Thứ Hai, 17 tháng 6, 2013

BỒ ĐỀ ĐẠT MA QUÁN TÂM PHÁP - THÍCH MINH THIỀN phần1

Bồ Đề Đạt Ma
Quán Tâm Pháp
Hành Giả Minh Thiền
Dịch và Luận Giải
Quán Tâm Pháp
Là tên chung cho ba thiên luận về Ngộ Tánh - Huyết
Mạch – và Phá Tướng của BỒ ĐỀ ĐẠT MA TỔ
SƯ do Thầy Thích Minh Thiền luận giảng trong
những buổi thuyết pháp tại chùa Hội Tông Phú Định
Sau khi tham dự khóa giảng, toàn thể đạo hữu đồng
khóa cũng như nhà xuất bản chúng tôi nhận thấy ba
Thiên Luận về phép QUÁN TÂM của BỒ ĐỀ ĐẠT
MA TỔ SƯ qủa là huyết mạch cho việc tìm đạo và
học đạo.
Chúng tôi xin thầy cho phép được kết tập và xuất
bản để anh em đạo hữu đồng khóa có đủ tài liệu ôn
học đồng thời cống hiến cho Phật tử bốn phương
tham chiếu.
Chúng tôi xin chân thành cảm tạ thầy Minh Thiền
đã có công giảng giải và hoan hỷ cho phép chúng tôi
được xuất bản theo sở nguyện.
Phú Định ngày rằm tháng giêng năm Ất Mão
Nhà xuất bản
QUẾ SƠN – VÕ TÁNH
Lời Tựa
Thế nào là chánh pháp? - là pháp còn đúng y như
tinh thần người khai sanh ra nó (Ông Phật)
Thế nào là tượng pháp? – là bề ngoài thấy còn hình
như giông giống, nhưng kỳ thậ t đã sai với chánh
pháp nhiều rồi.
Thế nào là mạt pháp? – là pháp đã mất gốc, không
còn ra gì nữa. Nhưng tại sao pháp Phật mà lại có
mạt? Tại sao mạt-pháp lại là bây giờ? tại sao Phật
giáo hiện đang đổ dốc xuống hố? Tại sao toàn thể
loài người đang chảy cấp bách về sụp đổ? Kinh nói:
“nếu lòng ta là ma, thì Phật có đến Phật cũng hóa ra
ma”. Thế thì pháp Phật đã hóa ra pháp ma, con Phật
đã hóa ra con ma, lý rất hiển nhiên. Giả sử mỗi
chúng ta đừng quên trở lại với chính mình, mà khám
phá khai thác tận cùng những gì bí mật trong cái
tháp Đa Bảo nầy cho ông Phật Đa Bảo trong tháp
được hiển hiện, thì vấn đề mạt-pháp còn thành vấn
đề nữa không? Thế mới biết: chánh pháp vẫn đang
diễn, chỉ có ta mạt hay không mạt mà thôi.
Tại sao có ba thiên luận này ra đời? tại sao thiên đầu
là Huyết-Mạch, thiên giữa là Ngộ-Tánh và thiên
chót là Phá-Tướng? Tướng gì mà phải phá? Mà quả
tướng có bị phá không? hay là phá tướng nghĩa là
phá cái tâm ma đóng cứng theo tướng? Tác giả thấy
cái gì đó mà để lại 3 thiên luận này? Thế mới biết:
nếu pháp Phật không trở thành pháp ma, cốt Phật
không trở thành cốt ma, Phật-giáo không trở thành
ma giáo, chùa Phật không trở thành chùa ma, thì 3
thiên luận này quyết định không có mặt ở đây.
Người xưa nói: đọc sách là để cầu lý. Lý là gương
dùng để soi lại lòng người. Thế mới biết: nếu không
dám chấp nhận những điều kiện đã kể trên, không
dám nhìn nhận sự thật, vì sợ mất cái TÔI, vì mong
cầu gom bó cho sự nghiệp của cái TÔI, vì tìm nơi
nương gá cho cái TÔI được yên thân, vì muốn tìm
chiêu bài để chen lấn tranh đoạt mà đọc 3 thiên luận
này, thì luận này chẳng qua cũng chỉ là pháp ma để
giúp cho ma lớn ma nhỏ được đủ điều kiện ăn trên
ngồi trước thế thôi! Đó là điều cần biết trước khi
đọc.
DỊCH GIẢ CẨN CHÍ
Hành giả: MINH THIỀN
TUẦN THỨ NHỨT
28 – 5 – 1972 (16 – 4 N. Tý)
Đây là một tài liệu “thấy tánh” của Tổ Đạt Ma. Tôi
thấy rất quan trọng đối với cơ bây giờ, nên đã cố
công dịch từ một bổn chữ Nho chép tay có nhiều
chỗ sai lầm. Tôi đã điều chỉnh kỹ, mong rằng mọi
người để ý lưu tâm.
Tài liệu này gồm có 3 phần:
1/- Luận về hệ thống Huyết Mạch tâm truyền
2/- Luận về Ngộ Tánh
3/- Luận về Phá Tướng.
*
* *
Trước khi vào chánh văn. Tôi xin nhắc lại vài ý
chánh để mọi người nghe được dễ dàng hơn:
1/ Khi muốn quay phim, dù ngoại cảnh thế nào,
miễn chỗ chúng ta đứng cho vững, máy tốt, thì tự
nhiên chúng ta chụp được. Nếu chỗ đứng không
yên, hoặc chúng ta nhảy nhót, thì ngoại cảnh có yên
đi nữa cũng chẳng chụp được gì. Trước khi sử dụng
máy điện tử, phi cơ hay xe đạp cũng phải điều chỉnh
xem xét hẳn hòi mới được. Cũng vậy, khi muốn
khám phá cuộc đời, mỗi con người chúng ta là một
dụng cụ, thì không thể vì lý do gì mà chúng ta
không lưu tâm tự điều chỉnh cái ‘máy mình’ cho
chính xác vững vàng, để những điều mình khám phá
được khỏi lệch lạc, sai lầm. Tôi thường nói: dù chỉ
một mảy bụi trần rơi vào mắt cũng đủ làm khuất cả
bầu trời; một chút xíu mê lầm của cái TÔI dù nhỏ
đến đâu cũng đủ che mờ cả bầu linh-năng muôn
thuở. Dù cho tôi nói Thiền, nói Đạo, nói chân lý, nói
phải quấy chi chi đi nữa, mà tôi không biết gì về cái
TÔI, về con người của tôi thì lời nói của tôi bất quá
cũng chỉ như con vẹt mà thôi. Do đó việc trước nhất
là phải lưu tâm đến mình. Nếu không thế thì dù học
hết 3 tạng kinh điển của nhà Phật tôi cũng chỉ là một
cái thùng chứa để được ăn trên ngồi trước, chứ
không có ích lợi thực-tế gì cho tôi và người chung
quanh cả. Đó là điều trước nhất chúng ta cần phải
cùng nhau ghi nhớ.
2/ Con người sanh ra, trái tim có trước, bộ óc có
sau, cho nên cái tâm có trước, cái trí có sau. Tâm là
gốc, trí là ngọn. Tim là gốc, óc là ngọn. Giờ đây nếu
chúng ta bỏ đi một phần thì không thành cuộc sống.
Không có Tâm có Tim, mà có trí có óc, cũng như
cây mà không có gốc, chẳng khác nào cành hoa cắm
trong lục bình, chỉ là một cuộc sống ngoắc-ngoải
hơi tàn thế thôi. Ngược lại nếu có Tâm có Tim, mà
không có trí có óc, thì cũng giống như cây dương
ngoài kia bị cưa tới mặt đất, chỉ có gốc mà không có
ngọn, không phải là cuộc sống sanh sôi nữa.
Phương chi bỏ quên cái Tâm, chỉ dùng cái trí làm
chánh yếu trong cuộc sống. Thế là cuộc sống của
chúng ta là một cuộc sống chổng đầu. Cho nên có
một người Âu Châu, sau khi biết được lẽ đó có nói :
« Người Âu đi đầu trở xuống, chân trở lên ; còn dân
tộc Á Châu bị truyền nhiễm hơi hám của Âu Châu
nên ngồi trên chân lý mà ngủ gục ». Thật đúng như
vậy !
Cho nên trong cuộc sống chổng đầu mà lại nhảy
chang cháng trong rọ của cái TÔI, thì mọi sự mọi
vật đều đảo ngược nhảy chang-cháng, không chính
xác được. Mà cuộc sống như thế chúng ta đã kéo dài
không biết tự bao lâu rồi … Giờ đây chúng ta có dịp
gặp nhau để cùng học hỏi. Ít ra phải đặt nền tảng
khám phá chính con người của mình là một công vụ
cấp bách, ưu tiên, may ra mới gặp được sự thật. Nếu
không như thế thì vấn đề tiền tài, danh vọng, địa vị,
đối với chúng ta là trên hết. Còn mớ kiến thức mà
chúng ta sắm thêm bất qúa cũng như các nhà giàu
sắm thêm cặp ngà voi.
Cho nên chỉ có tột bực thành thật, giáp mặt với
lòng mình, đừng vội sợ hãi một điều gì, đừng vội
nương dựa ai, cũng đừng vội mong cầu một điều gì.
Cứ để mà hiểu từng chập, từng chập một ngay chính
con người của mình, rồi giáp mặt với tận nguồn tâm
linh của mình, va chạm với sự thật. Chừng đó tự
nhiên giải thoát sẽ đến.
*
* *
Giờ đây chúng ta đi vào phần chánh văn
THIÊN THỨ NHỨT
LUẬN HUYẾT MẠCH
CHÁNH VĂN * Ba cõi lăng xăng đều từ một tâm.
Phật trước Phật sau đều chỉ dùng tầm truyền tâm,
chẳng lập văn tự.
GIẢNG : Vào câu đầu ta thầy khó khăn, hình như
trái chướng với sự thật. Nhưng nếu chúng ta, mỗi
người hãy dứt hết các duyên, đừng mống lên ý niệm
gì cả. Rồi nghiệm thử, hồi chúng ta chưa nghĩ thiện
nghĩ ác gì cả thì cái gì là tâm, cái gì là tánh, cái gì là
vật – và bổn-tâm bổn-tánh của chúng ta là đâu, tức
khắc thấy câu này là đúng sự thật. Nếu ai chưa làm
được, cứ tuần tự nghe tới rồi sẽ rõ.
* Có người hỏi : Nếu không lập văn tự, vậy lấy gì
làm tâm ?
Đáp : Ông hỏi tôi tức là tâm của ông, tôi trả lời với
ông tức là tâm của tôi. Nếu tôi không có tâm thì lấy
đâu biết để trả lời với ông ; ông nếu không có tâm
làm sao ông biết hỏi tôi. Cho nên biết : hỏi tôi tức là
tâm của ông đó.
Thật ra nói như thế mình thấy khó khăn lắm. Vì
nội chữ Tâm không thôi, Á-Đông dùng cũng khó
phân-biệt. Như tim đèn cũng kêu là tâm, cái lõi của
cây cung kêu là tâm, tâm-thức cũng kêu là tâm, mà
bổn-tánh cũng kêu là tâm. Ta thấy chữ Tâm có
nhiều nghĩa không biết lấy đâu làm chuẩn, chứ thật
sự bao la vô tận này chỉ là bầu năng lực viên quang
hồi tụ từ bao la đi vào tận cùng sự vật - Thế viên
chiếu đó tạo ra cái lõi sự vật, trái tim của động vật
và guồng máy tâm thức. - Tất cả cái đó đều đặt trên
nền-tảng gọi là Linh không vô cực, gọi là bổn tánh
linh diệu cũng vậy thôi. Cho nên những cái biết
không ngoài cái đó.
* Từ lũy kiếp đến giờ, nhẫn đế______________n hành tung hoạt
động bất cứ lúc nào, bất cứ chỗ nào đều là cái tâm
vốn có của ông, đều là Phật vốn có của ông. Cái
nghĩa chính tâm mình là Phật là như thế.
Thiệt ra mình nhìn từ người, mình thấy có người
này người nọ, có nam có nữ, có trong có ngoài, có
tâm có vật ; chớ nếu mình buông lòng ra, đừng kẹt
trong cái TÔI thì mới thấy nó tròn hết, không có đâu
là xưa đâu là nay, đâu là tâm đâu là vật cả. Cho nên
biết nếu quay trở lại, soi trở vào mình, đừng nghĩ
thiện, đừng nghĩ ác, ngay hồi đó tìm không thấy đâu
là vật đâu là tâm, đó chính là bổn-tâm bổn-tánh của
mình.
* Ngoài tâm này, rốt-ráo không có Phật nào khác có
thể được. Nếu lìa tâm này mà tìm Bồ-Đề, Niết Bàn
thì thật là không tưởng.
Nghĩa là : nếu lìa nguồn tâm tánh của chính mình
mà tìm Đạo, quyết-định không thể gặp được.
* Tánh chơn thật của tự mình không phải pháp nhân
pháp qủa, đó là nghĩa của tâm
Thưa, ở đây cũng như nói Phật không phải là cái
làm ra. Như thế nghĩa là sao ? Là cái làm ra là
chúng sanh ? Và do đó mà biết cái bây giờ mình có,
gọi là chúng sanh. Đây là cái đã lỡ làm ra, và nếu
đừng làm cái đó ra thì chính mỗi người là Phật. Cho
nên biết Phật không phải là cái làm thêm, làm thêm
là chúng sanh. Nói như thế để mỗi người chúng ta
đừng lầm tưởng tu là đi tìm Phật, là gặp được Phật.
Không thể có gặp Phật, chỉ có khám phá chính con
người của mình để đừng bị vướng vào cái rọ của cái
TÔI, tức khắc bổn-tánh linh diệu xuất hiện. Hồi đó
là Phật. Nếu tôi mê dù Phật đến cũng chỉ là ma, khi
tôi hết mê dù ma đến cũng là Phật.
* Tự tâm là Niết-Bàn. Nếu nói ngoài tâm có Phật và
Bồ-Đề có thể được thì thật không tưởng.
Thưa, khi chưa có cái TÔI, thì tâm với vật không
thành vấn đề. Kẹt vào cái rọ của TÔI thì một phút
quay trở ra tất cả đều đảo điên lộn xộn. Ngược lại,
chết đi cái TÔI thì một phút quay trở vào là đâu ra
đấy. Chúng ta phải để ý, chúng ta ở trên qủa đất
tròn, nhìn ra bầu trời, chỗ nào cũng khum khum như
một bầu thủy-tinh tráng thủy bên ngoài. Do đó khi
nhìn theo chiều lõm vào của bầu trời thì cái đầu trở
xuống. Quay nhìn ra chiếu lồi của qủa đất thì cái
đầu trở lên. Cho nên hễ soi ra là nghịch soi vào là
thuận. Vì thế Phật gọi cái phóng ra là chánh điênđảo;
quay trở vào chính con người của mình là
chánh biến-tri.
* Phật và Bồ-Đề ở chỗ nào ? Ví như có người dang
tay bắt hư-không có được gì không ? Vì sao thế ? vì
hư không chỉ có tên chớ nào có hình tướng ! Bắt đã
chẳng được, bỏ cũng chẳng được. Thế là hư không
không thể bắt được. Trừ tâm này ra mà tìm Phật rốt
rồi không được cũng giống như vậy.
Trong kinh nói : ‘Phật vốn không tướng, chỉ tùy
cái tâm của chúng sanh mà hiện tướng’. Nói như
vậy là sao ? Nghĩa là bổn lai không có Phật nào
khác, chỉ có tâm mình là Phật. Nếu tánh mê thì mỗi
người mê một kiểu, mỗi người tưởng tượng ra tướng
Phật một kiểu khác nhau. Nên ông Phật cuả tôi với
ông Phật cuả mỗi qúy vị đều có phần sai khác. Vì
chỗ đó mà ông Phật cuả Ấn Quang với ông Phật của
Việt-Nam Quốc-Tự là 2 ông. Chỗ đó cần để ý !
* Phật là tự tâm làm ra. Tại sao lìa tâm mà tìm
Phật !? Phật trước Phật sau chỉ nói về tâm. Tâm tức
là Phật, Phật tức là tâm : ngoài tâm không Phật,
ngoài Phật không tâm. Nếu nói ngoài tâm có Phật,
vậy Phật ở đâu ? Ngoài tâm đã không Phật sao lại
còn làm ra cái thấy có Phật để mà dối gạt lẫn nhau,
rồi không thể rõ được cái tâm vốn có của mình, lại
bị vật vô tình nó nhiếp mất tự do nếu không tin hiểu
như thế, để tự dối gạt thật là vô ích. Phật không lỗilầm,
chúng sanh điên-đảo chẳng biết giác-ngộ tâm
mình là Phật. Nếu biết tự tâm là Phật chớ nên tìm
Phật ngoài tâm.
Thưa, nếu cần biết ngoài tâm mình còn có pháp
nào dư nữa hay không (nếu còn dư thì ngoài tâm có
Phật ; còn ngoài tâm không có pháp dư, thì quyết
định ngoài tâm không có Phật). Bây giờ mỗi người
chúng ta hãy nghiệm vào sự thật – Hãy ngừng hết
các duyên đừng nghĩ thiện, nghĩ ác gì hết, đùng
mống lên một niệm, đình chỉ những cuộc xao-xuyến
theo bên ngoài, rồi nghiệm thử hồi đó cái tâm của
mỗi người khác nhau làm sao ? Nếu mỗi người
không nói được tức là nó không khác ; không khác
tức không nhiều ; không nhiều nghĩa là một. Nhưng
có phải một hay không ? ... Rồi bây giờ mỗi người
cứ nghĩ điều gì tùy ý, rồi nghiệm xem có giống nhau
không ? - Ngược lại cũng không ai giống ai ! Cho
nên biết rằng không khác mà cũng không phải một,
hồi chưa mống lên thì không khác, không hai ; mà
đã mống lên rồi thì vốn không đồng, không một.
Thế mới biết khi mống lên rồi, mà đừng quên hồi
chưa mống thì tự nhiên mỗi người đều sống với
nhau một cách yên đẹp, không có đâu là Nam đâu là
Bắc. Do đây tôi có viết bài kệ 4 câu rằng :
Bắc, Nam bỉ thử động vô-minh
Bành bái dư đồ nịch bách sinh
Diệu pháp điều kình du khổ hải
Bao la xứ hữu vô ninh !
Có Bắc, có Nam, có ông, có tôi ; có đây có kia, có
mình, có người thì vô minh mới nổi dậy. Là vì
không để ý đến nguồn cội, vọt ra thì tự nhiên mỗi
người là một thằng TÔI riêng. Rồi thằng TÔI này
đụng thằng TÔI kia, thì 2-3 thằng TÔI yếu, ráp lại
để trở nên mạnh. Thằng TÔI mạnh trở nên yếu lại
kiếm thêm 2-3 thằng TÔI mạnh khác gom lại để trở
nên mạnh ... Cứ như thế mà thế giới càng ngày càng
chật, cuộc sống càng ngày càng chảy máu đào. Cho
nên biết
Bắc, Nam bỉ thử động vô-minh
Bành bái dư đồ nịch bách sinh
Thì tự nhiên lượn sóng đảo lộn nổi dậy nhận chìm
hết thế gian. Lẽ phải như vậy không thể nào khác
hơn được. Cho nên giá bây giờ bên ngoài êm re hết
thì không phải đạo, không phải chân lý đâu. Tại sao
thế ? Tại vì mỗi nguời còn tranh nhau từng đồng
bạc, lời ăn tiếng nói, cọng rau tấc đất, còn chưởi bới
nhau ỏm-tỏi mà ngoài này yên là không phải rồi.
Nghĩa là trong lòng yên thì mới gọi là yên. Nếu bây
giờ ngoài này thái-bình liền là giặc nóng ngừng, mà
giặc nguội vẫn đánh; giặc ban ngày ngừng, giặc ban
đêm vẫn đánh. Nếu thiếu cái soi lại lòng mình,
không thể nào biết được mình cùng với vạn vật
đồng một thể. Thiếu soi trở lại lòng mình mà nói
mình với vạn vật đồng một thể chỉ là chuyện học
nói như con vẹt thế thôi. Thiếu soi trở lại lòng mình,
không thấy được mọi người cùng với bao la vũ trụ
không cách một tơ hào nào mà tôi kêu gào thống
nhất, cảm thông chẳng qua chỉ là nói láo. Tôi chưa
biết gì hết về tôi mà tôi muốn làm lợi ích cho ai, thì
tôi không bị gạt gẫm lấy tôi, tức tôi cũng gạt gẫm kẻ
khác. Tôi không biết gì hết về tôi, thì dù tôi tin theo
ông Phật hay không tin gì hết, hay tin theo khoa học
cũng là một thứ mê tín. Và tôi thấy cái gì, biết cái
gì, nói cái gì đó cũng đều là tôi thấy tôi biết theo
kiểu chổng đầu, nhảy chang cháng thế thôi ! Khi tôi
muốn biết quả địa cầu này trọn vẹn, tất nhiên tôi
phải vọt ra khỏi nó và nhìn trở lại. Vấn đề tâm học
cũng thế, nếu chưa siêu ra ngoài cái TÔI mà phê
phán điều gì đều là ở trong rọ cái TÔI mà nhìn ra
thấy lăng nhăng rồi phê phán theo điệu lăng nhăng
mà thôi.
* Phật chẳng độ Phật, nếu đem tâm tìm Phật là
chẳng biết Phật chỉ là tự tâm.
Nghĩa là đem tâm tìm Phật cũng như đem tâm tìm
tâm. Điều đó chưa biết ra sao, là vì cỡi trâu mà tìm
trâu là quyết định chưa gặp trâu. Cho nên không thể
nào đi tìm để gặp Chúa, gặp Phật, gặp Trời hay gặp
Đạo được cả. Chỉ gặp cái gì đó bất qúa là cái lăng
nhăng trong lòng mình rồi đặt tên đại vậy thôi. Trừ
khi nào trút sạch cái TÔI, thì chừng đó muốn gọi gì
thì gọi, cái thấy chừng đó mới là thật. Cũng như khi
tôi mang kính đen mà đi tìm màu đích thực của sự
vật không thể nào được cả. Và tôi thấy một màu gì
đó bất qúa là tôi thấy màu kính đen mà thôi. Nếu tôi
muốn thấy màu đích thực của sự vật, việc trước tiên
là bỏ kính xuống thì màu đích thực tự hiển bày, khỏi
cần phải đi tìm. Do đó nếu nói đi tìm Phật, là chỉ tìm
cái tâm mống niệm. Nên trong Chứng-Đạo-Ca Tổ
Huyền Giác nói :
« Mích tức tri quân bất khả kiến »
- Còn tìm thì quyết định tôi biết ông chưa gặp -
Tất cả những người chứng được Đạo, tất cả những
Tổ, những Phật đã qua đều nhờ cái đứng lại chớ
không phải cái đi kiếm. Nếu có đi tìm mà gặp là vì
săn đuổi cho đến mệt rồi ngừng lại mà được - Đuợc
là ở lúc ngừng chứ không phải lúc đi tìm.
* Những người đi tìm Phật, hết thảy đều chẳng biết
tự tâm là Phật. Cũng chớ nên đem Phật lễ Phật, đem
tâm niệm Phật. Phật chẳng tụng kinh, chẳng giữ
giới, chẳng phạm giới. Phật không có giữ và phạm,
cũng chẳng tạo thiện tạo ác. Nếu chẳng thấy tánh
niệm Phật tụng kinh, ăn chay giữ giới cũng không
ích lợi gì.
Thưa có 2 cách tu : Một là dùng pháp; hai là pháp
dùng.
Dùng pháp nghĩa là nương nơi thiện tri thức, nương
nơi một câu kinh nào đó, nương nơi một va chạm sự
đời nào đó, chúng ta bùng lên nhận ra được nguồn
cội của tâm linh. Hồi đó còn sót lại những thói quen
mới áp dụng tụng kinh, niệm Phật, ăn chay hay giữ
giới, gì gì đó ... để trừ thói quen đi. Đó gọi là dùng
pháp.
Còn nghĩ ăn chay, tụng kinh, niệm Phật, giữ giới để
được thành Phật. Đó là bị pháp nó dùng chớ không
phải dùng pháp. Cho nên biết hai pháp đó khác xa.
Tại sao thấy tánh tức là Phật ? Phải là người nhận
ra được nguồn tâm-linh của mình mới có được một
cuộc sống bình an muôn thuở, có một tình thương
không hai, có một tâm lượng không xưa nay, không
cũ mới. Cho nên đối với Phật chẳng có xưa nay,
chẳng có cũ mới, chẳng có được mất.
* Niệm Phật chẳng qua được nhân qủa, tụng kinh
chẳng qua được thông minh, giữ giới chẳng qua
được sanh lên cõi trời, bố thí chẳng qua được phước
báo. Tìm Phật quyết định không thể được.
Nói vậy là rõ lắm. Hết thảy những chuyện làm đó
đều là tạo phúc duyên chứ chẳng phải là tu. Tại sao
tôi nói thế ? Là vì hễ chúng ta được phước, ví như
một người sống trong gia đình trọn vẹn hết đều
được êm ấm, mà muốn tách bến ra để tìm Đạo,
không phải chuyện dễ. Cho đến ông Phật còn phải
đợi đi ra đến cửa thành thấy sanh, già, bệnh, chết,
khổ rồi mới phát tâm nổi. Thế mới biết, còn có chút
gì là còn kéo dài 3 A-tăng-tỳ kiếp. Cho nên biết
những người còn nhận lầm sự tu phước là tu, tức là
đã ký giấy kéo dài 3 A-tăng-tỳ kiếp rồi. Thế mà
đáng buồn thay hầu hết các tổ chức Phật-giáo ngày
nay đều cho đó là tu ! Nói như thế là bảo đừng làm
phước, đừng bố thí sao ? Thật ra ở đây chúng ta chỉ
nhóm chợ chớ không phải có lòng tốt. Chúng ta đem
một số tiền lớn cúng vào chùa để được biên tên cao
nhất, và kiếp sau được hưởng một cái gì. Đó chỉ là
một thứ mua bán, một thứ biến chứng của lòng
tham. Chúng ta mua một lồng chim, rán nhốt để
ngày rằm lớn quy-y và chú nguyện cho nó xong thả
đi, để kiếp sau nó làm đệ tử mình. Như vậy thì đạo
ra sao nữa ! Đó chẳng là lòng tham sao ? Tham tiền
bạc, tham địa vị, tham danh vọng mới là tham, còn
tham phước không phải là tham sao ?
* Nếu tự mình không thấu suốt, thì phải nên tìm
tham học với thiện tri thức nào đã dứt khoát nguồn
cội sanh tử. Nếu chẳng thấy tánh thì không được gọi
là thiện tri thức.
Có người hỏi một Thiền-sư : « thế nào là thiện tri
thức ? » Thiền-sư nói : « Đề-Bà-Đạt-Đa là thiện tri
thức ! » Gặp ông này lại nói : « Người nào thấy tánh
rồi mới là thiện tri thức ». Vậy chân lý ở đâu ?
Đề-Bà-Đạt-Đa là em của ông Phật mà muốn giết
Phật để tranh ngôi Phật. Là hạng người chém cha,
giết chú, làm thịt Phật mà nói là thiện tri thức là
nghĩa sao ? Nghĩa là nếu « biết dùng » thì cảnh
nghịch là thầy mình; mà hễ cảnh nghịch là thầy
mình thì cảnh thuận càng hay. Nếu « không biết
dùng » thì cảnh thuận càng thêm nguy hiểm. Tại sao
vậy ? Như con nít cho bú no, để trong nôi úm
cho ấm, lắc lắc cho nó ngủ tối ngày chẳng la khóc
gì. Còn bỏ dưới gạch kiến cắn, nó bò lăn la khóc.
Với lý đó mình thấy trong cảnh nghịch dễ thức tỉnh
hơn, dễ cảm biết hơn. Cũng như mấy bà nuôi heo,
sáng chiều tắm rửa, kỳ cọ, cho ăn uống đầy đủ mục
đích là để bán, mà con heo nó tưởng cưng nó lắm !
Vậy mà không thấy cảnh thuận nguy hiểm sao ?
Cho nên « Đề-Bà-Đạt-Đa là thiện tri thức ».
Ở đây nói « Phải thấy tánh mới là thiện tri thức »
là tại sao ? Vì đang ở cảnh thuận, cần phải gặp
người biết để chỉ mình cho chính xác mới được.
Nếu chưa thấy tánh, chưa trở vô con người của
chính mình, thì tất cả cái biết đó đều là thứ không
biết. Cho nên thiện tri thức là Đề-Bà-Đạt-Đa cũng
phải, mà thiện tri thức phải là người tỏ ngộ cũng
phải vậy.
* Nếu không như thế dẫu cho có giảng được hết cả
kinh Phật cũng chẳng khỏi sanh tử luân hồi, vẫn ở
trong 3 cõi chịu khổ mãi mãi.
Thật dễ hiểu ! đó chỉ là đút ống sậy vô lỗ mũi ông
Phật mà thở rồi nói theo vậy chớ đâu phải thiệt của
mình.
* Xưa có Tỳ-Kheo Thiện-Tinh giảng được hết cả
kinh Phật nhưng vẫn chẳng khỏi luân-hồi, cũng chỉ
vì chẳng thấy tánh.
Thiện-Tinh Tỳ-Kheo là con giòng nhỏ của Phật
chứ không ai đâu lạ. Vì không chịu soi trở vào thì
Phật vẫn không thể cứu được như thường. Cho nên
Thiện-Tinh bị đọa địa ngục, Phật cứ để cho đọa.
* Thiện-Tinh đã như thế, người nay bất qúa giảng
được năm ba bổn kinh luận rồi vội cho là mình thực
hành pháp Phật, đó là thuộc về hạng người mê. Nếu
chẳng biết tự tâm, chỉ tụng không theo mặt chữ của
kinh đều là vô dụng. Nếu muốn tìm Phật phải nên
thấy tánh. Tánh tức là Phật. Phật tức là tự tại, rảnh
rang, vô sự. Nếu chẳng thấy tánh suốt ngày chật vật
dong ruỗi ra ngoài mà tìm, tìm làm sao được !
Thật vậy ! có ai nói để sáng sớm mai tôi ra ngoài
chợ tìm một người chưa từng biết mặt, biết tên tuổi
đâu ! Thế sao người ta đi tìm Chúa, tìm Phật, tìm
chân lý mà lại bỏ quên cái tìm hiểu về chính con
người của mình. Cho nên Mạnh-Tử nói : « Cái đạo
học-vấn không có gì cao xa hết, chỉ có tìm lại cái
phóng tâm. Người ta nhốt con gà, con chó nó sổng
chuồng, người ta còn biết đi tìm. Còn tâm mình nó
sổng lại không ai kiếm ».
« Phật tức là người tự tại, rảnh rang, vô sự ». Thưa
rảnh rang, vô sự ở đây không phải muốn làm cái gì
thì làm hoặc ở không hoài. Muốn gì làm đó là loạn,
còn ở không hoài lại là một thứ làm biếng. Phật có
nói « những kẻ lười biếng chỉ biết ăn no rồi nằm, sẽ
sanh làm kiếp rắn ». Ở đây nghĩa muốn nói là trong
lòng không chất chứa. Một người mà « chuyện đã
qua rồi, chuyện hiện tại không dừng, chuyện vị lai
chưa đến » trong lòng thảnh thơi không chất chứa,
việc đến giải quyết việc đâu đó minh bạch rõ ràng,
đó là người rảng rang vô sự.
* Tuy không một vật có thể được nhưng nếu muốn
cầu tỏ ngộ cũng phải nên tham học với thiện tri
thức. Phải thiết tha cầu khổ mà cầu đến bao giờ
được tỏ ngộ bổn tâm.
Nghĩa là lấy bổn tâm làm trụ cốt. Bổn tâm nghĩa là
cái vốn sẵn có ở lòng mình.
* Sanh tử việc lớn, không được phép để luống trôi
qua, tự dối gạt vô ích. Dẫu có của qúi như non,
quyến thuộc như cát sông Hằng, mở mắt thấy đó,
khi nhắm mắt rồi ra sao ? Phải biết các pháp hữu vi
đều như giấc mơ, như huyển hóa.
Thưa, hai câu này là trong kinh Kim Cang chớ
không đâu lạ :
« Nhứt thiết hữu vi pháp
Như mộng huyển bào ảnh
Như lộ diệc như điển
Ưng tác như thị quán ».
Nghĩa là : « Tất cả những gì có tướng đều là như
bóng, như bọt, như sương sớm, như điển chớp. Sự
thật vốn thế, phải thấy cho được ». Nếu đem ta mà
sánh với con vi trùng, ta thấy ta lớn qúa, chớ nếu
đem ta mà sánh với vũ trụ bao la thì ta còn nhỏ hơn
vi trùng sánh với ta nhiều. Nếu ta đem ta mà sánh
với thời gian tuổi thọ của vi trùng thì ta thấy ta thọ
ghê ! Nhưng mang tuổi thọ của ta mà sánh với tuổi
thọ của vũ trụ thì thấy ta còn yểu hơn vi trùng nữa.
Cho nên Tổ Huyền Giác nói « Nhứt thiết thánh hiền
như điển phất (cho đến tất cả thánh hiển đều như cái
điển xẹt) ». Có lần Phật hỏi : « Kiếp sống con người
ra sao ? ». Một đồ đệ đứng dậy nói : « Bạch Thế
Tôn, giống như tiếng vỗ tay ». Phật cười nói
« đúng ! ». Chỉ vì mình mắc kẹt trong thời gian Thái
Dương hệ mình ở đây nên thấy nó dài. Nếu nhìn
bằng con mắt suốt hết như Phật thì kiếp sống này
chỉ là một tiếng vỗ tay.
* Nếu chẳng gấp tìm thầy học Đạ___________cf1o, luống uổng một
kiếp trôi qua. Tuy rằng tánh Phật ai cũng vốn tự có,
nhưng nếu chẳng nhờ thầy chỉ-giáo rốt không thể tỏ
ngộ.
Chữ ’Thầy’ ở đây không phải đợi có một người chỉ
mà thôi, mà ý muốn nói phải đợi có một dịp.
Âu Tây có một chuyện : Một tên tù chúa đã từng
giết người không gớm tay, một hôm ngồi tựa lưng
vào vách đá, bỗng bị một con thằn lằn rớt trúng
lưng. Ông ta ép mạnh lưng vào để nghiền nát con
thằn lằn. Đột nhiên cảm giác chạm phải thân thể nát
nhầy của con thằn lằn làm ông ta bừng cảm động.
Sau đó ông mời Linh Mục đến rửa tội cho ông. Đó
cũng là một dịp.
Ở đất nước chúng ta đây có những lúc súng bắn dữ
dội – như lúc Mậu Thân chẳng hạn - Người ta cũng
niệm Phật rất dữ-dội. Đó cũng là một dịp.
Còn thiện tri thức cũng là duyên. Nhưng nếu gặp
thiện-tri-thức tỏ sáng thì duyên đỡ lòng vòng, nếu
không sẽ uổng phí cả thời gian.
* Những bực chẳng nhờ thầy mà tỏ ngộ chỉ là hy
hữu trong muôn một mà thôi. Nếu tự mình được
