Thứ Hai, 11 tháng 3, 2013

QUI SƠN CẢNH SÁCH





QUI SƠN CẢNH SÁCH


KIM ĐÀI giới thiệu
1992-2536

Tâm pháp như nhiên
                        Vạn cổ huy huyền
                        Thủy lưu sơn đảnh
                        Hoa vũ mãn thiên
                                                          Kim Đài 

PHẦN MỘT 
NGƯỜI CHỦ NON QUY

Ngày nọ có Tư Mã Đầu Đà từ Hồ Nam đến yết kiến Bá Trượng và thưa rằng:
-         Đất Quy Sơn là thắng cảnh nên lập đại đạo tràng kết tập bạn pháp.
Bá Trượng hỏi:
-         Lão tăng đến được chăng?
-         Đất Quy Sơn rất là kỳ tuyệt, có thể tụ họp một ngàn năm trăm chúng, nhưng chẳng phải là chỗ ở của Hòa thượng.
-         Sao vậy?
-         Hòa thượng hình xương, núi kia hình thịt, dù có ở, đồ đệ chẳng đầy một ngàn.
-         Trong chúng của ta đây có ai ở được chăng?
-         Đợi xem qua mới biết.
Bá Trượng sai thị giả gọi đệ nhất tọa, tức là ngài Hoa Lâm đến, hỏi:
-         Người này thế nào?
Đầu Đà bảo Hoa Lâm tằng hắng một tiếng và đi vài bước xong, thưa rằng:
-         Người này không được.
Bá Trượng sai thị giả gọi Điển Tọa tức Linh Hựu đến. Đầu Đà thưa:
-         Đây chính là chủ Quy Sơn.
Tối lại Bá Trượng gọi Sư vào thất dặn dò:
-         Ta hóa duyên tại đây. Ông hãy đến thắng cảnh Quy Sơn nối tiếp tông môn của ta và rộng độ kẻ hậu học.
Hoa Lâm hay tin này đến thưa:
-         Con là thượng thủ, tại sao Linh Hựu được trụ trì?
Bá Trượng bảo:
-         Trong chúng đây, nếu ai nói được câu xuất cách sẽ cho trụ trì.
Bá Trượng đặt tịnh bình xuống đất hỏi Hoa Lâm:
-         Không được gọi là tịnh bình, ông gọi là gì?
Hoa Lâm thưa:
-         Không thể gọi là khúc cây.
Bá Trượng quay qua hỏi Linh Hựu, Linh Hựu bèn đạp nhào tịnh bình mà đi.
Bá Trượng cười nói:
-         Đệ nhất tọa thua mất hòn núi rồi vậy.
Bèn phái Điển Tọa đi làm Tổ khai sơn.
o0o
Chỉ cần một cú trình cơ là được phái đi làm Tổ, khỏi cần nhọc sức ngồi mãi chẳng nằm, khỏi cần long đong cầu chơn đoạn vọng. Giơ chân đá phắt một cái, Phật cũng chẳng quản, Tổ cũng chẳng màng, thế mà lại ngồi trên Liên Hoa đài tạng.
Bá Trượng đặt câu hỏi “Không được gọi là tịnh bình, ông gọi là cái gì?”
Nói khác, trước khi có ngữ ngôn, ông gọi là cái gì?
Thủ tọa Hoa lâm nói “không thể gọi là khúc cây”. Khúc cây hay tịnh bình là ngôn ngữ thế gian đặt ra. Đức Phật đã từng nói: “Ta vì tùy thuận thế gian mà gọi như thế”. Gọi là tịnh bình là theo thế gian mà gọi. Gọi là khúc cây là theo thế gian mà gọi. Hoa Lâm đã rơi vào ngôn ngữ thế gian, việc bên xuất thế hãy còn mờ mịt nên Bá Trượng chẳng nhận.
Quy Sơn đạp nhào tịnh bình vượt trên ngôn ngữ, làm nước sông Hoàng Hà chảy ngược, tuy thắng Hoa Lâm nhưng không qua được con mắt Bá Trượng. Dù sao quy Sơn cũng còn nhọc sức với một cú đá như thế. Ngài Pháp Diễn ở núi Ngũ Tổ đã nói “chẳng cần ông tiến trước lùi sau, dựng ngón tay, đưa nắm tay, nhiễu giường thiền, làm người nữ lễ bái, đưa tọa cụ lên, ngàn thứ kỹ lưỡng. Chỉ cần ông ngay một câu nói cho thích hợp, bèn là chỗ ông thấy”.
Đối với tông phong Lâm Tế, nếu trình cơ như thế chỉ mới là chiêu đầu, phải đỡ nổi cả hai chiêu sau mới được ấn khả, nên nói: “Chiêu thứ nhất nếu tiến được cùng Phật Tổ làm thầy, chiêu thứ hai tiến được cùng trời người làm thầy, chiêu thứ ba tiến được thì tự cứu chẳng xong”. Bá Trượng vì còn nương tay, chẳng nỡ ra đòn hay chiêu kế tiếp, bởi vấn đề chỉ để giải quyết người nào làm chủ Quy Sơn mà thôi.
o0o
Non Quy cao vót không bóng người qua lại, là chỗ ở của cọp sói. Điển tọa Linh Hựu đến cất một am cỏ, hằng ngày lượm trái lật trái dẻ làm thức ăn nuôi sống. Đã bảy năm qua, một hôm Sư tự nghĩ: “Đạo cốt tiếp vật lợi sanh, ở một mình chẳng phải”. Sư bèn đi lần xuống núi thấy cọp sói, Sư bảo: “Nếu ta có duyên với núi này, các ngươi nên đi tránh chỗ khác. Nếu ta không có duyên ở đây thì các ngưoi cứ ăn thịt ta đi”. Sư nói xong, các thú dữ đều bỏ đi. Sư trở về am ở yên như trước.
Không bao lâu dân cư dưới chân núi lần lần hay biết, họ rủ nhau kéo lên núi cất một ngôi chùa cho Sư. Sau này theo lời tâu của Liên Soái Lý Cảnh Nhượng, vua ban hiệu chùa là Đồng Khánh, số chúng quy tụ lên đến một ngàn năm trăm người.
Xưa cũng như nay, tập thể nào cũng có kẻ tốt người xấu, chúng của ngài Quy Sơn cũng chẳng thoát khỏi thông lệ này. Ngoài những bậc có căn cơ xuất cách như Ngưỡng Sơn Huệ Tịch, Hương Nghiêm Trí Nhàn, cũng còn biết bao người lôi thôi trà trộn vào. Bài văn cảnh sách ra đời như một liều lương dược làm hồi sinh sức tiến đạo, đã đánh bạt những con vi trùng khoét thủng mạng mạch buổi sơ tâm, đã xuyên thấm vào từng tế bào và tâm não của những người hiến trọn đời mình cho việc giải thoát và lợi ích quần sanh.


PHẦN HAI
 HAI MƯƠI LĂM CÕI


1 - NGHIỆP LỤY THỌ THÂN:

* Thọ thân: thọ thân có hai:
-Phần đoạn sanh tử: sanh tử của phàm phu, vì ái chấp che đậy nên tạo
nghiệp ác mà phải chịu cái khổ sống chết từ phần từ đoạn.
·       Biến dịch sanh tử: sanh tử chuyên biến của bậc thánh đã chứng quả tam thừa.
Ngài Bá Trượng nói: “chỉ cần suốt đời tâm như gỗ đá, chẳng bị ấm giới các nhập, ngũ dục bát phong làm trôi chìm tức nhân sinh tử đã được cắt đứt”.
* Nghiệp và lụy:
Vì còn tạo tác nên gọi là nghiệp.
Vì chịu đủ thứ khổ nên gọi là lụy.
Phàm phu vì lục căn lục trần sai sử nên suốt ngày tạo các nghiệp ác nên phải chịu lụy vào ba đường dữ.
Hàng nhị thừa vì che đậy lục căn, xa lánh lục trần, đắm mình trong không tịch nên vẫn còn tạo nghiệp, còn nghiệp là còn lụy, lụy vào hầm sâu giải thoát, đoạn hột giống Phật.
Ngài Tăng Triệu nói: “muôn lụy có nhiễu, gốc tại vọng tưởng, vọng tưởng đã trừ, muôn lụy đều hết”.
* Chúng duyên:
Kinh Đại Bát Niết Bàn nói: “Như cây chuối nhơn tiếng sấm mà được tăng trưởng. Như cây a-thúc-ca, người nữ rờ chạm đến thì cây này trổ bông. Như cây quít được tử thi thời trái thêm nhiều.
     “Chim công nghe tiếng sấm nổ mà có trứng. Như chim thanh tước uống nước mắt của thanh tước trống mà có trứng. Như chim công mạng thấy chim trống múa bèn có trứng”.
Ấy là chúng duyên vậy. Thân của chúng ta do duyên hòa hợp của cha mẹ mà sanh ra.
* Tứ đại: đất, nước, lửa, gió.
Kinh Đại Bát Niết Bàn nói: “Bồ tát suy xét thân này như cái trấp, đất nước lửa gió như rắn độc; kiến độc, xúc độc, khí độc, nọc độc. Tất cả chúng sanh gặp bốn rắn độc này thời phải mất mạng. Tứ đại cũng như vậy, hoặc kiến chấp làm độc, hoặc chạm xúc làm độc, hoặc hà khí làm độc, hoặc cắn nọc làm độc, do đây nên xa lìa những điều lành.
Bồ tát suy xét bốn rắn độc này có bốn dòng họ: dòng Sát đế lợi, dòng Bà la môn, dòng Tỳ xá, dòng Thủ đà. Tứ đại cũng có bốn chủng tánh: tánh cứng, tánh ướt, tánh nóng, tánh động. Vì thế nên Bồ tát xem Tứ đại đồng chủng tánh với bốn rắn độc.
Bồ tát lại suy xét bốn rắn độc này thường rình hại người: lúc nào sẽ nhìn ngó, lúc nào sẽ chạm xúc, lúc nào sẽ hà hơi, lúc nào sẽ cắn. Tứ đại cũng như vậy, thường rình chờ dịp để hại chúng sinh.
Nếu bị bốn rắn độc hại chết, chẳng đến nỗi phải đọa trong ba đường ác. Nếu bị tứ đại giết hại tất sanh vào ba đường ác. Bốn rắn độc này dầu săn sóc nuôi dưỡng nó nhưng nó cũng thường muốn giết người. Cũng vậy, dầu thường cung cấp nhưng tứ đại cũng luôn kéo dắt người tạo những nghiệp ác. Bốn rắn độc ấy nếu một con sân giận thời sẽ giết người. Tánh tứ đại nếu một đại phát lên cũng có thể hại người. Bốn rắn độc ấy dầu ở chung một chỗ, nhưng tâm tánh của nó đều riêng khác. Tứ đại dầu đồng ở một thân mà tánh của mỗi đại khác nhau. Bốn rắn độc ấy dù có cung kính nó, cũng khó có thể gần gũi nó, tứ đại cũng như vậy. Bốn rắn độc ấy nếu lúc hại người, có được phù chú thuốc men của Sa môn hay Bà la môn thời có thể chữa trị. Tứ đại giết người dầu có Sa môn hay Bà la môn dung thần chú phép tắc cũng chẳng trị được. Như người trí nghe hơi tanh của rắn độc liền tránh xa. Chư Phật Bồ tát nghe hơi hôi của tứ đại cũng liền tránh xa”.

2 – VÔ THƯỜNG TẤN TỐC:

* Vô thường: ở đây chỉ cho sanh già bịnh chết nó đến bất chợt.
Vì nghiệp lực của chúng sanh khác nhau nên sự sanh già bịnh chết của chúng sanh cũng khác nhau. Hàng chư thiên và địa ngục đều có hóa sanh. Ngạ quỷ có hai cách là thai sanh và hóa sanh. Người và súc sanh có bốn cách là thai sanh, noãn sanh, thấp sanh và hóa sanh. Ví như Tỳ Xá Khư  mẹ của Di Già La đẻ ra ba mươi hai cái trứng, thành ba mươi hai đứa con trai, Di Già La là người con trai lớn nhất Đây là trường hợp noãn sanh. Lại, ví như trên đỉnh đầu của Sa La Ba Ly sanh ra một vị Chuyển Luân Thánh Vương, đây là trường hợp thấp sanh (sanh do ẩm ướt).
Trong kinh Đại Bát Niết Bàn có quốc vương tên Thiện Trụ, trên đầu hiện cục bướu, mười tháng sau sanh ra Đảnh Sanh, làm Chuyển Luân Thánh Vương.
Trong chúng Tỳ kheo ni của Phật có một vị Tỳ kheo ni tên A La Bà từ trong đất tự hóa sanh. Vào thời kiếp sơ, loài người đều hóa sanh cả, rồi về sau thường do thai sanh.
* Sát na: Chỉ khoảng thời gian ngắn nhất như trong chớp mi, nháy mắt.
Theo Đại Trí Độ Luận, trong một sát na, tâm tư có sáu mươi lần sanh diệt.
Trong kinh Đại Bát Niết Bàn, phẩm Ca Diếp Bồ tát, Phật nói: “một hơi thở, một nháy mắt, thọ mạng của chúng sanh có bốn trăm lần sanh diệt.”
Ở đệ nhất nghĩa đế, sát na có nghĩa là vô sanh, như trong kinh Lăng Già:
Tất cả pháp chẳng sanh
Đó là nghĩa sát na
Mới sanh liền có diệt
Chẳng vì kẻ ngu thuyết
* Ngạn thọ tỉnh đằng: Cây bờ dây giếng, dụ cho cái gì bấp bênh, không bền chắc.
Kinh Đại Tập ghi: “Xưa có một người vì tránh hai con voi say, nắm dây chuyền xuống giếng. Dưới có ba con rồng phun lửa dương móng. Người kia liền đeo theo cái dây treo giữa chừng. Trên có hai con chuột một đen một trắng cắn dây gần đứt. Bốn bên có bốn con rắn thò đầu le lưỡi muốn cắn. Người kia ngó lên thì hai con voi đã đứng chực trên miệng giếng rồi. Đang lo âu không biết làm thế nào thoát khỏi cái chết, bỗng có bầy ong bay qua nhễu năm giọt mật vào miệng, người kia nuốt lấy mật ấy rồi quên cả sợ sệt nguy hiểm.
Hai con voi say dụ cho sanh tử, sợi dây ví cho mạng căn. Vào miệng giếng là dụ vô thường. Hai con chuột ví ngày tháng thoi đưa. Bốn con rắn dụ tứ đại. Ba con rồng dụ ba độc. Năm giọt mật dụ cho ngũ dục.

3 – LY GIA THẾ PHÁT

* Bên trong siêng công khắc niệm:
Khắc niệm chẳng phải chận đứng tâm như đắp đê ngăn nước. Chẳng để vọng niệm thao túng tự do, cũng chẳng khởi tâm dẹp nó. Để cho vọng niệm thao túng tự do, ấy là phàm phu, khởi tâm dẹp nó là rơi vào hạ thừa.
Khắc niệm đến mức tuyệt cùng là ở nơi niệm mà vô niệm, vô niệm mà niệm, tùy cơ cảm ứng như trăng với nước, như nước với trăng. Nơi nào có nước là ở đó có trăng và tất cả mặt trăng trong nước đều nhiếp về mặt trăng trên trời:
     Nhứt nguyệt phổ hiện nhứt thiết thủy
     Nhứt thiết thủy nguyệt nhứt nguyệt nhiếp
                                           (Chứng Đạo Ca)
Đạo Ngô bảo chúng:
- Ta đau gần muốn chết, bởi trong tâm có một vật để lâu thành bệnh, người nào vì ta dẹp nó?
Thạch Sương bước ra thưa:
- Tâm vật đều phi, dẹp đó thêm bệnh.
Đạo Ngô khen:
- Lành thay! Lành thay.
Khởi tâm dẹp các tư niệm là bệnh. Ấp ủ các tư niệm cũng là bệnh. Chỉ cần tìm tâm thôi, vì tâm chính là nguồn phát sinh ra các tư niệm này.
* Bề ngoài tỏa đức vô tranh:
Vô tranh tức chẳng sanh tâm tranh đấu, chẳng có ý hơn thua, chẳng thấy lỗi người. Vì chẳng thấy lỗi người nên bề ngoài thường tỏa đức vô tranh.
Lục Tổ nói: “Nếu thầy lỗi lầm người, lỗi mình đến bên tả” (nhược kiến tha nhơn phi, tự phi khước thị tả).
Người tu suốt ngày thường kiểm điểm lỗi mình, ấy gọi là vô tranh.
Bên trong siêng công khắc niệm là nhân
Bề ngoài tỏa đức vô tranh là quả.
Ngài Vĩnh Gia nói: “Lặng lẽ dứt ở trong thảnh thơi bày bên ngoài” (Điềm đạm tức ư nội, tiêu tán dương ư ngoại) là đồng với ý trên.

4 – DANH LỢI BÔN TẦM

* Tỳ kheo: có ba nghĩa Khất sĩ, Bố ma và Phá ác. Có ba trường hợp thành Tỳ kheo:
1) Người chứng Thánh quả vô lậu gọi là pháp tánh Tỳ kheo.
2) Được Phật đương thời gọi Thiện Lai Tỳ kheo thì thành Tỳ kheo gọi là Thiện Lai Tỳ kheo.
3) Chư Tăng hòa hợp đúng pháp, bạch tứ yết ma trao giới Tỳ kheo, đây gọi là Tác Pháp Tỳ kheo.
* Thường trụ: có bốn nghĩa:
1) Thường trụ thường trụ: là những món như phòng, nhà, hoa quả, ruộng vườn v.v… Những vật đây thuộc về chùa, không cho mang đi chỗ khác, không được chia ra bán.
2) Thập phương thường trụ: những vật cúng trong chùa, chúng tăng thường ăn, mười phương Tăng đều được dùng.
3) Hiện tiền hiện tiền: Vật của thí chủ cúng cho chúng tăng có mặt trong chùa, các thầy đây có quyền chung hưởng.
4) Thập phương hiện tiền: các vị xuất gia khi qua đời để lại chút ít vật. Nếu trong chúng Tăng chưa làm phép yết ma thì vật ấy thuộc Thập phương Tăng. Đã làm phép yết ma rồi thì vật ấy thuộc về các thầy có mặt trong chùa.
Hai món đầu gọi là của Tăng Kỳ (của chùa).
Hai món sau gọi là của Hiện tiền Tăng.
* Chỉ thú: diệu chỉ của Đạo.
Người xưa khi chưa nghe được diệu chỉ của Đạo là bôn ba đi thưa hỏi người trên, như ngài Tuyết Phong, khi chưa ngộ đạo phải lận đận ba phen Đầu Tử, chín lần Động Sơn, cuối cùng mới thành đạo ở Nham Đầu.
Luận Ngữ nói: “Quân tử mưu đạo bất mưu thực”. Nhà nho đã vì đạo mà quên ăn như thế, Thích tử chúng ta há vì cơm áo mà xuất gia ư?

