứu ngày nay không còn mang sắc
thái trung thực của nghĩa châm cứu nữa, mà đã đi
vào trong tả đạo bàng môn. Nên chỉ cần về phương
diện kỹ thuật, điều kiện vật chất, và dựa hẳn
vào
kinh nghiệm sống của người trước để lại mà thôi
;
bỏ hẳn chiều hướng trọn vẹn của nền tảng thâm
sâu.
Cũng vì thế mà họ không thể giải nghĩa về lý do
kết
qủa. Như vậy là chỉ thấy chớ không phải hiểu.
Nếu chúng ta tuần tự đi sâu vào trong NỘI KINH,
quyết định khám phá trọn vẹn con người thì sẽ
thấy
rõ chuyện đó không có chi lạ. Nếu chúng ta chạy
đua theo hướng đi ra mãi rồi sẽ thấy đó mà sợ,
sợ
rồi sẽ săn đuổi theo ; thành ra chúng ta đều trở
ra
ngọn hết. Do vậy tôi bằng lòng hạ thấp xuống đến
tận cùng tới gốc, rồi mới đi lên nhánh nhóc ;
thì mới
có được căn bản vững chắc. Nên biết bây giờ
người
ta đang nôn nao, mà tôi vẫn thản nhiên bình tĩnh
làm việc ... Do vậy cũng có những người đến đây,
phần nhiều nhìn bề ngoài nghĩ rằng tôi không có
đi
Nhật, đi Tàu hay Pháp Mỹ ... là một sự thiếu sót
cho
việc tu học ... theo tôi, chân lý không ai có
thể đầu
cơ được, và vốn cũng không phải của riêng ai.
Điểm
này mong quí vị thận trọng nghiệm xét.
*
* * *