nhân-duyên hợp ý thánh thì không cần phải tham
học với thiện-tri-thức ; trường hợp này gọi là sanh
ra đã biết còn hơn vậy.
Nói theo chiều kia rồi mà Tổ vẫn sợ mình chấp,
mình đóng cứng.
* Nếu chưa được tỏ-ngộ phải nên cần khổ tham
học, nương nơi giáo mới được ngộ. Nếu đã ngộ rồi
chẳng học chả sao, không đồng với người mê. Nếu
chưa minh bạch được đen trắng mà kỳ vọng nói
tuyên-bày giáo-pháp của Phật, chê Phật kỵ pháp.
Những bọn như thế, thuyết-pháp như thế, hết thảy
đều là ma nói, không phải Phật nói, tức là ma
vương, đệ-tử của họ là ma dân. Người mê chịu cho
chúng nó chỉ-huy chẳng được giác-ngộ, đọa vào
biển sanh tử chỉ vì chẳng thấy tánh, vọng xưng là
Phật. Bọn chúng-sanh như thế là đại ma vương, gạtgẫm
tất cả chúng sanh cho vào cõi ma.
Hiện giờ tôi biết rất nhiều người dám vỗ ngực
xưng mình là thứ này thứ kia nhiều lắm ! Có người
dám xưng mình là Phật Di Lặc nữa. Nhưng gặp mấy
người như vậy cứ chỉ dại vào mặt nói họ là ma. Bảo
đảm không hề bị tội-lỗi gì cả !
* Nếu chẳng thấy tánh dẫu cho giảng được hết kinh
Phật đi nữa cũng chẳng qua là ma nói, là quyếnthuộc
nhà ma, chẳng phải đệ-tử của Phật. Đã chẳng
biện được đen trắng thì căn cứ nơi đâu mà khỏi sanh
tử ? Nếu đã thấy tánh tức là Phật, chẳng thấy tánh
tức là chúng sanh. Nếu lìa tánh chúng sanh mà riêng
có tánh Phật có thể được, vậy Phật hiện ở chỗ nào ?
Nghĩa là không phải đập chết chúng sanh đi để tạo
ông Phật khác mà là bàn tay 2 bề, đồng tiền 2 mặt
trở qua trở lại, chỉ có mê với ngộ mà thôi.
* Như thế chúng sanh là tánh Phật. Ngoài tánh
không Phật. Phật tức là tánh, ngoài tánh này không
có Phật nào có thể được. Ngoài Phật cũng không có
tánh nào có thể được.
Cũng như nước tức là sóng, sóng tức là nước,
ngoài sóng không có nước nào khác, ngoài nước
không có sóng nào khác.
* Hỏi : Nếu chẳng thấy tánh niệm Phật, tụng kinh,
bố-thí, giữ giới, tinh-tấn, mở rộng phúc duyên có
được thành Phật không ? – Đáp : không !
Hỏi : Vì sao không được ?
Đáp : Nếu có chút pháp nào có thể được đều là
pháp hữu vi, là pháp nhân qủa, là pháp thọ báo, là
pháp luân hồi, không khỏi sanh tử, biết chừng nào
mà thành Phật !
Trong kinh có nói : Nhờ cái không được gì cả mà
không có sợ hãi, không có chỗ sai lầm, không mê
tưởng. Quan Thế Âm Bồ Tát nhờ cái không có được
gì hết đó mà lòng thảnh thơi. Nếu nói có cái được
thì toàn là chuyện làm ra hết cả.
* Muốn thành Phật phải thấy tánh. Nếu chẳng giác
ngộ bổn-tánh thì dù có nói những nào nhân, nào qủa
đểu là pháp ngoại-đạo. Nếu là Phật thì chẳng tập
theo pháp ngoại-đạo.
Nghĩa là mình đưa ra vấn đề nhân qủa mà mình
không có chứng-thực, làm sao giúp đỡ lẫn nhau
nhận cho được tận nguồn tâm-tánh, thì rồi không
thoát khỏi tầm tay ngoại-đạo. Ngoại-đạo là gì ? – là
mắc kẹt trong nhị nguyên ; mắc kẹt trong cái TÔI.
Nếu mắc kẹt trong cái TÔI sợ tội mà tạo phước ; thì
dù đệ-tử của Phật cũng gọi là ngoại-đạo.
* Phật là người không nghiệp, không nhân qủa, nếu
nói có chút pháp có thể được đều là chê bai Phật đó.
Căn cứ nơi đâu mà được thành Phật ?! Dẫu cho chỉ
trụ-chấp một tâm, một năng, một giải, một thấy
cũng đều bị Phật chẳng thừa nhận. Phật không giữ
và phạm. Tâm tánh vốn không, cũng không phải các
pháp dơ sạch, không tu không chứng, không nhân
không qủa. Phật chẳng giữ giới, chẳng tu thiện
chẳng tạo ác, chẳng tinh tiến, chẳng giải-đãi. Phật là
người vô tác, nếu có tâm đẵm chấp để thấy Phật là
bị không thừa nhận rồi. Phật chẳng phải Phật, đừng
làm ra hiểu Phật, nếu chẳng thấy nghĩa này thì luôn
luôn ở đâu cũng đều là mê-muội bổn tâm, nếu chẳng
thấy tánh mà luôn luôn tưởng-tượng làm ra cái rảnh
rang (vô tác), đó là tội nhân lớn, là người si, rơi vào
ngoan-không vô-ký, ngây ngây như người say,
chẳng phân được tốt xấu. Nếu muốn tu theo pháp vô
tác trước phải thấy tánh, rồi sau dứt các duyên lự
nơi tâm. Nếu chẳng thấy tánh mà được thành Phật,
thì thật là chuyện tưởng tượng. Có người bác cho
rằng không nhân qủa, tha hồ mà tạo nghiệp ác, vọng
nói vốn không, làm ác không tội, con người như thế
sẽ đọa địa ngục vô-gián tối-tăm mãi mãi. Nếu là
người trí không nên hiểu như thế.
Nghĩa là Phật chẳng phải là cái làm ra, chẳng phải
giữ giới, tu chứng mà được. Phật là rảnh rang. Nếu
cố tâm tạo ra ông Phật thì chỉ là Phật giả bộ. Nhưng
nếu cố tình làm ra cái không làm, làm ra cái rảnh
rang thì rảnh-rang cũng chỉ là giả bộ mà thôi. Nếu
thật sự giác ngộ bổn tâm thì tự nó sẽ ngừng nghỉ,
khỏi phải cố tình tạo ra cái dứt bỏ.
* Hỏi : đã nói dầu cho làm lụng, hoạt động, lúc nào
cũng đều là bổn tâm. Vậy khi vô-thường đến với sắc
thân sao lại chẳng thấy bổn-tâm ?
Đáp : Bổn-tâm lúc nào cũng hiện bày, chỉ tại ông
tự chẳng thấy.
Trong kinh Lăng-Nghiêm, Phật trình bày chuyện
này mà ngài A-Nan lùng tung cho tới hơn hai phần
quyển kinh Lăng-Nghiêm. Nếu một người biết quay
trở lại mà nghiệm hồi chưa khởi thiện, chưa khởi ác
của lòng mình, thì sẽ thấy muốn tìm xem chỗ nào
không phải tâm cũng không thể được.
* Hỏi : Lúc nào cũng hiện-bày, vì sao chẳng thấy ?
Tổ-sư nói : « Ông có từng nằm mơ lần nào
không ? »
Đáp : Có.
Hỏi : khi ông nằm mơ có phải là bổn thân của ông
không ?
Đáp : Phải
Lại hỏi : Ông nói-năng hoạt-động với ông là một
hay khác ?
Đáp : Không khác
Nói : Nếu đã chẳng khác thì thân của ông đây
cũng chính là pháp-thân vốn có của ông đó. Chính
ngay pháp thân này là bổn-tâm của ông đó. Tâm này
từ lũy-kiếp đến giờ vẫn y nguyên như thế, chưa từng
có sanh tử. Chẳng sanh chẳng diệt, chẳng thêm
chẳng bớt, chẳng dơ chẳng sạch, chẳng tốt chẳng
xấu, chẳng đến chẳng đi, chẳng phải chẳng quấy,
chẳng tướng nam tướng nữ, cũng không phải tướng
tục tướng tăng, không già không trẻ, không thánh
không phàm, không Phật không chúng sanh, không
tu không chứng, không nhân không qủa, không gân
lực, không tướng mạo cũng như hư không, bắt
chẳng được, bỏ chẳng được, núi sông gành đá,
không chướng ngại được, hiển ẩn qua lại tự tại thần
thông, suốt 5 uẩn vượt sanh tử, tất cả nghiệp chướng
đối với pháp thân cũng đều không thể trói buộc
được. Tâm này rất vi diệu khó thấy, chẳng đồng với
cái tâm nghiệp-chướng do trần cảnh tạo nên.
Thưa, có nhận ra được không ? – Thân này với tâm
hằng ngày mà mình thường gọi, tại nhìn thấy là hai,
chớ thật ra nếu lìa tâm mà có một vật gì có thể được
là chuyện không thể có. Nói cách khác, tất-cả mọi
người cũng như tất cả vạn-vật đều ở trong biển bổntánh
linh-thiêng không hề có dứt đoạn. Nếu giữa tôi
với qúi vị có cách bức thiệt tình, thì không thể nào
nghe được, thấy được, nói được, và những dụng cụ
máy móc, âm-thanh này không thể chế được. Cho
nên biết không có chỗ hở. Chỉ vì hằng ngày mình
mắc kẹt trong cái tướng huyển-hóa của mỗi người,
do đó mà không thấy được vốn không có chỗ hở.
Nếu thiệt tình không có một nguồn bổn-tánh linhdiệu
tràn-ngập trong bao-la thì mạch sống không
bao giờ có được. Thế mới biết thân này cũng là tâm,
cũng là tánh. Nếu mình nhìn vật-chất là vật-chất,
như mình ham uống nước đá nhiều qúa, đến chừng
thay đổi tâm tánh mình không hay biết. Do đó nếu
nhìn ly nước đá là vật-chất là sai lầm. Nhưng nếu
nói ly nước đá với mình là một thì càng sai, vì cái
duyên hiện ra nó khác, nhưng nguồn cội vẫn như
nhau. Cho nên tất cả mọi người, tất cả vật, cũng như
tất cả bao la đều cùng chung một linh tánh. Nếu
muốn nhận ra được điều ấy mà không soi trở lại
lòng mình, không quay lại hồi chưa nghĩ thiện chưa
nghĩ ác, thì không làm sao thấy được cái tâm cao cả
vốn có của mình, nó đồng như hư không. Nếu
không thấy được cái bao la đó thì tự khắc mình đối
đãi với nhau không có chút nào là chân thật hết cả.
Như thế mình với mình còn không biết thay, có đâu
biết được loài khác ! Cho nên đối với vạn vật, đối
với cây cỏ, có nhiều khi mình không hiểu gì hết, là
tại mình đâu có cảm thông với nó được. – Nói cách
khác : tất cả các luồng điện có tầng số đều là những
luồng điện hữu hạn. Nếu nhập vào luồng điện không
tầng số, thì nó tràn ngập cả bao-la hư-không và suốt
cả vạn vật. Cho nên nếu không nhận ra được điều đó
thì cuộc sống sẽ trở nên đau thương.
* Cái pháp-thân, tâm tánh này ai ai cũng sẵn có.
Trong tâm ấy động tay máy chân nhất nhất đều
không lìa, nhưng khi hỏi đến đều không thể nói
được, giống như người gỗ. Hết thảy đều tự mình thọ
dụng nhưng sao lại không biết ? Phật nói : tất-cả
chúng sanh đều là mê muội, vì thế nên tạo nghiệp
đọa vào sanh tử, muốn ra rồi lại vào, chỉ vì chẳng
thấy tánh. Chúng sanh nếu chẳng mê tại sao khi hỏi
đến việc trong tâm tánh thì lại không có một người
biết được, tự mình động tay máy chân sao mình
không biết ? Cho nên biết thánh nhơn nói không
lầm, vì người tự mê-muội. Nên biết tánh này rất khó
tỏ, chỉ có Phật mới được tỏ ngộ thôi ; hết thảy
người, trời, chúng sanh đều không tỏ suốt.
Thưa, không phải chỉ có Phật mới được tỏ ngộ
thôi, mà thật ra phải nói chỉ có người tỏ ngộ mới là
Phật.
* Nếu có trí-huệ tỏ suốt được tâm này thì gọi là
pháp tánh, cũng gọi là giải thoát, sanh tử không trói
buộc được, tất cả pháp không chướng ngại được, thế
gọi là Đại-Tự-Tại-Vương Như Lai. Cũng gọi là
không thể nghĩ bàn, cũng gọi là thánh thể, cũng gọi
là trường sanh bất tử, cũng gọi là đại tiên. Danh tuy
chẳng đồng, thể vẫn là một, bực thánh nhơn nói ra
dẫu có muôn vàn phân biệt cũng đều chẳng lìa tự
tâm. Tâm-lượng rộng lớn ứng-dụng vô cùng, ứng ra
mắt thấy sắc, ra tai nghe tiếng, ra mũi biết mùi, ra
lưỡi biết vị, cho đến hết thảy hành tung hoạt-động
cũng đều là tự tâm. Bất cứ lúc nào, chỉ có bặt đường
ngôn ngữ tức là tự tâm.
Câu đó quan hệ. Nếu muốn thấy được mặt thật của
tâm mình thế nào, cứ ngồi lại làm thinh tới tận cùng
trong tâm đừng nói lào xào, để lắng nghe coi cái
biết của mình ở đâu, thì sẽ thấy cái tánh linh, cái
bổn tâm bổn tánh của mình rộng đến đâu. Chúng ta
phần nhiều ngồi lại thì trong bụng nói nói lăngxăng.
Ai cũng vậy, mới ngồi tĩnh tọa một chút mà
nó nói : « thôi bữa nay mệt lắm, để nghỉ rồi mai
ngồi nhiều một chút ». Luôn luôn như vậy nên
không nghe được một thứ tiếng không có tiếng,
không nhận ra được luồng điện không có giai-tầng,
không nhận ra được một sự rung-chuyển cùng khắp.
Cho nên cách tĩnh-tọa chỉ để lắng lại mà nghe. Đó
nghĩa là ngừng hết các duyên để đón chờ, nhận ra
mặt mũi của sự rung động toàn diện.
* Nên nói sắc Như Lai vô-tận, trí-huệ cũng vô-tận.
Sắc vô-tận là tự tậm, tâm khéo hay phân biệt tất cả
pháp, nhẫn đến tất cả hành-tung hoạt-động cũng đều
là trí huệ. Tâm không hình tướng nên trí-huệ cũng
vô tận. Nên nói sắc Như-Lai vô-tận, trí-huệ cũng
như thế. Còn cái thân tứ-đại tức là cái thân phiềnnão,
thân sanh diệt. Pháp-thân thường-trụ không chỗ
trụ ; pháp-thân của Như-Lai thường chẳng thay đổi
nên kinh nói : chúng sanh nên biết tánh Phật vốn tự
có ; ngài Ca-Diếp chỉ ngộ được bổn-tánh mà thành
Phật. Bổn tánh tức là tâm ; tâm tức là tánh, tánh với
tâm chư Phật không hai, Phật trước Phật sau chỉ
truyền tâm này, ngoài tâm này không có Phật nào
cả. Chúng-sanh điên đảo chẳng biết tự tâm là Phật,
dong-ruỗi ra ngoài mà tìm, suốt ngày chật vật niệm
Phật, lễ Phật, vậy Phật ở đâu ? Chớ nên hiểu như
thế, làm như thế. Chỉ biết bổn-tâm, ngoài tâm không
có Phật nào khác. Kinh nói : Phàm cái gì có tướng
đều là hư vọng.
Câu này là ở trong kinh Kim-Cang : « Phàm sở
hữu tướng giai thị hư vọng. Nhược kiến chư tướng
phi tướng tức kiến Như-Lai ». – « Tất cả tướng đều
là huyễn hóa. Nếu nhận ra tướng không phải tướng,
hồi đó thấy được sự thật ». Tướng huyễn hóa là
tướng tổ hợp. Nhận ra tướng huyễn hóa cũng khó
lắm ! Giả tỉ bây giờ tôi thấy cây quạt này là huyễnhóa
vì tôi thấy giấy ráp với nang, với mấy màu đen
đen thì tức là huyễn hóa. Nhưng chưa được, phải
thấy tới giấy do từng sớ hợp lại. Rồi trong từng sớ
cũng có từng sớ hợp lại, cho đến khi không thể thấy
bằng giác-quan nữa. Đến chừng đó tôi thấy cây quạt
này là không và không với có vốn không có.
Cho nên trong viên gạch có nhiều hột cát, trong hột
cát có nhiều hột bụi, trong hột bụi có nhiều hột mún,
trong hột mún có nhiều hột mín, tới chừng hết nói
được mới thôi. Đó là biến tướng của cái không. Do
đó người phi công với con chim thấy hư không là
có, còn con cá thấy hư không là không, vì có nước
nó mới lội được, nên nó thấy nước mới là có. Cho
nên biết tùy duyên tùy nghiệp mà hiện chớ không
phải như mình khẳng định. Thế là nói « nhận ra
được tướng không phải tướng là thấy Như Lai »
cũng được, hoặc nói « nhận ra được tướng là tướng
mới thấy được Như-Lai » cũng xong.
* Lại nói : Phật ở đâu ? chỗ nào không Phật ? Tự
tâm là Phật, chẳng nên đem Phật lễ Phật, dẫu có
tướng Phật hoặc tướng Bồ Tát hiện tiền cũng quyếtđịnh
chớ nên lễ kỉnh. Tâm ta vắng-lặng vốn không
có tướng như thế. Nếu chấp tướng tức là ma, đều rơi
vào tà đạo, nếu là huyễn từ tâm khởi, lại càng không
nên lễ, lễ là không biết, biết thì chẳng lễ. Nếu lễ là
bị ma nhiếp.
Trong Thiền học có nói : « gặp ma chém ma, gặp
Phật quét Phật ». Vậy nghĩa là sao ? Nghĩa là mình
ngồi thấy Phậy hay thấy ma, không phải Phật hay
ma ở đâu mà chính ở trong bụng mình xuất hiện, đó
đều là ma của mình. Cho nên cái đó chưa phải, đừng
vội chấp nhận. Do đó dù cho ông Phật thiệt đến với
tôi đi nữa, mà nếu tôi nghĩ thấy ông có 32 tướng tốt
tôi theo tu thì mai mốt tôi cũng bị Ma-Đăng-Già
chụp như thường ! Cho nên trong kinh Lăng
Nghiêm, sau khi mắc nạn rồi, ông A-Nan nhờ Phật
giảng cho nghe. Phật hỏi : « Tôi với ông là tình anh
em, vậy tôi hỏi thật ông vì lẽ gì theo tôi xuất gia
tu ? » Ngài A-Nan trả lời : « Vì thấy Phật có 32
tướng tốt qúa nên tôi theo Phật tu ». Phật nói : »Vậy
ông mắc nạn là phải vì ông đặt cái nhân là sắc thì
sắc nó tới chớ sao ! » Cho nên dù Phật thiệt tới với
mình đi nữa, mình cũng phải hỏi lại xem lòng mình
muốn gì, vì cái gì mà mong gặp Phật ? Thất Chơnnhân-
qủa có viết : Một vị tiên kia được ông nhà giàu
năn-nỉ lạy lục rước về, hằng ngày tiếp đãi mà không
hỏi gì cả. Vị tiên tìm biết bụng ông nhà giàu chỉ
muốn nuôi ông để cầu phước như nuôi con gà, con
thỏ chớ không phải để học Đạo. Buồn ý, vị tiên chờ
một hôm đứa ở gái bưng nước cho ông, ông liền ôm
đại. Con nhỏ la lên, chừng đó ông mới xách gói đi
được, chớ không hễ đi thì nó lôi lại, lạy-lục không
cho đi. Thì biết lòng tham cũng dữ-dội lắm ! Cho
nên Phật đến đi nữa quan-hệ cũng chỉ tại tâm mình.
* Sợ hậu-học chẳng biết nên phải biện-bạch như thế
này. Các Phật, Như-Lai trên bổn-tánh đều không có
tướng như thế, phải nên chú-ý. Khi thấy cảnh giới
lạ, quyết định không nên chấp, cũng đừng sanh sợ
hãi, chẳng cần nghi hoặc. Tâm ta bổn-lai thanh tịnh,
đâu có tướng như thế ! Nhẫn đến tướng Thiên-Long,
Dạ-xoa, qủi-thần, Đế-Thích, Phạm-Vương v.v. đi
nữa, cũng chẳng nên sanh tâm kỉnh trọng, cũng
đừng sợ hãi. Tâm ta bổn-lai vắng lặng, tất-cả tướng
đều là tướng hư vọng, chỉ đừng chấp tướng là hơn.
Thưa, tôi xin thuật một chuyện : Năm ngoái, có
ngưòi Phật-tử ở Vạn Đức hớt-hơ hớt-hải chạy vô
nói với tôi : « Thầy Năm, Thầy có hay Phật Di-Lặc
hiện trên đọt chuối không ? » - Tôi nói : « Trời, sao
lại Phật Di-Lặc hiện trên đọt chuối ! » Bà vội nói : -
« Ậy, có thật mà ! Thầy Vạn Đức cũng đi coi, có
chụp hình nữa ! »
Tôi biết người ta tới chụp hình xôn-xao vì vụ này
lắm. Nghe vậy tôi ngẫm-nghĩ không biết nói sao cho
qúi bà nghe đây. Tôi bèn nói :
-« Nếu ông Phật Di-Lặc mà hiện trên đọt chuối như
vậy, thì tôi nhai cũng nát ngướu như chuối thôi ! »
Người nghe ngỡ-ngàng trong im lặng.
Thêm một chuyện nữa là lòng người do bị sự tranh
chấp giữa Việt Nam Quốc Tự và Ấn Quang mà
phao vu rằng thầy Vạn Đức có tư tình với 2 cô ni
nhỏ trong chùa.
- Rồi có người tới đây hỏi tôi :
-« Tôi nghe đồn Thầy Vạn-Đức bây giờ tệ qúa rồi,
nên Phật-tử của Thầy, dưới Mỹ Tho không còn ai
niệm Phật hết. - Thầy nghĩ sao ? »
Tôi nói thẳng rằng :
-« Vậy là hồi nào đến giờ mấy người tu cho ai đâu,
chớ không phải tu hành gì hết ! – Vì không hiểu
chuyện có thật hay không, mình không giáp mặt tại
sao tin ! – Mà ví như có thật thì đó là chuyện riêng
của ông ; còn ông nói phải, mình nghe theo làm phải
là mình nhờ, chớ có phải mình tu cho ông đâu ! ».
Đó là cũng bởi lòng người hằng ngày chỉ chạy theo
sư tranh-chấp trên tướng, nên đến việc mới có ra
những trường hợp trên. Quả thật ! tình cảnh này biết
nói sao cho cùng !
* Nếu khởi tâm thấy Phật thấy pháp và thấy các
tướng Bồ Tát mà sanh kỉnh trọng, tức là tự đọa vào
chúng sanh. Nếu muốn liền được tỏ-ngộ, chỉ đừng
nhận một pháp nào là được. Không cần nói gì thêm.
Đây là nghĩa bất thủ xả đó.
* Nên kinh nói : phàm cái gì có tướng đều là hưvọng,
đều không có thật. Huyễn, không có tướng
nhất-định, là pháp vô thường. - Chỉ đừng chấp
tướng là hợp với ý thánh. Nên kinh nói : lìa tất-cả
tướng là danh hiệu chư Phật.
Đó là ý trong kinh Kim Cang. Mình chấp tướng
ông Phật thì Phật đó cũng là ma. – Cho nên Phật
không phải nghĩa là tướng mà cũng là tướng, nhưng
tướng không lìa bổn tánh.
* Hỏi : Tại sao không được lễ Phật, Bồ-Tát ?
Đáp : Thiên-Ma-Ba-Tuần, A-Tu-La cũng hiện
thần thông làm được tướng Bồ-Tát và nhiều cách
biến hóa. Đó là ngoại đạo chớ không phải Phật. Phật
là tự tâm, đừng lầm lễ lạy. Chữ Phật là tiếng Ấn-Độ,
theo xứ ta gọi là tánh giác. Giác nghĩa là linh-giác,
ứng cớ tiếp vật, nhướng mày, liếc mắt, động tay
máy chân đều là tánh linh-giác của mình. Tánh tức
là tâm. Tâm tức là Phật. Phật tức là Đạo. Đạo tức là
Thiền. Nội một chữ Thiền, phàm thánh cũng khó
lường được. - Lại nói thấy tánh là Thiền. Nếu chẳng
thấy tánh là không phải Thiền, dẫu cho giảng được
thiên kinh vạn luận, nếu chẳng thấy tánh cũng chỉ là
phàm phu. Đạo cả sâu mầu không thể dùng lời mà
tỏ được hết. Vậy kinh-điển căn-cứ nới đâu mà có
thể đến được. Chỉ thấy bổn-tánh, dầu cho không biết
một chữ cũng là thấy tánh, tức là thánh thể.
Nghĩa là khuyên biểu đừng mắc kẹt ở văn-tự
* Vốn nó thanh tịnh, không tạp không nhơ. Có nóinăng
điều gì đều là thánh nhơn từ tâm mà khởi
dụng. Dụng và thể bổn-lai là không. Danh ngôn còn
chẳng đến được, vậy 12 bộ kinh bằng cứ nơi đâu mà
đến được ? - Đạo vốn viên thành, chẳng phải tu
chứng. Đạo không phải sắc thinh, vi-diệu khó thấy.
Chỉ như người uống nước, lạnh ấm tự mình biết mà
thôi, không thể nói cho người khác nghe được. Chỉ
có Như-Lai biết được, ngoài ra người, trời các loại
đều không hay biết. Vì trí phàm phu không đến
được nên mới chấp tướng, chẳng rõ tự tâm vốn
vắng-lặng rỗng rang, nên vọng chấp tướng và tất-cả
pháp mới đọa ngoại đạo. Nếu biết các pháp đều từ
tâm sanh thì chẳng nên chấp, chấp là chẳng biết.
Nếu thấy bổn-tánh thì 12 bộ kinh chẳng qua chỉ là
văn-tự rỗng, ngàn kinh muôn luận chỉ cốt để tỏ
tâm ; nếu nói ra liền khế-hợp thì kinh giáo dùng
được vào đâu ! Chí lý hết nói-năng, kinh giáo chỉ là
từ ngữ, thiệt chẳng phải Đạo. Đạo vốn không nói
năng, nói năng là vọng.
Nghĩa chữ « không nói năng » ở đây là giữa nghĩa
nói và không nói, là không kẹt vào vấn-đề ngôn ngữ
văn-tự ; chớ không phải bên ngoài ngậm thinh mà
trong bụng như đá banh ! Nếu ngậm thinh mà ở
trong lùng-tung thì nên nói còn hơn ! Cho nên vấn
đề nói hay không nói không dính-dấp đến chuyện ở
đây. Đây muốn nói ở chỗ là trong lòng hễ việc đến
thì nói, việc qua rồi thì im ngay tận ở trong, thì vấnđề
nói và không nói bằng nhau. Trái lại việc qua rồi
mà trong bụng vẫn còn thì-thào, việc chưa đến nó
vẫn bàn soạn thì không phải.
Tâm của chúng ta có thể có 2 thứ :
Một là nó giống như phim hình hay máy ghi-âm.
Nó cứ quay, cứ chụp chồng lên thêm hoài.
Một thứ nữa, nó giống như mặt kiếng tráng thủy.
Cái gì đi qua rọi vào, qua rồi thì mất, trở lại thì thấy
mà qua rồi thì lại thôi. Do đó minh nên tìm cách sử-
dụng tâm mình cũng như tấm kiếng, cái gì qua rồi
thì thôi chớ đừng nên lưu lại, nguy hiểm lắm !
Đây tôi xin đọc lại đoạn thơ của một thi-sĩ biểu-lộ
nỗi khổ của lòng khi việc đã qua rồi mà còn in lại
như sau :
« Lòng ta chôn một khối tình,
Tình trong giây phút mà thành thiên thu!
Tình tuyệt vọng nỗi thảm sầu,
Mà người gieo thảm như hầu không hay.
Hỡi ôi! người đó ta đây,
Sao ta thui-thủi đêm ngày chiếc thân!
Dẫu ta đi trọn đường trần,
Chuyện riêng dễ dám một lần hé môi!
Người dù ngọc nói hoa cười,
Nhìn ta như thể nhìn người không quen.
Đường trần lặng-lẽ gót tiên,
Nào ngờ chân đạp lên trên mảnh tình!
Một mình lòng mới hỏi lòng,
Người đâu ta có mấy dòng thơ đây! ..”
Thật là khủng khiếp! Thế thì biết chuyện đó nó có
cực cho mình ra sao?!
Và đây là một đoạn nữa:
“Đêm nay là cuối mùa Đông,
Giấy hoen, mũ cũ, mắt dưng lệ thừa.
Lần trang kỷ niệm về xưa
Sầu theo dòng chữ như mưa lào rào. »
Như vậy thì sống làm sao nổi ! Cuộc sống trở nên
là một cuộc chết !
Còn có cách nói nữa :
« Nước trôi không để ngày vui lại,
Mà cánh hoa xuân đã rụng rồi ! »
Như vậy là sự đời chảy trôi qua mà mình muốn giữ
lại, nên chỉ giữ được bóng thôi. Cho nên Phật gọi
tâm chúng-sanh là do bóng dáng trần-cảnh gom lại
mà làm tâm. Thế thì mình đâu có sống !
Ngay như bây giờ đây, anh em duy-vật thì săn tìm
cái Hoàng-Kim thời-đại ngày mai, hy-sinh hiện tại,
phủ-nhận cái đã qua là sai lầm. – Công giáo cũng
cho đã qua là sai-lầm, hiện-tại hy-sinh mà ngóng
thiên-đường sắp tới. - Phật giáo cũng cho đã qua
sai-lầm, hiện-tại hy-sinh, bây giờ ráng niệm Phật để
mong mai về Cực Lạc. Do đó đều tranh nhau ở
hiện-tại, để hiện-tại trở thành chiến-trường, mà tấtcả
đều ngóng chờ ngày mai !
Nói như vậy, không phải là tôi chống tông TịnhĐộ.
Tôi muốn nói tông Tịnh-Độ có 3 bực : Đạithừa,
Trung-thừa, Tiểu-thừa.
- Đại-thừa của tông Tịnh-Độ là niệm Phật để bây
giờ là Phật, cũng giống như Thiền vậy. Hay nhất là
muôn tâm trở về một tâm ; đến lúc cái tâm không
còn nữa thì cũng với pháp-giới bao-la đồng-nhất.
Đó là hiện tiền là Phật.
- Trung-thừa của tông Tịnh-Độ là sau khi nhận được
bổn-tâm bổn-tánh, rồi nương nhờ pháp niệm Phật để
giải trừ thói quen.
- Tiểu-thừa của Tịnh-Độ là niệm Phật để chờ chết
mà đới nghiệp vãng-sanh về bên nước Cực-Lạc. Ở
nước Cực-Lạc được thấy Phật, nghe pháp rồi mới
giác ngộ.
Đó là chuyện tùy theo ý thích của mỗi người mà
làm.
Hỏi : Bạch Thầy, nói như thế thì tất-cả những
người tu theo pháp môn niệm Phật dù là Đại-thừa,
Trung-thừa, Tiểu-thừa đều lâm vào tình-trạng tự dối
gạt mình sao ? Không thể nhờ đó mà đến được cứu
cánh giải-thoát sao ?
Đáp : Ai thấy được tất-cả vạn pháp đều huyễn hóa
thì thấy được tất-cả vạn pháp đều là thật. – Ai thấy
được tướng kiềng, neo, cà-rá v.v.... đều là tướng giả
dối, mà thấy được bản chất thiệt của nó là vàng thì
người đó thiệt thấy được vàng. Do chỗ đó, nếu thấy
được tất-cả tướng đều là huyễn hóa thì sẽ thấy tất-cả
tướng đều thật.
Vì sao thế ? – Đây tôi nói : Một luồng gió Xuân
không biết từ đâu mà đi qua cây Bồ-Đề kêu như vỗ
tay, xuyên qua bụi tre khua như thì-thào, ngang qua
khóm ngải tưng-bừng như nhảy múa, lướt qua cành
dương nhẹ-nhàng như mơn-trớn, phớt qua cây tùng
Nam-Dương nhộn-nhịp như điệu vũ của thiếu nữ ...
Tất-cả những tướng đó đều chẳng qua là một luồng
gió Xuân. Nhận ra được luồng gió Xuân thì mấy
tướng huyễn-hóa chỉ là một bản nhạc.
Vậy thì cần nhất là phải nhận cho được chân sự
thật. Nếu nhìn ông Phật bằng tướng thì mình cũng
kẹt vào trong tướng huyễn-hóa như thường. Nên
nghĩa Phật không phải ở trong tướng mà cũng
không lìa tướng. Vì rằng nếu thấy được các tướng
đều là huyễn-hóa thì tất-cả tướng đều là thật.
Hỏi : Thưa, Tâm-kinh có câu : « Chiếu kiến ngũ
uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách .. » - nay ở
đây chỉ chú-trọng đến môn học « thấy tánh », như
thế là không thừa nhận Tâm-Kinh sao ? »
Đáp : Trời ơi ! Thấy tánh không phải là chiếu kiến
ngũ uẩn giai không sao ?! Vậy chớ ông hiểu thế
nào ?
Hỏi : Vì từ trước tới giờ chưa rõ, xin Thầy giải
thích thêm.
Đáp : Thế là tại ông mới đến kỳ này nên chưa rõ
chứ tự hồi đầu tôi đã đưa ra 2 việc :
1) – Nguyên tắc chụp ảnh là mình phải đứng yên,
cầm máy ảnh cho thật-vững, thì dù cảnh có xaođộng
thế nào mình cũng chụp được ảnh rõ-ràng.
Trái lại nếu mình đứng không yên thì dù cảnh đứng
im-lìm, mình cũng chụp không được ảnh chính xác.
2) – Tôi đã đưa ra 4 điều-kiện cần cho người học
Đạo trên đường khám-phá sự thật là :
- Phải dám tột bực thành-thật với mình
- Không nương-tựa ai
- Không sợ hãi một điều gì.
- Không mong cầu gì cả.
Nền tảng của việc học Đạo là tìm lấy sự thật.
Muốn tìm sự thật trước phải điều chỉnh cái máy
MÌNH. Nền tảng của cuộc sống là khám phá. Cuộc
sống không khám phá là cuộc sống tôi đòi. Và việc
khám phá duy nhất, trước nhất là khám phá MÌNH.
Nếu đã chấp-nhận điều đó, thì bây giờ thử hỏi:
mình nói đây là còn ở trên cái TÔI hay đã thoát ra
khỏi cái TÔI mà nói? - Nếu đã thoát ra khỏi cái
TÔI, thì nói như thế không phải. Nếu còn ở trong
cái TÔI mà nói, thì phải chấp nhận 2 nguyên tắc
chánh tôi vừa mới nói.
Vì ngũ uẩn là gì? Làm sao mình biết chắc được