GIÁO PHÁP VÔ CHUYÊN:

* Pháp tịch: tên khác của tỳ ni
* Liễu nghĩa thượng thừa:
Giáo liễu nghĩa:                                     Giáo bất liễu nghĩa:
- Phân biệt về thanh                              - Phân biệt về trược
- Phi tâm phi Phật                                 - Tức tâm tức Phật
- Thích hợp với người thượng căn                 - Thích hợp với người hạ căn
- Nghịch tục                                          - Tùy tục
Giáo liễu nghĩa là trì. Giáo bất liễu nghĩa là phạm. Phật địa thượng thừa chẳng trì chẳng phạm nên giáo liễu nghĩa và giáo bất liễu nghĩa đều chẳng dùng.
* Giáo lý chưa từng thao thức
   Huyền đạo rất mực khó vào:
Người từng thao thức về giáo lý thường quên ăn bỏ ngủ, có khi bỏ cả thân mạng. Như Thủ tọa Sơ, vì không đáp được câu hỏi của Động Sơn, một đêm trằn trọc thao thức bỏ ngủ, sáng hôm sau tịch. Câu chuyện như sau:
Động Sơn đến Phần đàm yết kiến Thủ tọa Sơ. Thủ tọa sơ dạy chúng có câu:
     Cũng rất kỳ! Cũng rất kỳ
     Phật giới đạo giới chẳng nghĩ nghì
Động Sơn hỏi:
- Phật giới đạo giới chẳng hỏi, người nói Phật giới đạo giới là ai, xin nói một câu?
Thủ tọa làm thinh không đáp. Động Sơn giục:
- Sao chẳng nói đi?
- Nói chẳng được.
- Nói cũng chưa từng nói, cái gì mà nói chẳng được?
Thủ tọa cũng không đáp. Động Sơn thưa:
- Phật với đạo chỉ là danh tự, sao chẳng dẫn kinh?
- Kinh nói thế nào?
- Được ý quên lời.
Thủ tọa bảo:
- Vẫn còn đem ý kinh đến đầu tâm làm thành bệnh.
- Nói Phật giới đạo giới bệnh lớn nhỏ?
Thủ tọa không đáp được, sáng hôm sau tịch. Thời nhơn gọi Động Sơn là hỏi chết Thủ tọa.
Trường hợp của Thượng tọa Minh sau đây suýt chút nữa là bỏ mạng vì đã từng thao thức với đạo:
Thượng tọa Minh ở Hương Giáo hỏi quốc sư Đức Thiều:
- Ngài Ca Diếp mang y trượng sáu của đức Thích Ca để tại núi Kê Túc chờ ngài Di Lặc ra đời để đem y trượng sáu này khoác vào thân ngàn thước của Đức Di Lặc ứng vào vừa vặn. Chỉ như thân đức Thích Ca cao trượng sáu, thân ngài di lặc cao ngàn thước, như vậy thân phải rút ngắn hay y phải nối dài?
Đức Thiều bảo:
- Ông lại hiểu lấy.
Thượng tọa Minh phủi áo bỏ đi ra.
Đức Thiều bảo:
- Kẻ tiểu nhi! Nếu Sơn Tăng đáp lời ông chẳng phải thì nên có nhân quả, nếu ông đáp phải ta sẽ thấy vậy.
Minh trở về bảy hôm sau thổ huyết.
Khi đó Hòa thượng Phù Quang khuyên:
- Ông phải mau đi sám hối.
Minh liền đi đến phương trượng buồn khóc thưa rằng:
- Xin Hòa thượng từ bi nhận cho con sám hối.
Đức Thiều bảo:
- Như kẻ ngã xuống đât, nhơn đất mà đứng dậy, ta chẳng từng dạy ông ngã hay đứng.
Minh thưa:
- Nếu cho con sám hối, con sẽ trọn đời hầu hạ ngài.
Đức Thiều vì Thượng tọa Minh nói kệ:
Chư Phật đạo bằng nhau
Rõ ràng thấy cao thấp
Thích Ca cùng Di Lặc
Như ấn đóng trên bùn

6 - TỰ CHỦ TOÀN VÔ:
         
Chưa rành kinh luật là nhân
Thâu nhiếp đều không là quả
Đây là do thối thất tâm ban đầu.
Theo kinh Đại Bát Niết Bàn, có năm nhơn duyên làm cho Tỳ kheo thối thất:
Một là thích nhiều việc
Hai là ưa nói chuyện đời
Ba là ham ngủ nghỉ
Bốn là gần gũi người tại gia
Năm là ưa dạo đây đó.
* Uy nghi:
Cái dáng tôn nghiêm làm cho người thấy phải sợ gọi là uy. Nghi: dáng dấp.
Uy nghi là cái dáng dấp nghiêm trang làm cho người ta thấy phải sợ, làm cho sanh lòng tôn kính mà bắt chước theo.
Đại Trí Độ Luận ghi: “Sau khi Phật nhập diệt một trăm năm, có vị Tỳ kheo Ưu Ba Cúc Đa được thần thông A La Hán. Khi Phật còn tại thế, có vị Tỳ kheo ni được gặp Phật năm hai mươi tuổi. Lúc Ưu Ba Cúc Đa đắc A La Hán, bà đã được một trăm hai mươi tuổi. Ngài Ưu Ba Cúc Đa muốn gặp vị Tỳ kheo ni để hỏi về oai nghi của Phật, bèn sai người đệ tử đến báo trước với bà.
Bà dùng bát đựng đầy dầu mè đặt ngay cửa để xem oai nghi của vị A La Hán này ra sao. Ngài Ưu Ba Cúc Đa bước qua cửa, làm đổ một ít dầu mè mà không để ý. Khi đã ngồi yên, ngài liền hỏi về dung nghi của Phật ra sao.
Bà đáp rằng: Khi ấy tôi còn nhỏ tuổi, thấy Phật vào tụ lạc, dân chúng đều đảnh lễ. Tôi thấy Phật quang minh, cũng cúi đầu đảnh lễ. Ngay khi vừa cúi xuống thì chiếc xuyến vàng của tôi rơi lăn vào dưới sàn chỗ Phật ngồi. Phật dùng quang minh chiếu sáng chỗ tối ấy, tôi thấy và lượm lên. Do vậy tôi theo Phật thọ giới Tỳ kheo ni.
Ưu Ba Cúc Đa lại hỏi: Khi Phật còn ở đời, oai nghi lễ phép các Tỳ kheo ra sao?
Bà đáp: Phật cũng có lục quần Tỳ kheo vô liêm sỉ, rất là tệ ác, nhưng oai nghi phép tắc của họ hơn ngài nhiều.
- Làm sao bà biết được?
- Tuy tệ ác như vậy nhưng lục quần Tỳ kheo trong các oai nghi đi đứng ngồi nằm không bao giờ mất phép tắc, cho nên họ đến đây, tôi có để dầu ngoài cửa mà dầu chẳng đổ xuống đất. Ngài tuy được sáu thần thông A La Hán mà không bằng họ.
Ngài Ưu Ba Cúc Đa nghe lời ấy rồi rất xấu hổ. Từ đó về sau nhất tâm cẩn thận. Nhất tâm cẩn thận là tướng của thiện nhơn vậy.

7 – XÚC SỰ BẤT THÔNG:

* Xúc sự diện tường: chạm việc đụng vách có nghĩa gặp việc thì trở ngại, mù mịt chẳng giải quyết được như đối diện với tường vách.
Như Hương Nghiêm Trí Nhàn miệng lưỡi lanh lợi, khi còn ở với Tổ Bá Trượng hỏi một đáp mười. Đến khi bị Quy Sơn hỏi: trước khi cha mẹ sanh, bổn lai diện mục của ông là gì? Lúc bấy giờ Hương Nghiêm mù mịt như đối điện với tường vách.

8 – LÂM CHUNG KHỔ CẢNH:

* Lâm hành huy hoắc: khi đi quay quắt. Giờ phút lâm chung như con cua bỏ vào nước sôi, công phu tu hành muôn phần, lúc này chỉ còn một hai phần.
* Hộc xuyên tước phi: lụa thủng chim bay.
Đại Luận nói: “Con chim chun trong các cái bình, lấy lụa bịt miệng bình lại, lụa rách chim bay đi. Cũng như cái thân ta lúc tan rã, thần thức đi theo nghiệp. Cái bình dụ thân tứ đại, lụa dụ mạng căn, chim dụ thần thức. Thần thức tức tâm thức vậy. Do tâm thức nương nơi nghiệp lành nghiệp ác đời trước mà đến chịu quả báo, như chim nọ chun trong cái bình. Bị nghiệp nó buộc như lụa bịt miệng bình. Quả báo nếu hết rồi, thân phải đi theo nghiệp như lụa thủng chim bay đi. Bởi thức tâm nó buộc bằng dây nghiệp ở trong bình sắc thân mà không chỗ nào chẳng đến. Dây nghiệp chưa dứt, đi rồi phải trở lại. Bình bể dây dứt thì đi không trở lại.

9 - CẢNH SÁCH TƯƠNG THÂN:

* Giam ngôn: phong gói lời nói
* Quý: cuối. Tháng cuối mùa gọi là quý.
- Chánh pháp: Chữ chánh cũng như chữ chứng vậy. Nghĩa là sau khi Như Lai diệt độ, trong một ngàn năm đầu, có người vâng thọ giáo pháp bèn hay tu hành liền được chứng quả.
- Tương pháp: chữ tượng cũng như chữ tợ, nghĩa là cả đời tượng pháp đây cũng có giáo pháp, cũng có người tu hành, giống như đời chánh pháp vậy. Nhưng sau khi Như Lai diệt độ hai ngàn năm, có người vâng lãnh giáo pháp, cũng hay tu hành mà phần nhiều ít ai chứng quả.
- Mạt pháp: Chữ mạt nghĩa là ngọn ngành; nghĩa là sau khi Như Lai diệt độ rồi, sau đời chánh pháp tượng pháp mười ngàn năm giáo pháp để lại trong đời, cũng có người vâng lãnh nhưng chẳng có thể tu hành chứng quả.
Tổ Quy Sơn ra đời (771-853) sau khi Như Lai diệt độ non hai ngàn năm, là cuối thời tượng pháp nên gọi là tượng cuối.

10 - XUẤT GIA CÔNG HẠNH

     * Xuất gia:
     - Cắt ái từ thân, phát đại thệ nguyện thay chúng sanh chịu hết các khổ.
     - Nương gần thiện tri thức, nuôi lớn chánh kiến.
- Lìa hai đầu: phiền não cũng bất khả đắc, Niết Bàn cũng bất khả đắc, cái bất khả đắc đó cũng bất khả đắc, đi vào tam giới như dạo hoa viên, ấy gọi là xuất gia.
Có người nói: “Xuất gia vô gia, xứ xứ gia”, xuất gia là kẻ không nhà, bởi đâu cũng là nhà.
* Phát túc siêu phương: Bước đi bặt dấu, đi vào khắp mười phương thế giới mà chẳng dính mắc phương nào nên gọi là siêu phương, cũng gọi là bặt dấu, bởi chẳng để lại dấu vết, chư Thiên tìm chẳng được, Ba Tuần dò chẳng ra.
Theo Động Sơn, có ba con đường gọi là phát túc siêu phương: huyền lộ, đường chim, xòe tay.
Có vị tăng hỏi:
- Bình thường thầy dạy học nhơn đi đường chim, chưa biết thế nào là đường chim?
Động Sơn đáp:
- Chẳng gặp một người.
- Thế nào là đi?
- Cần phải hạ chân vô sự.
- Đi đường chim có phải là bổn lai diện mục không?
- Xà Lê sao điên đảo.
- Chỗ nào là chỗ con điên đảo?
- Không điên đảo sao nhận giặc làm con?
- Thế nào là bổn lai diện mục?
- Chẳng đi đường chim.
Cần phải tới điền địa này mới gọi là phát túc siêu phương.
Như Thiền sư Vân Cư Đạo Ưng cất am cỏ nơi Tam Phong, cả tuần nhựt không xuống đường. Động Sơn thấy lạ hỏi:
- Mấy ngày nay sao ông không đến thọ trai?
Đạo Ưng thưa:
- Có thiên thần cúng dường mỗi ngày.
- Ông vẫn còn kiến giải. Rồi gọi: Ưng am chủ!
- Dạ!
- Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác là cái gì?
Sư về am lặng lẽ, thiên thần tìm mãi chẳng thấy, trải ba ngày như thế mới thôi cúng dường.
Khi thiên thần tìm mãi chẳng thấy Đạo Ưng, lúc ấy mới gọi là phát túc siêu phương.
Cửu Phong là thị giả của Thạch Sương. Khi Thạch Sương mất, chúng Tăng trong tự viện họp và quyết định chọn vị Thủ tọa làm trụ trì mới. Nhưng Cửu Phong đã đứng lên nói với cử tọa:
- Trước hết chúng ta phải biết rằng Thủ tọa có thực sự hiểu giáo lý của Thầy không đã.
Thủ tọa hỏi:
- Ông định hỏi gì về giáo lý của Thầy?
- Thầy chúng ta thường dạy về bảy “đi thẳng”.
1. Đi thẳng, thôi nghỉ
2. Đi thẳng, buông hết
3. Đi thẳng, thu lạnh nước trong
4. Đi thẳng, muôn năm một niệm
5. Đi thẳng, lò hương miếu cổ
7. Đi thẳng, hương xông gió lặng
Nếu Thủ tọa hiểu nghĩa thật của đi thẳng thì xin ban pháp ngữ, nếu không thì thôi.
Thủ tọa đáp: Một sắc màu, khác cách dùng.
Cửu Phong la lên:
- Đó! Tôi biết ông chẳng hề hiểu giáo lý của Thầy.
- Nếu ông không chấp nhận kiến giải của tôi thì xin đốt một nén hương lên. Nếu tôi không thể chết trước khi hương cháy hết thì tôi xin chịu là không hiểu ý Thầy.
Rồi thì hương được đốt và Thủ tọa bắt đầu ngồi thẳng như một cây gậy. Và kìa, trước khi nén hương cháy hết, vị Thủ tọa đã ngồi mà hóa.
Cửu Phong vỗ vai tử thi, nói:
- Ông muốn ngồi mà tịch hay đứng mà hóa cũng được, còn về ý nghĩa những lời của Thầy, ông vẫn chưa hiểu.
Phải thấy như Cửu Phong kia mới gọi là phát túc siêu phương, Thủ tọa vì còn kẹt nơi danh tướng, trụ ở Nhất tướng nên đối đáp như thế.

11 - NGUYỆN LỰC HÀM TÀNG:

* Ý dục đẳng siêu hà sở: Ý muốn vượt lên ba cõi mà chẳng dính mắc nơi ba cõi.
* Tâm kỳ Phật pháp đống lương: Tâm nguyền trụ cột Phật thừa, kỳ hẹn làm cái gì to lớn cho Phật pháp.
- Thiền sư Nhơn Dũng ở Bảo Ninh đến tham vấn Thiền Sư Minh Giác ở Tuyết Đậu. Minh Giác thầm biết Sư sẽ gánh vác đại pháp, bèn nói cợt Sư là “tọa chủ Anh Tường”. Sư nổi giận xuống núi, trông về Tuyết Đậu làm lễ và thề rằng: “Tôi đời này đi hành cước tham thiền nếu đạo lý chẳng bằng Tuyết Đậu, thề chẳng trở về quê.
Sau này Sư nối pháp Tổ Dương Kỳ.
- Ngài Hiếp Tôn giả tám mươi tuổi mới xuất gia. Những vị Tăng trẻ hỏi ngài: “Việc của người xuất gia, một là tu tập thiền định, hai là học tụng kinh điển, mà ông nay đã già yếu, làm sao tu tiến được?
Tôn giả nghe rồi liền phát thệ: “Tôi nếu không thông ba tạng kinh, không đoạn được ái dục trong ba cõi, không chứng được sáu pháp thần thông và đầy đủ tám món giải thoát, thệ không để hông bén chiếu. Nhờ nguyện lực trên, ngài đắc pháp làm tổ thứ mười.

12 – NGÔN HẠNH TƯƠNG ƯNG:

* Mở lời phải hiệp với tủy kinh:
Lời nói phải đến chỗ rốt ráo tuyệt cùng, dứt mạng căn người học, chẳng rơi bờ mé, chẳng còn vết tích, như chim bay trong không chẳng để dấu, mở bày thật tướng cho người nghe, khiến họ được vào tri kiến của Như Lai.
Như hỏi: “Thế nào là Bồ tát vào pháp môn bất nhị?”, ba mươi mốt vị Bồ tát nơi hội Tịnh Danh đều trả lời theo chỗ thấy của các ngài nhưng chưa vào được chỗ cốt tủy. Chỉ có ngài Duy Ma Cật mặc nhiên vô ngôn, cái im lặng phá thủng nhị biên, mở đường sống cho người.
Bồ Đề Đạt Ma trước giờ lên đường, ngài bèn bảo các đệ tử trình chỗ sở đắc của mình. Bấy giờ ông Đạo Phó bạch:
- Theo chỗ thấy của tôi, chẳng chấp văn tự, chẳng lìa văn tự, đó là chỗ dụng của Đạo.
Tổ nói: “Ông được phần da của tôi”.
Bà Ni Tổng trì bạch:
- Chỗ hiểu của tôi nay như Khánh Hỷ (A Nan) nhìn vào nước Phật A Súc thấy một lần mà không thấy lại được.
Tổ nói: “Bà được phần thịt của tôi”.
Ông Đạo Dục bạch:
- Bốn đại vốn không, năm ấm chẳng thật, chỗ thấy của tôi là không có gì sở đắc hết.
Tổ nói: “Ông được phần xương của tôi”.
Sau cùng đến Huệ Khả, Khả đảnh lễ Tổ rồi cứ thế mà đứng thẳng.
Tổ nói: “Ông được phần tủy của tôi”.
* Luận nói phải nhằm tông cổ đức. Nếu nói không nhằm vào tông của cổ đức, cứ ức tưởng mà nói thì đồng với tà ma ngoại đạo. Muốn nhằm tông, trước phải tâm thông, tâm đã thông rồi thì thuyết mới thông.
Có vị Tăng hỏi Giáp Sơn:
- Thế nào là pháp thân?
Giáp Sơn đáp:
- Pháp thân vô tướng.
- Thế nào là pháp nhãn?
- Pháp nhãn vô tỳ.
Đây là do ức tưởng mà nói.
Đến khi đại ngộ nơi Hoa Đình Thuyền Tử, Giáp Sơn trở về vẫn trả lời như trước. Đây là do kiến địa mà nói. Vì kiến địa mà nói nên nhằm vào tông môn.
Nhưng như thế nào là tâm thông thuyết thông? Lục Tổ nói: “Thuyết thông và tâm thông, như mặt trời giữa không”. Thuyết và tâm cả hai đều quên, rỗng suốt không chỗ nương tựa như mặt trời giữa không, hiển bày trung đạo đệ nhất nghĩa.
Vì mở lời thường hiệp với tủy kinh nên chẳng chống trái với ý Phật. Luận nói lại nhằm tông cổ đức nên chẳng rơi bờ mé của tình thức, chẳng kẹt ngữ ngôn. Quốc sư Trung Phong nói:
Toàn thể không còn chỗ che dấu
Đương cơ chẳng từng kẹt ngữ ngôn

13 - TRẠCH BẠN TƯƠNG GIAO

* Đi xa nương náu bạn hiền
Trú ở phải nên chọn bạn
Các câu này đều nói lên vai trò quan trọng của bạn bè, khi giao du phải rất nên thận trọng. Tục ngữ Việt Nam có câu “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng” cũng đều nói lên ý này.
Kinh Đại Niết Bàn nói: “Đại Bồ tát xem voi ác cùng bạn ác đồng nhau không khác, vì cùng làm hại thân. Đối với voi ác, Bồ tát chẳng sợ bằng bạn ác, vì voi ác chỉ hại thân mà chẳng hại được tâm. Bạn ác thì hại cả hai thức thân và tâm. Voi ác chỉ làm hại một thân, bạn ác có thể làm hại vô lượng thân lành, vô lượng tâm lành. Voi ác chỉ có thể hại thân hôi nhơ, bạn ác có thể phá hoại tịnh thân cùng tịnh tâm. Voi ác chỉ có thể làm hại nhục thân, bạn ác làm hại đến pháp thân. Bị voi ác giết chẳng sa vào ba đường ác, bị bạn ác giết tất sa vào ba đường ác. Voi ác chỉ là kẻ oán thù của thân, bạn ác là kẻ thù của pháp lành. Do đây nên Bồ tát thường phải xa lìa bạn ác”.
Thiền Lâm Bảo Huấn nói: “Người tu học, ở phải chọn nơi, chơi phải lựa người, mới có thể dứt được những điều tà vạy, gần được người trung chính và nghe được lời nói chân chánh. Xưa kia, Phúc Nghiêm Lương Nhã Hòa thượng thường mến chuộng thể cách ngài Chân Như Triết, song chưa biết ngài thường y phụ cùng ai. Một hôm Hòa thượng thấy ngài Chân Như Triết cùng đi với các ngài Đại Ninh Khoan, Tưởng Sơn Nguyên và Thúy Nham Chân. Hòa thượng Lương Nhã vui mừng khôn xiết và thung dung nói với ngài Chân Như Triết: “Các đại sĩ là bậc long tượng trong pháp môn mà tôi may mắn được theo. Ngày sau, chống đỡ sự đổ nát của Đạo ta, làm rạng rỡ  sự lợi ích trong giáo pháp của các Tổ, hẳn không phải là  ở chỗ phó chúc nhiều lần của tôi mà là ở chỗ gương sáng giao bạn của các ngài vậy”.
* Mỗi mỗi trong veo tai mắt:
Sắc chẳng tự nói rằng sắc, thinh chẳng tự bảo rằng thinh, chỉ vì ai kia đã dính mắc vào đó. Nên Tilopa đã nói với đồ đệ của mình là Naropa bên bờ sông Hằng một câu nói lừng danh như sau: “Không phải các tướng đã trói buộc con trong luân hổi mà chính là sự chấp trước đã trói buộc con. Ôi! Chính sự chấp trước đã làm con là Naropa!”
Nếu chẳng chấp trước, các pháp mỗi mỗi hiển bày, mỗi mỗi trong veo tai mắt. Các pháp xưa nay vốn như thế, chẳng can hệ gì đến ta:
Chư pháp tùng bổn lai
Thường tự tịch diệt tướng
Xuân đáo bách hoa khai
Hoàng oanh đề liễu thượng.

14 - DỤC ĐỨC THAO TÂM:

- Thiền sư Vô Nghiệp nói: “Những vị cổ đức xưa, sau khi hội được yếu chỉ bèn cất am tranh hoặc ở thất đá, nấu cơm bằng lò bễ, trải hơn hai ba mươi năm, danh lợi không bận lòng, tiền của chẳng phiền nghĩ, quên hẳn người đời, ở ẩn chốn núi rừng, vua chúa vời chẳng đến, chư hầu thỉnh chẳng đi. Đâu như chúng ta ngày nay, tham danh mến lợi, chìm đắm trong bụi đời như bọn con buôn”.
- Hòa thượng Lại Toản ở trong thất đá nơi Hoành Sơn. Vua Đường Túc Tông nghe danh sai sứ đến triệu thỉnh. Sứ giả đến thất nói to: Thiên tử có chiếu, Tôn giả nên đứng dậy lễ tạ ơn.
Sư bới trong đống tro mò được một củ khoai nướng lột ăn, nước mũi chảy lòng thòng mà không đáp lời sứ. Sứ giả cười nói: Xin Tôn giả chùi mũi đi. Sư nói: Tôi đâu rảnh vì người tục chùi nước mũi. Sư không đi. Sứ giả trở về tâu vua, vua càng kính phục và tán thán.
- Tosui là một thiền sư người Nhật, đã từng ở nhiều ngôi đền và giảng dạy nhiều nơi khác nhau. Ngôi đền và Tosui ở sau cùng quy tụ rất nhiều đệ tử. Tosui bảo với các môn đồ rằng ông sắp bỏ hẳn việc giảng dạy. Tosui khuyên họ giải tán và đi đâu tùy thích. Sau đó không ai thấy bóng dáng của Tosui đâu cả.
Ba năm sau, một đệ tử khám pháp thấy Tosui chung sống với một số người ăn mày dưới một gầm cầm ở Kyoto. Lập tức anh ta khẩn cầu Tosui chỉ dạy.
Tosui bảo: Nếu anh có thể sống được như ta một đôi ngày thì ta dạy cho.
Thế rồi người đệ tử mặc quần áo ăn mày sống với Tosui được một ngày. Hôm sau, một tên ăn mày ngã ra chết, Tosui và người đệ tử nửa đem mang xác chết chôn nơi một sườn núi. Chôn xong hai thầy trò trở lại gầm cầu.
Phần đêm còn lại, Tosui ngủ rất ngon giấc nhưng người đệ tử không thể chợp mắt được. Sáng hôm sau, Tosui nói: Hôm nay chúng ta khỏi phải đi xin đồ ăn, người bạn đã chết để lại một ít kìa!
Nhưng người đệ tử không ăn được một miếng nào. Tosui bảo: Ta đã bảo anh không thể sống như ta được. Hãy cút đi, đừng làm phiền ta nữa.