nếu không tạm thời vượt ra khỏi sự ảnh-hưởng của
cái TÔI ? ! Nghĩa là tạm thời nương nơi thiện-trithức
hay một dịp kích-động nào đó ... mà nhất thời
nhận ra cho được tận nguồn tâm linh của mình.
Thoát khỏi tầm tay của cái TÔI rồi, từ đó mình
muốn đi tìm cái gì nữa thì mới nhìn thấy đúng sự
thật được. Cũng như trước khi tôi muốn nhìn màu
sắc đích thực của sự vật chung quanh, tôi phải gỡ
kiếng đen xuống. Nếu chưa gỡ kiếng đen xuống, mà
mình muốn đi tìm thêm những màu sắc gì khác thì
đều là vọng cả.
Nếu gỡ kiếng đen để xuống là việc ưu-tiên, thì ở
đây mới nói chuyện gỡ kiếng đen để xuống. Và
chính chỗ đó nên mới nói cần ngộ-tánh, thấy-tánh.
Nhưng tại sao ta vội thắc-mắc, sao không cứ để yên
rồi tới nữa tự-nhiên rõ ?! Đó là điểm cần để ý.
Thêm nữa, phải để ý mình dùng pháp hay bị-pháp
nó dùng ? Nếu bị pháp dùng thì dù thờ ông Phật
cũng là ngoại-đạo như thường. Còn nếu mình dùng
pháp thì Thiên Chúa cũng có thể là Phật Giáo.
Do chỗ đó, nếu mình đi có phương pháp thì mới
thấy được vấn-đề là : hiện ngày nay trong tình thế
vật-chất 5 châu họp chợ, thế-giới bị thu hẹp, tất-cả
những cái chúng-sanh phồng to lên ; tất nhiên đồng
bạc đụng đồng bạc, tôn-giáo đụng tôn-giáo, tínngưỡng
đụng tín-ngưỡng, văn-hóa đụng văn-hóa ...
đụng nhau một cách đảo-lộn như ngày nay. Vậy thì
ở trong cái biển đảo-lộn này lúc nào nó cũng chực
đầu-cơ, nên vấn đề dù cho nhiều người thích tướng
tôn-giáo tín-ngưỡng đi nữa, nó vẫn là chuyện thích
nằm nhà thương của mỗi người. Còn cơ thoát phải
nằm trong cơ trí-tuệ, chớ không thể nằm trong tôngiáo
tín-ngưỡng. Mà hễ kẹt vào trong tôn-giáo tínngưỡng
thì sẽ có những cuộc đầu-cơ hấp-dẫn, và
chánh-trị sẽ thò tay móc lỗ mũi mình dẫn đi. Cuộc
sống ngày nay đã trờ nên một cuộc lợi dụng tànnhẫn
đau thương. Do đó chúng ta nên để ý một điều
là cái Đạo không còn riêng ở trong chùa, nhà thờ,
đền đài, hay ở tôn-giáo tín-ngưỡng nữa ; mà là việc
của mỗi người phải biết trở lại và trở lại chính con
người của mình mới tìm thấy được yên vui. Và khi
tôi đã trở lại với lòng tôi, mỗi người chúng ta đều
cùng làm như thế thì dù cho là Việt-Nam, Ấn-Độ,
hay Nhật-Bổn, Mã-Lai ... cũng là anh em ; dù cho
Thiên Chúa, Tin-Lành, Hòa-Hảo, Cao-Đài cũng trở
nên Phật-Giáo, bởi vì Phật giáo cũng chỉ là một
trong các pháp. Còn nếu không phải như thế thì dù
là anh em một nhà cũng đánh lộn nhau như thường.
Do chỗ đó Khổng-Tử đưa ra nguyên tắc : Tu, Tề,
Trị, Bình.
Bởi vậy nên ở đây tôi chỉ mới bàn về bước đầu tiên
đó, mà vì ông mới nghe lần đầu, chớ suốt mấy năm
nay tôi đã nói đâu đó có thứ-tự lắm rồi. Thế là từ
trước đến giờ ông chỉ mê-tin theo lời và chữ của
kinh chớ không để ý xem kinh muốn nói gì, đó là
điều đáng trách.
Hỏi : Thưa Thầy, Thầy có nói : làm phước và bố
thí không thể gọi là tu. Vậy « tu » là phải làm như
thế nào ?
Đáp : Thưa, nãy giờ tôi nói tại ông không nghe kỹ,
vì trong bụng ông đã ôm chặt sự buôn phước làm tu.
Thế là tham chớ sao gọi tu ?! Đúng lý ra bây giờ
không còn dùng chữ « tu » nữa là khác, bởi dùng
chữ tu người ta thường chỉ hiểu là cạo trọc đi vô ở
chùa. Nghĩa tôi nói nãy giờ ở đây là mỗi người cứ
hiểu mình là cái gì ; con người của mình đây là con
người như thế nào, rõ thấu guồng máy tâm-linh của
mình rồi thì tất-cả mọi việc đều ổn-định.
Tôi đã nói muốn khám phá con người của mình
trước nhất phải dám chấp nhận 4 điều kiện nền tảng
tôi nêu trên. Và phải ý-thức ngay ở mỗi việc với
mình, tỷ như bây giờ người ta khen, chê, người ta
bưng lên, để xuống, hay cái nghèo giàu ... trong
lòng mình ra sao khi đối đầu với những cảnh đó ?
Khi mình còn bị ngoại cảnh chuyển thì phải tự biết
rằng mình chưa biết mình.
Nói cách khác hơn là hằng ngày ông vẫn tu. Ông
« cục-kịch » là ông tu, mà ông tu chúng-sanh ! Bây
giờ ông phải thành thật khám phá cho rõ suốt con
người của mình trước, thì mới gọi là tu chơn chánh.
Hỏi : Bạch Thầy, theo con thấy thì các pháp-môn
có từ dễ đến khó để dẫn lần cho người vào Đạo.
Nhưng vì nghe nhiều chỗ thuyết pháp với nhiều bộ
kinh khác nhau làm cho con nghi ngờ hoang-mang,
không biết phải hiểu sao ?
Đáp : Thưa, tôi nói đây vốn có thứ lớp từ mấy năm
nay. Nhưng khó một điều vì người mới vào nghe lần
đầu đều vốn bị nhiễm-độc kiến thức, đều hiểu bằng
bộ óc lý-trí nên không nhận được trọn mặt thật. Chớ
Phật có dạy 5 cái chìa khóa để mình tự mở lấy sự
hiểu biết là : Nói cái gì ? nói ở đâu ? nói với ai ? nói
hồi nào ? ai nói ? - Nếu mình bỏ 5 cái chìa khóa đó
mà bàn luận tất-cả phương pháp làm sao được ! Cho
nên vấn-đề ngôn-ngữ văn tự là thứ dụng cụ không
toàn. Mình mắc kẹt vào văn-tự ngôn-ngữ, bất qúa
đổi ra một tuồng tranh đấu thế thôi chớ chẳng có
được gì ! Thiền-học thường nói : « Được cá thì quên
nôm, được ý thì quên lời, nên phải nương nơi lời mà
đạt ý ». Phật vì chứng nơi lý mà lập pháp, để chúng
sanh nương nơi pháp mà ngộ lý, chớ không phải
dùng pháp để trói mình cho mắc kẹt. Cho nên không
có kinh nào mâu-thuẫn, kinh nào làm cho mình
thắc-mắc, mà tại mình còn cái TÔI trói-buộc làm
cho mình bất tiện. Thế nên mình phải gỡ cái TÔI
trước thì mọi việc sẽ xong, bởi cái TÔI là cái tội, là
đầu mối của mọi vấn đề.
*
* * *
TUẦN THỨ HAI
4 – 6– 1972 (23 – 4 N. Tý)
Thưa qúi vị, kỳ này tôi không được khoẻ nhưng vì
có nhiều vị mới đến nghe lần đầu, nên tôi cũng xin
ngỏ một vài ý kiến:
Qúi-vị đến đây nếu muốn tìm học cái Đạo nhấtthừa
thì cứ để y đừng có vội tìm xem ông Thầy đó
nói có giống trong bụng mình hay không. Hễ giống
mới phải, thì té ra mình lấy mình làm cây thước đo,
nên chẳng những không hiểu mình mà cũng không
hiểu người khác nữa. Nếu mình chụp hình thì phải
đứng vững một chỗ, thì dù cảnh có xao động mình
cũng chụp được rõ. Còn mình bưng máy hình mà
nhảy chang cháng, thì dù cảnh đó có yên cũng chụp
không được. Cho nên phải điều chỉnh cái máy trong
con người của mình trước hết. Dù cho học bất cứ
thứ gì, hay học Phật cũng vậy, đừng vội làm theo
ông Phật mà bỏ quên mình; vì đó bất qúa cũng là
một thứ ở đợ ông Phật để được ăn trên ngồi trước
thế thôi chứ chẳng được ích gì cả. Do vậy việc hiểu
mình là cần thiết hơn hết.
Cho nên ở đây không có nghĩa tôi là người tuyêntruyền
cho cái gọi là Phật-giáo ngày nay, mà cũng
không có nghĩa giảng Đạo với ai hết. Ở đây chúng
cùng với nhau mà học hỏi, chớ chẳng có ai làm
Thầy ai, và cũng chẳng ai là phát-ngôn-viên của
chơn-lý cho ai cả! nên nghĩa học hỏi của chúng ta
nhắm vào phần cốt-tủy của mạch sống để việc học
Phật trở nên chính xác. Ngược lại có lắm vị nghe
với tánh-cách như đi sắm thêm cặp ngà voi, thì bất
qúa cũng như đi chơi chớ chẳng hiểu được chi hết.
Vì thế chúng ta cần nghe cho rõ-ràng tường-tận,
đừng đặt trước vấn-đề gì hết.
Có câu chuyện này qúi vị nên nhớ: ông già nọ có
đứa con một; ông thật yêu qúi cưng chiều. Một hôm
ông đi vắng, đứa bé chơi cùng với bạn, nhóm lửa
trong bếp lỡ lửa bắt cháy nhà. Bạn nó chạy ra không
kịp chết luôn trong đó. Đứa bé sợ qúa trốn đi mất.
Trở về thấy xác chết lầm là xác con, ông qúa thương
xót đem thiêu rồi gom tro để trong bình, đi đâu cũng
mang theo để cúng trông thật chí thiết. – Ít lâu sau
đứa bé trở về nhìn cha. Ông lại đuổi mà bảo: Con
tao chết rồi! mày đúng là ma, tao nhất định không
nhìn!.
Tâm lý người đời cũng giống như vậy. Thật khốnđốn
lắm! vì thế đối với cái khổ ngày nay, chúng ta
không còn lý do gì mà hẹn nay hẹn mai trong việc
phải giáp mặt với sự thật nữa. Cho nên tinh thần ở
đây là tìm hiểu mình, biết mình, để làm chủ lấy
mình, để khỏi nhìn thấy không thiệt. Con mắt cuả
tôi bịnh, nhìn mặt trăng một hóa thành hai – nên
không phải hai mặt trăng, mà là do mắt tôi bịnh. Do
đó cần chữa mắt, chữa cho lành chớ không cần tìm
có bao nhiêu mặt trăng. Chuyện con người của mình
cũng giống như vậy.
Thưa, bây giờ thật ra tôi không muốn nói gì nữa
cả. Nhưng có nhiều vị đạo hữu ở đây nhiều lần yêu
cầu. Nên sở dĩ tôi còn nói đây, vì tôi nghĩ rằng:
trong thời buổi này, qúi vị muốn tìm con đường
chính chắn để đi cũng khó khăn lắm, nên nương nơi
đó tôi tùy duyên mà nói vậy thôi.
* Người tu đêm đến nằm mơ thấy lâu đài, cung
điện, voi ngựa hoặc cây cối, rừng ao v.v.. chớ nên
mống lòng tham đắm, vì hết thảy cảnh ấy đều là chỗ
để thác sanh, điều này phải hết sức chú ý. Lại nữa,
khi lâm chung chẳng nên chấp tướng thì chướng
liền trừ. Nếu tâm nghi phát khởi là bị ma nhiếp.
Thưa, vì trong khi sắp chết thì tất cả những việc
làm từ thuở bé đều hiện lên hết; nên bất cứ ai, hễ
trước khi chết phải ráng giữ đừng để bị cái tâm mê
sai khiến dẫn mình đi.
Chuyện thật xảy ra trước mắt nhiều người: có một
người chuyên làm nghề đồ tể. Đến lúc lâm chung,
ông phải nằm để cái đầu thòng xuống thanh giường,
đầu lắc lư, miệng la è è mà vẫn không chết. Người
chung quanh thấy vậy đem một chậu nước đặt dưới
đầu ông, lấy con dao để trên tấm thớt. Rồi đốt
nhang, giấy vàng bạc vái, xong lấy dao liếc trên
miệng chậu. Lúc đó tự nhiên ông trào máu miệng ra
rồi mới chết được.
Cho nên biết, ở trong bầu trời khum-khum này,
nếu mình không quay trở vô để biết mình; thì khi
cảnh sắp chết tới sẽ gặp cảnh đảo ngược đưa vào
luân hồi. Thí dụ trước kia mình giết con heo thì lúc
đó mình là con heo bị giết, còn con heo thành mình.
Do đó nên Phật gọi là Chánh-điên-đảo.
Bởi thế nên trước khi chết mà bình-tĩnh với cảnh
hiện đó không phải là dễ. Thử hỏi khi ngủ nằm mơ
mình có bình tĩnh được không? - Nếu thấy cọp rượt
mình sợ-hãi, thấy chìm thuyền mình chới-với .., thì
một lát cảnh hiện tới làm sao mình tự nhiên được!
Do đó mà chúng ta sẽ phải bị thác-sanh. Nếu qúi vị
có đọc Nội-Kinh đến chỗ nói về 6 đường luân hồi,
sẽ rõ lý do của sự thấy lộn ngược đó.
Như câu chuyện của tôi khi còn trẻ khoảng 28 tuổi.
Lúc ấy tôi gặp một cô thân hình thật cân đối, tay vén
cao ống quần để lội qua dòng suối. Cô đi qua, tôi đi
về, không ai quen biết, cũng không ai gặp lại nhau.
Thế mà khi về nhà, hễ vừa chợp mắt tôi lại thấy cặp
bắp chuối cô đó mãi không sao quên được. Tức qúa
tôi cố xua đuổi dữ dội trong tâm tưởng cũng không
xong. Đến nỗi khi ngủ nằm mơ thấy cô ve vãn
mình. Tôi chống đối dữ dội. Khi thức giấc suy nghĩ,
thì ra chính mình muốn người ta mà thấy người ta
muốn mình, có lạ chưa ?!
Thì ra, ở trong cái bầu khum này nó lật ngược ra
những chuyện như vậy, mà mình tưởng đâu mình
trong sạch lắm! Đến khi học Phật rồi mới biết. Đó là
chỗ để Mật Tông lập nền tảng, và cũng chính chỗ đó
mà giới có nhiều dục vọng thích luyện ngải, luyện
bùa … làm theo tả đạo bàng môn, để cuối cùng bị
tai hại. Do vậy đó là chỗ chết mà người ta không
biết, tưởng đâu làm lợi ích cho mình, đến khi chết
thì nguy to!
* Pháp thân bổn lai thanh tịnh không thọ lãnh một
điều gì, chỉ vì mê muội không hay biết nên vọng thọ
báo, vì có tham đắm nên mất tự do, nếu ngộ được
bổn tâm thì chẳng đắm nhiễm.
Thưa, tôi nói đây không có hổ-thẹn, là cái chúngsanh
của tôi nó không phải nhỏ! Như vấn đề ăn, khi
nhỏ chỉ còn thiếu con bọ xít là tôi chưa ăn thôi! Và
vấn đề nam nữ của tôi cũng vô cùng! Mà nó ở trong
tâm, chớ ở ngoài ai thấy mình đâu lúc nào người ta
cũng thấy mình siêu lắm! Nhưng nhờ từ khi tôi
nhận ra được nguồn cội của lòng , rồi tự nhiên nó
mất hiệu lực không lôi tôi được, tuy nhiên ở trong
biển cộng nghiệp này mình cũng phải tự cầm bánh
lái. Nói như vậy thì biết giá trị của sự tỏ ngộ được
lòng mình hay như thế nào. Còn làm bất cứ cách
nào, như niệm Phật thì bất qúa cũng như đè bẹp để
đó, đến khi rục rịch nó sẽ ngồi dậy còn mạnh hơn!
Chỉ trừ khi tôi nhận ra được nguồn cội tâm linh thì
tự nhiên nó mất hiệu lực đi. Do đó khi nhận ra được
nguồn cội của tâm linh thì tự nhiên mình không còn
tham đắm, mà cũng không còn đòi hỏi cái gì. Nên
tôi thường hay nói: bây giờ đây tôi sống như sống
thừa, bởi vì tôi sống tuy chưa được mấy mươi năm
mà tôi kể như đã sống mấy trăm năm, đủ rồi!
Chuyện đời mình thấy đã thèm rồi! Do đó bây giờ
sống thêm nữa là sống vì ngưòi chung quanh, để có
thể làm được công đức chi gọi là đền đáp cho bao
nhiêu nhân duyên kể từ khi có mặt mình đến giờ,
vậy thôi!
* Nếu là từ thánh vào phàm thị hiện bao nhiêu tạp
loại tự làm chúng sanh, đó là một việc khác. Nên
thánh nhơn làm nghịch làm thuận đều được tự tại,
tất-cả nghiệp chướng không trói buộc đuợc, đối với
bực ấy có đại oai đức đã lâu cho nên tất cả nghiệp
chướng đều bị chuyển hết. – Thiên đường địa ngục
hết thành vấn đề.
Hết thảy những người từ thánh vào phàm có thể
làm được đủ chuyện hết. Có lần tôi nói :” ông Phật
muốn độ chó, ông Phật phải làm chó”, mà người
nghe không hiểu nên phiền tôi. Nhưng sự thiệt là
vậy. Hễ tôi muốn vô trong cõi chó thì tôi phải nhập
vào chó, chớ làm sao bây giờ! – Do đó từ thánh vào
phàm mình không thể lường được. Hôm nay tôi nói,
mỗi người nên ghi nhớ. Trong biển cộng nghiệp
ngày nay, biết bao nhiêu chuyện đau thương khổ
lụy, cho đến bây giờ tuổi trẻ tìm cách chặt hết 5
ngón tay để khỏi đi lính. Mà đến tôi không giữ vững
sự hiểu biết thì tôi sẽ đổ lỗi cho chiến tranh. Nhưng
không phải thế ! – Có lần tôi giảng kinh Duy Ma
đến phẩm Phật Đạo : ”Không phải cõi Phật nào
cũng thanh tịnh hết, là vì tùy theo tâm lượng của
chúng sanh mà thị hiện”. Và Văn Thù Sư Lợi hỏi
Duy Ma Cật rằng :”Thế nào là Bồ Tát thông đạt
Phật Đạo?”. – Đó là nghịch hạnh. Nghĩa là từ thánh
vào phàm, hễ xài miếng thuận được thì phải xài
miếng nghịch được. Trong con mắt của thánh hiền,
Tiên Phật, không có thấy người ta chết là hết
chuyện; mà thấy nỗi đau khổ của loài người là cái
mê chớ không phải cái chết. Cho nên hiện tình giờ
đây, Nam cũng như Bắc, tất cả thế giới …. biết đâu
đang có không biết bao nhiêu người từ thánh vào
phàm, thị hiện những chuyện để đập đuổi cho chúng
ta giác ngộ! Nhưng tôi nói như vậy, không phải
những kẻ ác đều là bực Bồ Tát thị hiện hết đâu! Là
vì khi đóng đinh xương khu người ta mà cười được,
thì người ta có đóng đinh xương khu mình lại mình
cũng cười được, thì mới là Bồ Tát; còn không phải
vậy thì đừng có mong! Do chỗ đó, hễ giết người mà
cười, đến khi người giết lại mà khóc thì không phải
? Đó là ma qủi chớ không phải là thứ thiệt.
Tôi nói chuyện thực tế hiện giờ đây là chuyện
tranh chấp giữa Ấn Quang và Việt Nam Quốc Tự,
đó cũng là cái gương cho chúng ta thấy. Một mặt
bên này mình phải nhìn thấy tác dụng nó như thế
nào. Mặt trái bên kia tác dụng như thế nào. - Tất cả
là Phật thuyết pháp. Cho nên kinh nói : bên nước
Cực Lạc, gió thổi, mây bay, chim kêu, lá rụng, hoa
rơi … đều là Phật thuyết pháp. Nghĩa là gì? - Là khi
chúng ta nhập được và trong tận cùng nguồn tâm
linh rồi thì dù cho chúng đánh, thiên hạ cười … đều
là Phật thuyết pháp hết; tự nhiên phải vậy
Kinh có nói rằng :”Phật vốn không có tướng, tùy
tâm chúng sanh mà hiện tướng” – Nghĩa là vốn
không có Phật đâu ở ngoài, mà tận nguồn tâm linh
là Phật. Như vậy nghĩa là gì? – Nghĩa là hết thảy
đều là Phật, vì không biết mình là Phật nên mình là
chúng sanh. Mình mê hay ngộ chỉ có thế thôi. Do
chỗ đó, ngay bây giờ nếu nhận cho được chuyện tôi
nói đây, thì thấy chuyện tu hành quan hệ sát một
bên. Cho nên biết đâu chuyện hồi thời Ngô Đình
Diệm với Phật giáo cũng là chuyện chính ngay
trong ruột của Phật giáo! Bởi tâm với cảnh vốn
không hai. Cảnh là bóng dọi của tâm. Thế nên:
“Lòng quanh quéo sông càng quanh quéo
Cảnh đìu hiu dạ lại đìu hiu”
Nên biết được hễ khi còn một mảy may chưa giác
ngộ thì trần lụy còn xoay chuyển mình được. Do đó
Tổ Đạt Ma nói : Người tỏ ngộ được bổn-tánh mới
gọi là Thiện tri thức. Còn nói cách khác thì Đề Bà
Đạt Đa là thiện tri thức, nghĩa là cảnh nghịch là
thiện tri thức. Cho nên đối với sự dồn ép của chiến
tranh ngày nay, biết đâu một ngày nào đó sẽ không
đưa mạnh tinh thần tuổi nhỏ dám thẳng thắn đi vào
sự thật, sống với sự thật?! “Tôi không bằng lòng
làm điều này – Vì nó sai lầm tôi không làm; ai có
thế lực mạnh hơn tôi cứ giết tôi, tôi bằng lòng. –
Còn nếu xét thấy tôi nói phải thì buông tha tôi ra !”.
Rồi sẽ phải tới cảnh như thế, chớ không thể làm
khác hơn ! – Cũng như nếu không có bàn ép của
Ăng Lê thì làm sao đẻ ra ông Gandhi! – Cũng như
khuôn bún nếu không có cái trên ép cái dưới thì
không có ra được con bún. – Cũng như cục sắt chưa
được nung đỏ, chưa bị búa tài xồi rèn luyện thì
không thể thành con dao. Do chỗ đó, trước đây
mười mấy năm tôi thâm sâu vấn đề này mà cầm bút
viết mấy câu:
“Tất cả đều như ơn
Không một kẻ oán hờn
Chúng sanh đều là Phật
Vạn pháp vẫn y nhiên
Hiện tiền ly động tĩnh
Hoảng hốt thấy lăng xăng
Nhảy ùm vào biển cả
Mặt biển túa hoa sen”.
Từ ngày tôi viết được bài đó trở về sau, tôi luôn
luôn nhìn cảnh nghịch là cảnh giúp mình, nhờ đó
đến khi gặp cảnh thuận, cảnh thuận không mê hoặc
tôi được. Nên biết khi cảnh nghịch mình dùng được
thì có cảnh thuận càng hay. Mà nếu sợ cảnh nghịch,
đi tìm cảnh thuận thì không những thuận mình dùng
không được, mà cảnh nghịch vẫn không tránh khỏi.
Như tôi thấy, có lần tôi về miền Cổ Cò giảng Đạo.
Lúc đầu người ta sốt sắng tu đông lắm. Nhưng khi
cuộc sống đuợc khá giả thì mọi người lại chơi bời
phóng túng. Đến khi giặc đánh tới lùa bắt đi … bấy
giờ ai cũng trở lại niệm Phật. Tôi thấy cảnh như vậy
mà tội nghiệp. Nhưng tôi tội nghiệp là ở cái khổ của
con người, chớ không phải tội nghiệp ở sống chết.
Vậy chớ tôi ngồi đây, một ngày nào đó việc đến rồi
xác thân tôi không chết sao? Nhưng tôi đau khổ hay
không, lòng tôi có tự tại hay không, đó là một việc.
Lúc Mậu Thân tôi nghe một bà nói chuyện làm tôi
ngẩn ngơ – Bà nói :“ Thầy ơi, tôi chỉ có một thằng
con, nó bị chết đi làm tôi thiếu điều chết theo nó –
Mà nếu chung quanh không có ai chết, chắc tôi chết
theo nó rồi! Bị thiên hạ chết nhiều qua thành ra tôi
thấy yên!” – Thì ra trong bụng bà đã bỏ con toán
nhân chia trừ cộng thấy lời lỗ rồi. Chớ nếu bà thấy
thương con người ta cũng như thương con bà, thì bà
phải khổ hơn thế nữa. Ngược lại bà hết khổ, thì sự
hết khổ của bà đâu phải là tự tại!
* Còn phàm phu thần thức mê muội, chớ không
phải trong ngoài sáng suốt như thánh nhơn. Nếu có
chỗ nghi thì chớ nên làm, làm là bị trôi lăn theo
sanh tử, khi ăn năn đã muộn. Nghèo cùng khốn khó
đều từ vọng tưởng sanh, nếu ai tỏ được tâm này thì
nên lần lượt khuyên bảo lẫn nhau, chỉ làm mà không
trụ không chấp là vào được tri kiến Như Lai
Sự thiệt tôi giữ 5-7 chục triệu mà lòng tôi không
vướng bận thì cũng như tôi không có đồng nào. Còn
nếu vướng bận với vật chất thì dù chỉ giữ 5-7 ngàn
cũng vẫn thấy nặng như người giữ mấy chục triệu
vậy. Do đó vấn đề kết là tại tâm chớ không phải tại
cảnh. Nên hễ thoát được vấn đề vật chất thì có nhiều
hay không cũng vậy. Còn không thoát được thì
không với có cũng vẫn khổ trong lòng.
Nên dù ở trong cảnh nào mà lòng mình vẫn luôn
được thảnh thơi dung dị, thì đều là giải thoát được
cả.
* Người mới phát tâm, thần thức chưa định, nếu khi
nằm mơ thấy cảnh lạ hiện đều là tự tâm khởi, quyết
định chớ nghi, không phải ngoài tâm có cảnh. Nếu
mơ thấy ánh sáng như mặt trời tức là tập nghiệp còn
thừa sắp hết, tánh pháp giới hiện. Đó là điềm sẽ
thành Đạo, chỉ tự mình biết chẳng nên nói cho ai
nghe. Hoặc khi dong chơi trong vườn vắng lặng, đi
đứng nằm ngồi mắt thấy ánh sáng; hoặc trong đêm
tối cũng thấy ánh sáng như ban ngày, đừng có lấy
làm lạ, đều là tự tâm muốn hiển hiện. Hoặc nằm mơ
thấy trăng sao tỏ sáng; đó cũng là điềm các duyên
muốn dứt, cũng chớ nên nói cho ai nghe. Còn như
nằm mơ thấy đi trong tối tăm u-ám, đó cũng là tự
tâm phiền não chướng nặng cũng chỉ nên tự biết.
Nếu đã thấy tánh, chẳng cần phải đọc kinh niệm
Phật, học rộng biết nhiều vô ích, còn làm cho thần
thức lại tối thêm. Kinh giáo chỉ để nêu tâm nếu rõ
được tâm đâu cần phải xem kinh giáo. Nếu là từ
phàm vào thánh phải nên ngừng nghiệp dưỡng thần,
tùy phận qua ngày. Nếu là người nhiều sân nhuế
làm cho tánh sanh chướng đạo, tự gạt gẫm vô ích.
Đây là ý Tổ muốn nói khi nhận ra được nguồn
tâm-linh của mình rồi, thì phải nên lưu-tâm ngừng
các thói quen tập-nghiệp để dưỡng thần.
* Thánh nhơn ở trong sanh tử tự-tại hiện ẩn ra vào
chẳng định, tất-cả nghiệp-chướng hết thành vấn đề.
Hết thảy chúng-sanh chỉ cần thấy bổn-tánh là tậpnghiệp
liền dứt, thần-thức không bị mê; nhưng phải
là tức thì liền nhận.
Câu này quan hệ! Thấy bổn-tánh là tập-nghiệp liền
dứt, thần thức không bị mê. Nhưng phải là tức thì
liền nhận, chớ không phải ngồi tính. Vì tính toán
suy luận là thứ rơi vào trong kiến thức rồi.
* Nếu luống thật ngộ đạo thì đừng chấp tất-cả pháp,
ngừng nghiệp dưỡng thần thì dư tập cũng hết, tự
nhiên minh bạch không cần dụng công. Ngoại đạo
chẳng rõ ý Phật, dụng công rất nhiều mà vẫn trái với
ý thánh. Suốt ngày bo-bo niệm Phật tụng kinh mà
vẫn mê-muội bổn-tánh, chẳng khỏi luân hồi. Phật là
người rảnh rang, đâu cần chật-vật rộng cầu danh lợi.
Chỉ có người chẳng thấy tánh mới đọc kinh niệm
Phật, siêng học, sáu thời hành đạo; ngồi hoài chẳng
nằm, học rộng nghe nhiều và cho đó là pháp Phật.
Chúng-sanh như thế đều là người khinh pháp. Phật
trước Phật sau chỉ nói thấy tánh, các hành động đều
là vô thường. Nếu chẳng thấy tánh mà vội cho rằng
mình đã được đạo vô-thượng Bồ Đề, đó là hạng tội
nhơn lớn. - Muời vị đệ tử lớn của Phật, ngài A-Nan
là người học rộng bực nhứt mà với Phật còn không
biết, chỉ học rộng nghe nhiều. Hết thảy nhị thừa
ngoại-đạo đều không biết Phật, chỉ biết đếm theo
pháp tu chứng, bị đọa vào trong nhân qủa, đó là
chúng-sanh nghiệp-báo chẳng khỏi sanh tử, trái với
ý Phật rất xa, là kẻ khinh Phật đó! Hạng chúng sanh
ấy thuộc Nhứt-xiển-đề. Trong kinh có nói: kẻ Nhứtxiển-
đề chẳng có lòng tin; nếu có lòng tin thì người
ấy là một vị Phật.
Ngài A-Nan là ngưòi Phật giảng gì cũng nhớ hết từ
đầu cho đến cuối. Nhưng sau khi bị vấn đề MaĐăng-
Già mới về khóc lóc xin Phật giải cho nghe.
Phật giảng xong rồi nói : “Bởi vậy, ông chỉ là mạnh
nhớ, nghe nhiều, chớ không phải tu”.
Nói như vậy nghĩa là sao? – Nghĩa là hết thẩy
kiến-thức thế gian đều không quan hệ gì đến vấn-đề
giải thoát cả. Chỉ cần phải thực hành thiệt tình, chớ
chỉ biết bằng bộ óc không thể được.
Thí dụ tôi ngồi tính toán, suy nghĩ thấy sắc tức là
không, không tức là sắc. Tôi giải nghĩa cho mọi
người nghe được. Nhưng khi tôi đụng đến sắc, thì
ngược lại tôi bị cóng giò! – Như vậy hồi tôi nói sắc
tức không, không tức sắc là nói bằng trí óc chớ
trong tim không có.
Cũng như nhìn các Phật-học-viện nêu lên biểu ngữ
“Đừng chạy theo danh, đừng chạy theo lợi” – Thế
nhưng khi đụng đến xe hơi, nhà lầu, tất-cả vật chất
… thì lòng tôi bây giờ ra sao ?!
Do chỗ đó, Đạo là nói thực-hành chớ không nói
hiểu biết, kiến-thức. Làm thế nào để chúng ta cũng
sống trong đời-này, mà không bị vật dục lôi cuốn,
thì mới phải là Đạo. Có rất nhiều người biết chuyện
không phải mà vẫn làm, để rồi ăn năn. Như vậy là
hồi làm, người ta không biết cái thắng ở chỗ nào
nên ngừng không được.
Cho nên khi chưa biết gì hết về chính con người
của mình, thì dù cha mẹ với con cái cũng không
hiểu nhau được nói chi là chánh phủ với dân! Dĩ
nhiên vậy. – Chính người với người, chính tôi với
tôi cũng không thể hiểu được. Thì giữa ông với tôi
đã có tấm vách ngăn, dù chúng ta là ruột thịt nhau
cũng vậy. Nên vấn-đề tu-hành không có gì lạ hơn là
soi trở lại lòng mình để khám phá thấy được mặt
thật của chính con nguời của mình.
Tôi nói tôi tu, nhưng bước ra ngoài kia có người
gọi tôi là đại-đức, thượng-tọa, hòa-thượng … tôi
thấy thích; Ngược lại gọi tôi là thằng cha Xoài, Ổi
… liền tôi nghe phiền! Hay là tôi mặc bộ đồ lớn,
ngồi xe hơi Huê-Kỳ, đi coi bộ trang trọng; Nhưng
khi đội nón lá, xách bị, chống gậy, tôi không dám
đi. Như vậy là tôi bị bộ đồ đổ khuôn, đóng chuồng
lại rồi!
* Nếu chẳng thấy tánh, chớ nên bắt chước chê bai
những người lương thiện, tự dối gạt vô ích. Thiện ác
rõ ràng, nhân qủa phân minh, thiên đường địa ngục
chỉ ở trước mắt, người ngu chẳng biết hiện đọa vào
địa ngục tối-tăm cũng không hay
Thưa, có rất nhiều người hiện-tiền đã bị đọa rồi mà
không biết, cứ tưởng là còn một cõi địa-ngục nào
riêng nữa. Nhưng dù có cõi riêng nữa, thì đó là
chuyện sau khi chết. Còn chuyện hiện-tại đây,
chúng ta thử nghĩ: người nào ghen dữ qúa, tự nhiên
sẽ có một cục mắc kẹt ở cổ, như hột me nuốt vô
khạc ra cũng không được.
Dưới địa phủ có cảnh ăn sắt cục, uống nước đồng
sôi; nuốt vô không được cũng phải ráng nuốt. Thế
thì hột me mắc kẹt trong cổ của mấy người ghen
tương cũng là một thứ đó. Nên có người nói:
“ Khạc chẳng ra cho, nuốt chẳng vào
Khối tình nghẹn mãi biết làm sao
Muốn kêu một tiếng cho to lắm
Rằng ới ai ơi! Nó thế nào !”
Bây giờ nuốt vô khạc ra không được, thì một lát
nữa chết sẽ hiện ra cảnh địa-ngục đó, có gì lạ đâu!
Tôi xin kể một câu chuyện: Khi tôi nhập thất ở Cổ
Cò, Sư-cụ Pháp-chủ Khánh Anh ghé thăm, có nhờ
tôi coi bịnh dùm người đệ-tử tài-xế. Tôi coi xong
nói: tôi không biết ông làm nghề gì, nhưng tôi biết