15 - THIỀN TÔNG YẾU CHỈ:

Yếu chỉ Thiền tông được gói trọn trong các câu: “Chẳng cần để tâm theo vật, tâm đã chẳng theo vật, vật chẳng ngại tâm”.
Sở dĩ chúng ta bị nghiệp lực thắt buộc là vì để tâm theo vật, để cho căn chạm cảnh. Nếu căn chẳng đến cảnh thì làm người giải thoát. Một khi tâm đã chẳng theo vật thì mười phương thế giới chẳng ngăn ngại tâm, nên Bàng Uẩn nói:
Nếu tự vô tâm nơi vạn vật
Ngại gì vạn vật thường vây nhiễu
Trâu sắt không sợ sư tử rống
Giống như người gỗ xem chim vẽ
Người gỗ bổn thể tự vô tình
Chim vẽ gặp người cũng chẳng kinh
Tâm cảnh như như chỉ như thế
Lo gì bồ đề đạo không thành?
Đạt đến vô tâm quả là chuyện không phải đơn giản một đôi ngày có thể làm được. Như phẩm Phạm Hạnh nói “Ví như hột đậu đá, lúc đã khô lấy dùi ghim trọn không dính được. Phiền não đã cứng rắn cũng như vậy, dầu một ngày đêm nhiếp tâm chẳng tán nhưng khó điều phục được”. Vì thế nên phải rất cẩn trọng.
Tông này khó nắm chỗ diệu
Phải trong tơ tóc dụng tâm
Nếu còn vướng chút nhỏ như sợi tơ trong tâm thì chẳng phải đạp đến đất chân thật. Ngài Vô Nghiệp nói: “Bồ Tát học Bát Nhã không được khinh mạn, như đi trên băng, như chạy trên kiếm bén. Khi lâm chung, một mảy tình phàm lượng thánh chưa sạch, chút bụi tư niệm chưa quên, liền tùy niệm thọ sanh.
Hành giả tham thiền đều phải qua ba giai đoạn sau:
Giai đoạn 1:   Tâm ghé bến mầu
                       
                        Soi xét tinh mật
Giai đoạn 2:   Vạch cùng chỗ tột
                       

Giai đoạn 3:   Tỏ suốt nguồn chơn
Tâm ghé bến mầu tức đã được chỗ vào.
Ngài Trần Tôn Túc nói: “Chưa được chỗ vào như đưa ma me. Đã được chỗ vào như đưa ma me”. Như thế, được chỗ vào chưa phải là xong việc mà phải soi xét tinh mật, vạch cùng chỗ tột.
Ngài Hối Đường Tố Tâm, sau khi được chỗ vào ở ngài Huệ Nam, Hối Đường vẫn thường đến thưa hỏi về ngữ cú của Vân Môn. Huệ Nam bảo:
- Biết là việc bên liền thôi, ông dùng nhiều công phu làm gì?
Hối Đường thưa:
- Chẳng thế, con còn có chút nghi, chẳng đến vô học, đâu hay bảy dọc tám ngang xoay trời chuyển đất?
Huệ Nam hứa nhận.
Nếu chưa đến chỗ cùng tột thì chưa triệt ngộ. Chỗ ngộ có sâu có cạn tùy ở sự kham nhận của mỗi hành giả. Có vị đã ngộ đạo ra làm thầy, khai thị cho đệ tử cũng được ngộ đạo, nhưng đệ tử lại ngộ sâu hơn thầy. Đó là trường hợp của thiền sư Pháp Thới Phật tánh, thủ tọa của thiền sư Viên Ngộ ở Tương Sơn.
Một hôm có một vị sư tên là Trung An ở Linh Nham đến thưa hỏi Phật Tánh, liền nhận được yếu chỉ. Có lần Trung An đến tăng đường dâng thơ thăm hỏi thủ tọa Phật Tánh. Thủ tọa hỏi:
- Giấy trắng huyền sa đây từ đâu lại?
Trung An thưa:
- Yếu này lặng lâu chẳng cần nói gấp. Ngày nay bái trình mong một phen xem.
Thủ tọa liền hét:
Trung An thưa: Tác gia!
Thủ Tọa lại hét.
Trung An lấy thơ liền đánh.
Thủ Tọa suy nghĩ.
Trung An thưa:
Chưa rõ ba tám chín
Chẳng khỏi tự trầm ngâm
Trung An lấy thơ lại đánh một cái, nói
- Khi tiếp, Viên Ngộ cùng Phật Nhãn thấy.
Viên Ngộ bảo:
Đánh thủ tọa ta chết rồi!
Phật Nhãn bảo:
- Quan coi ngựa, kẻ chặt củi, có bằng cớ gì?
Trung An thưa:
- Nói gì là quan coi ngựa kẻ chặt củi, chính là long tượng dày xéo.
Viên Ngộ gọi Trung An đến nói:
- Ông vì  sao đánh thủ tọa năm trăm chúng của ta?
Trung An thưa:
Hòa thượng cũng phải ăn một thoi mới được.
Viên Ngộ nhìn Phật Nhãn le lưỡi.
Phật Nhãn nói: Chưa phải.
Rồi nhìn Trung An nói: “Tay không cầm cây cuốc, thả bộ ngồi lưng trâu, người qua lại trên cầu, cầu trôi nước chẳng trôi” ý thế nào?
Trung An cúi mình thưa:
- Chỗ cúng đều là đến thật.
Phật Nhãn cười nói:
- Xưa nay là người trong thất.
Đến như Trung An kia mới gọi là tỏ suốt nguồn chơn. Việc này phải có thầy ấn chứng mới được. Đời nay có người tự cho mình đã ngộ rồi đi ấn chứng cho người này người kia, đây là trái lắm vậy.
Lục Tổ ngộ đạo khi còn là cư sĩ, còn phải đến Tổ Hoằng Nhẫn để cầu ấn chứng. Vĩnh Gia Huyền Giác ngộ đạo nhơn xem kinh Duy Ma, còn phải đến Lục Tổ cầu ấn chứng Tông môn phải có sự truyền thừa, tức là sự ấn chứng của Thầy. Đời nay, kiếm một vị để ấn chứng cho chỗ thấy của mình thật khó gặp, đây chính là mạt pháp vậy.
Ba giai đoạn trên đây cũng tương tự như ba cửa ải của Tổ Hoàng Long. Người tham thiền phải đi suốt qua ba cửa ải này. “Gặp Phật giết Phật, gặp tổ giết Tổ, gặp La Hán hoặc họ hàng đều giết sạch” mới được làm người tự tại thoát khỏi lưới ma.
Tùng Duyệt Đâu Suất đến lễ thiền sư Thanh Tố, Tố đứng tránh nói:
- Tôi do phước mỏng, tiên sư thọ ký chẳng cho vì người. Duyệt càng thêm cung kính. Tố bảo:
- Vì thương lòng thành của ông, trái lời ký của tiên sư. Ông bình sanh sở đắc như thế nào?
Duyệt thưa đủ sở kiến. Tố bảo:
- Khả dĩ vào Phật mà không thể vào ma.
Duyệt thưa:
- Vì sao?
- Há chẳng thấy cổ nhân nói: “Một câu rốt sau mới đến lao quan”. Trải mấy tháng sau, Tố mới ấn khả cho. Khi Tố chưa ấn khả, Duyệt chỉ ở vào các giai đoạn 1, 2 ở trên mà thôi.
* Pháp tánh: tức là cảnh vật. Tâm không khởi vọng, mỗi pháp toàn chơn, ở loài hữu tình gọi là Phật tánh, ở loài vô tình gọi là pháp tánh.
* Mạc đoạn mạc tục: chẳng xua đuổi nó cũng chằng dính mắc theo nó nên gọi là chẳng xua chẳng mắc. Bởi vì sao? Bởi vì pháp tánh vốn không, khởi tâm trừ khử xua đuổi nó là quấy, là rơi vào hang ổ ngoại đạo, mà dính mắc theo nó tiếp tục mãi như thế là đồng với phàm phu, luân chuyển tam đồ, nên nói mạc đoạn mạc tục.
* Giá biên na biên: bên này bên kia hay nói đây đó mọi bên. Người tham thiền đến trình độ nghe thinh thấy sắc thảy đều bình thường rồi thì mỗi mỗi đều từ nơi hông ngựa lưu xuất, đến điền địa này toàn lý là sự, toàn sự là lý. Vì toàn lý là sự nên chẳng nói sự nói lý. Vì toàn sự là lý nên chẳng nói lý nói sự. Như trái bầu nổi trên mặt nước tự do xoay chuyển bên này bên kia đều được tự tại nên gọi là giá biên na biên ứng dụng bất khuyết.

16 - GIẢI THOÁT TẤT THÀNH:

Tổ Quy Sơn nói: “Đời đời nếu không lui sụt” cũng như trong kinh nói “Chế tâm nhứt xứ”. Quả Phật quyết định có kỳ thì trong kinh nói “Vô sự bất biện”.
Vì vô tâm cho nên không lui sụt.
Vì không lui sụt chỉ có ở vô tâm.
Vì vô tâm nên hồn nhiên trôi vào biển Bát Nhã, gọi là quả Phật quyết định có kỳ.
Phần nhiều chúng ta buông mà buông không được hết, không nghĩ thiện thì nghĩ ác, chẳng được vô tâm nên giải thoát khó thành. Nếu buông được hết, chẳng nghĩ thiện chẳng nghĩ ác, dứt hẳn vọng duyên, độc thoát căn trần thì liền như Phật không khác:
Ngoại tức chư duyên
Nội tâm vô đoan
Tâm như tường bích
Khả dĩ nhập đạo.
* Tam giới: Dục giới, sắc giới, vô sắc giới (xem đồ biểu).
* Nhị thập ngũ hữu:
Dục giới:          3
Sắc giới:         18
Vô sắc giới:      4
Tổng cộng      25 cõi
8 cung trời (từ tứ thiên vương đến phi tưởng phi phi tưởng (xem đồ biểu).
19 - HUYỀN MÔN VÔ LỘ:
 Ngài Viên Ngộ nói: “Người học đạo cần như anh hài. Vinh nhục công danh, nghịch tình thuận cảnh trọn động nó không được. Mắt thấy sắc cùng mùi đồng, tai nghe tiếng cùng điếc đồng, như ngu như ngốc, tâm chẳng động như núi Tu Di. Cái này là chỗ thiền khách chơn thật đắc lực. Cổ nhơn nói: “Trùm chăn phủ đầu muôn sự thôi”. Khi này sơn tăng trọn chẳng hiểu. Nếu hay như thế mới có ít phần tương ưng. Tuy nhiên như thế, dù cho một điểm cũng chẳng lừa được y. Núi như xưa là núi, sông như xưa là sông, không được tạo tác không duyên lự. Như mặt trời mặt trăng vận hành trong hư không chẳng từng tạm nghỉ, cũng chẳng nói ta có bao nhiêu danh tướng. Như trời che khắp, tợ đất chở khắp. Vì không tâm nên trưởng dưỡng vạn vật, cũng chẳng nói ta có bao nhiêu công hạnh. Trời đất vì không tâm nên trường cửu, nếu có tâm chắc có chừng hạn.
Người đắc đạo cũng lại như thế, ở trong cái không dụng mà bày công dụng tất cả nghịch tình thuận cảnh đều dụng từ tâm nhiếp thọ. Đến trong đây cổ nhơn còn quở trách, nói:
Liễu liễu khi liễu vô sở liễu
Huyền huyền chỗ huyền còn phải rầy.
Lại nói:
Vào thánh siêu phàm chẳng tạo thinh
Rồng nằm hằng sợ suối trong xanh
Người đời nếu được hằng như thế
Đại địa đâu từng để một tên
Song tuy thế ấy lại phải nhảy ra khỏi sào huyệt mới được.

18 – TRUNG CĂN THỌ PHÁP:

* Bối diệp: tức tam tạng kinh điển. Phạn ngữ gọi là Bối đa la, Tàu gọi cây ngạn ảnh, cây này giống như cây kè, thẳng và cao, lá dài rộng trơn mịn. Bên Tây Trúc khi tả kinh thường lấy lá cây này mà chép nên gọi Kinh Bối đa la hay kinh Bối diệp.
* Trung lưu chi sĩ: Phật tánh vốn không có thượng hạ cao thấp, chỉ vì người nhận được sai khác chẳng đồng nên thành ra có bực thượng bực trung.
Sở dĩ có sự nhận được sự sai khác chẳng đồng do vì tâm chúng sanh nó vốn khiếp nhược, như gã cùng tử chẳng dám nhận gia tài của Trưởng giả giao phó mà cam chịu làm nghề hốt phân. Trưởng giả thấy con như thế, lòng ông thương xót ngại ngùng.
“Một ngày nọ, đứng trong cửa sổ nhìn ra thấy con ông thân thể ốm gầy, quần áo bẩn thỉu nhơ nhớp, ông liền cởi chuỗi anh lạc, thay quần áo rách rưới, bưng thùng hốt phẩn đến nói với các người làm công rằng: Các ông siêng làm, chớ có lười biếng. Dùng phương tiện ấy để gần gũi con ông. Khi đã quen thân, ông mới bảo: Này cháu, tốt lắm! Cháu nên ở đây chớ đi nơi khác, bác sẽ trả thêm tiền công vừa theo ý muốn của cháu. Bác như cha của cháu, chớ nên suy tính. Vì sao? Vì bác tuổi đã già, còn cháu thì không có lười trễ. Từ nay về sau bác nhận cháu là con.
Bấy giờ gã cùng tử tuy gặp việc vui mừng chưa từng có, nhưng vẫn cho mình là khách và làm công hèn, nên suốt hai mươi năm vẫn nhận việc hốt phân như cũ. Hai mươi năm sau, gã cùng tử quen dần, ra vào tự tại nhưng chỗ ở vẫn y như cũ. Một ngày kia ông trưởng  giả có bịnh, tự biết mình còn sống chẳng bao lâu, bèn đem vàng bạc châu báu, kho tàng giao phó hết cho gã cùng tử và bảo rằng: “Cha nay với con không khác, con phải  cố tâm giữ gìn, chớ để sót mất”. Gã cùng tử nhận lời, nhưng chỗ ở vẫn y như cũ, tâm hạ liệt vẫn hết.
Ngày qua tháng, ông trưởng giả sắp mạng chung, gọi con lại và hội cả trong thân tộc quốc vương, đại thần trong dòng vua chúa và các cư sĩ đều có mặt đông đủ. Ông trưởng giả tuyên bố: “Các người nên biết, gã này là con ta, ta sanh nó ra tại trong thành này nhưng nó bỏ ta đi hoang, trải qua hơn năm mươi năm chịu nhiều cay đắng. Sản nghiệp của ta hôm nay giao hết cho nó”. Khi đó gã cùng tử rất đỗi vui mừng và tự nghĩ: Ta thật không có ý mong cầu của báu này tự nhiên đến”.
Ông trưởng giả dụ cho Phật. Gã cùng tử dụ cho chúng sanh bỏ cha đi hoang, trái giác hợp trần. Làm nghề hốt phân dụ cho kẻ hạ tiện bỏ quên kho báu. Tâm hạ liệt ví như lưu chuyển theo trần cảnh. Cha nay với con không khác ý nói Phật và chúng sanh không hai không khác, bình đẳng tột cùng, chẳng thượng chẳng hạ. Ta thật không có ý mong cầu mà của báu này tự nhiên đến cũng như nói vô tâm thì thoát thể hiện thành.
Nhận được chỗ vô tâm ấy rồi thì chẳng nói thượng lưu trung lưu chi hết mà suốt đời phong lưu: “Quen thói phong lưu chẳng phải vay”.

19 - HỐI THÚC TIẾN TU:

Thời giờ như bóng câu qua cửa sở, được thân người như cát dính móng tay. Vì thế ngài Y Am thiền sư mỗi khi trời ngã bóng về chiều, ngài sa nước mắt than: “Ngày nay vẫn chưa được gì, ngày mai chưa biết công phu ra sao!” Ở trong Tăng chúng không bao giờ ngài thốt ra lời vô ích.
Của mười phương tín thí thật khó tiêu. Nếu ngộ được bổn tâm, mỗi ngày tiêu muôn lượng vàng ròng. Nếu không dù một hột cơm một giọt nước cũng phải nhiều phen đền trả.

20 – TÔN TRỌNG LINH TÁNH:

* Trượng phu: người trí, là hiền thánh đắc đạo. Ngài Tuyết Đường nói “khí thắng chí là tiểu nhân, chí thắng khí là đoan nhân chính sĩ, khí và chí ngang nhau là hiền thánh đắc đạo”. Kẻ gọi là trượng phu thì khí và chí phải bằng nhau.
Phẩm Phạm Hạnh nói rằng “tất cả nam nữ nếu đủ bốn pháp thì gọi là trượng phu: Một là gần gũi thiện tri thức, hai là nghe pháp, ba là tư duy pháp, bốn là y pháp tu hành”
* Bỉ ký trượng phu ngã diệc nhĩ: câu này có hai nghĩa. Thứ nhất là để khuyến khích người học đạo, ai kia đã làm được thì ta cũng làm được. Thứ hai, phải hiểu rằng ngã đây tức Phật tánh, người kia làm Phật được, ta cũng làm Phật được, đã là Phật rồi thì tướng ngã đâu còn? Nhưng tướng chân thật của ngã như thế nào?
Phẩm Như Lai tánh nói: “Ví như hai người làm bạn thân nhau, một người là vương tử, một người là dân hèn, hai người đó thường qua lại với nhau. Lúc đó người nghèo thấy vương tử có một con dao tốt, trong lòng thích muốn. Thời gian sau vương tử mang dao trốn qua nước khác. Một hôm người dân hèn ngủ nhờ nhà người khác, trong giấc ngủ mơ nói con dao! Con dao! Người nhà nghe được bắt nộp vua. Vua gạn hỏi: Nhà ngươi nói con dao, nay ở đâu? Người dân bèn thuật rõ việc trước. Nay nhà vua giết thần, banh xẻ tay chân cũng không thể tìm được con dao. Thần cùng vương tử vốn là bạn thân, trước kia dầu tận mắt thấy được con dao nhưng còn không dám chạm đến, huống lại cố ý lấy.
Vua lại hỏi: Lúc nhà ngươi thấy dao hình dạng giống thứ gì?
Người dân thưa: Tâu Đại vương, thần thấy con dao ấy giống như sừng dê đen.
Vua nghe xong vui mừng cả cười, bảo rằng: Nhà ngươi chớ sợ, ta tha cho ngươi. Trong kho tàng của ta đều không có thứ dao ấy, huống là ngươi thấy con dao nơi vương tử.
Lúc đó nhà vui lại hỏi các quan: Các khanh từng thấy con dao đó chăng? Nói xong vua liền băng hà. Triều thần liền lập vương tử khác lên làm vua.
Tân vương lại hỏi các quan: Các khanh từng thấy con dao đó chăng? Hình dáng nó như thế nào?
Các quan đồng tâu: Chúng thần từng thấy hình nó như sừng dê đen.
Vua nói: Trong kho tàng của ta làm gì có thứ dao hình dạng như vậy.
Lần lượt bốn vị tân vương tra tìm con dao ấy đều chẳng đặng.
Sau đó vị vương tử đào vong ngày trước trở về nước, được tôn làm vua, khi lên ngôi xong, tân vương này lại hỏi các quan: Các khanh thấy con dao đó chăng? Hình dạng nó như thế nào?
Các quan tâu: Chúng tôi đều thấy. Rồi đua nhau trình bày hình dáng của con dao. Người thì nói sắc dao thanh tịnh như hoa sen xanh. Người thì lại nói như sừng dê. Người thì lại nói dao màu hồng đỏ như lửa. Người thì nói dao đen tuyền như rắn đen.
Nhà vua cả cười bảo: Các khanh đều chẳng thấy biết hình dáng thật con dao của ta.
Này thiện nam tử! Bồ Tát xuất hiện nơi đời nói tướng chân thật của ngã cũng như vậy. Nói xong bỏ đi, như vương tử mang con dao trốn qua nước khác.
Người phàm phu ngu mê cho rằng tất cả đều có ngã. Như người dân hèn ngủ nhờ nhà người khác, mơ nói con dao! Con dao!
Hàng Thanh Văn, Duyên Giác hỏi các chúng sanh tướng của ngã như thế nào? Đáp rằng: Tôi thấy tướng ngã lớn bằng ngón tay cái. Có kẻ nói như hột gạo. Có kẻ nói như hột cỏ. Cũng có kẻ nói tướng của ngã ở trong tâm, sáng rỡ như mặt trời.
Những chúng sanh đó đều chẳng biết tướng ngã, như các quan chẳng biết hình dáng của con dao.
Bồ tát nói tướng trạng của ngã, hàng phàm phu chẳng rõ biết, vọng tưởng ra các hình tướng của ngã, nhưng những người nói hình dáng của con dao giống như sừng dê đen.
Các hạng phàm phu đó tuần tự nối nhau mà sanh những tà kiến.
Vì dứt những tà kiến đó nên đức Như Lai hiện ra đời, nói pháp vô ngã. Vương tử bảo các quan: trong kho tàng của ta không có thứ con dao như vậy.
Này thiện nam tử! Hôm nay đức Như Lai nói ngã chơn thật gọi là Phật tánh. Phật tánh như vậy ở trong Phật pháp của ta, như con dao tốt kia”.
Đoạn kinh văn trên, vương tử mang dao trốn qua nước khác dụ cho người đã kiến tánh, nắm chắc con dao trong tay, thấy được tướng chơn thật của con dao. Người dân hèn cùng các quan dụ cho những người còn mê chấp, chạy theo sắc tướng, đâu biết đây là tướng huyễn hóa, chẳng phải tướng chơn thật của ngã. Tiên vương là chủ kho tàng, dụ cho người đã kiến tánh. Nói xong liền băng hà là để cho triều thần mỗi người tự khám phá con dao của mình. Bởi tiên vương có nói ra, đó là phần của vua, đâu có ích gì cho triều thần.
Bốn tân vương dụ cho tứ ma: tử ma, thiên ma, ngũ ấm ma và phiền não ma. Vì trong lòng đã ma mị như thế nên tìm Phật chẳng được.
Như vậy tướng chân thật của con dao chỉ có hai người thấy là tiên vương và vương tử đào vong. Rủi thay, một người băng hà một người đào vong. Bọn triều thần còn lại một bề chạy theo thinh sắc, chẳng bao giờ thấy được tướng chân thật của con dao, nên tân vương sau khi về nước đã nói rằng: Các khanh đều chẳng thấy biết hình dáng thật con dao của ta.