hiện-tiền chuyện của ông làm đây là chuyện địangục;
do đó có cho thuốc cũng không được đâu,
chừng nào ông đổi nghề thì mới được! - Tôi nói
xong ông tái mặt liền! – Câu chuyện tới đó rồi thôi.
Sau tôi lên Ấn Quang mới hay ông làm ở phòng
điều tra Catinat.
Đó là chuyện nói hiện mình mới thấy được vậy.
Bây giờ mình đập người ta, một lát nữa trong bầu
trời khum khum này mình sẽ thấy người ta đập
mình; cũng như chuyện đồ-tể đâm heo. Ở trong cõi
chánh-điên-đảo này nó vốn vậy.
* Chỉ vì nghiệp nặng nên không thể tin, ví như
người mù chẳng tin người ta nói có ánh sáng, dẫu có
cắt nghĩa thế nào cũng không tin được, vì đã mù lấy
đâu mà phân biệt được sáng tối! Người ngu cũng
thế. Hiện tiền đã bị đọa vào súc-sanh tạp loại, chỉ ở
trong nghèo cùng hạ-tiện, cầu sống chẳng được, cầu
chết cũng chẳng được. Tuy thọ khổ như thế nhưng
dẫu có ai hỏi họ cũng tự gọi mình được yên vui.
Nên biết tất-cả chúng-sanh dẫu sanh vào chỗ vui
thật cũng không hay biết. Hạng người ác như thế,
chỉ vì nghiệp chướng quá nặng nên không thể phát
lòng tin, không tự do được. Nếu thấy được tự tâm là
Phật chớ không phải ở tướng bên ngoài, thì dẫu
bạch-y-cư-sĩ cũng vẫn là Phật. Nếu chẳng thấy tánh
dù có đầu tròn vai vuông cũng là ngoại-đạo.
Đến đây tôi xin nhắc một câu chuyện hết sức lâmly,
mà cái biết cuả tôi không lấy gì để chứng minh
cho tất-cả mọi người cùng biết được:
Xứ Cổ-Cò có dòng họ chim Vịt, sắc lông giống
như áo-bá-nạp. Chim Vịt đi tìm ăn bằng cách đi xin;
mà chỉ ăn động-vật, còn thực vật, trái, hột … không
ăn. Buồn cười là nó lại đi xin con chim sâu nhỏ xíu.
Mỗi lần chim sâu bắt được con sâu bằng sợi chỉ, nó
đeo theo xin cho được. Không cho thì nó mổ trên
đầu, đút cho thì nó nuốt. Chim sâu sợ, phải bay trốn
chỗ khác. – Còn gặp chim trao-trảo bắt được con
sâu, nó đeo theo xin chèo-chẹo một cách thật ti-tiện,
không giống thái độ hồi nó xin con chim sâu. Trong
xóm thấy lạ theo dõi nó biết nó không phải là con
chim con, mà là giống chim Vịt lai sanh ra - Gọi tên
là chim Ăn-mày. Nếu không có lý do nào làm sao
có được chuyện đó!
* Hỏi: Cư-si còn vợ con dâm-dục làm sao thành
Phật được?
Đáp: Chỉ nói thấy tánh; chẳng bàn đến dâm-dục.
Chỉ vì chẳng thấy tánh. Miễn được thấy tánh thì
dâm-dục vốn tự rỗng lặng, tự nhiên dứt trừ, không
còn tham-đắm nữa. Dẫu cho dư tập hãy còn cũng
chẳng làm hại được. Vì sao thế? Vì tự tánh vốn nó
tự thanh-tịnh. Tuy ở trong sắc thân 5 uẩn, tánh nó
cũng vốn thanh tịnh không ô nhiễm. Pháp-thân bổn
lai không thọ, không đói, không khát, không lạnh
nóng, không bịnh hoạn, không ân ái, không quyến
thuộc, không khổ vui tốt xấu, không vắn dài mạnh
yếu, vốn không một vật có thể được. Chỉ vì cố-chấp
cái thân này nên mới có các tướng đói khát, lạnh
nóng, bịnh chướng v.v..
Nghĩa là bổn-lai nguồn tánh của mình vốn không ở
trong phải quấy, được mất, hơn thua, lợi hại, có
không, sống chết, mình người, Ta Bà Cực Lạc, v.v..
Tất-cả những cái có thể xếp thành cặp đều chỉ là
hiện tượng không phải chân thật.
* Nếu chẳng chấp là được tự-tại. Nếu trong sanh tử
mà được tự-tại, chuyển trở lại các pháp, đừng để các
pháp chuyển, cũng như thánh-nhơn, thì ở đâu lại
không yên?
Thưa, nếu bị bỏ đói thì đàn ông cao lắm không qúa
7 ngày, đàn bà không qúa 9 ngày là chết, nhưng nếu
bằng lòng nhịn đói thì lâu chết hơn. – Nên vấn đề
mình không bằng lòng rất quan hệ!.
Có một ông ghiền Á-phiện, nghèo qúa không có
tiền hút nên bắt vợ buôn tảo bán tần; mỗi ngày phải
mua nhựa bông đùm trong giấy quyến cho ông nuốt
3 viên rồi mới làm việc được trong ngày ấy – Vì
nghèo con đông, nên cùng đường sanh kế. Một hôm
bà vợ đi chợ hết tiền, về ghé nhà chị bạn làm bánh
tráng nem xin bìa bánh vụn đốt cháy thành than, rồi
cũng bỏ trong giấy quyến vặn lại 3 cục, đưa cho ông
nuốt rồi làm việc. Đều đều như vậy suốt 3 tháng,
ông mập mạnh không sao hết. Tới hôm nọ, ông kêu
đi mua nữa. Bà vợ nghĩ đã qua 3 tháng rồi mà
chuyện vẫn êm-xuôi, tưởng chắc ăn bà mới tiết lộ
bí-mật. Tức thời ông ngã lăn sôi đờm, phải chở vô
nhà thương chích Morphine. Tỉnh lại, rồi từ đó hễ
mua về ông đều nếm thử.
Vậy là hết pháp rồi! – Nên biết tâm mình nguy ghê
lắm. Tôi chưa từng thấy ai bỏ Á-phiện mà chết, thế
mà người nào bỏ á-phiện cũng sợ chết, cũng đều đòi
phải có thuốc. Bằng cớ là cứ việc bắt mấy người hút
giam lại, chỉ cho ăn cơm họ cũng mạnh như thường.
Nhưng đến khi thả ra, đi ngang qua tiệm thuốc, dầu
không bước vô cũng ngã té liền tại đó.
* Nếu tâm có chỗ nghi, quyết-định không thể tự-tại,
không khỏi sanh tử luân-hồi. Nếu thấy tánh thì dẫu
bần cùng hạ tiện, đồ-tể sát sanh cũng vẫn thành
Phật.
Thật là một pháp quyết-định hay vô cùng ! Nói
như thế nghĩa là nếu không thấy bổn-tánh thì dù làm
thiện cũng ở trong nhân qủa. Có nhiều người than :
Tôi ăn ở hiền lành không hại ai, mà sao đời tôi khổ
đến thế này ! – Như vậy mình đã tin có một ông ở
trên cao coi thưởng phạt họa phúc. Như thế là sai
lầm rồi.
* Hỏi : Đồ tể làm nghiệp sát sanh làm sao thành
Phật được ?
Đáp : chỉ nói thấy tánh, chẳng nói tạo nghiệp. Dẫu
có tạo nghiệp thế nào, nghiệp cũng không thể trói
buộc được. Từ lũy kiếp đến giờ, chỉ vì chẳng thấy
tánh nên mới có trôi lăn sa-đọa vào địa ngục, sanhtử
; khi ngộ được bổn-tánh sẽ không tạo nghiệp nữa.
Nếu chẳng thấy tánh, niệm Phật để khỏi nhân qủa
cũng không thể được, không luận là sát-sanh.
Thật vậy, dù niệm Phật nhiều thế nào cũng ở trong
nhân qủa ; bất qúa được mang nghiệp vãng sanh
thôi. Đó là điều dĩ nhiên phải vậy trong phạm vi
nhân qủa, hễ mình mua nhiều thì người ta bán
nhiều.
* Nếu được thấy tánh, tâm sát liền trừ, nghiệp sát
cũng không thể trói buộc được. Nên chi 27 vị Tổ ở
Tây-Trúc chỉ truyền nhau tâm ấn. Nay ta đến cõi
này cũng chỉ truyền đốn-giáo đại-thừa chính tâm
mình là Phật, chớ chẳng nói đến giữ giới, tinh-tiến,
khổ-hạnh. Nhẫn đến vào nước vào lửa, leo lên
gươm đao, ăn một ngày một bữa, ngồi hoài chẳng
nằm, hết thảy những cái ấy đều là pháp hữu-vi
ngoại-đạo. Nếu rõ được cái tánh linh giác chính là
tánh Phật, Phật trước Phật sau chỉ nói truyền tâm
chớ không có pháp nào khác. Nếu rõ được tâm này,
dẫu phàm-phu không biết một chữ cũng vẫn là Phật,
nếu chẳng rõ tự-tánh linh-giác của mìng, dẫu cho
đem thân này tán ra tro bụi để tìm Phật rốt cũ______________ng
chẳng được gì.
Trong kinh Pháp Hoa có nói : Đem thân này tán ra
tro bụi. Mỗi hột bụi biến thành một thân. Rồi đem
tất cả Thân bằng 3 lần như thế để cúng dường vô số
Phật. Và đem tất cả của cải cả tam-thiên đại thiên
thế giới này để bố thí cũng không bằng nhận được
tri kiến của Như Lai, nghĩa là không bằng nhận ra
được nguồn tâm tánh.
* Phật cũng gọi là pháp-thân, cũng gọi là bổn-tâm.
Tâm này không hình tướng, không nhân qủa, không
gân cốt. Vốn như hư không, bắt chẳng được ; chớ
không phải như vật chất, không phải như ngoại đạo
nói. Tâm này chỉ trừ Như-Lai ra, hết thảy chúng
sanh đều mê muội, đều chẳng tỏ ngộ. Nhưng tâm
này không phải lìa cái thân vật-chất này. Nếu thân
tứ-đại này mà lìa tâm là không có sự sống, làm sao
có biết ! Nhẫn đến nói năng vận-động, thấy nghe
hay biết đều là cái động-dụng của tâm. Động là tâm
động, dụng là tâm dụng. Ngoài động-dụng không
tâm, ngoài tâm không động-dụng. Động chẳng lìa
tâm, tâm chẳng lìa động. Lìa động không tâm, lìa
tâm không động. Động là tâm dụng, dụng là tâm
động. Động tức tâm dụng, dụng tức tâm động. -
Chẳng động, chẳng dụng, dụng và thể vốn không,
không vốn không động. Động dụng do tâm, tâm vốn
không động. – Nên kinh nói : « động nhưng không
chỗ động. Suốt ngày đi đến nhưng chưa từng đi đến.
Suốt ngày thấy nhưng chưa từng thấy, suốt ngày
cười nhưng chưa từng cười, suốt ngày nghe nhưng
chưa từng nghe, suốt ngày biết nhưng chưa từng
biết, suốt ngày mừng nhưng chưa từng mừng, suốt
ngày đi nhưng chưa từng đi, suốt ngày đứng nhưng
chưa từng đứng. » Nên kinh nói « bặt đường nói
năng dứt hết nơi chỗ, thấy nghe hay biết vốn tự tròn
vắng, nhẫn đến giận mừng, đau ngứa nào khác
người gỗ, chỉ vì suy tìm cái đau ngứa không thể
được. » Nên kinh nói « nghiệp ác thì được báo khổ,
nghiệp thiện thì được báo vui. » Chớ không phải chỉ
sân bị đọa địa-ngục, mừng được sanh thiên. Nếu rõ
được cái tánh mừng giận vốn không, chỉ đừng chấp
nghiệp là giải-thoát. Nếu chẳng thấy tánh, giảng
kinh quyết không bằng cứ. Nói không sao hết, chỉ
đại-lược tà chánh đôi điều mà thôi.
Tụng rằng :
Tâm tâm tâm không thể tìm
Rộng cùng khắp pháp giới,
Hẹp chẳng chứa đầu kim
Ta vốn cầu tâm chẳng cầu Phật
Biết rõ ba cõi rỗng không vật
Nếu muốn cầu Phật chỉ cầu tâm
Chỉ tâm này, tâm này mới là Phật
*
***
Ta vốn cầu tâm, tâm tự trì
Cầu tâm chẳng được, tự tâm hay.
Tánh Phật chẳng từ ngoài tâm được
Tâm sanh là lúc tội sanh rồi.
Kệ rằng :
Ta vốn đến cõi thế này
Truyền pháp cứu mê tình
Một hoa nở năm cánh
Kết-qủa tự nhiên thành
LUẬN HUYẾT MẠCH của TỔ ĐẠT-MA đến đây
là hết.
Thật ra, ở đoạn chót này chỉ có một điều quan
trọng mà tôi đã từng nói ở trong kinh Pháp-BảoĐàn
: Huệ-Minh hỏi Lục-Tổ về bổn tâm bổn tánh,
Lục-Tổ nói :
« Trong khi không có nghĩ thiện nghĩ ác (nghĩa là
trong khi tâm không mống niệm), vậy cái gì là bổn
tâm bổn tánh của ngài ? »
Trọn hết câu chuyện ở đây chẳng qua cũng chỉ có
thế. Đó là một công-án giản dị và phổ-thông nhất,
phải nên lưu tâm.
Đến đây tôi xin nhắc một điều quan hệ nhất trong
việc học Đạo là phải làm sao cho nó ngấm được
toàn thân.
Nên nhớ trong kinh Pháp-Hoa, phẩm Phổ-Môn, có
đoạn Phật nói :
« Sau khi Phật giảng phẩm Phổ-Môn này rồi, có 8
muôn 4 ngàn chúng sanh phát tâm vô-thượng Bồ
Đề ». Nghĩa là có người do sự nghe nhận được, bị
một luồng chấn động toàn thân, thay đổi cả tập
nghiệp. Nên nghĩa một người với nhiều người
không có hơn kém. Đoạn kinh đó là một mật ý.
Còn về vấn đề sắc với không, tôi đã giảng trong
kinh Pháp-Bảo-Đàn. Lục-Tổ nói, nay tôi đổi lại
là : « tất cả những cái cặp, hay là không với có,
phàm phu thấy ra hai, người trí thấy không hai. Cái
không hai đó chính là tánh thật của vạn pháp. Tánh
thật đó ở trong phàm không bớt, ở trong thánh cũng
không thêm, ở trong loạn không rối, ở trong định
không chết tê. Y cứ vào đó mà hành sự thì được giải
thoát ».
Vì nói « không » với « có », có thể người ta hiểu
lầm, nên tôi nói tất cả những cái cặp. Cặp là sáng
tối, động tĩnh, ngày đêm, có không, được mất, hơn
thua, Ta-Bà Cực-Lạc, Phật chúng-sanh ... tất cả
những gì ghép lại được thành cặp đều chỉ là hiện
tượng. Tất cả hiện tượng đều huyễn hóa. Khi thấy
tất cả đều huyễn hóa, thì đúng lý ra ta phải thấy tất
cả đều thật. Nếu chưa thấy được tất cả đều thật, thì
cái thấy tất cả đều huyễn hóa của ta chưa phải là
thật thấy. Bởi vậy không có cách nào làm cho người
nghe được rơi vào trong cảnh thiết thực cho bằng
hỏi : « khi chưa nghĩ thiện nghĩ ác, cái gì là bổn tâm
bổn tánh của ngài ? » Cũng như có Thiền-sư
hỏi : « Thế nào là tiếng vỗ của một bàn tay ? » - Đó
là một cái chài vồ đập cho vỡ lý trí, để đừng sống
theo bộ óc mà được ngấm ra toàn thân, thì gọi là
giáp mặt được với sự thật. Nên hễ trực nhận được
thì thấy ngay. Không trực nhận được chính-chắn thì
bị rơi vào kiến thức, dù có trúng chăng nữa - Điều
đó tôi mong tất cả chúng ta đây phải đề phòng.
Bởi vậy, Lục Tổ có lần thử hỏi đồ đệ hỏi : « tao có
một vật không đầu không đuôi, không xưa không
nay, không lưng không bụng, không tên không chữ -
Đố thằng nào biết cái gì ? »
Thần Hội mới 13 tuổi, nhảy ra nói : « Đó là nguồn
cội của chư Phật, là bổn tánh của Thần Hội ».
Câu trả lời không có trật, nhưng bị Lục Tổ rầy : -
« Mầy, một lát nữa là đồ đệ của bọn kiến thức. Tao
đã nói không chữ không tên, không lưng không
bụng, mà mày còn đặt tên là nguồn cội của chư
Phật, là bổn tánh của Thần Hội. Thế là ở trên đầu
mầy còn chồng thêm một cái đầu nữa ! ».
Thế mới biết cái nguy của lý trí đến dường nào !
Vẫn biết không có trí óc là không thành cuộc sống,
nhưng mỗi con người mình là môt tập đoàn đi thỉnh
kinh mà dọc đường cứ đòi phá hùn hoài. Tập đoàn
đi thỉnh kinh gồm có Tam Tạng, Tôn Ngộ Không,
Trư Ngộ Năng, Sa Ngộ Tịnh. Nghĩa đó không có
chi lạ, là chuyện ở ngay trong thân mình đây : Cái
đầu, bộ óc chuyên nói chuyện sắp tới – Nên Ngộ
Không chạy qua lại bên xứ Phật một ngày không
biết mấy bận mà không thành Phật. Cái thân chứa
một thùng đã qua, lúc nào cũng bị dục vọng thúc
đẩy là con heo Trư Ngộ Năng. Trái tim đập từng
nhịp, từng nhịp mà nghiêng lệch về tình cảm là Tam
Tạng. Còn tánh ác độc là Sa Tăng.
Do đó cuộc thỉnh kinh, dọc đường cứ đòi phá hùn
hoài, nhờ có Kim Cô đội nên Tôn Ngộ Không mới
đi tới nơi tới chốn. Thiếu ông ta thì không đi tới xứ
Phật được, mà ông ta phải là đồ đệ của Tam Tạng
mới được. Chỗ đó hàm ý nghĩa là có 2 nẻo Âu Tây
và Á Đông. Âu Tây phải đi về nẻo Á Đông, cũng
như Tôn Ngộ Không phải quy y với Tam Tạng. Mà
thiếu Ngộ Không cũng không thể đi tới chốn được,
vì nó có 72 phép huyền công chạy qua chạy lại xứ
Phật như đi chợ. Nên phải mang hết tập đoàn đó đi
đến nơi đến chốn mới thành Phật ; nghĩa là phải
thành Phật nguyên con chớ không phải thành Phật
bằng cái đầu. Đó là cửa hẹp nhất của Thiền học, mà
cũng là chỗ thú vị nhất.
Đến đây tôi xin bỏ kinh, nói khơi ra ngoài : Một
hôm thầy trò Tam Tạng đi đến một nơi đầy yêu ma
qủi quái. Tam Tạng than : Ngộ Không ơi ! đường xa
thế này lại thêm yêu ma qủi quái, thú dữ rắn độc ...
biết đời nào đi tới nơi về tới chốn cho được ! Nói
xong tủi lòng mà khóc.
Ngộ Không bèn hỏi : Thầy còn nhớ Tâm Kinh
không ?
Tam Tạng giận qúa nói : Thầy chùa mà không nhớ
Tâm Kinh sao ! Tao tụng ngược cũng còn được
nữa !
Ngộ Không mới nói : Coi chừng à, Thầy tụng mặt
chữ không đó.
Ngộ Năng chen vô nói : Vậy anh có thuộc không
mà làm tàng ?
Ngộ Không đáp : Thuộc chớ sao không !
Ngộ Năng nói : Vậy anh giảng thử tôi nghe coi.
Ngộ Không làm thinh ...
Liền đó Tam Tạng trực nhận được, nói với Ngộ
Năng : Làm thinh, vậy là nó thuộc rồi đó !
Ngộ Không được thể nói : Nghĩa là cứ việc làm
thinh, làm thinh tới trong ruột, đi hoài chừng nào tới
thôi !
Sự thiệt, mỗi chúng ta học Đạo cũng cứ việc làm
thinh, làm thinh tới trong ruột, đi hoài chừng nào tới
thôi. Như thế chắc chắn thành công !
Nhưng làm thinh tới trong ruột không phải là
chuyện dễ ! Hễ mình muốn nói cứ nói ra, còn làm
thinh cứ làm thinh liền. Bấy nhiêu đó cũng khó lắm
rồi ! Vì miệng mình làm thinh, chớ ở trong bụng nó
nói hết chuyện này tới chuyện kia, chuyện nọ …,
trong đó chứa nhiều người lắm. Nhưng chính chỗ đó
là cơ Thiền học. Bởi vậy bộ Tây Du Ký là bộ sách
viết với thể tài tuyệt diệu. Vì kinh thì không dám để
bậy sợ tội, chỉ để trên bàn Phật rồi lắm khi mình để
thờ chớ không coi tới. Còn với Tây Du Ký, thì
Thiên Chúa, Cao Đài, Hòa Hảo, Phật Giáo ... hay
con nít, người già ... ai đọc cũng được, cũng nhớ,
mà liệng đâu để đâu cũng được. Và đọc rồi không
hiểu nói gì, chỉ nhớ để đó. Nhưng rồi ngày một lớn,
đụng chuyện đời gặp tới là nó bật ra. Nên đối với
tôi, Tây Du Ký là bộ kinh sống viết theo kiểu khác.
Nó không phải là bộ tiểu thuyết mà là một thứ ẩn
ngữ.
Việc cứ làm thinh, làm thinh tới trong ruột đi hoài
chừng nào tới thôi. Câu đó bình dị mà hay lắm !
Hỏi : Tinh thần đó đối với đời mạt pháp bây giờ
quả thật là khó khăn ..
Đáp : Sự thiệt theo tôi thì không có mạt pháp. Phật
không có mạt, chỉ có chúng sanh mạt (nghĩa là vì
chúng sanh mê muội không dám nhìn sự thật).
Ngược lại, pháp mạt chính là lúc pháp đã tới khúc
mức rồi đó ! Cái chướng dữ dội hiện giờ là nghĩa
thuyền Bát Nhã đã đậu sát bờ rồi ; giờ chỉ có bước
xuống thôi. Nên chỉ có vấn đề là mật mình lớn hay
nhỏ thôi.
Tôi tiếp lời với đạo hữu, là ở đây tôi không có ai
nương dựa hết, chỉ chuyên gỡ tay thôi. Do vậy
Thiền môn đặc biệt là phá chớ không có lập. Mà
chính cái phá đó mới là cái lập.
Nên nếu tôi thấy được tất cả đều không vững, hồi
đó tôi phải vững. Mà nếu tôi chưa vững, tức là tôi
chưa thật sự thấy tất cả đều không vững. – Cũng
như nếu tôi thấy hết thảy đều giả, là hồi đó tôi thấy
phải thấy tất cả đều thiệt. Mà nếu tôi chưa thấy tất
cả đều thiệt, tức là tôi chưa phải thiệt tình thấy tất cả
đều giả .. Do đó tôi chưa dám phủ nhận tất cả - phủ
nhận luôn ông Phật thì tôi không gặp được ông Phật
thiệt.
Nên nếu tôi chưa dám phủ nhận tất cả thì tôi không
dám chấp nhận tất cả. Và như thế nghĩa là hồi đó tôi
có ý riêng. Mà hễ tôi có ý riêng thì Tây Phương còn
xa lắm !
Cũng do đó mà tôi đòi hỏi phải có « xô ». Mà đời
này khỏi cần đòi hỏi một người máy móc nào để xô,
vì có sẵn cảnh chung quanh để xô rồi. Chỉ có mình
dám xài hay không dám xài thôi. – Nên cảnh vợ
con, hàng xóm .. xô mình, tất cả đều là thuyết pháp
cho mình. Phải áp dụng được hết mấy cảnh đó thì
chuyện Tây Phương gần một bên. Người ta hay than
bây giờ học Đạo không được. Tôi nói : đâu có kỳ
vậy ! Bây giờ học Đạo mới được - bởi vì nó có
quậy, mình mới nghe được trong bụng mình ra sao
chứ !
Nhưng cửa này hẹp lắm ! Nên trong kinh Pháp
Hoa nói vì cửa này hẹp qúa nên mở cửa phương
tiện. Nhưng giờ đây cửa phương tiện lại không dùng
được nữa, vì thế giới đã bị thu hẹp lại. Thế giới thu
hẹp bởi sự tiến triển của kỹ nghệ vật chất, ngược lại
cái TÔI của loài người lại bung ra càng ngày càng
lớn hơn. Do vậy cơ tôn giáo tín ngưỡng không còn
dùng được nữa. Hở ra hễ không thằng này đầu cơ là
thằng khác đầu cơ. Không đầu cơ ý thức thì đầu cơ
trong vô tình. Trong lòng tôi trống qúa nên tôi nhận
thêm mấy người đệ tử ; và đệ tử cũng bị trống nên
kiếm một ông thầy để vuốt ve, lấp chỗ trống lẫn
nhau. Đó cũng là một thứ lợi dụng, một thứ
ngầy ngật riêng ! – Nên nếu không dám đi thẳng vô
sự thật thì Tây Phương còn xa lắm !
Tam Tạng bị Ngộ Không xô sấp xuống thuyền Bát
Nhã. Một lúc thấy có xác nổi lên mặt nước.
Tam Tạng hỏi : Ai đó ?
Ngộ Không đáp : Thầy đó chớ ai !
Nghĩa là : nếu không chết đi cái tâm chúng sanh thì
đừng mong được sống lại trọn vẹn
Hỏi : Bạch Thầy, theo chỗ tôi thấy dầu sao những
pháp hữu vi như tụng kinh, niệm Phật, làm phước,
tìm học giáo lý Phật .. vẫn còn rất cần cho cuộc đời
này.
Đáp : Tôi có nói một câu : Thằng người là thứ ham
biết mà sợ sự thật, ưa lấy lọ vẽ mặt mình mà sợ soi
gương ! – Nên Thiền học nói :
« Đồ lộ chi lạc, chung bất đáo gia »
là nghĩa cái vui dọc đường rốt lại không đưa về
được tới nhà. Bởi vậy phần đông đều đi kiếm cái
vừa ý chớ không phải kiếm sự thật.
Trong kinh Pháp Hoa đã có nói rõ : « Tất cả mười
phương chư Phật 3 đời hiện vào trong cõi đời này,
chẳng qua chỉ vì một đại sự nhân duyên là để khai
thị cho chúng sanh ngộ được tâm tánh mà thôi ».
Người học đạo nên nhắm chỗ đó đi tới, quyết định
không trật ! Khốn thay chúng ta chỉ rán tụng kinh
cho thật nhiều, để kiếp sau nói được có người nghe !
Té ra mình đi tìm một thứ không ra gì !
Bánh ít mua về phải lột lá liệng đi, để lấy ruột ăn.
Đằng này mình nuốt luôn vỏ ! Thì đó là chuyện là
lỗi ở mình chớ đâu phải ở người bán bánh - người
bán vẫn phải gói đàng hoàng.
Hỏi : Bạch Thầy, xin Thầy nhắc lại phương pháp
khám phá mọi sự vật mà Phật đã nêu ra.
Đáp : Đó là Ngũ-chủng-chứng tín - Phật lập ra để
trước làm nguyên tắc khám phá kinh sách, sau là để
nói chuyện với người còn kẹt trong vấn đề thời gian
không gian ; là một cách để đánh dấu ghi vôi giữa
hư không.
Ngũ-chủng-chứng-tín đó là : Nói cái gì ? – Nói ở
đâu ? – Nói với ai ? – Nói hồi nào ? – Ai nói ?
Bởi vì hễ ông kẹt cái « không » thì tôi mới lấy cái
« có » để nói, còn ông kẹt cái « có » tôi lấy
« không » để nói. – Tôi chỉ nói với ông chớ không
phải nói với ai cũng vậy ? Nên hễ đau bụng, người
ta cho tôi uống thuốc hết đau bụng. Tôi nói thuốc
này hay lắm, bịnh nào uống cũng hết, nên tôi đem
cho mọi người cùng uống. Chuyện đó là lỗi của tôi.
Nên vấn-đề học Đạo là nếu nhào vô không-gian
thời-gian, thì phải biết đến tận cùng không-gian
thời-gian cũng chỉ là hiện-tượng. – Do đó phải nhớ
3 điều :
1) - Nếu mở lớn phải đến chỗ không còn tướng
2) – Thâu nhỏ phải đến chỗ không còn hình
3) - Phải qui tất cả về chính con người của mình
Ba định lý này không thể khác hơn được. Vì dù
muôn vạn thánh hiền ra đời cũng chỉ có thế thôi.
Hỏi : Thưa : Nhất-xiển-đề nghĩa là gì ?
Đáp : Nên nhớ trong Phật giáo có chia ra : Thiền,
Tịnh, Mật, Giáo, Luật .. mỗi tông đều khác nhau.
Đó là vấn đề tùy theo căn cơ, ưa thích mà chọn nẻo
đi. Thật ra, sự thật không có 2 cái. Chỉ có một nẻo
duy nhất. – Đáng lẽ bây giờ đóng hết tất cả các cửa,
chỉ còn một cửa địa-phủ và một cửa giải thoát. Ai
muốn đi đường nào thì đi !
Nhưng thật ra bây giờ không còn nẻo đi nữa. Hễ
chun vô trong tôn giáo tín ngưỡng, thì tự nhiên nếu
mình không đầu cơ người ta, người ta cũng đầu cơ
mình...
Nhưng khốn đốn là việc dùng pháp dễ lộn với tôn
giáo tín ngưỡng lắm. Thí dụ chuyện thờ A-Di-Đà là
chuyện dùng pháp, khác với chuyện thờ đức Chúa
Trời là tôn-giáo tín-ngưỡng. Ngược lại Phật tử thờ
A-Di-Đà riết rồi biến ra thành một thứ tín-ngưỡng
tôn-giáo. – Cũng như chuyện vào chánh điện phải
cột ống quần và trì chú. Là mượn việc ống quần để
trụ cái tâm. Ngược lại, mình làm quen rồi thấy đó là
chân lý, nên đã lấy cái tâm cột ống quần. Đó là sai
lầm rồi ! Nên dùng pháp với bị pháp dùng khác
nhau lắm !.
Nghĩa Nhất-xiển-đề đứ để tự nhiên nghe tới rồi tự
khắc biết.
Giờ đã qúa trễ, tôi xin giải tán.
*
* * *
TUẦN THỨ BA
10 – 6 – 1972 (29 – 4 N. Tý)
Hôm nay, trước khi vào phần thứ Hai của Ba bài
luận Tổ Đạt-Ma, tôi xin nhắc qua vài ý để những vị
mới đến nghe lần đầu có chỗ y cứ.
1) - Phần nhiều chúng ta khi muốn nghe một điều
gì, thường cứ để tâm nghe coi có giống thứ trong
bụng mình tưởng không. Nếu giống thì cho đó là
chân-lý, còn không giống thì cho là không phải.
Bởi vậy rất nhiều Phật-tử đi cúng chùa, cúng
Thầy nào rồi cũng nói hành Thầy đó. Là vì muốn
kiếm một ông cho giống trong bụng mình: nên
khi thấy không giống thì cho rằng không phải.
Do vậy, đi tìm hiểu Đạo hay đi tìm hiểu Phật
bằng cách đó, dù tìm một triệu năm cũng không
được. Bởi vì tìm thứ giống trong bụng mình để
cho là phải, thì nhiều khi ôm ma vào cũng không
thể biết. Khốn-đốn vậy! Nên điều đó phải lưu ý.
2) – Thêm một điều này rất quan hệ; tất-cả những
người đã có theo dõi mấy năm nay đều nên cùng
với tôi lưu tâm điều này:
Tôi đã nhắc qua nhiều lần về câu chuyện của Tỳ-
Kheo Na-Tiên và vua Lan-Đà: Một hôm nhà vua
nghe đồn Na-Tiên là thánh tăng nên tìm đến xin
gặp mặt.
Vua hỏi: Xin lỗi, có phải ngài là Na-Tiên không?
Na-Tiên đáp: Ở đây không có người nào đích
thật là Na-Tiên cả.
Nhà vua ngạc-nhiên hỏi: Ngài có mất trí không?
Na-Tiên vẫn điềm nhiên bình tĩnh hỏi lại: Nhà
vua đến đây bằng gì?
Đáp: Đến bằng xe.
Hỏi: Xe nhà vua đâu?
Nhà vua chỉ chiếc xe ngựa. Na-Tiên bước ra chỉ đầu
con ngựa hỏi: - Đây phải là xe không?
Đáp: Không phải.
Chỉ gọng xe hỏi: - Đây phải là xe không?
Đáp: Không phải.
Chỉ bánh xe hỏi: - Đây phải là xe không?
Đáp: Không phải.
Hỏi: - Tất cả đều không phải là xe, vậy cái nào là
xe?
Đến đây nhà vua mới am tường ý-chỉ muốn nói.
Nhà vua bèn đáp:
• Hợp tất cả những điều-kiện ấy lại, có khả-
năng chuyên-chở gọi là xe.
Na-Tiên tiếp lời: - Người Na-Tiên cũng giống như
vậy!
Cũng thế, bây giờ tôi chỉ cái bàn này hỏi: Cái này
phải tâm không? – Không phải.
Tôi chỉ cuốn sách hỏi. Cái này phải tâm không? –
Không phải.
• Và quí-vị có phải là tâm của tôi không? –
Không phải.
• Hư-không này có phải là tâm của tôi không?
Không phải.
Tất cả đều không phải tâm; vậy cái gì là tâm?
Đó là câu hỏi để dành cho mỗi người suy gẫm, chớ
không phải đặt ra để tôi cắt nghĩa.
Nên nhớ, khi mình nhìn ra thì tất-cả đều có trong có
ngoài. - Vậy thế nào là không có trong có ngoài?
• Đó là câu hỏi để ôn lại mấy năm qua mình đã
học.
3) Điều thứ 3 chúng ta cần để ý là : bất cứ những
người nào mới đến, khi muốn tìm hiểu điều chi,
chúng ta nên thành-thật cùng nhau học hỏi. Chớ
mang lòng có sự-nghiệp đến để hoặc khoe của,
hoặc chất vấn chơi. - Điều đó không nên có trong
việc học Đạo. Cũng như chuyện lật ngược nhau
để không trả lời được … chuyện đó dễ lắm,
nhưng không phải là thứ nuôi sống cho lòng
Đạo. Nên học Đạo phải biết điều đó.
4) Thêm một điều nữa cần phải biết trên khía cạnh
tâm lý: Một chiếc cầu khỉ bắt ngang qua con rạch
nhỏ, không sâu lắm. Nếu nước cạn mình không
dám đi qua mạnh dạn; trái lại nước đầy mình đi
qua tự nhiên. Như thế là hồi nhìn nước đầy, ở
trong mình đã bỏ con toán tính, nếu có rớt cũng
nổi trên mặt nước đầy đó chớ không đến đổi rớt
sâu lắm! Còn không có nước mà không dám đi,
là trong mình cảm thấy rơi thẳng xuống dưới sâu
liền.
Vậy chúng ta nên đề phòng những gì của qúa
khứ chen vào tính-toán trước. Học Đạo nếu có
cái tính trước đó thì khó vô Đạo lắm! Đó là điều
rất quan hệ cần chú ý.
Đó là điều quan trọng tôi nhắc qua, nếu chúng ta
biết sử-dụng; dù ở trường hợp nào, tài liệu nào –
cũng được lợi-ích rất lớn.
Bây giờ chúng ta đi vào phần thứ Hai của Ba bài
luận Tổ-Đạt-Ma.
*

* * *

Thứ Ba, 28 tháng 5, 2013

TU TÂM QUYẾT



Tác giả: Thiền Sư Phổ Chiếu
Dịch giả: Thích Đắc Pháp

TU VIỆN CHƠN KHÔNG
---o0o---
TU TÂM QUYẾT

Ba cõi nhiệt não như trong nhà lửa, chúng sanh an nhẫn đắm mình trong đó để chịu khổ dài. Muốn khỏi luân hồi không đâu bằng cầu Phật. Nếu muồn cầu Phật thì Phật tức là tâm. Tâm nào tìm chi cho xa, đâu có lìa thân này. Sắc thân là giả, có sanh có diệt. Chơn tâm như hư không, chẳng đoạn chẳng biến. Cho nên nói: “Hài cốt vỡ tan trở về lửa gió, một vật trường linh che trùm trời đất”.
Than ôi! Người hôm nay mê lâu thế? Chẳng biết tự tâm mình là chơn Phật, chẳng biết tự tánh mình là chơn pháp. Muồn cầu pháp mà cầu các thánh ở tha phương. Muồn cầu Phật mà chẳng quán tự tâm. Nếu nói ngoài tâm có Phật, ngoài tánh có pháp, chấp cứng tình nầy, muồn cầu Phật đạo, dù trải qua số kiếp như vi trần, đốt thân chặt tay đập xương ra tủy, chích máu viết kinh, ngồi mãi chẳng nằm, ngày ăn một bửa, cho đến đọc hết một đại tạng kinh, tu muôn ngàn khổ hạnh, chẳng khác nào nấu cát làm cơm, chỉ luống tự nhọc.
Ông chỉ hiểu tự tâm mình, thì hằng sa pháp môn, vô lượng diệu nghĩa chẳng cầu mà được. Ðức Thế Tôn nói: “ Ta xem khắp tất cả chúng sanh đều có đủ đức tướng trí huệ của Như Lai”. Lại nói: “ Tất cả chúng sanh mỗi mỗi đều huyễn hóa mà hay sanh ra cái diệu tâm viên giác của Như Lai”. Thế nên lìa tâm này không Phật có thể thành. Quá khứ chư Phật chỉ là người sáng tâm mà thôi. Hiện tại các bậc Thánh hiền cũng là người tu tâm mà thôi. Vị lai người tu học nên y pháp như thế mà tu. Mong mỗi người tu cần yếu chớ tìm cầu bên ngoài. “Tâm tánh không nhiễm vốn tự viên thành, chỉ lìa vọng duyên tức như như Phật”.