21 – HƯNG PHẤN TINH THẦN:

* Dứt ý quên duyên:
Nghĩa của dứt ý quên duyên chẳng phải là chận đứng vọng niệm. Người tham thiền chẳng chạy theo vọng niệm, cũng chẳng chận đứng vọng niệm. Chạy theo vọng niệm là phàm phu, chận đứng vọng niệm là hạ thừa. Giáo chủ Kỳ Na giáo trong khi nhập định, năm trăm cổ xe lớn đi ngang qua mà chẳng hay biết. Phật pháp chẳng phải lý này.
Hãy nghe Tào Sơn hỏi Tăng: Bồ tát trong định nghe voi lớn qua sông rõ nàng, là xuất phát ở kinh nào? Tăng thưa: Kinh Niết Bàn. Tào Sơn hỏi: Trước định nghe hay sau định nghe? Tăng thưa: Dòng Hòa thượng vậy. Tào Sơn nói: dưới bãi tiếp lấy.
Được như giáo chủ Kỳ Na giáo kia cũng chỉ là ngâm nước chết, là vào hầm sâu giải thoát đen ngòm, đoạn hột giống Phật, che lấp bổn tâm, mê mờ tánh giác.
Ở trong định mà chẳng bị rượu tịnh chấp làm say chìm gọi là dứt ý quên duyên. Ở trong trần mà chẳng theo trần vọng tác nên gọi la hòa quang đồng trần. Như chim bay ngang qua hồ, hồ không có ý soi bóng chim bay ngang. Thế nhưng đâu phải không có hình chim trong hồ, cũng chẳng nói có hình chim trong hồ, hữu vô đều chẳng dùng gọi là dứt ý quên duyên.
* Tâm không cảnh tịch:
Tâm xưa nay vốn chẳng dính mắc vào trần cảnh, thênh thang vô ngại nên gọi là tâm không.
Cảnh xưa nay vốn chẳng khuấy động người, bởi cảnh vốn thường lặng nên gọi là cảnh tịch.
Vì chẳng rõ lý này mà lầm chấp gió động phướng động, chẳng hay tâm động. Nếu ngay đây biết đường về, gió phướng tự gió phướng, tâm thể tự tâm thể, gió phướng chẳng tự gió phướng, tâm thể chẳng tự tâm thể, gió phướng chẳng rời tâm thể, tâm thể chẳng rời gió phướng, ấy là tâm không cảnh tịch vậy.
Tâm thể tự tâm thể bởi tâm thể đâu hay dính mắc.
Gió phướng chẳng tự gió phướng bởi gió phướng chẳng thể tự thành.
Tâm thể chẳng tự tâm thể bởi tâm thể nhơn gió phướng mà hiển lộ.
Tổ Tăng Xán nói:
Lục trần bất ác
Hoàn đồng chánh giác
Trí giả vô vi
Ngu nhơn tự phược.
Trí giả vô vi tức là tâm không
Lục trần bất ác tức là cảnh tịch.
Nếu rõ được như thế thì hoàn đồng chánh giác - Nếu chưa được như thế thì không dây tự trói.

22 - NGHIỆP CỦA NAN ĐÀO:

* Cưỡng tác chủ tể: cố gắng làm chủ. Người tu đến địa vị làm chủ được mình đã là khó lắm rồi. Chiến đấu trăm trận trăm thắng không bằng làm chủ được mình. Thật khó thay! Thế mà vẫn bị các Thiền sư quở trách.
Nam Viện hỏi Phong Huyệt:
- Hạ này ở đâu?
Phong Huyệt thưa:
Đồng qua hạ với thị giả Khoách ở Lộc Môn.
- Kia nói với ông điều gì?
- Trước sau chỉ dạy con một bề làm chủ.
Nam viện liền đánh đuổi ra khỏi phương trượng, nói: Nếu như thế cũng chỉ là loại bại trận, có dùng được gì?
Thế mới biết còn làm chủ tể tức là chưa buông được hết vậy. Bởi nếu buông hết rồi thì vật ngã nhất như, còn nói gì làm chủ nữa:
Diệu hữu chơn không bổn thị đồng
Vật ngã nhứt như chơn pháp hữu
Dạ lan đạo thính huyền trung hữu
Nhậm giao hàn nguyệt chiếu xuân phong.
                                           (Khương Du)
* Nghiệp quả sở khiên thành nan đào ty.:
Khi nghiệp quả đã lôi thì khó mà chạy trốn. Kinh nói: “Chẳng phải bay lên không trung, chẳng phải lặn xuống đáy bể, chẳng phải chui vào hang núi, dù tìm khắp thế gian này, chẳng có nơi nào trốn khỏi ác nghiệp đã gây”. Như vậy chúng ta phải làm thế nào?
Phật dạy: “Phải quan sát tất cả phiền não hữu lậu và nhơn của hữu lậu. Vì người trí nếu chỉ quán hữu lậu mà chẳng quán nhơn của hữu lậu thì không thể dứt các phiền não. Vì người trí quán sát hữu lậu do nhơn này mà sanh, nay ta dứt nhơn này thời lậu chẳng còn sanh. Như y sư trước trừ nhơn của bịnh thời bịnh chẳng còn. Do đây nên người trí trước phải quán sát nhơn, kế đó quán sát quả báo, biết rằng từ nhơn lành sanh ra quả lành, từ nhơn ác sanh quả ác. Khi rõ biết quả báo rồi thời xa lìa nhơn ác. Lại phải quán phiền não nhẹ hay nặng, trước lìa phiền não nặng thời phiền não nhẹ tự mất”.

23 – PHÁP LỮ ĐỒNG NĂNG:

* Pháp lữ: bạn pháp, bạn nương nhau để học đạo.
Thời Tống có hai người bạn, một người tên Đạo Khiêm, học Thiền đã nhiều năm nhưng chưa nhập lý. Được phái đi hành cước phương xa, ông tỏ vẻ thất vọng. Một cuộc viễn du kéo dài đến sáu tháng trời chắc rằng sẽ là một chướng đạo hơn là trợ đạo cho ông. Một ông bạn đồng môn tên là Tông Nguyên thấy thương hại bèn nói: “Tôi sẽ theo ông trên đường hành cước, sẽ làm những gì có thể làm được giúp ông. Thế rồi cả hai lên đường.
Một đêm kia, Đạo Khiêm tuyệt vọng, nài nỉ người bạn đường giúp ông vén màn bí mật của vũ trụ và nhân sinh. Tông Nguyên đáp: “Tôi sẵn sàng giúp ông bất cứ gì, nhưng có năm điều tôi không thể giúp ông được, tự ông phải đảm đương lấy.
Đạo Khiêm xin cho biết là những điều gì. Ông bạn đáp:
Chẳng hạn như khi ông mặc áo ăn cơm thì tôi không thể ăn mặc dùm ông được, ông phải tự mình ăn mặc lấy. Khi ông mắc ỉa mắc đái ông phải tự mình lo liệu, tôi không thể làm thay ông. Sau hết chính là ông, không thể ai khác, phải mang cái thây thúi của ông trong suốt khoảng đường dài.
Khi nghe những lời trên, Đạo Khiêm bỗng nhiên sáng tỏ. Bấy giờ Tông Nguyên mới nói rằng công quả của ông nay đã tròn, từ nay sự đi chung chẳng cần nữa. Thế rồi hai người chia tay.
Bạn pháp như thế thật hiếm có vậy.

24 – TAM GIỚI MỘNG HUYỄN:

* Huyễn thân:
Nhà mộng hoa đốm là dụ cho thân huyễn. Nhà mộng do ngủ mê mà có, hoa đốm do nhặm mắt mà sanh. Mạng căn vốn không, tứ đại giả hợp nên gọi là huyễn.
Như nhà huyễn thuật lấy cây cỏ làm hình nộm, cũng cử động đi đứng như người, xanh vàng đỏ trắng mỗi mỗi đều bày ra. Nếu thâu cái huyễn kia thì các hình nộm chẳng còn. Chúng sanh vì lầm chấp các hình nộm xanh vàng đỏ trắng này mà lăn lóc ba cõi.
Thiền sư Pháp Diễn vào thành, thấy một hàng rào trong là người gỗ, liền lại gần xem. Hoặc thấy đẹp đẽ kỳ lạ, hoặc thấy xấu xa vô kể, chuyển động đi ngồi, xanh vàng đỏ trắng mỗi mỗi thấy rõ. Khi xem kỹ vốn là những miếng vải xanh bọc lại, bên trong có người. Pháp Diễn không thể chịu nổi bèn đến hỏi: - Ông tên gì? Kia nói: - Hòa thượng già xem là xong, hỏi tên làm gì? Đại chúng! Lão tăng bị kia hỏi một câu khiến không lời có thể đáp, không lý có thể bày. Lại có người vì sơn tăng nói được chăng?
Hôm qua trong ấy rơi cành
Ngày nay trong đây nhổ gốc.
Thấy được chỗ cùng tột của cái huyễn này, tưởng không ai bằng Bàng Uẩn, trước khi thị tịch đã an nhiên nói kệ:
Không hoa lạc ảnh
Dương diệm phiên ba.
* Vô minh: mờ ám đối với lý với sự gọi là vô minh.
- Căn bản vô minh: vô minh nơi lý.
- Chi mạt vô minh: vô minh nơi sự.
Một niệm chưa động gọi là căn bản vô minh, cũng gọi là vô thỉ vô minh.
Một niệm đã động gọi là chi mạt vô minh, cũng gọi là nhất niệm vô minh.
Khi tâm đã thông thì phá sạch hai thứ vô minh trên.
Tham thoại đầu tức tham chỗ một niệm chưa động. Nhìn thẳng vào vô thỉ vô minh tức nhìn chỗ một niệm chưa động. Một niệm chưa động ấy là thoại đầu. Một niệm đã động ấy là thoại vỹ. Nói thoại đầu thoại vỹ đều là vô minh, hãy nói một câu thoát khỏi vô minh xem?
Đèn đốt dưới lòng sông
Gà bươi đầu cột phướng

25 - NIẾT BÀN TỊCH TĨNH:

* Tâm cảnh đều quên
Chẳng ghi chẳng nhắc
Cũng đồng với Tứ tổ nói: “Nhứt thiết bất lưu vô khả ký ức, hư minh tự chiếu bất lao tâm lực”.
Ngài Bàn Sơn cũng nói: “Trăng tâm tròn vìn, sáng trùm vạn tượng, sáng không chiếu cảnh, cảnh cũng chẳng còn, sáng cảnh đều quên, lại là vật gì?”.
Pindola, một nhà sư Nhật Bản, khi mang bình bát đi khất thực. Bấy giờ có một thanh niên bịnh cùi đem cơm ra bố thí, chẳng may ngón tay cùi của chàng rơi luôn vào trong bình bát của nhà sư. Pindola về đến tịnh thất. Giờ thọ thực cùng chúng thọ trai. Nhà sư đã bình lặng ăn luôn ngón tay cùi. Trước đây rất lâu xa, người viết có làm thơ tán thán Pindola như sau:
Ăn luôn cả ngón tay cùi
Bát cơm bố thí không người không ta.
Chân Đại đức Pindola
Nghìn sau vang động pháp tòa Tịnh Danh
Tâm cảnh cu quyên tức tâm cảnh cả hai đều chẳng còn, chẳng dính tâm cũng chẳng mắc cảnh, trong ngoài nhứt như, một vật cũng chẳng vướng
Xưa có một vị tăng hỏi ngài Triệu Châu:
- Khi một vật không đem đến thì thế nào?
Triệu Châu đáp:
- Buông hết xuống!
- Một vật không đem đến, buông xuống cái gì?
- Buông không được thì gánh lên.
Tâm cảnh đều quên là đến điền địa này.
* Sáu căn an nhiên
   Đến đi lặng tắt
Là đồng với Chứng Đạo Ca nói.
“Hành diệc thiền tọa diệc thiền
Ngữ mặc động tịnh thể an nhiên.”
Vì thể an nhiên nên “vô sở tùng lai diệc vô sở khứ”, đến mà chưa từng cất bước, đi mà chẳng từng dời gót, sáu căn an nhiên vắng lặng nên Tổ Từ Minh nói “chết cổi áo trời hạ, sanh đắp mền trăng đông”.
Vì sáu căn an nhiên nên thường ly thế sự. Vì đến đi lặng tắt nên bầu bạn cùng trăng mây.
Chọn nơi xa vắng hợp lòng quê
Quanh năm mặc khách đến hay về
Có khi lên thẳng đầu non nguyệt
Cất tiếng cười dòn vọng sơn khê
Đó là Thích sử Lý Tường làm thơ tặng ngài Dược Sơn, nguyên văn như sau:
Tuyển đắc u cư hiệp dã tình
Chung niên vô tống diệc vô nghinh
Hữu thời trực thướng cô phong đảnh
Nguyệt hạ phi vân tiếu nhất thinh.
                             (Lý Tường)
Và đó cũng là tâm trạng của Đại Mai pháp thường
Cây khô nép lạnh rừng dài
Xuân qua mấy độ chẳng thay tấc lòng
Khách tiều gặp chẳng buồn trông
Người thành thôi chớ nhọc lòng tìm nơi
Lá sen kết áo che trời
Hoa tùng lót dạ nở ngời chân mây
Thế nhân đã đến nơi này
Thì thôi lại chuyển am gầy lên non.
Toàn văn như sau:
Tồi tàn khô mộc ỷ hàn lâm
Kỷ độ phùng xuân bất biến tâm
Tiều khách ngộ chi du bất cố
Dĩnh nhơn na đắc khổ truy tầm
Nhất trì hà diệp y vô tận
Sổ thụ tùng hoa thực hữu dư
Cương bị thế nhân tri trú xứ
(Đại Mai Pháp Thường)
* Một tâm chẳng sanh
   Muôn pháp đều bặt.
Lục tổ nói: “Na già thường tại định
                   Không lúc nào chẳng định”.
là tóm thâu toàn bộ ý của nhứt tâm bất sanh.
Ta và pháp giới không hai không khác là nhất. Một niệm chẳng sanh sáng trùm vạn tượng là tâm.
Ta và pháp không hai không khác, chẳng sanh một niệm, sáng tỏ tột cùng gọi là nhứt tâm.
Thói thường, ta không nghĩ thiện thì nghĩ ác. Đâu biết rằng thiện ấy cũng chính là ta, ác ấy cũng chính là ta. Diêm Vương cũng chính là ta, Niết Bàn cũng chính là ta nên Niết Bàn chẳng say đắm ta. Tất cả chúng sinh và ta không hai không khác. Vì tất cả chúng sinh và ta không hai không khác nên độ vô lượng vô số vô biên chúng sinh mà không có chúng sinh nào được độ. Sở dĩ có một phiền não nổi lên bởi vì còn thấy rằng ta và phiền não là hai mặt đối địch. Nếu thấy chắc thật ta chính là phiền não ấy thì phiền não đặt ở chỗ nào? Các nhà dâm cũng chính là ta, các quán rượu cũng chính là ta thì mười phương pháp giới đặt để chỗ nào? Mười phương pháp giới không có chỗ để nên nói vạn pháp cu tức.
Điều này đánh đổ nguyên lý đồng nhất trong triết học Tây phương. A là A, A chẳng thể nào là phi A. Người học Phật nói, gọi là A đó cũng chẳng phải A mới thực sự là A vậy. Gọi là thiên đường đó cũng chẳng phải thiên đường mới thực sự là thiên đường.
Thánh Đức thái tử đã y theo kinh Thắng Man mà phát nguyện rằng: “Nguyện từ nay đến khi đắc quả vô thượng chánh đẳng chánh giác, đối với sắc thân kẻ khác, con không sanh tâm đố kỵ” Vì sao không sanh tâm đố kỵ? Vì chúng sanh ấy chính là ta đó vậy. Thấy một chúng sanh nào trước mắt như thấy chính ta thì cái thấy không còn. Vì cái thấy không còn nên đối đãi hết. Vì đối đãi hết nên không cần phải thể hiện tâm từ mà tâm từ tự đầy đủ.
Bồ tát thấy người nữ trước mắt, trong tâm không sanh tướng nữ. Vì sao không sanh tướng nữ? Vì trí đã muội, vì cảnh đã vắng, nên Bát Nhã Vô Tri Luận nói: “Trí càng muội chiếu càng sáng, thần càng lặng ứng càng mạnh, cảnh càng vắng cảm càng nhạy”. Một khi năng sở càng vong bặt thì càng thầm hợp vô sanh.
Tam Tổ nói: Nhứt tâm bất sanh
                    Vạn pháp vô cữu
Tùng Duyệt Đâu Suất nói:
Đẳng nhàn hành xứ
Bộ bộ giai như
Tuy cư thinh sắc
Ninh trệ hữu vô
Nhứt tâm mi dị
Vạn pháp phi thù
đều nói lên nghĩa của “một tâm chẳng sanh, muôn pháp đều bặt”.
Có bài tụng kèm ở sáu câu cuối của bài cảnh sách:
Tâm cảnh cu quyên
Thông reo đầu ngõ
Mạc ký mạc ức
Không tay xách giỏ
Lục căn di nhiên
Phố chợ không người
Hành trú tịch mặc
Thịt cá đầy rổ
Nhất tâm bất sanh
Chân đội nón cời
Vạn pháp cu tức
Nương mây đạp cỏ.

PHẦN BA
QUY SƠN CẢNH SÁCH VĂN

1 - NGHIỆP LỤY THỌ THÂN  

Phù nghiệp hệ thọ thân
vị miễn hình lụy
bẩm phụ mẫu chi di thể
giả chúng duyên nhi cộng thành
tuy nãi tứ đại phù trì
thường tương vi bội
                   Dịch
Vì nghiệp buộc thọ thân
chưa khỏi hình lụy
nhận di thể của cha mẹ
mượn các duyên mà cộng thành
tuy được bốn đại giữ gìn
lại thường xung đột

 

2- VÔ THƯỜNG TẤN TỐC
Vô thường lão bịnh
bất dữ nhơn kỳ
triêu tồn tịch vong
sát na dị thế
thí như xuân sương hiểu lộ
thúc hốt tức vô
ngạn thọ tỉnh đằng
khởi năng trường cửu
niệm niệm tấn tốc
nhất sát na gian
chuyển tức tức thị lai sanh
hà nãi yến nhiên không quá
          Dịch
Già bịnh bất chợt
chẳng hẹn cùng người
sớm còn tối mất
chớp mi đổi đời
ví như sương xuân móc sớm
thoắt chốc đã không
cây bờ dây giếng
đâu mong bền vững
niệm niệm mau chóng
trong một chớp mi
ngừng thở đã qua đời sau
sao lại chịu yên trôi lọt?

 

3 - LY GIA THẾ PHÁT

Phụ mẫu bất cung cam chỉ
lục thân cố dĩ khí ly
bất năng an quốc trị bang
gia nghiệp đốn quyên kế tự
miến ly hương đảng
thế phát bẩm sư
nội cần khắc niệm chi công
ngoại hoằng bất tranh chi đức
huýnh thoát trần thế
ký kỳ xuất ly       
          Dịch
Cha mẹ chẳng dâng ngon ngọt
sáu thân đã hẳn xa lìa
không tài trị nước an dân
gia tộc bỏ phần thừa kế
xa làng bỏ lệ
cạo tóc theo thầy
bên trong siêng công khắc niệm
bề ngoài tỏa đức vô tranh
xa cách thế trần
cầu mong giải thoát.

4 - DANH LỢI BÔN TẦM

Hà nãi tài đăng giới phẩm
tiện ngôn ngã thị tỷ kheo
đàn việt sở tu
khiết dụng thường trú
bất giải thổn tư lai xứ
vị ngôn pháp nhĩ hiệp cúng
khiết liễu tụ đầu huyên huyên
đãn thuyết nhân gian tạp thoại
nhiên tắc nhất kỳ sấn lạc
bất tri lạc thị khổ nhân          
nẵng kiếp tuẩn trần
vị thường phản tỉnh
thời quang yểm một
tuế nguyệt sa đà
thọ dụng ân phồn
thí lợi nồng hậu
động kinh niên tải
bất nghĩ khí ly
tích tụ tư đa
bảo trì huyễn chất
Đạo Sư hữu sắc
giới húc tỷ kheo
tiến đạo nghiêm thân
tam thường bất túc
nhân đa ư thử
đam vị bất hưu
nhựt vãng nguyệt lai
táp nhiên bạch thủ
hậu học vị văn chỉ thú
ưng tu bác vấn tiên tri
tương vị xuất gia
          Dịch
sao mới bước lên giới bậc
đã vội xưng là tỳ kheo?
ăn của thí chủ
dùng của thường trụ
không xét của ấy từ đâu
lại bảo cúng là phải phép
ăn rồi xúm đầu lép nhép
chỉ nói chuyện tạp nhân gian
một dịp đua vui như thế
chẳng biết vui là khổ nhân
bao kiếp theo trần
chưa từng xét lại
thì giờ trôi chảy
năm tháng bỏ bê
thọ ơn nhiều bề
thí lợi chồng chất
năm này năm khác
chẳng nghĩ xa lìa
chất chứa cho nhiều
nuông chìu xác huyễn
Đạo Sư đã khuyến
Tỷ Kheo noi đường
tu sửa vóc hương
tam thường chẳng đủ
nhiều người như cũ
đắm vị không ngừng
ngày qua tháng lại
vụt đã bạc đầu
người sau chưa nghe chỉ thú
phải nên rộng hỏi bề trên
đâu phải xuất gia
quý cầu y thực
mưu cầu cơm áo?