***

Hỏi: Nếu nói Phật tánh hiện ở thân này, đã ở trong thân không lìa phàm phu. Cớ sao nay tôi chẳng thấy Phật tánh? Xin giải rõ khiến được khai ngộ.
Ðáp: Ở tại thân ông mà tự ông chẳng thấy. Suốt mười hai giờ ông biết đói biết khát, biết lạnh, biết nóng, hoặc vui, hoặc giận,v.v... Trọn là vật gì? Lại sắc thân là địa thủy hỏa phong bốn duyên hội hợp, cái chất của nó là vô tình, đâu hay thấy nghe hiểu biết?  Cái thấy nghe hiểu biết nhất định là Phật tánh của ông. Tổ Lâm Tế nói rằng: “Bốn đại chẳng biết nói pháp, chẳng nghe pháp. Hư không chẳng biết nói pháp, chẳng nghe pháp. Chỉ cái rõ ràng riêng sáng ở trước mẳt của ông, cũng chớ phân tích nó, cái ấy mới biết nói pháp và nghe pháp”.
Ba chữ “Chớ phân tích” là pháp ấn của chư Phật và cũng là tâm bổn lai của ông. Thế thì Phật tánh ở tại thân ông, đâu có nhờ cầu bên ngoài? Ông nếu chẳng tin, tôi sẽ nêu lên nhơn duyên nhập đạo của các bậc thánh xưa, để cho ông trừ hết nghi hoặc. Ông sẽ tin là chơn thật.
Xưa vua Dị Kiến hỏi tôn giả Ba La Ðề rằng: Thế nào là Phật? Tôn giả đáp: Kiến tánh là Phật. Vua hỏi: Thầy kiến tánh chăng? Tôn giả đáp: Tôi kiến Phật tánh. Vua hỏi: Tánh tại chỗ nào? Tôn giả đáp: Tánh tại tác dụng. Vua hỏi: Ấy là tác dụng gì? sao trẫm chẳng thấy? Tôn giả đáp: Tôi đã thấy tác dụng rõ ràng, tự nhà vua không thấy đó thôi. Vua hỏi: Nơi trẫm có không? Tôn giả đáp: Bệ hạ nếu tác dụng thì đâu chẳng có. Còn bệ hạ nếu chẳng tác dụng thì thể kia khó thấy. Vua hỏi: Nếu khi đang tác dụng mấy chỗ xuất hiện? Tôn giả đáp: Nếu khi xuất hiện thì có tám chỗ. Vua nói : Xin vì trẫm chỉ tám chỗ xuất hiện kia. Tôn giả đáp: Nơi thai gọi là thân, ở đời gọi là người, nơi mắt gọi là thấy, nơi tai gọi là nghe, nơi mũi phân biệt các mùi nơi lưỡi đàm luận, nơi tay nắm bắt, nơi chơn chạy nhảy. Biến hiện thì khắp sa giới, thu lại thì chỉ trong hạt bụi. Người hiểu biết cho đó là Phật tánh, người chẳng hiểu gọi đó là tinh hồn. Nhà vua nghe xong liền khai ngộ.
Có một vị Tăng hỏi Hòa Thượng Qui Tông rằng: “Thế nào là Phật? Ðáp: Ta nói ra sợ ông chẳng tin. Tăng thưa: Hòa Thượng nói thật con đâu dám chẳng tin. Ðáp: Tức là ông đấy. Tăng hỏi: Bảo nhiệm như thế nào? Ðáp: Vết mây nơi mắt làm cho không hoa rơi loạn. Vị Tăng kia ngay lời ấy tỉnh ngộ”.
Trên đã nêu lên nhơn duyên nhập đạo của các bậc thánh xưa, rõ ràng giản dị chẳng ngại đến tỉnh lực. Nhơn công án nầy, nếu có chỗ tin hiểu, tức cùng với thánh xưa nắm tay mà đi.

***

Hỏi: Ngài nói kiến tánh, nếu thật kiến tánh tức là thánh nhơn, ứng hiện thần thông biến hóa khác hẳn mọi người. Cớ sao bọn người tu tâm hiện nay, không có một người hiện thần thông biến hóa?
Ðáp: Ngươi chớ nên khinh khi mà phát ra lời nói điên như thế. Chẳng phân tà chánh là người mê đảo. Người học đạo thời nầy miệng thời bàn chơn lý, tâm thì sanh thối khuất, trở lại rơi vào chỗ vô phần, nên khiến ông sanh nghi. Người học đạo chẳng biết trước sau, nói lý chẳng phân gốc ngọn, đấy là tà kiến chớ chẳng gọi là tu học, chẳng những chỉ tự lầm mà còn lầm người. Hạng người nầy há chẳng thận trọng ư?
Phàm nhập đạo có nhiều cửa, nhưng nói chỗ cốt yếu chẳng ngoài hai cửa “Đốn ngộ và tiệm tu”. Tuy nói đốn ngộ đốn tu là hàng căn cơ tối thượng mới được vào. Nếu suy về quá khứ thì đã nhiều đời y nơi ngộ mà tu lần lần huân tập cho đến đời nầy, nghe liền phát ngộ, một chốc liền xong. Xét lẽ thật thì cũng là căn cơ trước ngộ sau tu.
Lại, hai môn đồn tiệm nầy là lối mòn của ngàn thánh, các bậc thánh từ trước đâu chẳng trước ngộ sau tu; nhơn tu mới chứng. Cái gọi là thần thông biến hóa ấy, phải ngộ mà tu, rồi lần lần huân tập mới hiện, chớ chẳng phải khi ngộ rồi liền phát hiện. Như trong Kinh nói: “Lý liền đốn ngộ, nhân ngộ nên sự đều tiêu, chớ chẳng phải một chốc liền trừ được các nhơn, phải lần lượt mới hết”. Ngài Khuê Phong rất thấu đáo về nghĩa trước ngộ sau tu. Ngài nói: “Biết băng nơi hồ là toàn nước, nhờ ánh mặt trời mới tan ra. Ngộ phàm phu tức là Phật, nhờ pháp lực để huân tu. Băng tan thì nước chảy và mới có công dụng giặt rửa. Vọng hết thì tâm rỗng suồt, mới ứng hiện diệu dụng thần thông sáng suốt”. Thế thì, việc thần thông biến hóa chẳng phải một ngày có thể thành tựu được, phải tiệm huân lâu mới có thể phát hiện. Huống lại, việc thần thông đối với người liễu đạt, còn cho là việc yêu quái, và cũng là việc bờ mé ngọn ngành đối với bậc thánh, tuy cũng có hiện nhưng chẳng phải cần thiết.
Ngày nay bọn ngu mê vọng bảo rằng: một niệm khi ngộ liền hiện vô lượng thần thông biến hóa. Nếu hiểu như thế, bảo họ là kẻ không biết trước sau, cũng không phân được gốc ngọn. Ðã không biết trước sau gốc ngọn mà muồn cầu Phật đạo, giống như người đem gỗ vuông cho vào lỗ tròn, há chẳng lầm to ư? Ðã chẳng biết nên khởi ý tưởng phiêu lưu, tự sanh lui sụt, đoạn chủng tánh Phật, người như thế chẳng phải ít. Ðã tự mình chưa sáng cũng không tin người khác có chỗ giải ngộ. Thấy người giải ngộ không thần thông liền sanh ngã mạn, khinh hiền dối thánh, thật đáng thương thay!

***

Hỏi: Ngài nói hai môn đốn ngộ tiệm tu là lối mòn của ngàn thánh. Ðã đốn ngộ tại sao lại nhờ tiệm tu? Nếu tiệm tu cớ sao nói đốn ngộ? Lại xin tuyên nói hai nghĩa đốn tiệm, khiến dứt hết nghi thừa.
Ðáp: Ðốn ngộ ấy là phàm phu khi mê cho tứ đại làm thân, vọng tưởng làm tâm. Chẳng biết tự tánh là pháp thân chơn thật. Chẳng biết tự kỷ hư tri là Chơn Phật. Ngoài tâm tìm phật, trôi nổi trong gian khổ. Chợt được thiện tri thức chỉ cho đường vào, một niệm hồi quang thấy được bản tánh mình. Tánh địa nầy nguyên không phiền não. Trí tánh vô lậu vốn tự đầy đủ, tức cùng với trí tánh của chư Phật chẳng khác nhau chút nào.
Tổ Sư nói: “Ðốn ngộ, tiệm tu là đốn ngộ cái bản tánh cùng chư phật không khác. Tập khí từ vô thủy khó trừ hết liền, nên phải y ngộ mà tu, lần lần huân tập mới thành công. Cũng như nuôi dưỡng thánh thai lâu ngày mới thành thánh, nên nói tiệm tu. Giống như trẻ sơ sanh các căn đều đầy đủ cùng với người không khác. Nhưng khí lực nó chưa đầy đủ, phải trải qua nhiều năm tháng mới thành người lớn.

***

Hỏi: Phải dùng phương tiện gì khiến một niệm hồi cơ, bèn ngộ tự tánh?
Ðáp: Chỉ tự tâm ông, lại dùng phương tiện gì? Nếu dùng phương tiện để cầu giải hội: tỷ như có người chẳng thấy mắt của mình, cho rằng không mắt, lại muốn cầu thấy. Ðã là mắt của mình thế nào lại thấy? Nếu biết chẳng mất tức là thấy mắt. Lại không có cái tâm cầu thấy thì đâu có cái tưởng chẳng thấy. Cái tự kỷ hư tri cũng lại như vậy. Ðã là tự tâm sao lại cầu hiểu? Nếu muốn cầu hiểu bèn hiểu chẳng được. Chỉ biết chẳng hiểu ấy là kiến tánh.

***

Hỏi: Người thượng thượng căn nghe rồi liền dễ lãnh hội. Còn người trung hạ căn, đâu chẳng nghi hoặc? Xin nói phương tiện khiến người mê được vào.
Ðáp: Ðạo chẳng thuộc biết cùng chẳng biết. Ông nên từ bỏ cái tâm “đem mê đợi ngộ” mà nghe lời nói của ta: các pháp đều như mộng, như huyễn hóa. Cho nên vọng niệm vốn tịch, trần cảnh vốn không. Chỗ các pháp đều không ấy, là cái biết rỗng suốt chẳng mê (hư tri bất muội), tức là cái tâm không-lặng rỗng suốt nầy vậy. Ðấy là bản lai diện mục của ông, cũng là cái pháp ấn ba đời chư Phật, lịch đại Tổ Sư và các bậc thiện tri thức trong thiên hạ, thầm thầm truyền nhau. Nếu ngộ tâm nầy đúng như có chỗ nói: “Chẳng cần giẵm qua thứ lớp thẳng đến Phật địa, mỗi bước vượt qua ba cõi. Về nhà thoắt tuyệt các nghi, bèn vì người trời làm thầy. Bi trí nương nhau, đầy đủ hai lợi, kham nhận người trời cúng dường, ngày tiêu muôn lượng huỳnh kim”. Nếu ông được như thế, thật là đại trượng phu, việc hay làm một đời đã làm xong.

***

Hỏi: Căn cứ theo phần trên, thế nào là tâm không-lặng rỗng suốt?
Ðáp: Cái hiện nay ông hỏi ta, ấy là tâm không-lặng rỗng suốt của ông. Sao không phản chiếu lại mà còn tìm bên ngoài. Nay ta căn cứ vào phần trên của ông chỉ thẳng bản tâm, khiến ông được ngộ, ông nên tịnh tâm nghe ta nói:
Trong mười hai giờ từ sớm đến chiều, hoặc thấy, nghe, cười, nói, giận, vui phải, quấy, v.v... Muôn ngàn cái vận chuyển thi vi. Hãy nói thảy đều là cái gì? Sao hay vận chuyển thi vi? Nếu nói sắc thân vận chuyển, cớ sao có người một phút mạng chung, thi thể chưa thối nát mà mắt không tự thấy, tai không nghe, mũi không phân biệt mùi, lưỡi chẳng đàm luận, thân chẳng lay động, tay chẳng nắm bắt, chơn chẳng chạy nhảy? Thế nên biết, cái hay thấy nghe động tác nhất định là bản tâm ông chớ chẳng phải sắc thân. Huống nữa, sắc thân bốn đại nầy tánh nó là không, như ảnh trong gương, như trăng đáy nước. Ðâu thể rõ ràng thường biết, sáng suốt chẳng mê hoặc, có cảm liền thông, đủ hằng sa diệu dụng? Cho nên nói: “Bửa củi gánh nước đều là thần thông diệu dụng”.
Hơn nữa, nhập đạo có nhiều đường, ta chỉ ông một môn khiến ông trở lại nguồn:
Hỏi: Ông nghe tiếng cu kêu chim hót không?
Ðáp: Nghe.
Hỏi: Ông nghe lại tánh nghe của ông xem có nhiều tiếng không?
Ðáp: Ðến chỗ này tất cả âm thanh, tất cả phân biệt đều không thể được.
Nói: Lạ thay! Ðây là cửa Quan âm nhập lý vậy. Ta hỏi ông : Khi đến chỗ đó tất cả tiếng, tất cả phân biệt đều không thể được. Vậy đang lúc đó chẳng phải là hư không sao?
Ðáp: Nguyên lai chẳng không, sáng suốt chẳng mê.
Hỏi: Cái thể chẳng không ấy thế nào?
Ðáp: Cũng không tướng mạo, nói không thể đến.
Nói: Ðấy là thọ mạng của chư Phật, chư Tổ ông chớ hồ nghi. Ðã không tướng mạo nào có lớn nhỏ. Không lớn nhỏ nào có bờ mé nên không trong ngoài, không trong ngoài nên không gần xa, không gần xa nên không bỉ thử, không bỉ thử nên không vãng lai, không vãng lai nên không sanh tử, không sanh tử nên không cổ kim, không cổ kim nên không mê ngộ, không mê ngộ nên không phàm thánh, không phàm thánh nên không nhiễm tịnh, không nhiễm tịnh nên không phải quấy, không phải quấy nên tất cả danh ngôn đều không thật có. Cả thảy đều không như vậy, thì tất cả căn cảnh, tất cả vọng niệm, cho đến muôn ngàn tướng mạo, muôn ngàn danh ngôn đều không thật có. Ðấy há không phải là cái không-tịch xưa nay, cái không vật xưa nay sao?
Tuy nhiên, cái chỗ đều không của các pháp, biết suốt chẳng mê, chẳng đồng với tánh vô tình. Tự hiểu một cách mầu nhiệm rằng, đấy là cái tâm thể không-tịch, hư tri, thanh tịnh của ông. Tâm không-tịch này là cái “thẳng tịnh minh tâm” của ba đời chư Phật, cũng là cái “giác tánh bản nguyên” của chúng sinh. Ngộ nó và giữ nó thì ngồi trên tòa giải thoát nhất như chẳng động. Mê nó và trái nó thì trường kiếp luân hồi trong sáu thú. Cho nên nói: “Mê nhứt tâm đến sáu thú, ấy là đi, là động. Ngộ pháp giới trở về nhứt tâm, ấy là đến, là tịnh”. Tuy mê ngộ có sai khác, nhưng bản nguyên thì chỉ có một. Cho nên nói: “Pháp ấy là tâm của chúng sinh, cái tâm không-tịch này nơi thánh không tăng nơi phàm không giảm”. Lại nói: “Nơi thánh trí chẳng sáng, ẩn phàm tâm chẳng mê”. Chẳng tăng nơi thánh chẳng giảm nơi phàm, Phật Tổ sao lại khác nơi người? Sở dĩ khác hơn người, ấy là hay tự giữ tâm niệm vậy.
Ông nếu tin được thì nghi tình liền dứt, phát chí trượng phu, khởi kiến giải chơn chánh. Thân nếm cái mùi vị kia, tự đến tự chấp nhận cái địa vị kia. Ðấy là chỗ người tu tâm giải ngộ. Lại không có thứ đệ và cấp bực. Cho nên gọi là đốn. Như nói: “Trong cái tín nhơn đã khế hợp với quả đức của chư Phật không sai một mảy, mới thành tín vậy”.

***

Hỏi: Đã ngộ lý nầy lại không giai cấp. Cớ sao lại nhờ vào sự huân tu lần lần mới thành?
Ðáp: Cái nghĩa ngộ rồi lần lần tu trước đã nói đầy đủ mà cái tình nghi chưa gỡ. Nay chẳng ngại nói lại. Ông nên lặng tâm nghe rõ: Kẻ phàm phu từ vô thủy khoáng kiếp cho đến ngày hôm nay, trôi lăn trong năm đường sanh tử qua lại. Chấp cứng tướng ngã cùng vọng tưởng điên đảo. Hạt giống vô minh tập lâu thành tánh. Tuy đến nay đốn ngộ tự tánh xưa nay không-lặng cùng Phật không khác, nhưng cái cựu tập này rất khó dứt trừ. Cho nên gặp cảnh thuận nghịch có giận có vui. Chuyện thị phi lừng lẫy khởi diệt. Khách trần phiền não cùng trước không khác. Nếu chẳng dùng sức mạnh của trí bát nhã, thì làm sao đối trị được vô minh đến được chỗ thôi hết dứt hết? Như nói: “Ðốn ngộ tuy đồng với Phật, nhưng nhiều đời tập khí sâu. Gió dừng nhưng sóng còn dậy, lý hiện nhưng niệm còn xâm”.
Cảo Thiền Sư nói: “Những kẻ lợi căn thường thường chẳng tốn nhiều sức để phát minh việc này, bèn sanh tâm dễ dui, lại chẳng chịu tu trị, lâu ngày chầy tháng vẫn y như trước trôi nổi, chưa thoát khỏi luân hồi”. Lại há có thể một phen ngộ bèn bác chỗ hậu tu ư? Nên sau khi ngộ phải lâu ngày chiếu xét. Vọng niệm chợt khởi đều chẳng theo nó, lại trừ cho đến không còn trừ mới đến cứu cánh. Bậc thiện tri thức trong thiên hạ, sau khi ngộ rồi còn phải hành hạnh chăn trâu là thế.
Tuy có hậu tu nhưng trước đã đốn ngộ “vọng niệm vốn không, tâm tánh vốn tịnh”, nơi việc ác đoạn mà không đoạn, nơi việc thiện tu mà không tu. Ðấy mới là chơn tu chơn đoạn. Cho nên nói rằng “ Tuy tu đủ muôn hạnh nhưng chỉ lấy vô niệm làm tông”.
Ngài Khuê Phong nhận xét nghĩa “tiên ngộ hậu tu” như sau: “Ðốn ngộ tánh nầy nguyên không phiền não, vô lậu trí tánh vốn tự đầy đủ cùng Phật không khác. Y đây tu tập gọi là tối thượng thừa thiền, cũng gọi là Như Lai thanh tịnh Thiền, nếu hay mỗi niệm tu tập, tự nhiên lần lần được muôn ngàn tam muội. Môn hạ Ngài Ðạt Ma lần lượt truyền nhau là thiền này”.
Lại, nghĩa đốn ngộ tiệm tu như xe có hai bánh, thiếu một không thể được. Hoặc có người chẳng biết thiện ác tánh không, vững ngồi chẳng động, đè nén thân tâm, như đá đè cỏ cho là tu tâm, đấy là lầm to. Nên nói “Thanh Văn tâm tâm đoạn hoặc, tâm năng đoạn là giặc”. Chỉ quán sát một cách đúng đắn rằng sát, đạo, dâm, vọng từ tánh mà khởi, khởi tức chẳng khởi. Ngay nơi đó liền lặng, cần gì lại đoạn? Cho nên nói: “Chẳng sợ niệm khởi chỉ sợ giác chậm”. Lại nói: “Niệm khởi liền giác, giác nó liền không”. Nên người ngộ tuy có khách trần phiền não nhưng đều thành đề hồ.
Chỉ nên soi thay các hoặc nguyên không có gốc. Ba cõi không hoa nầy như gió cuốn khói. Sáu trần huyễn hóa nầy như nước nóng tan băng. Nếu hay mỗi niệm tu tập như thế, chẳng quên chiếu cố “định huệ đồng tu”, thì thương ghét tự nhiên lạnh nhạt, bi trí tự nhiên thêm tỏ, tội nghiệp tự nhiên đoạn trừ, công hạnh tự nhiên tăng tiến. Khi phiền não tận thì sanh tử liền dứt. Nếu dòng phiền não nhỏ nhiệm vĩnh viễn đoạn trừ, thì Viên Giác đại trí sáng suốt một mình, liền hiện ngàn trăm ức hóa thân trong mười phương cõi nước. Tùy cơ cảm ứng giống như trăng hiện trong không, ảnh phân muôn nước. Ứng hiện không cùng, độ chúng sinh có duyên khoái lạc vô ưu gọi là Ðại Giác Thế Tôn.

***

Hỏi: Trong pháp môn hậu tu có nghĩa “định huệ đồng tu”, tôi thật chưa rõ. Lại xin tuyên giải khiến mở mê để dẫn vào cửa giải thoát.
Ðáp: Nếu lập pháp nghĩa để vào lý, thì ngàn pháp môn không pháp môn nào chẳng định huệ. Nắm được cương yếu của nó thì trên tự tánh thể dụng có hai nghĩa. Trước đã nói “không-tịch hư tri” ấy vậy. Ðịnh là thể, huệ là dụng. Ngay nơi thể là dụng, nên huệ chẳng lìa định. Ngay nơi dụng là thể, nên định chẳng lìa huệ. Ðịnh tức huệ nên tịch mà thường tri. Huệ tức định nên tri mà thường tịch. Như Tào Khê nói: “Ðất tâm không loạn là tự tánh định, đất tâm không si là tự tánh huệ”. Nếu ngộ được như thế thì mặc tình tịch mà tri, chiếu soi hay che đậy không hai . Ðấy là cửa “Ðốn”, và là Ðịnh Huệ song tu vậy.
Nếu nói trước dùng lặng lẽ để trị duyên lự, sau lấy tỉnh táo để trị hôn trầm, trước sau đối trị điều phục hôn loạn để nhập vào chỗ tĩnh. Ðấy là cửa tiệm, là chỗ sở hành của người căn cơ kém. Tuy nói tỉnh táo và lặng lẽ gồm giữ nhưng chưa khỏi giữ tịnh làm pháp hạnh. Ðâu như người liễu sự chẳng lìa bổn tịch bổn tri nhậm vận song tu. Cho nên Tào Khê nói: “Tự ngộ mà tu hành chớ chẳng phải ở nơi chỗ tịnh. Nếu mắc nơi tịnh trước sau là người mê”.
Người liễu đạt đối với nghĩa định huệ đồng tu, không rơi vào dụng công, nguyên tự nó vô vi, lại không một đặc biệt thời tiết nào. Khi thấy sắc nghe tiếng chỉ có vậy. Khi mặc áo ăn cơm chỉ có vậy. Khi đi ỉa đi đái chỉ có vậy. Khi bàn chuyện với người chỉ có vậy. Cho đến đi đứng nằm ngồi, hoặc nói nín, hoặc vui, hoặc giận. Tất cả thời mỗi mỗi đều như thế. Giống như chiếc xuồng rỗng nương theo sóng mặc tình lên xuống. Như dòng nước chảy trong núi, gặp lúc cong, gặp lúc thẳng mà tâm tâm vô tri. Ngày nay bay nhảy mặc tình, ngày mai mặc tình bay nhảy. Tùy thuận các duyên không chướng ngại. Nơi thiện ác chẳng đoạn chẳng tu. Chất trực không dối, thấy nghe tầm thường. Lại không một mảy bụi để đối đãi, nhọc gì ra sức chùi rửa? Không một niệm để sanh tình, chẳng nhờ mượn sức quên duyên.
Tuy nhiên người nghiệp chướng sâu tập khí nặng, huệ quán kém, tâm trôi nổi nhiều, sức vô minh lớn, sức bát nhã nhỏ. Nơi cảnh giới thiện ác chưa khỏi bị động tịnh thay đổi. Tâm không lạnh nhạt. Chẳng thể không quên duyên khiến công phu lau chùi. Như nói: “Sáu căn nhiếp cảnh, tâm chẳng theo duyên gọi đó là định. Tâm cảnh đều không, soi xét không lầm gọi đó là huệ”. Ðây là môn tùy tướng định huệ, là pháp môn tiệm, là chỗ sở hành của người căn cơ kém.
Nhưng trong pháp môn đối trị không thể không. Nếu trạo cử lẫy lừng thì trước dùng định môn, xứng hợp với lý mà nhiếp tâm tán loạn, chẳng theo duyên khế hợp với bổn tịch. Nếu hôn trầm quá nhiều thì dùng huệ môn trạch pháp quán không, soi xét không lầm để khế hợp với bổn tri. Lấy định trị loạn tưởng, lấy huệ trị vô ký. Ðộng tịnh đều hết công phu đối trị cũng xong. Thế thì đối cảnh mà mỗi niệm về nguồn, gặp duyên mà tâm tâm khế hợp với đạo. Nhậm vận song tu mới là người vô sự. Nếu như thế mới có thể gọi thật là “định huệ đồng tu”, thấy rõ Phật tánh ấy vậy.

***

Hỏi: Căn cứ chỗ phân tích của Ngài, pháp môn trước ngộ sau tu, trong nghĩa định huệ đồng tu có hai loại: Một là tự tánh định huệ, hai là tùy tướng định huệ. Tự tánh định huệ thì nói rằng mặc tình lặng biết, nguyên tự nó là vô vi, không một mảy trần để so sánh đối đãi. Nhọc gì ra sức chùi rửa. Không một niệm để sanh tình, không nhờ ra sức quên duyên. Ngài phân đó là môn đốn, chẳng lìa tự tánh định huệ đồng tu.
Tùy tướng định huệ thì nói rằng xứng hợp với lý, nhiếp tán loạn chọn pháp quán không. Quân bình điều phục hôn trầm và tán loạn để nhập vào vô vi. Ngài phân đó là tiệm môn, là chỗ hành của hàng căn cơ kém. Do đó nên đối với hai môn định huệ nầy có chỗ nghi.
Nếu nói chỗ hành của một người là trước y nơi môn tự tánh định huệ đồng tu, rồi sau đó là dùng môn tùy tướng công phu đối trị chăng? Hay là trước lại y nơi môn tùy tướng, quân bình điều phục hôn loạn, rồi sau mới nhập vào môn tự tánh? Nếu trước y nơi tự tánh định huệ thì mặc tình lặng biết, lại không cần công phu đối trị, sao lại phải giữ môn tùy tướng định huệ?
Nếu trước dùng môn tùy tướng định huệ đối trị thành công, rồi sau mới hướng về tự tánh môn thì giống y như trong tiệm môn, hạng căn cơ kém, trước ngộ sau lần lượt huân, sao gọi rằng Ðốn? Cái ngộ trước tu sau là dùng công phu vô công phu. Nếu một lúc không trước sau thì hai môn định huệ đốn tiệm có sự khác nhau, làm sao một lúc đồng hành? Lại môn đốn ấy y nơi tự tánh môn mặc tình quên công phu. Còn môn tiệm của hàng căn cơ kém, theo môn tùy tướng công phu đối trị nhọc nhằn. Như thế căn cơ đốn tiệm của hai môn chẳng đồng, hơn kém rõ ràng. Thế sao môn ngộ trước tu sau bên trong đều có chia hai loại? Xin nói rõ để dứt hết lòng nghi ngờ. 

Ðáp: Chỗ tôi giải thích đã rõ ràng, ông tự sanh nghi, theo ngôn ngữ sanh hiểu biết rồi chuyển thành nghi hoặc. Nếu được ý quên lời, nhọc gì cật vấn? Nếu đem hai môn mỗi mỗi phán xét về chỗ hành, thì người tu tự tánh định huệ là môn Ðốn, dùng công phu vô công phu, gồm vận dụng hai cái tịch tự tu, tự tánh để thành Phật đạo ấy vậy. Người tu môn tùy tướng định huệ là trước chưa ngộ, dùng môn tiệm của hàng căn cơ kém để dụng công đối trị, tâm tâm đoạn hoặc, giữ gìn cái tịnh làm pháp hạnh. Hai môn này chỗ đốn tiệm khác nhau chẳng thể lầm lộn. Môn ngộ rồi tu sau ở trong ấy đã gồm nói môn tùy tướng đối trị rồi, chẳng phải toàn để cho hàng căn cơ kém hành, ấy là nắm cái phương tiện giả nói kia rồi giữ mãi mà thôi. Bởi cớ nơi đốn môn này cũng có hạng căn cơ thắng và căn cơ liệt, không thể lúc nào cũng xét đoán về hành lý kia.
Nếu người phiền não nhạt mỏng, thân tâm nhẹ nhàng an ổn, nơi thiện lìa thiện, nơi ác lìa ác, tám gió chẳng động, ba thọ lặng yên, y tự tánh định huệ nhậm vận song tu. Tánh thiên chơn không tạo tác động tinh thường Thiền, thành tựu được lý tự nhiên. Cần gì mượn môn tùy tướng đối trị? Không bịnh chẳng cần thuốc.
Người tuy trước đã đốn ngộ, nhưng phiền não còn đầy, tập khí còn nặng, đối cảnh niệm niệm sanh tình, gặp duyên tâm tâm đối đãi, bị hôn loạn kia giết chết, mê muội nên mất “cái biết lặng lẽ thường nhiên”. Ngay đó nhờ môn tùy tướng định huệ, chẳng quên đối trị, quân bình điều phục hôn loạn để nhập vào vô vi, tức phải cần vậy.
Tuy mượn công phu đối trị, tạm điều phục tập khí, nhưng do trước đốn ngộ tâm tánh vốn tịnh, phiền não vốn không, nên liền không lạc về môn tiệm của hàng căn cơ kém và ô nhiễm tu tập.
Người chưa ngộ mà tu, tuy dụng công chẳng quên, niệm niệm huân tu mà thường sanh nghi chưa được vô ngại. Như có một vật ngăn trong ngực. Cái tướng chẳng an thường hiện ở trước, lâu ngày chầy tháng ra công đối trị thuần thực, thì thân tâm khách trần in tuồng được khinh an. Nhưng gốc nghi chưa được dứt, giống như đá đè cỏ. Còn ở nơi ranh giới của sanh tử, chẳng được tự tại. Cho nên nói: “Chưa ngộ mà tu chẳng phải chơn tu”.
Người ngộ tuy có dùng phương tiện đối trị, nhưng niệm niệm không nghi chẳng rơi vào ô nhiễm, lâu ngày chầy tháng tự nhiên khế hội. Diệu tánh thiên chơn mặc tình lặng biết, niệm niệm phan duyên tất cả cảnh, nhưng tâm vĩnh viễn đoạn các phiền não, chẳng lìa tự tánh định huệ đồng tu. Thành tựu vô thượng bồ đề. Sánh với cơ trước có phần hơn, nhưng lại không sai khác. Vậy thì môn tùy tướng định huệ, tuy là chỗ hành của hàng tiệm cơ nhưng đối với người đốn ngộ có thể bảo là “chỉ sắt thành vàng”. Nều biết như thế thì đâu do hai môn định huệ, mà có cái nghi thứ lớp trước sau ư ?
Mong các vị tu hành nên nghiên cứu ý vị của lời nói nầy, chớ hồ nghi mà tự sanh lui sụt. Nếu người đủ chí trượng phu, cầu vô thượng bồ đề, bỏ đây thì làm sao? Cần yếu là chớ chấp vào văn tự, phải hiểu thẳng và mỗì mỗi qui về tự kỷ, khế hợp với Thiền Tông, thì vô sư trí, tự nhiên trí hiện tiền. Lý thiên chơn rõ ràng chẳng mê, thành tựu được huệ thân chẳng do nơi khác mà ngộ.
Lại cái diệu chỉ nầy tuy là việc chung cho mọi người, nhưng nếu không phải là người có căn khí Ðại Thừa và đã gieo trồng giống bát nhã từ trước, thì không thể nào một niệm sanh chánh tín được. Ðâu những chẳng tin lại đi phỉ báng để chiêu quả vô gián, là thường thấy vậy. Tuy chẳng tin nhận, nhưng một lần nghe qua tai, cũng tạm thời kết duyên, và cái công đức của người ấy cũng không thể lường được. Như trong Duy Tâm Quyết nói: “Nghe mà không tin còn kết được nhân Phật chủng. Học mà chẳng thành còn hơn phước báo cõi người, cõi trời, chẳng mất chánh nhơn thành Phật. Huống lại nghe liền tin, học liền thành công, giữ gìn chẳng mất, thì công đức kia đâu hay đo lường được?”
Truy niệm về nghiệp quá khứ luân hồi chẳng biết bao nhiêu kiếp, theo dòng hắc ám vào địa ngục vô gián, chịu muôn ngàn thống khổ chẳmg biết bao nhiêu phen. Muốn cầu Phật đạo chẳng gặp thiện hữu nên trường kiếp trầm luân, mờ mịt chẳng biết, tạo tác nghiệp ác. Cũng có lúc hoặc một phen nghĩ, bất chợt thở dài, lại cam thông thả để rồi trở lại thọ nhũng tai ương như trước sao?
Chẳng biết ai khiến ta nay được làm người, trong vạn vật hư dối nầy, chẳng mê mờ đuờng tu chơn. Thật có thể gọi là rùa mù gặp bộng cây, hạt cải ném vào lỗ kim. Ðấy là một điều vinh hạnh có gì hơn? Nay ta nếu tự sanh lui sụt, hoặc sanh lười biếng mà thường trônng lại phía sau, bỗng chốc mất thân mạng, thoái đọa vào đường ác chịu các khổ não. Khi ấy tuy mong nghe được một câu Phật pháp để tin hiểu thọ trì, mong khỏi cảnh chua cay ấy còn trông gì được? Ðến lúc lâm nguy hối hận không ích gì.
Mong các vị tu hành chớ sanh phóng dật, chớ mắc tham dâm. Như cứu lửa cháy đầu chẳng quên soi xét. Vô thường chóng vánh, thân như giọt sương mai, mạng như bóng trời chiều. Ngày nay còn đây, ngày mai khó bảo toàn. Cần phải lưu ý!
Vả lại bằng vào cái thiện hữu vi ở thế gian cũng có thể khỏi ba đường khổ luân hồi, nơi cõi trời, cõi người được quả báo thù thắng, thọ các khoái lạc. Huống lại, đây là pháp môn tối thượng thừa rất thâm sâu. Chỉ tạm thời có niềm tin cũng thành tựu được công đức không thể lấy tỷ dụ mà nói được một phần nhỏ. Trong Kinh nói: “Nếu có người lấy bảy báu bằng ba ngàn đại thiên thế giới, bố thí cúng dường cho bao nhiêu chúng sanh trong thế giới ấy đều được đầy đủ. Lại giáo hóa cho họ được tứ quả. Công đức kia vô lượng vô biên, cũng không bằng cái công đức chỉ khoảng một bửa ăn chánh tư duy pháp nầy”. Thế nên pháp môn nầy của ta tối tôn tối quí đối với các công đức so sánh không đến được. Cho nên Kinh nói: “Một niệm tịnh tâm là đạo tràng, còn thù thắng hơn tạo tháp bảy báu như hằng sa. Tháp báu rồi sẽ nát thành bụi, một niệm tịnh tâm thành tựu được quả Phật”.
Mong mỏi các vị tu hành nghiên cứu ý vị của lời nầy, cần phải lưu ý! Thân nầy chẳng nhằm đời nầy độ, lại đợi đời nào độ thân này? Nay nếu chẳng tu, ngàn kiếp sai lầm. Nay nếu gắng tu cái hạnh khó tu, lần lần được công hạnh chẳng khó, rồi sẽ tự tiến. Than ôi! Người thời nay đói gặp cơm vua mà chẳng biết ăn. Bịnh gặp y vương cho thuốc mà chẳng biết uống. Không biết phải nói như thế nào! Tôi cũng đành cam chịu vậy!
Vả lại việc hữu vi ở thế gian hình dáng nó còn có thể thấy, công dụng nó còn có thể xét nghiệm. Khi thành công một việc người ta còn tán thán cho là ít có. Còn Tâm tông của ta đây không hình có thể nhìn, không trạng có thể thấy, đường ngôn ngữ dứt, chỗ tâm hành tuyệt. Cho nên thiên ma ngoại đạo hằng hủy báng cửa “Không”. Thích Phạm chư thiên không ngớt ngợi khen. Huống nữa, kẻ phàm phu dùng kiến thức cạn cợt, đối với Tâm tông còn mờ mịt, làm sao biết được?
Thương thay! Con trạnh trong giếng sao biết được bao la của bể cả. Con dã can làm sao rống được tiếng Sư tử? Cho nên, trong đời mạt pháp mà có người nghe pháp môn nầy cho rằng rất hy hữu và tin hiểu thọ trì, người ấy đã ở trong vô lượng kiếp thừa sự chư Thánh và gieo trồng các căn lành, kết sâu được cái chánh nhơn bát nhã, có căn tánh tối thưọng. Kinh Kim Cang nói: “Người đối với chương cú nầy hay sanh tín tâm, nên biết người ấy đã ở chỗ vô lượng đức Phật trồng các căn lành”. Lại nói: “ Vì những hàng phát tâm Ðại Thừa mà nói, vì những hàng phát tâm Tối Thượng Thừa mà nói”.
Mong các vị cầu Ðạo chớ sanh tâm hèn yếu, cần phải phát tâm dõng mãnh. Cái nhơn lành đời trước nay đâu biết được? Nếu chẳng tin mình có khả năng thù thắng thì cam làm hạ liệt rồi sanh ý tưởng cho là khó khăn. Nay chẳng chịu tu, dù có thiện căn đời trước, hiện nay đoạn tuyệt. Càng ở trong cái khó kia lần lượt thành xa vậy.
Nay đã đến núi châu báu chẳng lẽ trở về tay không. Một phen mất thân người muôn kiếp khó tìm lại. Mong phải cẩn thận đó!
Há lại có người biết núi châu báu kia mà chẳng cần nó, rồi lại hằng oán trách mình nghèo khó ư?
Nếu muốn được châu báu thì đừng tiếc thân này.

---o0o---

CHƠN TÂM TRỰC THUYẾT



Tác giả: Thiền Sư Phổ Chiếu
Dịch giả: Thích Đắc Pháp

TU VIỆN CHƠN KHÔNG
---o0o---
CHƠN TÂM TRỰC THUYẾT

1. Chánh tín Chơn Tâm
Kinh Hoa Nghiêm nói: “Tín là nguồn của Đạo, là mẹ của các công đức hay nuôi lớn tất cả căn lành”. Trong Duy Thức cũng nói: “Tín như hạt châu thủy thanh, hay làm cho nước dơ được sạch”. Cho nên, muôn điều thiện phát sanh là chữ tín dẫn đầu. Vì thế kinh Phật trước hết lập “như thị ngã văn” là cốt để sanh lòng tin vậy. 
Hỏi: Chữ tín của Giáo môn (Kinh) và chữ tín của Tổ môn (Thiền) có gì sai khác?
Đáp: Có nhiều loại sai khác nhau: Giáo môn khiến người, trời tin ở nhơn quả. Như có người thích phước lạc, tin thập thiện là diệu nhơn, cõi người cõi trời là lạc quả. Có người thích không tịch, tin nhơn duyên sanh diệt làm chánh nhơn, khổ tập diệt đạo làm thánh quả. Có người thích Phật quả, tin ba kiếp sáu độ làm đại nhơn, bồ đề niết bàn làm chánh quả.
Tổ môn chánh tín chẳng đồng như trên. Tổ môn chẳng tin tất cả pháp hữu vi nhơn quả. Chỉ tin ở tự mình xưa nay là Phật, tự tánh thiên chơn người người đều đầy đủ. Diệu thể của niết bàn mỗi mỗi đều viên thành, chẳng nhờ cầu  nơi người khác, từ xưa đến nay nó tự đầy đủ. Tam Tổ nói: “Tròn bằng thái hư, không thiếu không dư. Sở dĩ chẳng như, bởi do thủ xả”. Ngài Chí Công nói: “Trong thân có tướng là thân không tướng, trên đường vô minh là đường vô sanh”. Ngài Vĩnh Gia nói: “Thật tánh của vô minh là Phật tánh, thân huyễn hóa không thật tức pháp thân”. Cho nên, chúng sanh xưa nay là Phật.
Đã sanh chánh tín cần phải thêm hiểu biết nữa mới được. Ngài Vĩnh Minh nói: “Tin mà chẳng hiểu biết thì thêm lớn vô minh. Hiểu biết mà chẳng tin thì thêm lớn tà kiến”. Cho nên, tin hiểu gồm hai thì mau vào Đạo.
Hỏi: Mới phát lòng tin chưa được vào Đạo, có lợi ích chăng?
Đáp: Trong luận Khởi Tín nói: “Nếu nghe pháp này mà chẳng sanh khiếp nhược, thì nên biết, người này nhất định sẽ nối hạt giống Phật, và được chư Phật thọ ký cho. Thí như có người giáo hóa chúng sanh đầy khắp tam thiên đại thiên thế giới, khiến họ hành thập thiện, chẳng bằng có người đối với pháp này khoảng một niệm chánh tư duy thì công đức cũng hơn người trước không thể thí dụ được”. Trong Kinh Bát Nhã nói: “Cho đến người chỉ sanh một niệm tịnh tín, Như Lai trọn thấy biết các chúng sanh này được vô lượng phước đức như vậy”. Cho nên muốn đi ngàn dặm, bước đầu cần phải chánh, bước đầu nếu sai ngàn dặm đều sai. Vào nước vô vi, niềm tin ban đầu đã mất, muôn thiện đều lui. Cho nên Tổ Sư nói: “Mảy may nếu sai, trời đất ngăn cách”. Đấy là lý này vậy. 
2. Tên khác của Chơn Tâm
Hỏi: Đã sanh chánh tín, nhưng chưa biết thế nào gọi là chơn tâm?
Đáp: Lìa vọng gọi là chơn. Linh giám gọi là tâm. Trong Kinh Lăng Nghiêm đã nói rõ tâm này. 
Hỏi: Chỉ gọi chơn tâm thôi, hay có tên riêng khác nữa chăng?
Đáp: Phật dạy, Tổ dạy lập danh không đồng nhau. Phật dạy trong Bồ Tát Giới gọi là Tâm Địa, vì hay phát sanh muôn việc thiện. Kinh Bát Nhã gọi là Bồ Đề, vì lấy giác làm thể. Kinh Hoa Nghiêm gọi là Pháp Giới, vì giao triệt và dung nhiếp. Kinh Kim Cang gọi là Như Lai, vì không từ đâu đến. Kinh Bát Nhã gọi là Niết Bàn, vì là chỗ qui hướng của chư Thánh. Kinh Kim Quang Minh gọi là Như Như, vì chơn thường bất biến. Kinh Tịnh Danh gọi là Pháp Thân, vì là chỗ nương của báo thân và hóa thân. Luận Khởi Tín gọi là Chơn Như, vì chẳng sanh chẳng diệt. Kinh Niết Bàn gọi là Phật Tánh vì là bản thể của ba thân. Kinh Viên Giác gọi là Tổng Trì, vì mọi công đức từ đó mà lưu xuất, Kinh Thắng Man gọi là Như Lai Tạng, vì ẩn phú và hàm nhiếp. Kinh Liễu Nghĩa gọi là Viên Giác, vì hay chiếu phá mờ tối.
Do đây nên Ngài Vĩnh Minh Thiền Sư trong Duy Tâm Quyết nói: “Một pháp có ngàn tên, tùy theo duyên mà lập hiệu”. Tất cả còn đầy đủ trong các Kinh, không thể kể ra hết được.

***
Hỏi: Phật dạy đã biết, Tổ dạy như thế nào?
Đáp: Cửa Tổ Sư dứt tuyệt danh ngôn, danh còn chẳng lập, sao lại có nhiều tên? Chỉ vì ứng theo cơ duyên nên tên cũng lắm. Có lúc gọi là Tự Kỷ, vì là bản tánh của chúng sanh. Có lúc gọi là Chánh Nhãn, vì hay soi tướng của muôn loài. Có lúc gọi là Diệu Tâm, vì hư linh và tịch chiếu. Có lúc gọi là Chủ Nhơn Ông, vì xưa nay từng gánh vác. Có lúc gọi là Đờn không dây, vì hiện nay ra điệu vận. Có lúc gọi là Vô tận đăng, vì hay chiếu phá mê tình. Có khi gọi là Cây không rễ, vì gốc rễ bền chắc. Có khi gọi là Suy mao kiếm, vì hay chặt đứt căn trần. Có lúc gọi là Nước vô vi, vì sóng êm bể lặng. Có lúc gọi là Mâu ni châu, vì hay giúp đỡ người nghèo khó. Có lúc gọi là Vô nhu tỏa, vì cửa sáu tình đóng. Cho đến nào là trâu đất, ngựa gỗ, tâm nguyên, tâm ấn, tâm cảnh, tâm nguyệt, tâm châu,v.v... nhiều tên khác nhau không thể ghi ra cho hết. Nết đạt được chơn tâm thì các tên đều hiểu cả. Bằng mê muội chơn tâm thì còn bị trệ nơi các tên. Cho nên đối với chơn tâm cần yếu nên xét kỹ. 
3. Diệu thể của Chơn tâm
Hỏi: Chơn tâm đã biết, còn thể nó như thế nào?
Đáp: Trong Kinh Phóng Quang Bát Nhã nói: “Bát Nhã không có tướng có và tướng sanh diệt”. Luận Khởi tín nói: “Tự thể của chơn như, tất cả phàm phu, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát và chư Phật đều không thêm bớt, cũng chẳng phải trước sanh sau diệt mà rốt ráo thườngcòn. Từ xưa tới nay tánh nó tự đầy đủ tất cả công đức”.
Căn cứ theo các Kinh Luận thì bản thể chơn tâm siêu xuất nhơn quả, thông suốt cổ kim, chẳng lập phàm thánh và không có các đối đãi. Như hư không biến khắp tất cả. Diệu thể ngưng tịch, dứt hết các hí luận, chẳng sanh chẳng diệt, phi hữu phi vô, chẳng động chẳng lay, trạm nhiên thường trụ. Gọi là Chủ Nhơn Ông ngày xưa, là người ở mé kia của Phật Oai Âm, là Tự Kỷ của trước Không Kiếp. Một giống thường hằng không một mảy may tì vết, tất cả sơn hà đại địa, cỏ cây rừng bụi, vạn tượng sum la, các pháp nhiễm tịnh, đều từ trong ấy mà ra.
Cho nên KinhViên Giác nói: “Này các Thiện nam, Vô Thượng Pháp Vương có một pháp môn đại đà la ni gọi là Viên Giác, từ đó lưu xuất tất cả thanh tịnh Chơn Như, Bồ Đề, Niết Bàn và Ba La Mật, dạy dỗ cho các Bồ Tát”.
Ngài Khuê Phong nói: “Tâm ấy rỗng rang mà thuần diệu, rực rỡ mà mầu sáng, chẳng đến chẳng đi, thông suốt cả ba mé, chẳng phải trong ngoài, suốt khắp mười phương. Chẳng sanh chẳng diệt, bốn núi nào có thể hại. Lìa tánh lìa tướng, nào bị năm sắc làm mờ”.
Ngài Vĩnh Minh trong Duy Tâm Quyết nói: “Xét về tâm này là cái diệu trong lẽ mầu mà hội khắp, là vua của muôn pháp. Ba thừa năm tánh đều thầm về, hay là mẹ của nghìn bậc Thánh. Độc tôn độc quí không gì sánh bằng. Thật là nguồn của đại đạo, là chơn pháp yếu vậy. Tin tâm này, nên ba đời Bồ Tát đồng học là học tâm này. Ba đời Bồ Tát đồng chứng là chứng tâm này. Một đại tạng giáo giải rõ là hiển tâm này. Tất cả chúng sanh mê vọng là mê tâm này. Tất cả hành nhơn phát ngộ là ngộ tâm này. Chư Tổ truyền nhau là truyền tâm này. Chư tăng trong thiên hạ đều tham học là tham học tâm này. Đạt tâm này thì mỗi mỗi đều phải, vật vật đều toàn bày. Mê tâm này thì nơi nơi đều điên đảo, niệm niệm đều si cuồng”.
Thể này là cái Phật tánh sẵn có của tất cả chúng sanh, là căn nguồn phát sanh của tất cả thế giới. Cho nên Đức Thế Tôn ở ngọn Thứu Phong lặng thinh, Ngài Thiện Hiện dưới ngọn núi quên lời, Ngài Ðạt Ma nơi Thiếu Thất ngó vách, ông cư sĩ thành Tỳ Da ngậm miệng. Tất cả đều phát minh cái diệu thể của tâm này. Cho nên, người mới vào cửa Tổ, cần yếu trước tiên phải hiểu tâm thể này vậy.  
4. Diệu dụng của Chơn tâm.
Hỏi: Diệu thể của chơn tâm đã biết. Diệu dụng của chơn tâm thế nào?
Ðáp: Người xưa nói: “Gió động cây tâm lay, mây sanh tánh dấy bụi. Nếu sáng, rõ việc hôm nay. Nếu mê, mất người xưa nay”. Ðấy là diệu thể khởi ra tác dụng vậy. Diệu thể của chơn tâm xưa nay chẳng động, yên tịnh chơn thường. Trên chơn thể diệu dụng hiện tiền, chẳng ngại mọi trường hợp đều được diệu. Cho nên trong bài tụng của Tổ Sư nói: “ Tâm tùy muôn cảnh chuyển, chỗ chuyển thật sâu xa, theo dòng nhận được tánh, không mừng cũng không lo”.
Cho nên trong tất cả thời, động dụng thi vi, đi đông đi tây, ăn cơm mặc áo v.v. đều là diệu dụng hiện tiền. Trái lại kẻ phàm phu mê lầm, khi mặc áo chỉ biết mặc áo, khi ăn cơm chỉ biết ăn cơm, tất cả sự nghiệp chỉ tùy tướng mà chuyển. Bởi dùng hằng ngày mà chẳng biết, ở trước mắt mà chẳng hay. Nếu người đuợc tánh thì động dụng thi vi chẳng từng mê. Cho nên Tổ Sư nói:  “Trong thai gọi là thân, ở đời gọi là người, ở mắt thì thấy, ở tai thì nghe, ở mũi thì ngữi mùi, ở miệng thì đàm luận, ở tay thì nắm bắt, ở chân thì chạy nhảy. Khi biến hiện thì cùng khắp pháp giới, thu nhiếp lại thì chỉ trong hạt bụi. Người biết cho đó là Phật tánh, người chẳng biết gọi là tinh hồn”.
Thế nên Ðạo Ngô múa hốt, Thạch Củng dương cung, Bí Ma đập nạn, Câu Chi dơ ngón tay, Hân Châu đánh đất, Vân Nham sư tử. Ðấy là phát minh ra những đại dụng lớn vậy. Nếu việc hằng ngày chẳng mê thì tự nhiên tung hoành tự tại.  
5. Thể đụng của Chơn tâm một hay khác?
Hỏi: Thể đụng của chơn tâm chưa biết là một hay khác?
Ðáp: Ðúng về mặt tướng thì chẳng phải một. Ðứng về mặt tánh thì chẳng phải khác. Cho nên thể dụng của tâm nầy chẳng phải một chẳng phải khác. Tại sao thế? Thử vì ông bàn đó:
Diệu thể thì bất động, dứt mọi đối dãi và lìa tất cả tướng. Người chưa đạt tánh khế chứng không thể lường được lý nầy.
Diệu dụng thì duyên ứng khắp muôn loài, vọng lập ra tướng hư, giống như có hình trạng. Nhằm vào hữu tướng, vô tướng này nên chẳng phải một.
Lại, dụng từ thể phát ra, dụng không lìa thể. Thể hay phát dụng, thể chẳng lìa dụng. Nhằm vào cái lý bất tương ly này, nên chẳng phải khác. Như nước lấy tánh ướt làm thể, thể thì không động. Sóng lấy động làm tướng, vì nhơn gió mà dấy khởi. Tánh nước, tướng sóng, động với chẳng động, nên chẳng phải một.
Nhưng ngoài nước không có sóng, ngoài sóng không có nước. Tánh ướt là một nên chẳng phải khác. Xét trên thể dụng một hay khác có thể biết vậy.  
6. Chơn tâm trong mê.
Hỏi: Thể dụng của chơn tâm mọi người đều có đủ. Vì sao nơi thánh phàm chẳng đồng?
Ðáp: Nơi thánh phàm chơn tâm vốn đồng, vì phàm phu vọng tâm nhận vật, nên mất tự tánh thanh tịnh, do đây bị ngăn cách. Thế nên chơn tâm không được hiện tiền. Ví như bóng cây trong tối, dòng nước chảy ngầm dưới đất; có nhưng không biết.
Trong Kinh nói: “Nầy thiện nam tử! Như viên thanh tịnh bảo châu chiếu ra năm sắc, tùy chỗ mà hiện. Kẻ ngu si thấy ma ni châu kia thật có năm sắc. Thiện nam tử! Tánh viên giác hiện ở thân tâm, tùy loại mà có ứng hiện. Kẻ ngu si kia nói tánh tịnh viên giác thật có thân tâm như thế. Tự tánh cũng lại như vậy”.
Trong Triệu Luận nói: “Bên trong của càn khôn, khoảng giữa của vũ trụ, trong ấy có một vật báu ngầm dấu trong hình sơn”. Ðấy là chơn tâm tại triền vậy.
Lại Từ Ân nói: “Pháp thân sẵn có của chư Phật đều đồng. Phàm phu bị vọng che, nên có mà chẳng biết. Phiền não cột ở trong nên gọi Như Lai tàng”.
Bùi Hưu nói: “Suốt ngày viên giác mà chưa từng viên giác, ấy là phàm phu vậy”.
Cho nên, chơn tâm tuy ở trần lao mà không bị trần lao làm nhiễm. Như bạch ngọc ném vào bùn, màu sắc nó không đổi.  
7. Chơn tâm và sự dứt vọng.
Hỏi: Chơn tâm nơi vọng là phàm phu. Vậy làm thế nào thoát vọng để thành Thánh?
Ðáp: Người xưa nói: “Vọng tâm không chỗ nơi tức là bồ đề, niết bàn và sanh tử vốn bình đẳng”.
Kinh nói: “Chúng sanh kia thân huyễn diệt, nên tâm huyễn cũng diệt. Tâm huyễn diệt, nên huyễn trần cũng diệt. Huyễn trần diệt, nên huyễn diệt cũng diệt. Huyễn diệt, diệt rồi, nên cái phi huyễn chẳng hề diệt. Ví như lau gương, bụi nhơ hết thì ánh sáng hiện”.
Ngài Vĩnh Gia nói: “Tâm là căn, pháp là trần. Cả hai như vết nhơ trên gương, vết nhơ hết, ánh sáng mới hiện. Tâm pháp đều quên, tánh ấy tức chơn”.
Ðây là ra khỏi vọng thì thành chơn.