 


5 – GIÁO PHÁP VÔ CHUYÊN

Phật tiên chế luật
khởi sáng phát mông
quỹ tắc uy nghi
tịnh như băng tuyết
chỉ trì tác phạm
thúc liễm sơ tâm
vi tế điều chương
cách chư ổi tệ
tỳ ni pháp tịnh
tằng vị thao bồi
liễu nghĩa thượng thừa
khởi năng chân biệt
khả tích nhất sanh không quá
hậu hối nan truy
giáo lý vị thường thố hoài
huyền đạo vô nhân khế ngộ
Dịch
Phật trước chế luật
khai sáng chỗ mê
phép tắc oai nghi
sạch như băng tuyết
đình giữ cử phạm
nhiếp tâm buổi đầu
tiết mục tinh sâu
ngăn ngừa tội tạp
tỳ ni yếu pháp
chưa từng trau dồi
liễu nghĩa thượng thừa
tỏ phân sao được
đáng tiếc một đời buông trôi
sau hối khó kịp
giáo lý chưa từng thao thức
huyền đạo rất mực khó vào


6 - TỰ CHỦ TOÀN VÔ

Cập chí niên cao lạp trưởng
không phúc cao tâm
bất khẳng thân phụ lương bằng
duy tri cứ ngạo
vị am pháp luật
tập liễm toàn vô
hoặc đại ngữ cao thanh
xuất ngôn vô độ

 

bất kính thượng trung hạ tọa
bà-la-môn tụ hội vô thù
oản bát tác thanh
thực tất tiên khởi
khứ tựu quai giác
tăng thể toàn vô
khởi tọa chung chư
động tha tâm niệm
bất tồn ta ta quỷ tắc
tiểu tiểu uy nghi
tương hà thúc liễm hậu côn
tân học vô nhân phỏng hiệu
          Dịch
Đến khi tuổi già hạ lớn
bụng rỗng tâm cao
không chịu nương gần bạn đạo
chỉ biết kiêu ngạo
chưa rành kinh luật
thâu nhiếp đều không
hoặc to giọng lớn tiếng
buông lời kém nhã
không kính thượng trung hạ tọa
chẳng khác bà-la-môn bệ rạt
khua ồn chén bát
ăn rồi dậy trước
đi ở trái phép
tăng thể đều không
đứng ngồi chao đảo
động tâm niệm người
chẳng còn tí ti phép tắc
chút chút oai nghi
lấy gì thúc liễm người sau
sơ học do đâu y cứ?

7 – XÚC SỰ BẤT THÔNG

Tài tương giác sát
tiện ngôn ngã thị sơn tăng
vị văn Phật giáo hành trì
nhất hướng tình tồn thô tháo
như tư chi kiến
cái vị sơ tâm dung đọa
thao thiết nhân tuần
nhẫm nhiễm nhân gian
toại thành sơ dã
bất giác lủng chủng lão hủ
xúc sự diện tường
hậu học tư tuân
vô ngôn tiếp dẫn
túng hữu đàm thuyết
bất thiệp điển chương
hoặc bị khinh ngôn
tiện trách hậu sinh vô lễ
sân tâm phấn khởi
ngôn ngữ cai nhân
Dịch
Người cảnh giác cho
liền nói ta là sư núi
chưa nghe Phật dạy gìn dồi
một hướng tình lồng rơm rế
cái thấy như thế
là vì sơ tâm bê trễ
ham hố bời bời
lây lất theo đời
hóa thành cổ lổ
nào hay lóng cóng già yếu
chạm việc đụng vách
hậu học thưa hỏi
không lời dẫn dắt
bí lối nói liều
chẳng hiệp điển kinh
hoặc bị lời khinh
liền trách hậu sinh vô lễ
nổi cơn giận dỗi
môi miệng lướt người

8 – LÂM CHUNG KHỔ CẢNH


Nhất triêu ngọa tật tại sàng
chúng khổ oanh triền bức bách
hiểu tịch tư thổn
tâm lý hồi hoàng
tiền lộ mang mang
vị tri hà vãng
tùng tư thỉ tri hối quá
lâm khát quật tỉnh hề vi
tự hận tảo bất dự du
niên vãn đa chư quá cựu
lâm hành huy hoắc
phạ bố chương hoàng
hộc xuyên tước phi
thức tâm tùy nghiệp
như nhân phụ trái
cường giả tiên khiên
tâm tự đa đoan
trọng xứ thiên trụy
vô thường sát quỷ
niệm niệm bất đình
mạng bất khả diên
thời bất khả đải
nhân thiên tam hữu
ưng vị miễn chi
như thị thọ thân
phi luận kiếp số
Dịch
Một mai nằm bịnh góc giường
các khổ vây dồn bức bách
sớm tối lo nghĩ
trong lòng kinh hoàng
đường trước mờ mịt
chưa biết về đâu
mới biết hối hận không kịp
đến khát mới đào giếng sâu
tự hận sớm chẳng lo tu
về chiều xiết bao tệ ác

 

khi đi quay quắt
khiếp sợ hãi hùng
lụa thủng chim bay
thức tâm tùy nghiệp
như người thiếu nợ
ai mạnh kéo trước
tâm nhiều mối trược
chỗ nặng lôi vào
vô thường quỷ dữ
niệm niệm chẳng dừng
mạng chẳng kéo dài
giờ không chờ đợi
người trời cõi
chưa khỏi trôi lăn
như vậy thọ thân
không luận kiếp số

9 - CẢNH SÁCH TƯƠNG THÂN

Cảm thương thán nhạ
ai tai thiết tâm
khởi khả giam ngôn
đệ tương cảnh sách
sở hận đồng sanh tượng quý
khứ thánh thời diêu
Phật pháp sanh sơ
nhân đa giải đãi
lược thân quản kiến
dĩ hiểu hậu lai
nhược bất quyên căng
thành nan luân hoán
Dịch
Cảm thương than thở
chua xót tơ lòng
lời chẳng thể phong
truyền nhau răn nhắc
hận là cùng sanh tượng cuối
cách Thánh xa thời
Phật pháp chơi vơi
người nhiều biếng trễ
bày chỗ thấy hẹp
khuyên bảo người sau
nếu không bớt kiêu
khó mà chuyển đổi

10 - XUẤT GIA CÔNG HẠNH


Phù xuất gia giả
phát túc siêu phương
tâm hình dị tục
thiệu long thánh chủng
chấn nhiếp ma quân
dụng báo tứ ân
bạt tế tam hữu
nhược bất như thử
lạm xí tăng luân
ngôn hạnh hoang sơ
hư triêm tín thí
tích niên hành xứ
thốn bộ bất di
hoảng hốt nhất sanh
tương hà bằng thị
huống nãi đường đường tăng tướng
dung mạo khả quan
giai thị túc thực thiện căn
cảm tư dị báo
tiện nghĩ đoan nhiên củng thủ
bất quý thốn âm
sự nghiệp bất cần
công quả vô nhân khắc tựu
khởi khả nhất sanh không quá
ức diệc lai nghiệp vô tỳ.
Dịch
Bậc gọi xuất gia
bước đi bặt dấu
tâm hình khác tục
nối thành dòng Phật
rúng động ma quân
đền đáp bốn ơn
cứu giúp ba cõi
nếu chẳng như vậy
trà trộn tăng đoàn
nói sai làm phí
hư hao tín thí
cứ quen đường cũ
tấc bước không dời
hoảng hốt một đời
lấy gì nương cậy
huống chi Tăng tướng rỡ ràng
dung mạo dễ coi
đều do gieo trồng căn lành
cảm nên báo lạ
đâu thể khoanh tay ngồi đợi
chẳng tiếc bóng câu
sự nghiệp chẳng cầu
công quả vô nhân khắc tựu
công quả do đâu thành tựu
đâu phải một đời tàn lụi
nghìn sau cũng chẳng ra gì

11- NGUYỆN LỰC HÀM TÀNG


Từ thân quyết chí phi truy
ý dục đẳng siêu hà sở
hiểu tịch tư thổn
khởi khả thiên diên quá thời
tâm kỳ Phật pháp đống lương
dụng tác hậu lai quy cảnh
thường dĩ như thử
vị năng thiểu phần tương ưng

Dịch
Từ thân quyết khoác pháp y
ý muốn vượt lên ba cõi
sớm tối mong mỏi
đâu thể chần chừ qua giờ
tâm nguyền trụ cột Phật thừa
làm gương đời sau y cứ
thường nguyện như vậy
mới mong đôi phần tương ưng

12 - NGÔN HẠNH TƯƠNG ƯNG

Xuất ngôn tu thiệp ư điển chương
đàm thuyết nãi ban ư kê cổ
hình nghi đĩnh đạc
ý khí cao nhàn
Dịch
Mở lời phải hiệp với tuỷ kinh
luận nói phải nhằm tông cổ đức
hình nghi chững chạc
ý khí ôn nhuần

13 - TRẠCH BẠN TƯƠNG GIAO

Viễn hành yếu giả lương bằng
sác sác thanh ư nhĩ mục
trú chỉ tất tu trạch bạn
thời thời văn ư vị văn
cố vân
“sanh ngã giả phụ mẫu”
thành ngã giả bằng hữu”
thân phụ thiện giả
như vụ lộ trung hành
tuy bất thấp y
thời thời hữu nhuận
hiệp tập ác giả
trưởng ác tri kiến
hiểu tịch tạo ác
tức mục giao báo
một hậu trầm luân
nhất thất nhân thân
vạn kiếp bất phục
Dịch
Đi xa nương náu bạn hiền
mỗi mỗi trong veo tai mắt
trú ở phải nên chọn bạn
thời thời nghe điều chưa nghe
nên nói
“sanh ta là cha mẹ        
thành ta là bằng hữu    
gần gũi người hiền
như đi trong sương móc
tuy không ướt áo
mà thường thấm đượm
giao du kẻ ác
thêm hay thấy ác
sớm tối tạo ác
quả báo trước mắt
chết rồi chìm đắm
khi mất thân người
muôn kiếp khó lại

14 - DỤC ĐỨC THAO TÂM


Trung ngôn nghịch nhĩ
khởi bất minh tâm giả tai
tiện năng tháo tâm dục đức
hối tích thao danh
uẩn tố tinh thần
huyên hiêu chỉ tuyệt
Dịch
Lời ngay tai trái
sao chẳng ghi vào lòng dạ?
mới hay lắng lòng bồi đức
vùi vết chôn tên
ròng rặt tinh thần
nghỉ ngưng rộn náo

15- THIỀN TÔNG YẾU CHỈ

Nhược dục tham thiền học đạo
đốn siêu phương tiện chi môn
tam khế huyền tân
nghiên cơ tinh yếu
quyết trạch thâm áo
khải ngộ chân nguyên
bác vấn tiên tri
thân cận thiện hữu
thử tôn nan đắc kỳ diệu
thiết tu tử tế dụng tâm
khả trung đốn ngộ chánh nhân
tiện thị xuất trần giai tiệm
thử tắc phá tam giới
nhị thập ngũ hữu
nội ngoại chư pháp
tận tri bất thật
tùng tâm biến khởi
tất thị giả danh
bất dụng tương tâm thấu bạc
đãn tình bất phụ vật
vật khởi ngại nhân
nhậm tha pháp tánh chân lưu
mạc đoạn mạc tục
văn thinh kiến sắc
cái thị tầm thường
giá biên na biên
ứng dụng bất thuyết
Dịch
Như muốn tham thiền học đạo
vượt lên cửa ngõ phương tiện
tâm ghé bến mầu
soi xét tinh mật
vạch cùng chỗ tột
tỏ suốt nguồn chơn
rộng hỏi bề trên
nương gần thiện hữu
tông này khó nắm chỗ diệu
phải trong tơ tóc dụng tâm
mới mong đốn ngộ chánh nhân
mở đầu thềm bực xuất trần
thế là phá ba cõi
hoai mươi lăm loài
trong ngoài các pháp
thấy suốt chẳng thật
từ tâm biến khởi
đều là tên suông
chẳng cần để tâm theo vật
tâm đã chẳng theo vật
vật chẳng ngại tâm
mặc cho pháp tánh lưu tràn
chẳng buông chẳng mắc
nghe thinh thấy sắc
thảy đều bình thường
đây đó mọi bên
thọ dụng chẳng thiếu

16 - GIẢI THOÁT TẤT THÀNH

Như tư hành chỉ
thật bất uổng phí pháp nhục
diệc nãi thù báo tứ ân
bạt tế tam hữu
sanh sanh nhược năng bất thoái
Phật giai quyết định khả kỳ
vãng lai tam giới chi tân
xuất một vị tha tác tắc
Dịch
Chỗ làm như thế
thật không uổng mặc áo pháp
cũng là đền đáp bốn ơn
cứu giúp ba cõi
đời đời nếu không lui sụt
quả Phật quyết định có kỳ
là khách qua lại ba cõi
ra vào làm mẫu cho ngườ

17 - HUYỀN MÔN VÔ LỘ

Thử chi nhất học
tối huyền tối diệu
đãn biện khẳng tâm
tất bất tương tram
Dịch
Tâm tông như thế
cùng huyền cực diệu
chỉ lo bền chịu
ắt chẳng dối lừa

18 – TRUNG CĂN THỌ PHÁP

Nhược hữu trong lưu chi sĩ
vị năng đốn siêu
thả ư giáo pháp lưu tâm
ôn tầm bối diệp
tinh sưu nghĩa lý
truyền xướng phu dương
tiếp dẫn hậu lai
báo Phật ân đức
thời quang diệc bất hư khí
tất tu dĩ thử phù trì
trú chỉ uy nghi
tiện thị tăng trung pháp khí
khởi bất kiến ỷ tùng chi cát
thượng tủng thiên tầm
phụ thác thắng nhân
phương năng quảng ích
khẩn tu trai giới
mạc man khuy du
thế thế sanh sanh
thù diệu nhân quả                                  
          Dịch
Như người ở bậc trung thừa
chưa thể chóng vượt
nương nơi giáo pháp thao dượt
ôm tìm kinh bối
gạn tột nghĩa lý
truyền bá phô diễn
tiếp dẫn người sau
báo đền ơn Phật
thì giờ cũng chớ để mất
phải y như thế phù trì
động tĩnh oai nghi
trong Tăng làm hàng pháp khí
chẳng thấy dây leo quấn cội tùng
cao vót ngàn tầm
nhờ gá nhân lành
mà được ích lớn
gấp gìn trai giới
chớ dối bỏ sót
đời đời sanh qua
nhân quả thù diệu

19 - HỐI THÚC TIẾN TU


Bất khả đẳng nhàn quá nhật
ngột ngột độ thời
khả tích quang âm
bất cầu thăng tiến
đồ tiêu thập phương tín thí
diệc nãi cô phụ tứ ân
tích lụy chuyển thâm
tâm trần dị ủng
xúc đồ thành trệ
nhân sở khinh khi
          Dịch
Chẳng thể nhàn hạ qua ngày
lảng lảng qua giờ
chẳng tiếc bóng câu
chẳng cầu thăng tiến
hoang tiêu mười phương tín thí
cũng là cô phụ bốn ơn
bịn rịn cho lắm
tâm trần dễ che
chạm việc rối rắm
người người khinh chê

20 – TÔN TRỌNG LINH TÁNH

Cố vân
“Bỉ ký trượng phu ngã diệc nhĩ
bất ưng tự khinh nhi thoái khuất”
nhược bất như thử
đồ tại truy môn
nhẫm nhiễm nhất sanh
thù vô sở tích
          Dịch
Nên nói
“Kia đã trượng phu ta cũng được
chẳng nên tự khinh mà chùng bước
nếu chẳng như vậy
hoang phế cửa thiền
lê lết một đời
mà không chỗ ích

21- HƯNG PHẤN TINH THẦN

Phục vọng
hưng quyết liệt chi chí
khai đặc đạt chi hoài
cử thố khán tha thượng lưu
mạc thiện tùy ư dung bỉ
kim sanh tiện tu quyết đoán
tưởng liệu bất do biệt nhân
tức ý vong duyên
bất dữ chư trần tác đối
tâm không cảnh tịch
chỉ vị cửu trệ bất thông
          Dịch
Cúi mong
phát dõng mãnh cái chí
lập rộng cao cái nguyền
mỗi mỗi dòm lên thượng lưu
đừng theo thói thường hèn mạt
đời này giải quyết cho xong
do mình chẳng do ai khác
dứt ý quên duyên
chẳng cùng theo trần vọng tác
tâm không cảnh lặng
chỉ vì trệ lâu chẳng thông

22-  NGHIỆP QUẢ NAN ĐÀO

Thục lãm tư văn
thời thời cảnh sách
cưỡng tác chủ tể
mạc tuẫn nhân tình
nghiệp quả sở khiên
thành nan đào tỵ
thanh hòa hưởng thuận


                                 
hình trực ảnh đoan
nhân quả lịch nhiên
khởi vô ưu cụ
cố kinh vân:
“Giả sử bách thiên kiếp
sở tác nghiệp bất vong
nhân duyên hội ngộ thời
quả báo hoàn tự thọ”
cố tri tam giới
hình phạt oanh bán sát nhân
nỗ lực cần tu
mạc không quá nhựt
Dịch
Thuộc làu văn này
giờ giờ cảnh sách
cố gắng làm chủ
chớ lụy tình đời
nghiệp quả đã lôi
khó mong chạy trốn
hình ngay bóng thẳng
tiếng dịu vang êm
nhân quả rành rành
đâu không lo sợ
Nên kinh nói:
“Giả sử trăm nghìn kiếp
nghiệp tạo vẫn không mất
nhân duyên hội đủ rồi
quả báo mình tự chuốc”
Nên biết ba cõi
hình phạt ràng buộc giết người
nỗ lực chuyên tu
ngày đừng qua rỗi

23 – PHÁP LỮ ĐỒNG ĐĂNG

Thâm tri quá hoạn
phương nãi tương khuyến hành trì
nguyện bá kiếp thiên sanh
xứ xứ đồng vi pháp lữ
nãi vi minh viết
          Dịch
Rõ sâu tội lỗi
nên mới khuyên nhau gìn dồi
nguyện trăm kiếp ngàn đời
xứ xứ cùng làm bạn pháp
nên làm minh rằng

24 – TAM GIỚI MỘNG HUYỄN

Huyễn thân mộng trạch
Không trung vật sắc
Tiền tế vô cùng
Hậu tế ninh khắc
Xuất thử một bỉ
Thăng trầm bì cực
Vị miễn tam luân
Hà thời hưu tức
Tham luyến thế gian
Ấm duyên thành chất
Tùng sanh chí lão
Nhất vô sở đắc
Căn bản vô minh
Nhân tư bị hoặc
Quang âm khả tích
Sát na bất trắc
Kim sanh không quá
Lai thế trất tắc
Tùng mê chí mê
Giai nhân lục tặc
Lục đạo vãng hoàn
Tam giới bồ bặc
          Dịch
Thân huyễn nhà mộng
Trong không hoa mắt
Mé trước không cùng
Ngằn sau xa lắc
Nổi đây chìm kia
Lên xuống khổ cực
Chưa khỏi ba luân
Bao giờ thôi dứt
Mê đắm thế gian
Ấm duyên thành chất
Từ sanh đến lão
Toàn không chỗ đắc
Căn bản vô minh
Vốn tự lầm lạc
Thời giờ đáng tiếc
Chớp mi khó bắt
Đời này trôi suông
Đời sau bế tắc
Từ mê đến ngộ
Toàn do sáu giặc
Qua lại sáu đường
Ba cõi lăn lóc

25 - NIẾT BÀN TỊCH TĨNH

Tảo phóng minh sư
Thân cận cao đức
Quyết trạch thân tâm
Khử kỳ kinh cức
Thế tự phù hư
Chúng duyên khởi bức
Nghiên cùng pháp lý
Dĩ ngộ vi tắc
Tâm cảnh câu quyên
Mạc ký mạc ức
Lục căn di nhiên
Hành trú tịch mặc
Nhất tâm bất sanh
Vạn pháp câu tức
          Dịch
Sớm hỏi minh sư
Nương gần cao đức
Chỉ vạch thân tâm
Khử trừ gai góc
Đời tự dối lừa
Cảnh duyên nào bức
Xét cùng pháp lý
Lấy ngộ làm mức
Tâm cảnh đều quên
Chẳng ghi chẳng nhắc
Sáu căn an nhiên
Đến đi lặng tắt
Một tâm chẳng sanh
Muôn pháp đều dứt.

--o0o---
Vi tính: Đông Phương.
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 1-9-2007

YẾU CHỈ TU CHỨNG CHO NGƯỜI SƠ HỌC



Yếu Chỉ Tu Chứng Cho Người Sơ Học
Thiền Sư Hám Sơn Đức Thanh
Thiền Sư Hám Sơn Đức Thanh (1546-1623) là một vị thầy lớn trong Thiền Tông Trung Hoa. Năm 7 tuổi, cậu bé đã quan tâm về ý nghĩa sống và chết. Năm 9 tuổi, cậu rời nhà để vào chùa Báo Ân tu học, nơi vị trụ trì là Hòa Thượng Tây Lâm đang giữ chức Gián Nghị tại triều đình nên khuyến khích các học tăng học cả Tam Giáo – Phật, Nho, Lão. Tới năm 19 tuổi, ngài xuống tóc, chính thức xuất gia. Năm sau, ngài dự khóa thiền thất do Thiền Sư Vân Cốc mở tại chùa Thiên Giới, được trao cho tham công án, "Ai đang niệm Phật?” Trong 3 tháng liền, tâm ngài Hám Sơn không khởi một niệm, như sống trong mộng, không thấy đại chúng chung quanh…
Một lần, ngài hốt nhiên hiểu thông giáo lý tương tức trong khi nghe giảng về Kinh Hoa Nghiêm (Avatamsaka Sutra) và bộ luận Thập Huyền Môn (The Ten Wondrous Gates). Một thời gian sau, ngài lại trải qua một kinh nghiệm chứng ngộ thâm sâu khác tại Ngũ Đài Sơn, khi ngài đọc bộ luận Vật Bất Thiên (Things Do Not Move, Vật Không Hề Chuyển Động) trong tập Triệu Luận (Book of Chao). Ngài sau đó còn trải qua nhiều lần ngộ đạo nữa.
Sau khi viên tịch, nhục thân ngài vẫn trụ trong tư thế ngồi kiết già, đưa về thờ tại Chùa Nam Hoa, bên cạnh nhục thân của Lục Tổ Huệ Năng. Ngài Hám Sơn đã viết chú giải nhiều kinh luận. Khi hoằng pháp, ngài dạy cho tứ chúng cả Tịnh Độ Tông, khuyến khích lập các pháp hội Niệm Phật.
Bản Việt dịch dưới đây dựa theo “Essentials of Practice and Enlightenment for Beginners," bản Anh dịch của Guo-gu Shi. Bài viết cô đọng của ngài Hám Sơn gồm ba phần, và sẽ được dịch tòan văn nơi đây.

(Bắt đầu bản văn.)
I. Cách Để Tu Tập và Đạt Ngộ
Về cội rễ và nhân duyên của Đại Sự này, [cái Tánh Phật này] thì đã nằm sẵn trong mọi người; do vậy, nó đã viên mãn bên trong ngươi, không thiếu gì cả. Điều khó chính là, từ vô thỉ, hạt giống mê đắm, vọng niệm, thọ tưởng chấp thủ, và tập quán sâu dày đã ngăn che tánh sáng chiếu diệu này. Ngươi không có thể thực chứng nó bởi vì ngươi đang chìm đắm trong vọng niệm rời rạc về thân, tâm và pháp giới, miệt mài phân biệt và say đắm [về cái này và cái kia]. Vì các lẽ đó, ngươi cứ luân hồi sinh tử bất tận.
Nhưng, tất cả chư Phật và chư tổ đã xuất hiện trong đời, dùng vô lượng lời nói và các phương tiện thiện xảo để giảng nghĩa về Thiền và làm sáng tỏ tông nghĩa. Để thích ứng với các căn cơ chúng sinh khác nhau, tất cả các phương tiện thiện xảo hệt như công cụ để nghiền nát cái tâm lăng xăng dính mắc, và chứng ngộ rằng ngay từ khởi thủy vốn thật không có cái gì gọi là "các pháp" (dharmas: vật) hay là [trong ý nghĩa của] "cái ngã" (self).
Cái thường được hiểu như là tu tập chỉ có nghĩa là sống thuận theo [bất cứ trạng thái nào của] tâm mà ngươi ở nơi đó để thanh tịnh hóa, và làm biến đi các vọng niệm và tập quán. Đưa nỗ lực của ngươi vào đây thì gọi là tu tập. Nếu chỉ trong nhất niệm, mà các vọng tưởng hốt nhiên ngưng lại, thì [ngươi sẽ] nhận ra bản tâm của ngươi một cách tận tường, và chứng ngộ rằng nó thì bao la và rộng mở, sáng tỏ và chiếu diệu – vốn đã sẵn viên mãn và tròn đầy. Trạng thái này, thanh tịnh tự nguyên thủy, không [chứa] một vật nào, thì gọi là giác ngộ. Ngoài tâm này ra, thì không hề có cái gì gọi là tu hay chứng. Tự tánh của tâm thì y hệt như một tấm gương, và mọi dấu vết của vọng niệm và chấp thủ như bụi phủ lên tâm. Khái niệm của ngươi về các hiện tướng chính là bụi này, và ý thức đầy cảm xúc của ngươi chính là bụi đó. Nếu tất cả vọng niệm tan biến, tự tánh sẽ hiển lộ ra. Cũng hệt như khi bụi được lau, thì gương lại phản chiếu rõ ràng. Điều này y hệt như với Pháp (Dharma: pháp môn).
Tuy nhiên, tập quán, mê vọng và chấp thủ dính mắc được chồng chất từ vô lượng kiếp đã thành sâu dày. May mắn, nhờ hứơng dẫn của thiện tri thức, trí tuệ bát nhã vốn sẵn nơi ta có thể được hiển lộ. Tỉnh ngộ rằng trí tuệ đó vốn đã sẵn nơi mình, chúng ta sẽ có thể khởi Bồ Đề Tâm và phát sinh đại nguyện để vượt qua sinh tử. Việc nhổ gốc rễ sinh tử huân tập từ vô lượng kiếp ngay một lần lại là một việc hết sức tinh tế. Nếu ngươi không có sức mạnh lớn và lòng can đảm đủ để gánh vác đại sự như thế và cắt đứt thẳng [việc này] không chút do dự, thì [việc này] sẽ cực kỳ khó khăn. Một vị tổ đã nói, "Việc này y hệt như một người mà kình chống cả vạn người." Đó không phải lời hư vọng.
II. Cửa Vào Tu Tập và Chứng Ngộ
Nói một cách tổng quát, trong thời mạt pháp này, nhiều người tu mà không mấy người chứng. Cũng có nhiều người phí sức tu tập mà không mấy ai đón nhận thêm lực dụng tu tập. Tại sao như thế? Họ không đưa nỗ lực [tu] một cách trực tiếp, và không biết con đường tắt. Thay vậy, nhiều người chỉ làm đầy tâm trí họ với kiến thức quá khứ của chữ và ngôn ngữ dựa trên những gì họ đã nghe, hay là họ đo lường các việc bằng cách phân biệt theo cảm tính, hay là họ đè nén vọng niệm, hay là họ tự trùm hào quang với ảo cảnh hiện ra ở các căn của họ. Những người này dựa vào lời của người xưa trong tâm họ và tự cho là thực. Thêm nữa, họ dính vào các chữ này như cái thấy riêng của họ. Họ không biết rằng, không có cái nào [lời người xưa] hữu dụng bao nhiêu cả. Đó là cái được gọi là, "nắm giữ lấy cái giác ngộ của người khác, và làm che mờ cổng giác ngộ của mình."
Để thiền tập, ngươi trước tiên phải dẹp bỏ hết mọi kiến thức và hiểu biết, và chỉ nhất tâm đưa tòan lực của ngươi đặt lên một niệm. Tin vững chắc vào [chân] tâm của ngươi rằng, nguyên thủy nó thanh tịnh và sáng rõ, không một chút trì trệ nào hết – nó thì sáng và hòan thiện, và bao trùm khắp Pháp giới. Trong tự tánh, thì không hề có thân, không hề có tâm, không hề có thế giới, mà cũng không hề có vọng niệm nào, không hề có bất kỳ thọ tưởng nào. Ngay trong khỏanh khắc này, chính ngay một niệm này tự nó đã là vô sinh. Tất cả mọi pháp đang hiển lộ trước ngươi bây giờ thực ra là ảo giác và vô tự tánh – tất cả vạn pháp đó đều là phản chiếu phóng hiện từ chân tâm của ngươi.
(LND. Câu vừa rồi là dịch sát nghĩa, nhưng có thể làm dễ hiểu hơn khi chuyển ngữ dài dòng như sau: Tất cả mọi pháp đang hiển lộ bây giờ trứơc mắt ngươi, đang hiển lộ bên tai ngươi, đang hiển lộ trứơc mũi ngươi… [với 6 căn]… thực ra là ảo giác và vô tự tánh – tất cả vạn pháp đó đều là phản chiếu phóng hiện từ chân tâm của ngươi.)
Hãy làm việc như thế để dẹp hết mọi vọng niệm. Hãy đặt tâm vào quan sát, nhìn xem niệm sinh từ đâu, và niệm diệt về đâu. Nếu ngươi tu tập như thế này, bất kể lọai vọng niệm nào sinh khởi, thì chỉ một cái chạm vào thôi là chúng đều sẽ tan ra manh mún. Tất cả sẽ tan đi và biến mất. Ngươi đừng bao giờ chạy theo, hay tiếp diễn lan man vọng niệm. Thiền Sư Vĩnh Gia (Yongjia) đã cảnh sách, "Người tu phải cắt đứt cái tâm [mong muốn] tiếp diễn." Như thế bởi vì, cái vọng tâm vốn là không gốc rễ. Ngươi đừng bao giờ xem một vọng niệm nào là thật và tìm cách bám víu nó trong tâm. Ngay khi niệm khởi lên, hãy thấy nó ngay tức khắc. Khi ngươi nhận ra niệm đó, thì nó sẽ biến mất. Đừng bao giờ tìm cách đè nén các niệm, nhưng hãy cho phép các niệm như nó là, hệt như ngươi nhìn một quả bầu trôi nổi trên mặt nước.
Hãy dẹp hết tất cả thân, tâm và thế giới của ngươi, và hãy đơn giản đưa ra trước [tâm] một niệm, hệt như một mũi kiếm xuyên thủng bầu trời. Cho dù là Phật hay Ma xuất hiện, hãy cắt bỏ hết như một cuộn chỉ rối. Hãy đem tòan bộ nỗ lực và sức mạnh của ngươi, một cách kiên nhẫn, đẩy tâm ngươi đi tới tận cùng. Cái được biết như là "một tâm giữ chánh niệm về chân như" có nghĩa rằng chánh niệm tức là vô niệm. Nếu ngươi có thể quán vô niệm, thì ngươi đang hướng tới trí huệ chư Phật.
Những người tu nào mới khởi Bồ Đề Tâm nên có tín tâm về giáo lý duy tâm. Phật đã nói, "Ba cõi đều là tâm thôi, và vạn pháp thực ra là duy thức thôi." Tòan bộ Phật Pháp chỉ là giải thích xa thêm về hai dòng này, để cho mọi người có thể phân biệt, hiểu được và khởi tín tâm vào hiện thực này. Những lối đi của phàm và thánh chỉ là những lối đi của mê vọng và giác ngộ trong bản tâm ngươi. Ngòai tâm ra, tất cả các hành nghiệp của thiện và ác đều không thể đạt.
Tự tánh của ngươi thì kỳ diệu. Nó là cái rất tự nhiên và hồn nhiên, không phải cái gì mà người có thể "làm cho giác ngộ" [bởi vì ngươi đã sẵn có nó rồi]. Như thế, cái gì ở đó mà còn bị mê chứ? Mê vọng chỉ để nói về sự thiếu giác ngộ của ngươi rằng tâm ngươi vốn không hề có một vật, và rằng thân, tâm và thế giới nguyên vốn là rỗng rang không tịch. Bởi vì ngươi bị ngăn che, cho nên mới có mê vọng. Ngươi đã luôn luôn xem cái tâm suy lường mê vọng, [cái tâm] cứ thường xuyên sinh ra và diệt đi, như là có thật. Vì lý do đó, ngươi cũng xem các chuyển biến mê vọng và các hiện tướng của các cõi của sáu trần (đối tượng của 6 căn) như là có thật.
Nếu hôm nay, ngươi phát tâm xuất trần và lấy con đường hướng thượng, thì ngươi nên dẹp hết mọi cái thấy và hiểu biết xưa cũ của ngươi. Nơi đây, không một chút xíu tri thức và khôn ngoan nào có thể hữu dụng. Ngươi phải, và chỉ phải, nhìn thấu suốt xuyên qua thân, tâm và thế giới đang hiện tiền, và chứng ngộ rằng chúng đều vô tự tánh. Y hệt như các ảnh chiếu – chúng cũng giống hệt như ảnh trong gương, hay như trăng hiện dưới nước.
Hãy nghe tất cả mọi âm thanh, tiếng nói hệt như gió xuyên qua rừng; hãy thấy tất cả mọi vật nhưng mây bay trên bầu trời. Vạn pháp đều liên tục lưu chảy, biến đổi; vạn pháp đều hư ảo và vô tự tánh. Không chỉ thế giới bên ngòai như thế, nhưng chính các vọng niệm của ngươi, mọi phân biệt khát ái của tâm, và tất cả các hạt giống của đam mê, tập quán, cũng như mọi phiền não cũng đều không gốc rễ và vô tự tánh.
Nếu ngươi có thể thiền quán như thế, thì rồi bất cứ khi nào một niệm khởi lên, ngươi sẽ thấy ngay cội gốc của nó. Đừng bao giờ lơi lỏng để nó đi qua ngươi [mà không thấy xuyên qua nó]. Đừng để bị nó đánh lừa. Nếu ngươi làm được như thế, thì đó là ngươi đang thiền tập chân thực. Đừng gom góp các tri kiến, suy tưởng về nó, và đừng tìm cách thêu dệt một số kiến giải thông minh về nó.
Dù vậy, ngay cả khi phải nói tới pháp tu thì thực sự y hệt như là lựa chọn cuối cùng. Thí dụ như, khi phải dùng tới binh khí, thì chúng thực sự không phải là vật kiết tường. Nhưng chúng được dùng như lựa chọn cuối cùng [trong chiến trận]. Cổ đức đã nói về việc khảo sát Thiền, và đưa ra thọai đầu (huatou). Những cái này, cũng đều là các lựa chọn cuối cùng. Ngay cho dù có vô số công án, thì chỉ riêng dùng câu thọai đầu, "Ai đang niệm Phật đó?” ngươi cũng có thể nhờ nó tăng sức dễ dàng giữa các tình huống phiền não. Ngay cả khi ngươi có thể dễ dàng được tăng lực nhờ nó, [thọai đầu này] chỉ đơn giản là một viên ngói [vỡ] để gõ các cánh cửa thôi. Thực sự, rồi ngươi sẽ phải ném nó đi thôi. Dù vậy, bây giờ thì ngươi phải dùng nó. Nếu ngươi muốn dùng thoại đầu để tham thiền, ngươi phải có tín tâm, có quyết tâm không lay động, và phải miên mật. Ngươi phải không vướng chút xíu nào dao động và bất định. Thêm nữa, ngươi không phải hôm nay làm kiểu này và ngày mai kiểu khác. Ngươi đừng quan tâm chuyện ngươi sẽ không được giác ngộ, cũng đừng cảm thấy rằng thọai đầu này không đủ thâm sâu. Tất cả các suy nghĩ như thế chỉ ngăn trở thôi. Ta phải nói về các thứ đó bây giờ, để ngươi sẽ không khởi chút ngờ vực nào, khi ngươi đối mặt với gian khó.
Nếu ngươi có thể lấy được sức mạnh từ năng lực của ngươi, thế giới bên ngòai sẽ không ảnh hưởng tới ngươi. Tuy nhiên, bên trong, tâm của ngươi có thể khởi lên nhiều lọan tâm mà [như dường] không vì lý do nào cả. Đôi khi tham dục khởi lên; có lúc bất an hiện ra. Nhiều trở ngại có thể khởi lên bên trong ngươi, làm cho ngươi cảm thấy cạn kiệt thân, tâm. Ngươi sẽ không biết nên làm gì. Đó là những nghiệp tập đã cất chứa trong thức thứ tám của ngươi từ vô lượng kiếp. Hôm nay, nhờ công năng thiền tập, chúng sẽ xuất lộ ra hết. Vào thời điểm quan trọng này, ngươi phải có thể nhận ra và nhìn xuyên qua chúng rồi vượt qua [những trở ngại này]. Đừng bao giờ để bị chúng kiểm sóat và dẫn dắt, và quan trọng nhất là đừng bao giờ xem chúng như là thật. Vào lúc đó, người phải chấn chỉnh lại, phải can đảm và miên mật, rồi tận lực bình sinh mà tham thọai đầu. Hãy chăm chú nhìn vào điểm từ đâu mà niệm sinh khởi, và liên tục dấn tới và hỏi, "Nguyên khởi, không có gì bên trong tôi, vậy thì từ nơi đâu mà [trở ngại] tới? Cái gì đây?” Ngươi phải quyết tâm tìm ra tận gốc chuyện này. Cứ liên tục tham như thế, giết sạch tất cả [vọng hiện] mà không để lại một chút dấu vết nào, cho tới khi ngay cả tới quỷ thần cũng phải bật khóc. Nếu ngươi có thể tham thiền như thế, tin mừng sẽ tới với ngươi một cách tự nhiên.
Nếu ngươi có thể đập vỡ xuyên qua một niệm, thì tất cả vọng tâm đều đột nhiên bị gỡ bỏ. Ngươi sẽ cảm thấy như một bông hoa trong bầu trời mà không rọi ra bóng [râm] nào, hay là như một mặt trời sáng đang chiếu ra ánh sáng vô tận vô biên, hay là như hồ nước trong trẻo, thấy xuyên suốt và rõ ràng. Sau khi kinh nghiệm như thế, sẽ có vô lượng cảm xúc về ánh sáng và sự nhẹ nhàng thỏai mái, cũng như là một cảm giác về sự giải thóat. Đây là dấu hiệu tăng lực nhờ tham thiền cho người sơ học. Không có gì gọi là dị thường hay kỳ vĩ về điều này. Đừng sinh tâm quá vui mừng trong kinh nghiệm tuyệt đẹp này. Nếu ngươi sinh tâm như thế, con Ma Vui Mừng sẽ chiếm ngự ngươi, và ngươi sẽ gặp một lọai chướng ngại khác.
Giấu bên trong tạng thức lại là tập quán nhiều đời và hạt giống tham ái. Nếu ngươi tham thọai đầu mà không hiệu qủa, hay là ngươi không có thể an định (chỉ) và quán chiếu (quán) tâm của ngươi, hay chỉ đơn giản rằng ngươi không khép mình tu tập nổi, thì ngươi nên lễ bái quỳ lạy, tụng đọc kinh điển, và làm lễ sám hối. Ngươi cũng có thể tụng thần chú để nhận mật ấn chư Phật; nghiệp chướng trở ngại được gỡ nhẹ đi. Bởi vì tất cả mật chú đều là mật ấn của tâm kim cương của chư Phật. Khi ngươi dùng chúng, thì hệt như cầm tới chùy kim cương bất họai có thể phá vỡ mọi thứ. Bất cứ những gì tới gần đều sẽ bị đánh cho tan thành mảnh vụn. Cốt tủy của tòan bộ mật giáo của chư Phật và chư tổ đều chứa đựng trong mật chú. Do vậy mới có câu, "Tất cả Như Lai mười phương đã thành đạo chánh đẳng chánh giác xuyên qua các mật chú như thế."
Mặc dù các vị Phật đã nói như thế rõ ràng, các vị tổ sư lo sợ là các lời đó có thể bị hiểu nhầm, nên đã giữ điều đó làm bí mật, và không sử dụng phương pháp đó. Tuy nhiên, để tăng lực nhờ sử dụng mật chú, ngươi phải tập chúng thường xuyên sau một thời gian lâu dài. Nhưng, dù vậy, ngươi đừng bao giờ mong chờ hay tìm kiếm các đáp ứng phép lạ kỳ bí khi dùng chúng.
III. Giải Ngộ và Chứng Ngộ
Có những người ngộ trứơc rồi mới tu sau, và có những người tu trước rồi mới ngộ sau. Ngòai ra, còn có một dị biệt giữa giải ngộ và chứng ngộ.
Những người nào hiểu được tâm họ sau khi nghe giáo pháp từ chư Phật và chư tổ sư thì gọi là giải ngộ. Trong hầu hết trường hợp, những người này rơi vào tri giải kiến thức. Khi chạm mặt với mọi tình huống, họ sẽ không có thể sử dụng những gì họ đã biết. Tâm của họ và ngọai vật ở thế đối nghịch nhau. Không có gì gọi là nhất thể hay hòa hài. Do vậy, họ đối mặt với trở ngại khắp mọi thời. Đó [cái mà họ đã ngộ] được gọi là "tương tự bát nhã" (prajna in semblance) và không đến từ tu tập chân chính.
Còn chứng ngộ thì tới từ thiền tập chân thực và kiên trì, khi mà ngươi tới một chỗ bế tắc, nơi mà núi đồi trần trụi và sông hồ cạn kiệt. Đột nhiên, [vào lúc mà] một niệm ngưng lại, ngươi sẽ nhận ra minh bạch bản tâm của ngươi. Vào lúc này, ngươi sẽ cảm thấy như là chính ngươi gặp lại cha ngươi tại một ngã tư đường – không có nghi ngờ gì về chuyện này. Nó y hệt như chính ngươi đang uống nước. Cho dù nước lạnh hay ấm, chỉ có ngươi biết thôi, và không phải là chuyện ngươi có thể mô tả cho người khác. Đây là thực tu và thực chứng. Trải qua kinh nghiệm như thế, ngươi có thể sống cái chứng ngộ này trong mọi tình huống của đời sống, và thanh tịnh hóa [cũng như giải thóat khỏi, cái nghiệp lực đã hiển lộ] dòng ý thức của ngươi, cái vọng tâm của ngươi và các kiến chấp cho tới khi tất cả các pháp đều hòa vào Một Tâm Chân Thực (One True Mind, có sách gọi là Nhất Chân Pháp Giới Tâm). Đây gọi là chứng ngộ.
Trình trạng chứng ngộ này có thể chia thêm ra, là ngộ cạn và ngộ sâu. Nếu ngươi đưa hết tận lực bình sinh vào gốc rễ [hiện sinh của ngươi], đập vỡ hang sâu của thức thứ tám, và chớp nhoáng đảo ngược hầm sâu căn bản vô minh, với một bước nhảy trực tiếp vào [cảnh giới giác ngộ], rồi thì không còn gì nữa để ngươi học. Cái này [hầm sâu] có gốc rễ nghiệp lực thâm căn. Sự chứng ngộ của ngươi phải thực sự thâm sâu. Chiều sâu của những người tu pháp tiệm tu, [mặt khác,] sẽ chỉ nông cạn thôi.
Điều tệ hại nhất là tự thỏa mãn với chút ít [kinh nghiệm]. Đừng bao giờ tự cho phép rơi vào các kinh nghiệm hào nhóang được sinh khởi từ các căn của ngươi. Tại sao? Bởi vì thức thứ tám của ngươi chưa được phá vỡ, nên bất cứ gì mà ngươi kinh nghiệm hay làm đều sẽ bị bao phủ bởi vọng thức và vọng tâm của ngươi. Nếu ngươi nghĩ rằng ý thức đó là thực, thì y hệt như nhận lầm tên cướp làm con mình. Cổ đức có nói, "Người tu chưa thấy được thực tướng chỉ là vì cứ nhận lầm ý thức của họ là thực; cái mà người ngu nhận là khuôn mặt bản lai của họ thực sự chỉ là gốc rễ căn bản của sinh tử.” Đây là rào cản mà ngươi phải vượt qua.
Cái được gọi là đốn ngộ và tiệm tu là chỉ cho người đã trải qua một chứng ngộ thâm sâu, nhưng vẫn còn tập quán dư lại chưa tức khắc thanh tịnh hóa được. Với những người này, họ phải thực hiện những công năng từ sự chứng ngộ đã trải qua của họ để đối mặt với mọi tình huống trong đời sống, và đưa ra sức mạnh từ sức an định (chỉ) và chiếu sáng (quán) của họ để tâm họ họat dụng trong các tình huống khó khăn. Khi một phần trong kinh nghiệm của họ ở các tình huống như thế khế hợp [với đạo], thì họ đã chứng được một phần Pháp Thân. Khi họ xóa tan đi một phần vọng tưởng, thì một phần trí huệ căn bản sẽ hiển lộ ra. Cốt tủy phải là tu tập liên tục miên mật. [Với những người này,] sẽ thấy hiệu quả hơn khi họ tu tập trong các tình huống của đời thực.
(Hết bản văn.)