***

Hỏi: Trang Sanh nói: “Tâm ấy nóng thì cháy lửa, lạnh thì đặc nước, mau thì khoảng cúi ngước, lại hay vỗ về ngoài bốn bể, chỗ ở của nó sâu mà tinh. Khi nó động thì huyền mà thiên. Đấy là chỉ cho tâm của con người vậy”.
Trang Sanh nói cái tâm của kẻ phàm phu không thể trị phục như thế. Chưa biết nhà Thiền dùng phương pháp gì để điều phục vọng tâm?  
Ðáp: Lấy pháp vô tâm để trị vọng tâm.   
Hỏi: Người vô tâm chẳng khác cây cỏ. Xin lập bày phương tiện về thuyết vô tâm.
Ðáp: Nay nói vô tâm ấy, chẳng phải thể của nó vô tâm mà gọi là vô tâm. Chỉ trong tâm không vật nên gọi là vô tâm. Thí như nói:  bình không, là do trong bình không có vật gì, nên gọi là bình không. Chớ chẳng phải thể của bình là không nên gọi là bình không.
Cho nên Tổ Sư nói:  “Người chỉ nơi tâm vô sự, ở nơi sự vô tâm, thì tự nhiên rỗng mà mầu, tịnh mà diệu”. Ðấy là yếu chỉ của tâm vậy.
Căn cứ đây mà xét thì không vọng tâm, chớ không phải không có chơn tâm diệu dụng. Từ xưa đến nay chư Tổ đã nói đến thực hành công phu vô tâm, chủng loại không đồng nhau. Nay đại khái tóm nêu ra mười loại:
1-Giác Sát:  Nghĩa là khi hành công phu, bình thường phải dứt niệm và đề phòng niệm khởi. Một niệm vừa sanh liền dùng giác mà phá nó. Vọng niệm phá rồi, biết niệm sau chẳng sanh, cái giác trí này cũng không dùng tới nữa. Lúc ấy, vọng giác đều mất, nên gọi là vô tâm.
2-Hưu Kiệt: Nghĩa là khi hành công phu chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, tâm vừa khởi liền thôi, gặp duyên liền dứt. Người xưa nói: “Một mảnh lụa trắng đi! Lạnh như đất đi! Lò hương trong miếu cổ đi! Thẳng đến chỗ dứt lìa không còn một mảy may phân biệt, như ngây như dại, mới có chút phần tương ưng”. Ðây là công phu hưu kiệt vọng tâm vậy.
3-Dẫn tâm tồn cảnh (tâm mất cảnh còn): Nghĩa là khi hành công phu, nên dứt hết tất cả vọng niệm. Chẳng đoái đến ngoại cảnh chỉ tự dứt tâm mình thôi. Vọng tâm đã dứt lo gì có cảnh. Ðây là pháp môn mà người xưa gọi là “Ðoạt nhơn bất đoạt cảnh”. Cho nên ngạn ngữ có câu: “Nơi đây đầy hoa thơm cỏ lạ mà người xưa không có”. Bàng Công nói: “Chỉ tự mình vô tâm với muôn vật, lo gì muôn vật thường khuấy phá”. Ðây là công phu dứt vọng “hết tâm còn cảnh”.
4-Dẫn cảnh tồn tâm (cảnh hết còn tâm): Nghĩa là khi hành công phu, đem tất cả cảnh trong, cảnh ngoài đều quán là không-tịch, chỉ còn lại một tâm độc lập một mình. Cho nên người xưa nói: “Chẳng cùng muôn pháp làm bạn, cũng chẳng cùng các trần đối đãi” (Bất dữ vạn pháp vi lữ, bất dữ chư trần tác đối). Tâm nếu chấp cảnh tức là vọng, nay đã không cảnh thì vọng nào có được? Ðấy là chơn tâm độc chiếu chẳng chướng ngại nơi đạo. Tức người xưa gọi là pháp môn “Ðoạt cảnh bất đoạt nhơn”. Cho nên có câu: “Vườn trên hoa đã rụng, xe ngựa vẫn còn đây”. Lại cũng có câu: “Ba ngàn kiếm khách nay đâu tá, chỉ kế Trang Châu định thái bình”. Ðây là công phu dứt vọng “hết cảnh còn tâm”.
5-Dẫn tâm dẫn cảnh (tâm hết cảnh hết): Nghĩa là khi hành công phu, trước quán ngoại cảnh đều không-tịch, kế đó diệt nội tâm. Khi nội tâm ngoại cảnh đều lặng thì vọng từ đâu mà có được. Cho nên Quán Khê nói: “Mười phương không vách đổ, bốn phía cũng không cửa, sạch trọi trơn, bày trơ trơ”. (Thập phương vô bích lạc, tứ diện diệc vô môn, tịnh khỏa khỏa, xích sái sái). Tức pháp môn mà người xưa gọi: “Nhơn cảnh lưỡng câu đoạt”. Cho nên có câu: “Mây tan nước trôi chảy, lặng lẽ trời đất không”. Lại có câu: “Người trâu đều chẳng thấy, chính là lúc vầng trăng trong”. Ðây là công phu dứt vọng “tâm dứt cảnh dứt”.
6-Tồn tâm tồn cảnh (còn tâm còn cảnh): Nghĩa là khi hành công phu, để tâm trụ trong vị trí của tâm, cảnh trụ vị trí của cảnh (tâm trụ tâm vị, cảnh trụ cảnh vị). Có khi tâm và cảnh đối nhau, thì tâm chẳng thủ cảnh, cảnh chẳng đến tâm, mỗi mỗi chẳng đến nhau, tự nhiên vọng niệm chẳng sanh, nơi đạo chẳng ngại. Cho nên Kinh nói: “Pháp ấy trụ nơi bản vị của nó. Tướng của thế gian thường trụ”. (Thị pháp trụ pháp vị, Thế gian tướng thường trụ). Tức là pháp môn “Nhơn cảnh câu bất đoạt” của Tổ Sư. Cho nên có câu: “Một mảnh trăng rộng chiếu, bao nhiêu người lên lầu”. Lại cũng có câu: “Hoa núi ngàn muôn đóa, khách lãng du chẳng biết về”. Ðây là công phu diệt vọng “còn tâm còn cảnh”.
7-Nội ngoại toàn thể: Nghĩa là khi hành công phu, quán thấy sơn hà đại địa, trời trăng sao, nội thân ngoại thân, tất cả các pháp đều đồng một thể chơn tâm trạm nhiên hư minh, không tý sai khác. Ðại thiên sa giới gồm thành một mảnh, lại ở chỗ nào khởi vọng tâm? Cho nên Triệu Pháp Sư nói:  “Trời đất cùng ta đồng nguồn, muôn vật cùng ta đồng thể”.  Ðây là công phu diệt vọng “nội ngoại toàn thể”.
8-Nội ngoại toàn dụng: Nghĩa là khi hành công phu, đem tất cả thân tâm trong ngoài, các pháp trong thế giới, và tất cả động dụng thi vi, trọn thấy là diệu dụng của chơn tâm. Tất cả tâm niệm vừa sanh là diệu dụng hiện tiền, vọng tâm chỗ nào mà an trí. Cho nên vĩnh Gia nói : “Thật tánh của vô minh là Phật tánh, thân không huyễn hóa tức pháp thân” (vô minh thật tánh tức phật tánh, huyễn hóa không thân tức pháp thân). Trong Chí Công Thập Nhị Thời Ca nói: “Thường buổi sớm, máy cuồng ẩn chứa Ðạo Nhơn thân, ngồi nằm chẳng biết nguyên là đạo, chỉ thế luống mà chịu đắng cay”. Ðây là công phu dứt vọng “nội ngoại toàn dụng”.
9-Tức thể tức dụng: Nghĩa là khi hành công phu, tuy thầm hợp với chơn thể, chỉ một vị không-tịch, nhưng mà nơi trong ẩn một cái linh minh, nên thể tức dụng. Trong cái linh minh ẩn cái không-tịch, nên dụng tức thể. Cho nên Vĩnh Gia nói: “Tỉnh tỉnh lặng lặng phải, tỉnh tỉnh vọng tưởng quấy. Lặng lặng tỉnh tỉnh phải, vô ký lặng lặng sai”. (Tỉnh tỉnh tịch tịch thị, tỉnh tỉnh vọng tưởng phi. Tịch tịch tỉnh tỉnh thị, tịch tịch vô ký phi). Ðã trong cái lặng lẽ không dung vô ký, trong cái tỉnh táo không dung loạn tưởng, thì vọng tâm làm sao sanh được? Ðây là công phu diệt vọng “tức thể tức dụng”.
10-Thấu xuất thể dụng: Nghĩa là khi hành công phu, chẳng phân trong ngoài, chẳng phân biệt đông tây, nam bắc. Ðem bốn phương tám mặt, chỉ làm một môn “đại giải thoát viên đà đà địa”. Thể dụng chẳng phân, không một mảy may rỉ lậu. Suốt thân gồm thành một mảnh, vọng kia chỗ nào khởi được? Người xưa nói: “Suốt thân không đường nứt, trên dưới đều tròn trịa”. Ðây là công phu diệt vọng “thấu xuất thể dụng”.  
Các phương pháp công phu trên chẳng nên dùng cả, mà chỉ dùng một môn cho được thành tựu, thì cái vọng tâm kia tự nhiên tiêu diệt, chơn tâm hiện tiền. Tùy căn cơ đã huân tập từ trước, xem thích hợp với pháp nào, nên tập pháp đó.
Công phu ở đây là không công mà công, chẳng để tâm dụng sức. Cái pháp môn thôi dứt vọng tâm nầy rất tối trọng yếu. Pháp môn diệt vọng còn nhiều, sợ văn rườm nên chỉ lược thôi.  
8. Chơn tâm với bốn oai nghi.
Hỏi: Trên đã nói cách dứt vọng, nhưng chưa biết chỉ ngồi tập hay thông cả bốn oai nghi?
Ðáp: Các kinh luận phần nhiều nói ngồi tập, vì ngồi dễ thành công hơn, nhưng cũng thông cả bốn oai nghi, tập lần lần rồi từ từ được thuần thục. Luận Khởi Tín nói: “Người tu CHỈ, nên ở chỗ tịnh ngồi ngay thẳng giữ ý chơn chánh. Chẳng nương tựa vào hơi thở, chẳng nương vào hình sắc, chẳng nương vào không, chẳng nương vào đất nước gió lửa. Cho đến chẳng nương vào thấy nghe hay biết. Tất cả các tưởng tùy niệm đều trừ, cũng nên dẹp luôn cái tưởng trừ, vì tất cả pháp xưa nay vốn vô tưởng, niệm niệm chẳng sanh, niệm niệm chẳng diệt. Cũng chẳng đuợc tùy tâm niệm cảnh giới bên ngoài. Sau rốt lấy tâm trừ tâm, tâm nếu chạy rong liền kéo về trụ nơi chánh niệm. Chánh niệm là chỉ có tâm chớ không có cảnh giới bên ngoài. Lại tâm này cũng không có tự tướng, niệm niệm không thật có. Nếu từ ngồi, đứng, đi lại, tới lui, tất cả động tác thi vi, trong tất cả thời thường nhớ phương tiện tùy thuộc mà quán sát, tập lâu ngày được thuần thục thì tâm ấy được an trụ. Do tâm an trụ nên lần lần bén nhạy. Thuận theo đó mà được nhập vào “chơn như tam muội”. Dẹp sạch phiền nảo, lòng tin tăng trưởng, mau thành quả bất thối. Chỉ trừ hạng người nghi hoặc chẳng tin, bài báng, tội nặng, nghiệp chướng, ngã mạn, giải đãi. Những hạng người nầy chẳng đặng vào”.
Theo đây mà xét thì thông cả bốn oai nghi.
Kinh Viên Giác nói: “Trước nương theo hạnh Xa-ma-tha (Chỉ) của Như Lai, kiên trì cấm giới, yên ở trong đồ chúng, yên ngồi trong tịnh thất”. Ðấy là mới tập.
Vĩnh Gia nói: “Ði cũng thiền, ngồi cũng thiền. Nói nín động tịnh thể an nhiên”. Ðây là thông cả bốn oai nghi.  
Tóm lại, dùng sức ngồi còn chẳng thể dứt được tâm, huống là đi đứng v.v... há hay vào đạo ư? Nếu là người dụng tâm thuần thục, thì ngàn thánh đi đến còn chẳng đứng dậy, muôn loài ma kéo lại còn chẳng thèm nhìn. Huống là trong đi đứng... chẳng hay hành công phu sao? Như người oán thù kẻ khác, nhẫn đến đi đứng, ngồi nằm, ăn uống... trong tất cả thời còn không thể quên được. Sự thương, mến kẻ khác cũng lại như thế. Vả lại, việc yêu ghét là việc hữu tâm, còn ở trong hữu tâm hiện tiền được. Nay hành việc công phu là việc vô tâm, lại nghi gì ở trong bốn oai nghi chẳng thường hiện tiền ư? Chỉ sợ chẳng tin chẳng làm, nếu làm nếu tin, thì trong các oai nghi đạo ắt hiện tiền.  
9. Chỗ ở của chơn tâm.
Hỏi: Dứt vọng tâm thì chơn tâm hiện. Nói thế thì thể dụng của chơn tâm nay ở chỗ nào?
Ðáp: Diệu thể của chơn tâm khắp cả chỗ. Vĩnh Gia nói: “Chẳng rời hiện tại thường lặng lẽ. Còn tìm tức biết anh chưa thấy”. Kinh nói:  “Tánh như hư không thường chẳng động, trong Như Lai Tạng chẳng khởi, chẳng diệt”. Ðại Pháp Nhãn nói: “Nơi nơi đường bồ đề, chốn chốn rừng công đức”. Ðấy là chỗ ở của thể.
Diệu dụng của chơn tâm tùy cảm tùy hiện, như vang theo tiếng. Pháp Ðăng nói: “Xưa nay theo chẳng rời, rõ ràng nơi trước mặt. Cụm mây sanh hang tối. Cô hạt đáp trời xa”. 
Trong Hoa Nghiêm Sớ của Ngụy Phủ Nguyên nói: “Phật pháp ở chỗ việc hằng ngày, chỗ đi đứng ngồi nằm, chỗ ăn cơm uống trà, chỗ nói năng hỏi đáp. Các hành động ấy mà khởi tâm động niệrn thì không phải”.
Cho nên, thể thì biến khắp mọi nơi, trọn hay khởi dụng. Chỉ vì nhân duyên có, không chẳng nhứt định, cho nên diệu dụng cũng chẳng định, chớ chẳng phải không diệu dụng. Người tu tâm muốn vào biển vô vi độ các sanh tử, chớ mê lầm chỗ ở của thể dụng chơn tâm.  
10. Chơn tâm và việc sanh tử.
Hỏi: Thường nghe người kiến tánh ra khỏi sanh tử, nhưng tù xưa chư Tổ là người kiến tánh sao đều có sanh tử? Nay hiện thấy người tu trong đời đều có chết sống. Thế sao nói rằng ra khỏi sanh tử?
Ðáp: Sanh tử vốn không, do vọng nên thấy có. Như người đau mắt thấy trong hư không có hoa đốm.Người không đau nói trong hư không chẳng có hoa. Người đau mắt không tin. Nếu mắt hết đau thì cái thấy hoa trong hư không cũng tự hết. Lúc ấy mới tin rằng hoa vốn không. Lúc hoa chưa diệt, hoa kia cũng không. Chỉ người bịnh vọng chấp là hoa, chớ chẳng phải thể nó thật có.
Như người vọng nhận sanh tử là có thật. Nếu người không sanh tứ bảo rằng “vốn không sanh tử”. Một mai người ấy vọng dứt, sanh tử tự trừ, mới biết việc sanh tử xưa nay vốn là không. Ngay lúc sanh tử chưa dứt cũng chẳng phải thật có. Do vọng nên nhận có sanh tử thôi.
Kinh nói : “Thiện nam tử, tất cả chúng sanh từ vô thủy đến nay điên đảo nhiều lớp. Như người mê bốn hướng, đổi chỗ. Vọng nhận tứ đại làm tướng của tự thân, sáu trần duyên bóng làm tướng của tự tâm. Ví như người đau mắt thấy hoa giữa hư không. Cho đến các hoa đốm ấy diệt trong hư không. Không thể nói quyết rằng có chỗ diệt. Vì sao? Vì không chỗ sanh vậy. Tất cả chúng sanh nơi vô sanh vọng thấy có sanh diệt. Cho nên gọi là luân chuyển sanh tử”.
Cứ theo Kinh này tin biết rằng đạt ngộ chơn tâm vốn không sanh tử. Nay biết không sanh tử mà không thể thoát sanh tử, vì công phu không đến vậy. Cho nên trong Kinh nói: “Am bà nữ hỏi Văn Thù rằng: Rõ biết sanh là pháp chẳng sanh, vì sao lại bị sanh tử trôi đi? – Văn Thù đáp: Vì sức kia chưa đầy đủ”.
Sau này Tiến Sơn chủ hỏi Tu Sơn chủ rằng: “Rõ biết sanh là pháp chẳng sanh, vì sao lại bị sanh tủ trôi đi? Tu đáp: Măng trọn thành tre. Như nay khiến làm phên được”. Thế nên “Biết” không sanh tử, chẳng như “Thể” không sanh tử. Thể không sanh tử chẳng như “Khế” không sanh tử. Khế không sanh tử chẳng như “Dụng” không sanh tử. Người nay còn chẳng biết không sanh tử, huống là thể không sanh tử, khế không sanh tử, dụng không sanh tử? Người nhận sanh tử, không tin pháp không sanh tử cũng vậy.  
11. Chơn tâm và chánh trợ.
Hỏi: Như truớc đã nói dứt vọng thì chơn tâm hiện tiền. Khi vọng chưa dứt, thì chỉ hành công phu vô tâm để hết vọng. Lại còn có pháp nào khác có thể đối trị các vọng không?
Ðáp: Có chánh tu và trợ tu sai khác nhau. Lấy vô tâm dứt vọng làm chánh, lấy các hành động lành làm trợ. Thí như gương sáng bị bụi che lấp, lấy sức tay lau chùi, nhưng cũng cần thêm thuốc để chùi thì ánh sáng mới dễ hiện. Bụi nhỏ là phiền não. Sức tay là vô tâm. Thuốc là các việc lành. Ánh sáng của gương là chơn tâm.
Trong Luận Khởi Tín nói: “Lại nữa, có người do lòng tin thành tựu mà phát tâm, lại phát tâm gì? Luợc có ba loại: một, trực tâm là pháp chánh niệm chơn như; hai, thâm tâm là gồm các lành; ba, đại bi tâm là muốn nhổ tất cả khổ não cho chúng sanh”.  
Hỏi: Trên đã nói pháp giới một tướng, Phật thể không hai, cớ sao chỉ một niệm chơn như, mà lại nhờ cầu học các việc lành nữa?
Ðáp: Ví như có hạt ma ni báu lớn, sáng trong mà có lẫn quặng nhơ. Như người tuy biết nó có tánh quí mà chẳng dùng phương tiện để mài giũa, trọn không thể trong sáng được Vì nhơ vô lượng khắp tất cả pháp, nên tu tất cả hạnh lành. Cũng như vậy, pháp chơn như thể tánh nó không-lặng mà có vô lượng phiền não nhiễm nhơ. Nếu người tuy niệm chơn như mà chẳng dùng các phương tiện để huân tập, cũng không được tịnh. Vì nhơ vô lượng khắp tất cả pháp, nên tu tất cả thiện hạnh để đối trị. Nếu người tu, hành tất cả pháp lành, thì tự nhiên qui thuận pháp chơn như”.
Theo đây mà xét, lấy thôi hết vọng tâm làm chánh, tu các pháp lành làm trợ. Nếu khi tu thiện nên cùng với vô tâm khế hợp nhau, chẳng chấp trước nhơn quả. Nếu chấp trước nhơn quả bèn rơi vào phàm phu, trong phước báo nhơn thiên, khó chứng chơn như, chẳng thoát sanh tử. Nếu cùng vô tâm tương ưng ấy là chứng chơn như. Ðây là thuật khéo làm phương tiện thoát sanh tử, lại gồm phước đức xộng rãi.
Trong Kinh Kim Cang Bát Nhã nói:  “Tu Bồ Ðề, Bồ Tát không trụ tướng bố thí, thì phước đức vị ấy không thể nghĩ lường được”.
Nay thấy người đời có tham thiền học đạo. Vừa biết được cái bổn lai Phật tánh, bèn tự thị nơi thiên chơn chẳng tập làm các việc lành. Như vậy, đâu chỉ chẳng đạt chơn tâm, mà trở lại thành giải đãi, đường ác còn chẳng khỏi, huống là thoát sanh tử? Cái chấp này rất lầm to.  
12. Công đức của chơn tâm.
Hỏi: Hữu tâm tu nhơn công đức chẳng còn nghi. Vô tâm tu nhơn công đức từ đâu đến?
Ðáp: Hữu tâm tu nhơn được quả hữu vi. Vô tâm tu nhơn được công đức hiển tánh. Các công đức này xưa nay tự đầy đủ, do vọng che cho nên không hiện, nay vọng đã trừ công đức hiện tiền. Cho nên Vĩnh Gia nói: “ Ba thân bốn trí tròn trong thể. Tám giải sáu thông ấn đất tâm”. Thế là trong thể tự nó đầy đủ tánh công đức. Trong cổ tụng có câu: “Nếu tịnh tọa một tý thôi, hơn tạo hằng sa tháp bảy báu. Tháp báu trọn lại hóa vi trần, một niệm tịnh tâm thành chánh giác”. Cho nên vô tâm công đúc lớn hơn hữu tâm.
Hòa Thượng Thủy Lạo ở Hồng Châu đến thăm Mã Tổ. Hỏi: Ý chỉ Tổ Sư từ Ấn sang như thế nào? Bị Mã Tổ tống cho một đạp té nhào. Bỗng nhiên phát ngộ. Ðứng dậy vỗ tay cười lớn nói rằng: lạ thay! Trăm ngàn tam muội, vô lượng diệu nghĩa chỉ trên đầu một mảy lông. Liền một lúc hiểu được căn nguyên, bèn làm lễ rồi lui. Cứ theo đây thì công đức không từ ngoài đến, mà nó vốn tự đầy đủ.
Tứ Tổ bảo Lại Dung(1) Thiền Sư rằng: “Phàm trăm ngàn pháp môn chỉ đồng về trong gang tấc, công đức như hà sa gồm lại nơi nguồn tâm. Tất cả môn giới định huệ thần thông biến hóa, trọn tự đủ chẳng lìa tâm ông”. Cứ theo lời Tổ Sư, vô tâm công đức rất nhiều. Chỉ có người thích công đức nơi sự tướng, nên công đức vô tâm họ không tự tin.  
Chú thích:
(1) Lại Dung: Ngài hiệu là Pháp Dung, nhưng do say mê tọa thiền, có ai đến cũng không buồn chào hỏi, nên người đời gọi là Lại Dung; chữ Lại là lười biếng. 
13. Kinh nghiệm chơn tâm.
Hỏi: Chơn tâm hiện tiền, thế nào biết chơn tâm được thành thục vô ngại?
Ðáp: Người học Ðạo khi đã được chơn tâm hiện tiền, nhưng tập khí chưa trừ, nếu gặp cảnh quen thuộc có lúc thất niệm. Như chăn trâu, tuy điều phục nó, dẫn dắt nó đến chỗ như ý rồi, mà còn chẳng dám buông giàm và roi. Ðợi đến tâm nó điều phục, bước đi ổn thỏa, dù chạy vào lúa mạ cũng không hại đến lúa mạ, lúc ấy mới dám buông tay. Ðến lúc nầy chú mục đồng không còn dùng giàm và roi nữa. Tự nhiên con trâu không hại đến lúa mạ.
Như đạo nhân sau khi nhận được chơn tâm, trước lại phải dụng công bảo dưỡng, đến khi có lực dụng lớn, mới có thể lợi sanh. Nếu muốn kinh nghiệm chơn tâm nầy, thì trước đem những cảnh mà bình thường mình yêu thích, luôn tưởng ở trước mặt. Nếu nương theo cảnh đó khởi tâm yêu ghét, thì tâm đạo chưa thuần thục. Nếu chẳng khởi tâm yêu ghét thì tâm đạo đã thuần thục. Tuy nhiên được thuần thục như vậy, mà còn chưa phải tự nhiên chẳng khởi yêu ghét. Lại phải kinh nghiệm một lần nữa. Như khi gặp cảnh yêu ghét, lúc ấy khởi tâm yêu ghét và khiến thủ cảnh yêu ghét ấy. Nếu tâm chẳng khởi là tâm vô ngại. Như trâu trắng nằm sờ sờ chẳng tổn hại lúa mạ.
Xưa có vị mắng Phật mạ Tổ, ấy là cùng tâm nầy tương ưng. Nay thấy có người mới vào Tông môn nầy, chưa biết đạo gần hay xa, liền học mắng Phật mạ Tổ. Thật tính ra quá sớm vậy.  
14. Chơn tâm vô tri.
Hỏi: Chơn tâm cùng vọng tâm khi đối cảnh làm sao phân biệt chơn vọng?
Ðáp: Vọng tâm đối cảnh có biết, nhưng mà biết nơi cảnh thuận nghịch rồi khởi tâm tham sân. Lại ở trong đó chứa cảnh rồi khởi tâm si. Nơi cảnh khởi ba độc tham sân si, đủ rõ là vọng tâm. Tổ Sư nói: “ Nghịch thuận tranh nhau là tâm bệnh”. Cho nên, đối với cảnh, phải hay chẳng phải đều là vọng tâm cả.
Còn chơn tâm, không biết mà biết thường hằng, tròn chiếu nên khác với cây cỏ. Chẳng sanh yêu ghét nên khác với vọng tâm. Tức đối cảnh rỗng sáng, chẳng yêu chẳng ghét, chẳng biết mà biết ấy là chơn tâm.
Trong Triệu Luận nói: “ Thánh tâm ấy vi diệu vô tướng, nên chẳng có. Dụng nó thì đầy sự cần dùng nên chẳng thể là không. Cho đến, chẳng có, nên biết mà không biết; chẳng không, nên không biết mà biết. Vì thế nên không biết tức biết. Không nói khác với tâm của thánh nhơn vậy”.
Lại vọng tâm nơi hữu trước hữu, nơi vô trước vô, thường ở hai bên chẳng biết trung đạo. Vĩnh Gia nói: “Bỏ vọng tâm giữ chơn lý. Tâm lấy bỏ thành xảo ngụy. Người học chẳng rõ dụng tu hành. Lâu thành nhận giặc lấy làm con”. Nếu là chơn tâm thì dù ở trong hữu vô, mà không rơi vào hữu vô, thường ở trung đạo.
Tổ Sư nói: “Chẳng đuổi hữu duyên, chớ trụ không nhẫn, một giống thường hằng bỗng nhiên tự hết”.
Triệu Luận nói: “ Thánh nhân làm việc có mà chẳng có. Ở trong không mà chẳng không. Tuy không thủ hữu vô mà chẳng xả hữu vô. Hòa mình trong trần lao, dạo khắp ngũ thú, lặng lẽ mà đi rõ ràng mà đến, nhạt nhẽo không làm mà không gì chẳng làm (Ðiềm đạm vô vi nhi vô bất vi)”.
Ðây là nói bậc thánh nhơn duỗi tay vì người, đi khắp ngũ thú để tiếp dẫn giáo hóa chúng sanh. Tuy tới lui mà không ở trong tướng tới lui. Vọng tâm chẳng phải thế. Cho nên chơn tâm vọng tâm không đồng. Lại chơn tâm là tâm bình thường, vọng tâm là tâm bất bình thường.  
***

Hỏi: Sao gọi là tâm bình thường? 
Ðáp: Mọi người đều có đủ một điểm linh minh, trạm nhiên như hư không, biến khắp mọi nơi. Ðối với việc thế tục tạm gọi là lý tánh. Ðối với vọng thức quyền gọi là chơn tâm. Không một mảy may phân biệt, gặp duyên chẳng lầm. Không một niệm lấy, bỏ, chạm vật đều khắp, chẳng theo cảnh dời đổi. “Giả sử theo dòng được diệu. Chẳng lìa hiện tại lặng yên. Còn tìm tức biết anh chưa thấy”. Ðấy tức là chơn tâm vậy.  
***

Hỏi: Sao gọi là tâm bất bình thường?
Ðáp: Cảnh có Thánh phàm, nhiễm tịnh, đoạn thường, lý sự, sanh diệt, khứ lai, hảo xú, thiện ác, nhơn quả... Nếu nhỏ nhặt mà kể ắt có ngàn sai muôn khác. Nay nêu ra mười đôi đều gọi là cảnh bất bình thường. Tâm theo cảnh bất bình thường này mà sinh, theo cảnh bất bình thường nầy mà diệt. Tâm cảnh bất bình thường đối với bình thường chơn tâm ở trước, nên gọi là bất bình thường vọng tâm. Chơn tâm vốn đủ, chẳng theo cảnh bất bình thường mà khởi các sự sai biệt. Cho nên gọi là bình thường chơn tâm.  
***

Hỏi: Chơn tâm bình thường không có các nhơn khác, thế sao Phật nói nhơn quả thiện ác báo ứng?
Ðáp: Vọng tâm chạy theo các cảnh, nhưng chẳng rõ các cảnh, nên khởi các tâm. Phật nói các pháp nhơn quả để trị các vọng tâm, nên cần lập nhơn quả. Nếu chơn tâm này chẳng đuổi theo các cảnh, do đó chẳng khởi các tâm, Phật tức cũng chẳng nói các pháp, thì đâu có nhơn quả?  
***

Hỏi: Chơn tâm bình thường chẳng sanh ư?
Ðáp: Chơn tâm có lúc khởi dụng, nhưng chẳng phải theo cảnh mà sanh, chỉ là diệu dụng du hí, chẳng lầm nhơn quả. 
15. Chỗ trụ của chơn tâm.
Hỏi: Người chưa đạt chơn tâm, do mê chơn tâm nên làm nhơn thiện ác. Do làm thiện nhơn nên sanh trong thiện đạo. Do làm ác nhơn nên vào trong ác đạo, theo nghiệp thọ sanh, lý này chẳng nghi. Nếu người đạt chơn tâm, vọng tình cạn hết, khế chứng chơn tâm không nhơn thiện ác. Vậy điểm linh của thân sau gá nương vào chỗ nào?
Ðáp: Chớ bảo có chỗ gá nương là hơn không chỗ gá nương. Lại cũng chớ cho không chỗ gá nương, đồng với phiêu linh lãng tử ở thế gian, giống như loài quỉ, vô chủ cô hồn. Ðặc biệt nêu câu hỏi này là mong có sự gá nương chớ gì?
– Ðúng thế.
– Người đạt tánh thì chẳng đúng, tất cả chúng sanh do mê giác tánh nên vọng tình ái nhiễm kết nghiệp làm nhơn, sanh trong lục thú thọ quả báo thiện ác. Giả như thiện nghiệp là nhơn chỉ được có thiện quả. Trừ chỗ phù hợp với nghiệp mà sanh, ngoài ra chẳng được thọ dụng. Các cõi đều như thế. Ðã từ nghiệp kia nên chỗ phù hợp sanh cho là vui, chỗ chẳng phù hợp sanh cho là khổ. Bởi chỗ phù hợp sanh là chỗ tự mình gá nương, chỗ chẳng phù hợp là chỗ người khác gá nương. Cho nên có vọng tình thì có vọng nhơn, có vọng nhơn thì có vọng quả có vọng quả thì có gá nương. Có gá nương thì phân ra kia đây. Phân ra kia đây thì có thích hay không thích.
Nay đạt chơn tâm khế hợp với giác tánh không sanh diệt, khởi ra diệu dụng không sanh diệt. Diệu thể chơn thường vốn không sanh diệt, diệu dụng tùy duyên như có sanh diệt. Nhưng từ thể sanh ra dụng nên dụng ấy tức là thể. Có gì là sanh diệt? Người đạt đạo tức là chứng chơn thể, nên sự sanh diệt kia có can hệ gì? Như nước lấy tánh ướt làm thể, sóng mòi làm dụng. Tánh ướt nguyên không sanh diệt, nên sóng mòi trong tánh ướt nào sanh diệt ư? Nhưng sóng lìa tánh ướt cũng không riêng có, nên sóng cũng không sanh diệt. Người xưa nói: “Khắp cõi nước là mắt của Sa môn, khắp cả nước là già lam”. Khắp mọi nơi là chỗ an thân lập mệnh của người ngộ lý. Người đạt chơn tâm thì tử sanh lục đạo một chốc liền tiêu tan. Sơn hà đại địa đều là chơn tâm. Chẳng thể lìa chơn tâm nầy riêng có chỗ gá nương. Ðã không ba cõi làm vọng nhơn, ắt không có sáu thú làm vọng quả. Vọng quả đã không nói gì gá nương? Không gá nương ắt không bỉ thử, đã không bỉ thử thì có gì là thích hay không thích?
Mười phương thế giới chỉ một chơn tâm, toàn thân thọ dụng không riêng gá nương. Lại đối với môn thị hiện thì tùy ý qua lại mà không chướng ngại. Trong Truyền Ðăng có chép rằng: “Thượng Thơ Ôn Tháo hỏi Ngài Khuê Phong: Người ngộ lý một phen tuổi thọ hết, gá nương chỗ nào? Khuê Phong đáp: Tất cả chúng sanh đều có đầy đủ cái linh minh giác tánh, cùng với chư Phật không khác. Nếu hay ngộ tánh nầy tức là pháp thân, vốn tự vô sanh có gì nương gá? Cái linh minh chẳng muội, rõ ràng thường biết, không chỗ đến cũng không chỗ đi. Chỉ lấy không-tịch làm tự thể, chớ nhận sắc thân. Lấy linh tri làm tự tâm, chớ nhận vọng niệm. Vọng niệm nếu dấy lên đều không theo nó, đến lúc mạng chung, khi ấy, nghiệp tự nhiên không thể cột. Tuy có thân trung ấm mà chỗ đến tự do. Cõi người cõi trời tùy ý gởi nương. Ðây tức là chơn tâm truớc và chỗ đến của thân sau ấy vậy”.

---o0o---