THAM THIỀN YẾU CHỈ


THAM THIỀN YẾU CHỈ
I. ĐIỀU KIỆN QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TIÊN CỦA SỰ THAM
THIỀN.
Mục đích tham thiền là cầu được minh tâm kiến tánh. Muốn thế, phải gạn
lọc các thứ nhiễm ô của tự tâm, thấy rõ mặt thật của tự tánh. Nhiễm ô tức là vọng
tưởng chấp trước. Tự tánh là đức tướng trí tuệ Như Lai. Đức tướng trí tuệ Như Lai,
chư Phật và chúng sanh đồng có đủ, không hai không khác. Nếu rời vọng tưởng
chấp trước là chứng được đức tướng trí tuệ Như Lai của mình; phải thế là Phật,
không phải thế là chúng sanh. Chỉ vì chúng ta từ vô lượng kiếp đến nay mê muội
đắm chìm trong sanh tử, nhiễm ô đã lâu, không thể trong chốc lát thoát được vọng
tưởng, thật thấy bản tánh, vì thế nên phải tham thiền. Điều kiện quyết định đầu
tiên của sự tham thiền là trừ diệt vọng tưởng. Phương pháp trừ vọng tưởng như thế
nào? Đức Phật Thích-ca Mâu-ni nói phương pháp rất nhiều, nhưng rất giản lược
chẳng qua một chữ hết, hết là Bồ-đề. Thiền tông do Tổ sư Đạt-ma truyền sang
Trung Hoa, sau đến đức Lục Tổ, tông phong bủa khắp sáng chiếu cổ kim. Câu rất
khẩn yếu mà đức Tổ sư Đạt-ma và Lục Tổ khai thị cho môn đồ là “Trừ sạch các
duyên, một niệm không sanh”. Trừ sạch các duyên tức là vạn duyên buông hết.
Hai câu: “Vạn duyên buông hết, một niệm không sanh” chính là điều kiện quyết
định đầu tiên của sự tham thiền. Hai câu ấy nếu thực hiện không được, tham thiền
chẳng những nói không thành công mà vào cửa cũng không thể được. Bởi vì vạn
duyên còn ràng buộc, niệm niệm mãi sanh diệt, ông làm sao tham thiền được?
“Vạn duyên buông hết, một niệm không sanh” là điều kiện quyết định đầu
tiên của sự tham thiền, dĩ nhiên chúng ta đã biết. Nhưng phải làm thế nào mới có
thể thực hiện được? Có hai cách:
1- Bậc thượng, một niệm hằng dứt, thẳng đến vô sanh liền chứng Bồ-đề,
không còn một mảy may ràng buộc.
2- Bậc thứ, dùng lý trừ sự, biết rõ tự tánh xưa nay vẫn thanh tịnh, phiền não
Bồ-đề, sanh tử Niết-bàn đều là giả danh không can dự gì đến tự tánh của ta. Muôn
sự muôn vật đều là việc chiêm bao, huyễn hóa, hòn bọt, cái bóng. Sắc thân tứ đại
của ta đây và sơn hà đại địa ở trong tự tánh như hòn bọt ngoài bể cả, mặc tình sanh
diệt không ngại gì bản thể. Ta không nên theo sự sanh, trụ, dị, diệt của tất cả cái
huyễn hóa ấy mà khởi ưa, chán, thủ, xả. Toàn thân buông hết như người chết
không khác, tự nhiên căn, trần, thức, tâm tan biến; tham, sân, si, ái diệt sạch. Mọi
việc đau nhức, khổ vui, đói lạnh, no ấm, vinh nhục, sanh tử, họa phước, kiết hung,
chê khen, được mất, an nguy, khó dễ v.v… nơi thân một mực đẩy chúng ra ngoài.
Có thế mới mong buông hết. Một buông, tất cả đều buông, mãi mãi buông gọi là
vạn duyên buông hết. Vạn duyên buông hết rồi, vọng tưởng tự tiêu, phân biệt
không khởi, các chấp trước hằng xa lìa. Khi ấy, một niệm không sanh, tự tánh
sáng suốt, toàn thể hiện bày. Được vậy là điều kiện tham thiền đã đầy đủ, lại dụng
công chân thật tham cứu mới có thể được minh tâm kiến tánh. Hằng ngày thường có các vị tu thiền đến hỏi câu thoại đầu. Phàm là pháp
vốn không phải pháp, một khi rơi vào ngôn ngữ tức không phải thật nghĩa. Biết
được một tâm này xưa nay là Phật, ngay đó vô sự muôn việc hiện thành, nói tu nói
chứng đều là ma thuyết. Đức Đạt-ma sang Trung Hoa “Chỉ thẳng tâm người, thấy
tánh thành Phật”. Chỉ bày rành rõ tất cả chúng sanh đều là Phật. Thẳng đó nhận
được tự tánh thanh tịnh này, tùy thuận không nhiễm ô, trong hai mươi bốn giờ đi
đứng ngồi nằm tâm không khởi vọng, ấy là hiện thân thành Phật; chẳng cần dụng
tâm dụng lực, cũng chẳng cần tạo tác thi vi, không nhọc một mảy may suy nghĩ
nói năng. Do đó, nói thành Phật là việc rất dễ dàng, rất tự tại, đạt được là tại nơi ta,
không phải cầu bên ngoài. Tất cả chúng sanh trên thế giới này, nếu thật không cam
chịu trường kiếp trầm luân trong tứ sanh lục đạo, hằng đắm chìm nơi bể khổ,
muốn thành Phật được thường, lạc, ngã, tịnh, phải tin lời chân thật của Phật Tổ
“buông hết tất cả, không nghĩ nhớ thiện ác”, mỗi người khả dĩ liền đó thành Phật.
Chư Phật, Bồ-tát và lịch đại chư vị Tổ sư phát nguyện độ hết tất cả chúng sanh,
không phải là không bằng cứ, đâu phải chỉ hứa nguyện suông.
Đã nói ở trên, pháp vốn như vậy, Phật Tổ lắm phen dạy rõ căn dặn kỹ càng,
là chân ngữ thật ngữ, không một mảy hư dối. Phật do lòng đại từ bi không nệ tất
cả chúng sanh từ vô lượng kiếp đến nay mê muội chìm đắm trong biển khổ sanh tử,
vừa ra lại vào, luân chuyển không dừng, mê lầm điên đảo, trái tánh giác hợp vọng
trần. Ví như vàng ròng bỏ vào hầm phẩn, không những chẳng dùng được mà lại
nhơ nhớp quá lắm. Ngài bất đắc dĩ nói ra tám muôn bốn ngàn pháp môn, tùy căn
cơ chẳng đồng của chúng sanh dùng đối trị tham, sân, si, ái v.v… tám muôn bốn
ngàn bệnh tập khí vi tế. Như vàng đã dính các thứ nhơ nhớp, mới dạy người dùng
sạn, bàn chải, nước, vải v.v… để mài giũa, chùi rửa nó. Sở dĩ Phật nói pháp, mỗi
môn đều là diệu pháp, đều có thể liễu thoát sanh tử, thành Phật đạo. Chỉ có vấn đề
hợp cơ hay không hợp cơ, không cần phân biệt pháp môn cao hay thấp. Pháp môn
lưu truyền ở Trung Hoa rất phổ thông là Tông, Giáo, Luật, Tịnh, Mật. Năm pháp
môn này tùy căn tánh và chỗ hứng thú của mỗi người thực hành môn nào cũng tốt.
Quan trọng là trong một môn được thâm nhập, trải thời gian lâu không đổi thay,
như vậy khả dĩ thành tựu.
Về Tông môn chủ trương tham thiền, tham thiền cốt “Minh tâm kiến tánh”,
cần tham suốt được cái “bản lai diện mục của mình”, nên nói: “Giác ngộ tự tâm,
thấy suốt bản tánh”. Pháp môn này phát nguyên từ hội Linh Sơn, Phật đưa cành
hoa sen, ngài Ca Diếp cười chúm chím, đến Tổ sư Đạt-ma truyền sang Trung Hoa,
về sau chỗ hạ thủ công phu đã từng thay đổi. Các bậc Thiền đức trước đời Đường,
đời Tống phần nhiều nghe một lời, hoặc nửa câu được ngộ đạo. Thầy trò truyền
nhau chẳng qua dùng tâm ấn tâm, không có một thật pháp. Ngày thường thưa hỏi,
trả lời cũng chẳng qua tùy cách phá chấp, theo bệnh cho thuốc mà thôi. Từ đời
Tống về sau, người học đạo căn tánh yếu ớt cạn hẹp, nói được mà làm không được.
Ví như nói “buông hết tất cả”, “không nghĩ thiện ác”, thảy đều buông mà không
hết, không nghĩ thiện thì nghĩ ác. Đến thời đại này Tổ sư bất đắc dĩ dùng biện
pháp lấy độc trừ độc, dạy người học tham công án hay khán thoại đầu. Thậm chí
thiết tha cắn chặt một câu “Tử thoại đầu”, dạy phải nghiến ngầm cấp bách không một sát-na lơi lỏng, giống như con chuột khoét rương cắn mãi một chỗ, chưa
thủng thì không dừng. Dạy như vậy, mục đích lấy một niệm trừ muôn niệm. Kỳ
thật, đó cũng là một biện pháp bất đắc dĩ, như mụt nhọt độc trong thân, nếu không
dùng dao mổ thì bệnh khó lành. Công án của cổ nhân rất nhiều, sau này chuyên
dạy khán thoại đầu, khán “Mang thây thúi ấy là gì?”, khán “Trước khi cha mẹ
chưa sanh, thế nào là mặt thật xưa nay của ta?”. Gần đây, các nơi phần nhiều dùng
một câu thoại đầu khán “Niệm Phật là gì?”. Kỳ thật, những câu thoại đầu đều cùng
một loại, đều rất bình thường không có gì kỳ lạ đặc biệt. Có thể ta nói: khán
“Niệm kinh là gì?”, khán “Trì chú là gì?”, khán “Lễ Phật là gì?”, khán “Đi đường
là gì?”, khán “Ngủ mới thức là gì?”… đều cùng một loại như nhau. Sau chữ gì là
đáp án, nó vốn là tâm. Thoại (lời nói) từ tâm khởi, tâm là đầu của thoại. Niệm từ
tâm khởi, tâm là đầu của niệm. Muôn pháp đều từ tâm khởi, tâm là đầu của muôn
pháp. Kỳ thật, thoại đầu tức là niệm đầu, trước niệm chính là tâm. Nói thẳng, trước
khi một niệm chưa sanh là thoại đầu. Do đây, chúng ta biết khán thoại đầu tức là
quán tâm. Trước khi cha mẹ chưa sanh, mặt thật xưa nay tức là tâm. Khán trước
khi cha mẹ chưa sanh, mặt thật xưa nay là quán tâm. Tánh cũng tức là tâm. Câu
“Phản văn văn tự tánh” (xoay cái nghe nghe tự tánh) là phản quán quán tự tâm.
Câu “Viên chiếu thanh tịnh giác tướng” (chiếu khắp tướng giác thanh tịnh), thanh
tịnh giác tướng tức là tâm, chiếu tức là quán. Tâm tức là Phật, niệm Phật tức là
quán Phật, quán Phật tức là quán tâm. Sở dĩ nói “khán thoại đầu” hoặc nói “khán
niệm Phật là gì ”, đều là quán tâm, quán chiếu giác thể tự tâm thanh tịnh, là quán
chiếu Phật tánh của mình. Tâm tức là tánh, tức là giác, tức là Phật, không có hình
tướng chỗ nơi, trọn không thể được, sẵn vậy thanh tịnh, khắp cả pháp giới, không
ra không vào, không qua không lại, chính là xưa nay hiện thành Pháp thân Phật
thanh tịnh. Hành nhân thu nhiếp lục căn “khán từ chỗ một niệm mới sanh”, soi xét
một câu thoại đầu này, khán đến chỗ tự tâm thanh tịnh ly niệm. Lại tiến lên, càng
thầm kín dày dặc, lặng lẽ yên tịnh, tuy tịch mà chiếu, thẳng đó ngũ uẩn đều không,
thân tâm đều vắng lặng, hoàn toàn không có một việc. Từ đây ngày đêm đi đứng
ngồi nằm như như không động, càng lâu công phu càng dày liền được thấy tánh
thành Phật, vượt qua mọi khổ ách. Xưa Tổ sư Cao Phong nói: “Người học đạo hay
khán một câu thoại đầu, như gieo hòn gạch xuống hồ sâu muôn trượng, rơi thẳng
tận đáy, được vậy trong bảy ngày, nếu không khai ngộ, Lão tăng xin dâng thủ cấp”.
Bạn đồng tham thiền! Câu nói của người xưa là chân ngữ, thật ngữ, không phải lời
nói dối trá lừa đảo đâu!
Nhưng, tại sao người hiện thời khán thoại đầu rất nhiều, mà không có mấy
người ngộ đạo? Ấy là do người hiện thời căn cơ không bằng người xưa, cũng tại
người học đạo đường lối tham thiền khán thoại đầu đa số không rành rõ. Có người
tham đông hỏi tây, cầu nam thỉnh bắc, kết quả chỉ là loạn động đến già, một câu
thoại đầu vẫn không rành rõ, không biết thế nào là thoại đầu thì làm sao khán thoại
đầu? Một đời chỉ chấp trước ngôn cú, danh tướng, dụng tâm tại thoại vĩ (đuôi lời
nói) mà thôi. Hoặc có người khán “Tham Phật là gì?”, hoặc “Chiếu cố thoại đầu”,
khán qua khán lại, tham tới tham lui cùng câu thoại đầu đông tây chạy ngược nhau.
Như vậy, làm sao hội ngộ được cái vô vi đại đạo bản nhiên này? Làm sao đến được cái vương vị tất cả không thọ? Hoặc có người bỏ mạt vàng vào con mắt, con
mắt bị mù, làm sao được phóng quang sáng suốt? Đáng thương thay! Đáng thương
thay! Có những người hảo tâm xuất gia chí nguyện phi phàm, mà kết quả chỉ một
bề nhọc công vô ích, rất đáng thương xót! Người xưa nói: “Thà đành ngàn năm
không ngộ, không cam một ngày sai lầm”.
Người tu hành ngộ đạo dễ mà khó, khó mà dễ, giống như vặn nút đèn điện,
biết thì khoảng khảy móng tay đèn cháy sáng trưng, cái đen tối muôn năm liền hết,
không biết thì vặn máy hỏng đèn hư, phiền não càng tăng trưởng. Có một ít người
tham thiền khán thoại đầu bị ma phát điên, thổ huyết, mắc bệnh, bởi vì lửa vô
minh quá to, chấp nhân ngã thật dày, đó là những gương rất rõ ràng. Sở dĩ người
dụng công cốt khéo điều hòa thân tâm, cần phải tâm bình khí hòa, không chướng
ngại, không nhân ngã, đi đứng ngồi nằm khéo hợp với máy huyền diệu.
Pháp tham thiền xưa nay không có phân biệt, chỉ do công phu tu tập, sơ
tham có khó và dễ, lão tham cũng có khó và dễ. Cái khó của người sơ tham là thế
nào? – Vì thân tâm không thuần thục, đường lối chưa rành rõ, dụng công không
đến nơi, nếu trong tâm không chấp cấp bách thì bị bệnh ngủ gật qua ngày, kết quả
thành: “năm đầu sơ tham, năm thứ hai lão tham, năm thứ ba không tham”. Cái dễ
là sao? - Chỉ cần đầy đủ tín tâm, tâm lâu bền và vô tâm. Tín tâm, một là tin tâm ta
đây xưa nay là Phật, cùng chư Phật mười phương và chúng sanh không khác; hai
là tin pháp của đức Phật Thích-ca Mâu-ni nói mỗi pháp đều được liễu sanh thoát
tử và thành Phật đạo. Tâm lâu bền, phải tuyển chọn nhất định một pháp, trọn đời
thực hành, cho đến đời sau và đời sau nữa đều như thế hành trì. Nếu là tham thiền
thì cứ như thế mà tham, nếu niệm Phật thì cứ như thế mà niệm, nếu trì chú thì cứ
như thế mà trì, nếu học giáo lý thì cứ từ văn, tư, tu mà thực hành. Dù tu một pháp
môn nào cũng lấy giới làm căn bản. Nếu đúng như vậy mà thực hành sau này nhất
định thành công. Qui Sơn Lão nhân nói: “Nếu có người hay thực hành pháp này
(tham thiền) ba đời không lui sụt, quả vị Phật quyết định có ngày”. Vĩnh Gia Lão
nhân nói: “Nếu dùng vọng ngữ lừa chúng sanh, hằng đọa địa ngục Bạt Thiệt số
kiếp như cát bụi”. Vô tâm chính là buông hết tất cả, giống hệt như người chết, trọn
ngày tùy chúng làm việc mà không khởi một điểm phân biệt chấp trước, thành một
vị đạo nhân vô tâm. Người sơ tham đầy đủ ba tâm ấy rồi, nếu tham thiền khán
thoại đầu, nên khán “Niệm Phật là gì?”. Ông tự thầm niệm ít tiếng “A Di Đà Phật”,
khán cái niệm Phật đó là gì? Một niệm ấy từ chỗ nào phát khởi? Nên biết, một
niệm ấy không phải từ miệng ta khởi, cũng không phải từ thân thịt ta khởi. Nếu từ
thân miệng ta khởi, khi ta chết rồi thân miệng vẫn còn sao không thể niệm? Phải
biết, một niệm này là từ tâm ta khởi, tức từ chỗ tâm niệm khởi phải chăm chăm
nhìn thẳng nơi đó, như mèo rình chuột, toàn thể tinh thần tập trung vào một chỗ
này, không có niệm thứ hai. Chỉ cần giữ trung bình giữa hoãn và gấp, không cho
gấp quá sẽ phát bệnh chướng. Đi đứng ngồi nằm đều giữ như vậy, lâu ngày công
phu đầy đủ, thời tiết nhân duyên đến, một phen xúc chạm quả dưa chín cuống rụng
bỗng nhiên đại ngộ. Khi ấy, như người uống nước lạnh nóng tự biết, thẳng đến chỗ
không nghi ngờ, như thấy chữ Thập đầu đường đi thẳng về nhà gặp cha rất an vui. Cái khó dễ của người lão tham thế nào? - Lão tham là người đã gần gũi
thiện tri thức, dụng công nhiều năm, đã trải qua một phen luyện lọc thân tâm thuần
thục, đường lối rành rõ, dụng công một cách tự tại không thấy cay đắng. Cái khó
của bậc Thượng tọa lão tham chính là dừng trụ trong chỗ tự tại sáng suốt, nghỉ
trong Hóa thành không đến Bảo sở. Hay tịnh không hay động, không thể được cái
chân thật thọ dụng; thậm chí gặp cảnh sanh tình thủ xả như xưa, ưa chán cũng hiện
rõ. Vọng tưởng thô và tế vẫn nguyên vẹn bền chắc, chỗ dụng công như hòn đá
ngâm nước lạnh không có tác dụng, lâu dần cũng sanh mỏi mệt, trọn không thể
đắc quả khởi dụng. Thượng tọa lão tham! Biết được cái khốn khó này rồi, lập tức
đề khởi câu thoại đầu cũ, phấn chấn tinh thần, đầu sào trăm trượng lại bước vượt
lên, thẳng đến đảnh núi cao chót vót mà đứng, tận đáy biển sâu thăm thẳm mà đi,
buông tay tung hoành, cùng gặp gỡ chư vị Phật Tổ, những cái khốn khó đâu còn,
không dễ là gì?
Thoại đầu tức là nhất tâm, cái nhất tâm này của chúng ta không phải ở
trong, ngoài và chặng giữa, mà cũng ở trong, ngoài và chặng giữa, như hư không
không động mà khắp tất cả chỗ. Sở dĩ thoại đầu không nên đem lên trên, cũng
không nên đè xuống dưới. Đem lên trên thì dẫn khởi tán loạn, đè xuống dưới thì
rơi vào hôn trầm, trái với tánh chất bản tâm, đều không phải là Trung đạo. Các vị
sợ vọng tưởng, cho hàng phục vọng tưởng là rất khó khăn. Tôi xin thưa quí vị,
không nên sợ vọng tưởng cũng không cần phí sức hàng phục vọng tưởng. Các vị
chỉ cần nhận ra vọng tưởng, không chấp trước nó, không tùy thuận nó, cũng chẳng
cần xua đuổi nó, chỉ không cho tiếp tục thì vọng tưởng tự lìa. Nên nói: “Vọng khởi
liền biết, biết vọng liền lìa”. Nếu khéo lợi dụng vọng tưởng khởi công phu, khán
“Vọng tưởng này từ chỗ nào phát sanh?”. Vọng tưởng không tánh chính nó là
không, tức là tâm tánh vốn không của ta, tự tánh thanh tịnh pháp thân Phật ngay
đây được hiện tiền. Xét thật mà nói, chân vọng một thể, chúng sanh và Phật không
hai, sanh tử Niết-bàn, phiền não Bồ-đề đều là bản tâm bản tánh, không cần phân
biệt, không cần ưa chán, không cần thủ xả. Tâm thanh tịnh này xưa nay là Phật,
không nhận một pháp, làm gì có nhiều mối? Tham!
"
II. THIỀN ĐƯỜNG CHỈ DẠY.
DẪN LỜI DẠY.
Chư vị hằng ngày đến thỉnh tôi chỉ dạy khiến tôi rất hổ thẹn. Chư vị ngày
ngày nhọc nhằn cuốc đất, bửa củi, gánh gạch làm việc quên cả sớm chiều, mà vẫn
không quên tâm niệm cầu giải thoát. Hạt giống thiết tha vì đạo ấy khiến mọi người
đều cảm động. Hư Vân này hổ thẹn không đạo không đức, nói không đến đâu lấy
gì chỉ dạy, chỉ lượm lặt những lời dạy của cổ nhân để đáp lại lời khẩn cầu của chư
vị mà thôi.
B. PHƯƠNG PHÁP NHẬP MÔN DỤNG CÔNG.
Phương pháp dụng công tu hành rất nhiều, hiện tại chỉ tóm lược chỉ bày:
1. ĐIỀU KIỆN QUYẾT ĐỊNH TRƯỚC KHI TU TẬP: a) Tin sâu nhân quả. – Không luận người nào, nếu muốn dụng công tu tập
trước cần phải tin sâu nhân quả. Nếu không tin nhân quả, thực hành càn bướng,
không những tu hành chẳng thành công mà tam đồ cũng khó tránh. Cổ đức nói:
“Muốn biết nhân đời trước hãy xem sự lãnh thọ của đời này, muốn biết quả đời
sau hãy nhìn sự gây tạo hiện tại”. Lại nói: “Giả sử đã tạo nghiệp trăm ngàn kiếp
vẫn không mất, khi nhân duyên hội ngộ quả báo trở lại tự chịu”. Kinh Lăng
Nghiêm nói: “Nhân địa không ngay, quả báo cong vạy”. Cho nên gieo nhân lành
kết quả lành, gieo nhân ác gặt quả ác, trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu là
đạo lý tất nhiên vậy.
Nói đến nhân quả tôi xin thuật hai câu chuyện xưa để chứng minh:
Chuyện vua Lưu Ly giết dòng họ Thích.
Trước đức Phật Thích-ca ra đời, trong thành Ca-tỳ-la-vệ có một làng chài
lưới, trong làng có cái hồ to. Khi ấy, trời hạn nước cạn, bao nhiêu cá trong ao bị
người làng bắt ăn hết, sau cùng còn lại một con cá thật to cũng bị người làm thịt
luôn. Trong làng chỉ có một đứa bé lâu nay không ăn thịt cá, hôm ấy đến thấy con
cá to lấy cây gõ trên đầu nó ba cái rồi đi. Sau này khi đức Thích-ca ra đời, vua Batư-nặc rất kính tin Phật pháp, cưới con gái dòng họ Thích làm vợ, sanh được một
Thái tử đặt tên Lưu Ly. Lúc thơ ấu, Lưu Ly ở bên ngoại tại thành Ca-tỳ-la-vệ học,
một hôm nhân giỡn chơi trèo lên tòa của Phật ngồi, bị người họ Thích rầy mắng
kéo lôi xuống, nên ôm lòng uất hận. Đến khi Lưu Ly lên làm vua, xuất đại binh
đánh thành Ca-tỳ-la-vệ, bắt hết dân cư trong thành giết sạch, chính khi ấy đức
Thích-ca nhức đầu ba ngày. Các vị đệ tử lớn của Phật cầu xin Phật tìm cách giải
cứu dòng họ Thích. Phật nói: “Định nghiệp khó chuyển”. Tôn giả Mục Liên dùng
sức thần thông lấy bình bát đến thâu năm trăm người dòng Thích-ca đem để trên
không trung; khi giặc qua, Ngài đem xuống thả ra, không ngờ khi trút bát thấy tất
cả đều biến thành máu. Các đệ tử lớn đến thưa hỏi Phật, Phật đem việc xưa dân
trong làng ăn cá thuật lại: Con cá lớn ngày xưa là vua Lưu Ly hiện nay, quân đội
của vua Lưu Ly đều là những con cá nhỏ trong hồ. Dân cư trong thành Ca-tỳ-la-vệ
bị giết đều là người ăn cá ngày xưa. Thân Phật chính là đứa bé gõ đầu cá ba cái
ngày xưa, nên hiện tại bị quả báo nhức đầu ba ngày. Vì định nghiệp khó tránh nên
năm trăm người dòng họ Thích tuy được Tôn giả Mục Liên cứu thoát, cũng không
bảo tồn được tánh mạng. Sau này vua Lưu Ly bị đọa địa ngục. Oan oan tương báo
không biết bao giờ hết được. Nhân quả thật đáng sợ vậy.
Chuyện ngài Bá Trượng độ Hồ Ly.
Bá Trượng Lão nhân một hôm vào nhà giảng, giảng xong các thính giả ra
hết, chỉ còn lại một ông già không lui đi. Ngài Bá Trượng hỏi: “Ông còn muốn hỏi
gì?”. Ông ấy thưa: “Con là Dã hồ tinh không phải là người, đời trước con vốn làm
Đường đầu (Trụ trì) ở đây, nhân có người học, hỏi con: ‘Bậc đại tu hành lại rơi
vào luật nhân quả chăng?’. Con đáp: ‘Không rơi nhân quả’. Do đó con bị đọa lạc
làm Dã hồ tinh đã năm trăm năm, không có cách nào thoát thân, mong Hòa thượng
từ bi chỉ dạy cho!”. Ngài Bá Trượng bảo: “Ngươi hỏi lại ta”. Ông ấy bèn hỏi:
“Bạch Hòa thượng! Bậc đại tu hành lại rơi vào nhân quả chăng?”. Tổ Bá Trượng
đáp: “Không lầm nhân quả”. Ông già nghe câu này liền đại ngộ. Ông lễ tạ thưa: “Nay nương lời đáp thay của Hòa thượng khiến con siêu thoát thân Dã hồ, con ở
hang sau núi, mong Hòa thượng lấy lễ tống táng theo nhà sư cho con”. Hôm sau,
Tổ Bá Trượng lại hang sau núi, lấy gậy bới ra có xác con hồ tinh, bèn dùng lễ theo
nhà sư mà an táng.
Chúng ta nghe hai câu chuyện xưa này càng biết rõ nhân quả đáng sợ, tuy
thành Phật vẫn khó khỏi quả báo nhức đầu. Sự báo ứng một mảy may không sai
lạc, định nghiệp thật khó trốn tránh. Chúng ta gắng cẩn thận, gắng dè dặt chớ có
gây nhân.
b) Nghiêm trì giới luật. – Dụng công tu hành trước nhất phải trì giới. Giới
là cội gốc quả vô thượng Bồ-đề, nhân giới sanh định, nhân định phát tuệ, nếu
không trì giới mà tu hành thì không thể được. Trong kinh Lăng Nghiêm dạy rõ
bốn món thanh tịnh, dạy chúng ta rằng: “Không trì giới mà tu chánh định không
thể thoát khỏi trần lao, dù hiện tiền có nhiều trí tuệ, nhiều thiền định cũng rơi vào
tà ma ngoại đạo”. Đó nên biết, trì giới là trọng yếu, người trì giới Long Thiên ủng
hộ, ma ngoại kính sợ. Người phá giới, bọn quỉ gọi là giặc lớn, nó quét dấu chân
của người ấy. Ngày xưa tại nước Kế Tân, gần bên đất già lam có một con độc long
thường khi ra nhiễu hại dân chúng địa phương. Có năm trăm vị A-la-hán nhóm
họp một chỗ dùng sức thiền định đuổi nó đi, rốt cuộc không hiệu quả gì cả. Sau có
một vị Tăng, không cần nhập thiền định chỉ đến gần con độc long nói một câu:
“Hiền thiện ! Hãy tránh xa chỗ này đi”. Con độc long liền đi mất. Các vị A-la-hán
hỏi vị Tăng ấy: “Ông dùng thần thông gì đuổi được con độc long?”. Vị Tăng đáp:
“Tôi không dùng sức thiền định, chỉ do cẩn thận đối với giới, gìn giữ giới khinh
cũng như giới trọng”. Chúng ta tưởng tượng sức thiền định của năm trăm vị Lahán mà không bằng một vị Tăng nghiêm trì giới luật.
Hoặc có người bảo: “Lục Tổ nói tâm bình đâu cần trì giới, hạnh thẳng nào
dụng tham thiền”. Tôi xin hỏi ông: Tâm ông đã bình, hạnh ông đã thẳng chưa? Giả
sử có người con gái đẹp lõa thể đến ôm ông, ông có thể không động tâm chăng?
Có người vô lý mạ nhục đánh đập ông, ông có thể không sanh tâm sân hận chăng?
Ông đã đạt được chỗ không phân biệt oán thân, thương ghét, nhân ngã, phải quấy
chưa? Cẩn thận khi làm được mới nói những lời to ấy, nếu làm không được mà nói
chỉ là nói suông.
c) Tín tâm kiên cố. – Có ý dụng công tu tập trước cần phải có lòng tin bền
chặt. Lòng tin là đầu của Đạo, là mẹ các công đức. Bất luận làm việc gì không có
lòng tin thì làm không xong. Chúng ta cốt liễu thoát sanh tử, điều cần thiết phải có
lòng tin bền chặt. Phật nói: “Tất cả chúng sanh đều có đức tướng trí tuệ Như Lai,
chỉ do vọng tưởng chấp trước không thể chứng được”. Phật lại dạy các thứ pháp
môn để đối trị tâm bệnh của chúng sanh. Chúng ta nên tin lời Phật nói không hư
dối, tin chúng sanh đều có khả năng thành Phật. Sở dĩ chúng ta chưa được thành
Phật, đều do chưa triệt để dụng công đúng như pháp mà thôi. Ví như chúng ta tin
đậu nành làm đậu hũ được, nếu ta không ra công nấu đậu hũ thì đậu nành tự nó
không thể biến thành đậu hũ. Nếu chúng ta đi nấu đậu hũ mà để thạch cao không
đúng lượng, đậu hũ cũng không thể thành. Nếu ta nấu đúng pháp, để thạch cao
đúng lượng quyết định sẽ thành đậu hũ. Người tu hành cũng như thế, không dụng công tu tập cố nhiên không thành Phật, dụng công không đúng pháp Phật cũng
không thể thành. Nếu người tu tập đúng pháp, không lui không hối, quyết định
người này sẽ thành Phật. Cho nên, chúng ta phải tin sâu chính mình xưa nay là
Phật; lại tin sâu y giáo pháp Phật dạy tu hành quyết định thành Phật. Vĩnh Gia
Thiền sư nói: “Chứng thật tướng không nhân pháp, sát-na diệt hết nghiệp A-tỳ,
nếu dùng lời vọng dối chúng sanh, tự chuốc địa ngục (Bạt Thiệt) trần sa kiếp”.
Ngài Vĩnh Gia vì lòng từ bi, cốt định chắc lòng tin cho người đời sau, nên phát lời
thệ rộng lớn như vậy.
d) Quyết định pháp môn tu hành.- Lòng tin đã đủ, lại nên chọn một pháp
môn để tu trì, cần phải không được sớm Tần chiều Sở. Bất luận niệm Phật cũng tốt,
trì chú cũng tốt, tham thiền cũng tốt, điều cần thiết là nhận định một pháp môn
thẳng đó tiến tu hằng không lui sụt. Ngày nay chưa thành công, ngày mai vẫn tiến
hành như thế; năm nay chưa thành công, năm tới vẫn tiến hành như thế; đời này
chưa thành công, đời sau vẫn tiến hành như thế. Qui Sơn Lão nhân nói: “Đời đời
nếu không lui sụt, quả Phật quyết định có ngày”. Có một số người làm mà không
chú ý quyết định, ngày nay nghe vị thiện tri thức này nói niệm Phật hay, liền niệm
Phật được vài ngày; ngày mai nghe vị thiện tri thức kia nói tham thiền hay, lại
tham thiền vài ngày, sang đông tìm tây, một đời kiếm tìm đến chết mà không được
một chút kết quả, rất uổng thay!
2. PHƯƠNG PHÁP THAM THIỀN:
Pháp môn dụng công tuy nhiều mà chư Phật, Tổ sư đều cho tham thiền là
vô thượng diệu môn. Trên hội Lăng Nghiêm Phật dạy Bồ-tát Văn Thù chọn môn
viên thông, ngài Văn Thù chọn môn nhĩ căn viên thông của Bồ-tát Quán Thế Âm
là bậc nhất hơn cả. Chúng ta cần “Phản văn văn tự tánh” (xoay cái nghe nghe tự
tánh) chính là tham thiền. Trong thiền đường này cũng nên giảng một pháp tham
thiền.
a) Tọa thiền nên biết. – Bình thường nhật dụng đều là hành đạo, như vậy
chỗ nào không phải là đạo tràng, cần gì thiết lập thiền đường, cũng không phải tọa
thiền mới là thiền. Nói thiền đường, nói tọa thiền chẳng qua vì chúng ta là chúng
sanh trong thời mạt pháp chướng sâu, tuệ cạn mà tạm thiết lập.
Tọa thiền cần hiểu rõ cách điều dưỡng thân tâm. Nếu không khéo điều, hại
nhỏ là sanh bệnh, hại to là bị ma, thật đáng tiếc vậy. Trong thiền đường đi kinh
hành, hoặc tọa thiền chỗ dụng ý chính là điều thân tâm. Phương pháp điều thân
tâm rất nhiều, nay chọn lọc những điều cần yếu lược nói:
Khi ngồi kiết già phải theo thứ tự, giữ tự nhiên và ngồi ngay thẳng. Không
được để ý ễnh lưng thẳng lên, nếu ễnh thẳng lưng hơi nóng xông lên tụ lại lâu
ngày, con mắt sanh nhiều ghèn, miệng hôi, đầu nóng, không muốn ăn uống, quá
lắm đến thổ huyết. Lại không được để lưng cong đầu cúi nhiều, nếu vậy dễ sanh
hôn trầm. Như biết khi hôn trầm tới, mở mắt to ra, ễnh lưng một cái và động nhẹ
nhẹ hai bên hông, hôn trầm tự nhiên tiêu diệt.
Nếu dụng công cấp bách quá, khi nghe trong lòng bứt rứt nên bỏ hết mọi
việc và xả luôn cả dụng công, dừng nghỉ độ năm mười phút, dần dần thư thái, nhiên hậu đề khởi dụng công. Nếu không như vậy, dồn chứa lâu ngày biến thành
tánh nóng nảy dễ sân, thậm chí phát cuồng bị ma.
Tọa thiền khi có chút thọ dụng (thấy cảnh giới lạ) cảnh giới phát hiện rất
nhiều nói không thể hết, chỉ ta không chấp trước cảnh giới ấy thì nó không làm
ngại ta được. Lời tục nói: “Thấy quái ta không quái, quái tự mất”. Trông thấy yêu
ma quỉ quái đến nhiễu hại ta, ta không cần quan tâm đến nó, cũng không sợ nó hại.
Chính thấy đức Phật Thích-ca đến rờ đầu thọ ký, ta cũng không quan tâm đến,
chẳng nên sanh vui mừng. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Không khởi tâm cho mình
chứng Thánh, là cảnh giới lành, khởi tâm cho mình chứng Thánh, tức lạc quần tà”.
b) Hạ thủ công phu - biết chủ khách.- Hạ thủ công phu thế nào ư? Trên hội
Lăng Nghiêm ngài Kiều Trần Như nói hai chữ Khách Trần, chính là chỗ sơ tâm
chúng ta hạ thủ công phu vậy. Ngài nói: “Ví như người hành khách dừng nghỉ nơi
quán trọ, hoặc ngủ hoặc ăn, ăn ngủ xong gói hành lý ra đi, đi không trở về nghỉ lại.
Nếu thật người chủ thì không đi đâu. Như thế suy xét, không ở lại gọi là khách, ở
lại gọi là chủ. Bởi không ở lại nên nghĩa là khách. Lại như buổi sáng trời tạnh, mặt
trời vượt lên, ánh sáng soi qua các kẽ hở, soi rõ các vi trần trong hư không, vi trần
diêu động, hư không yên lặng. Yên lặng là Không, diêu động là nghĩa Trần”.
Khách và trần dụ vọng tưởng, chủ và hư không dụ tự tánh. Người chủ thì thường ở,
không phải như khách hoặc đi hoặc đến, đó là dụ tự tánh thường trụ vốn không
theo vọng tưởng chợt sanh chợt diệt. Nên nói: “Chỉ tự vô tâm với vạn vật, ngại gì
vạn vật thường nhiễu loạn”. Tính chất vi trần tự diêu động vẫn không làm ngại
được cái yên lặng của hư không. Dụ vọng tưởng tánh nó sanh diệt vẫn không làm
ngại được tự tánh như như bất động. Nên nói: “Một tâm không sanh, muôn pháp
chẳng lỗi lầm”.
Trong đây chữ Khách so phần thô, chữ Trần so phần tế. Người mới phát
tâm trước nhận rõ Chủ và Khách, tự không bị nó kéo lôi; tiến lên nhận rõ ràng
Không và Trần, vọng tưởng không thể làm chướng ngại. Nên nói: “Biết được,
không phải oán”. Người hay xét kỹ lãnh hội được chỗ này, sự dụng công tu hành
rất chóng tiến.
c) Thoại đầu cùng nghi tình. - Thời xưa Tổ sư chỉ thẳng tâm người thấy
tánh thành Phật. Như cách an tâm của Tổ Đạt-ma, lối bàn kiến tánh của Lục Tổ,
chỉ cần thẳng đó thừa nhận là xong, không có khán thoại đầu. Đến các Tổ sư sau
này thấy tâm người không bằng cổ nhân, không thể tử tâm như khối đất, mà luôn
tráo trở lăng xăng, mọi người chỉ đếm của báu cho kẻ khác mà lầm nhận là của
mình. Bởi thế nên các Ngài riêng lập môn đình (cảnh riêng) và mỗi vị chỉ ra một
phương pháp, do đó mới dạy người học khán thoại đầu.
Thoại đầu rất nhiều, như: “Muôn pháp về một, một về chỗ nào?” hay
“Trước khi cha mẹ chưa sanh, thế nào là mặt thật của ta?” v.v… nhưng phổ thông
hơn cả là câu “Niệm Phật là gì?”.
Thế nào là thoại đầu? Thoại là lời nói, trước lời nói là đầu. Như niệm A Di
Đà Phật là thoại, trước khi chưa niệm là thoại đầu. Nên nói thoại đầu là cái mé
chưa sanh một niệm. Một niệm vừa sanh đã thành thoại vĩ (đuôi lời nói). Cái mé
chưa sanh một niệm đó gọi là “không sanh”; không loạn động, không mê muội, không đắm nơi tịnh, không rơi vào không, gọi là “không diệt”. Luôn luôn chăm
chú trở lại chiếu soi cái “không sanh không diệt” ấy, gọi là “khán thoại đầu” hoặc
“chiếu cố thoại đầu”.
Khán thoại đầu trước cần phải khởi nghi tình, đó là chỗ nương nhờ của
pháp khán thoại đầu. Sao gọi là nghi tình? Như hỏi niệm Phật là gì? Người người
đều biết chính mình niệm. Nhưng là miệng niệm hay tâm niệm? Nếu thật miệng
niệm, khi ngủ mê vẫn có miệng sao không niệm? Nếu thật tâm niệm, tâm hình
dáng thế nào, lại không có chỗ nơi sờ mó? Nhân chỗ không rõ này, trên chữ gì
phát khởi niệm nghi nhẹ nhàng tế nhị, không cho thô, càng tế càng tốt. Tùy thời
tùy chỗ chăm chú chiếu cố quyết chí nơi niệm nghi này, giống như dòng nước
không có chỗ đoạn, không sanh hai niệm. Nếu niệm nghi còn thì không cần để ý
đến nó, niệm nghi nếu mất lại nhẹ nhàng đề khởi lên. Khi mới dụng tâm thì trong
tịnh, trong động so sánh rất đắc lực. Nhưng cốt không sanh tâm phân biệt, không
quan tâm đến đắc lực hay không đắc lực, không chú ý trong động hay trong tịnh,
ta chỉ nhất tâm, nhất ý dụng công là tốt.
Bốn chữ Niệm Phật là gì, rất quan trọng tại chữ gì, ngoài ra ba chữ kia
chẳng qua là để nói cho to mà thôi. Như “mặc áo, ăn cơm là gì?”, “đại tiểu tiện là
gì?”, “phá vô minh là gì?”, “hay hiểu biết là gì?”, bất luận đi đứng ngồi nằm một
khi đề chữ gì lên là dễ phát niệm nghi, không cần suy nghĩ xét nét để ý mới có.
Cho nên chữ gì trong câu thoại đầu thật tại là một diệu pháp của tham thiền.
Nhưng không phải đem một chữ gì, hoặc bốn chữ niệm Phật là gì coi như danh
hiệu Phật mà niệm; cũng không phải suy nghĩ xét nét câu niệm Phật là gì mà cho
là nghi tình. Có một số người đem bốn chữ niệm Phật là gì ra niệm suốt ngày
không dừng miệng, như thế chi bằng niệm A Di Đà Phật công đức còn hơn. Có
một số người nghĩ quanh tính quẩn, tìm đông kiếm tây cho đó là nghi tình, đâu
biết rằng càng nghĩ càng tính vọng tưởng càng nhiều, giống như người muốn lên
lại bị rơi xuống, cần phải biết vậy.
Người sơ tâm phát niệm nghi rất thô, chợt dứt chợt nối, chợt chín chợt sống,
đều không được nghi tình, chỉ gọi là Tưởng. Lần lần thu nhiếp được tâm cuồng
loạn, niệm đầu cũng kềm giữ được chút ít, mới gọi là Tham. Lại tiến dần dần công
phu thuần thục không nghi mà tự nghi, không biết mình đang ngồi ở chỗ nào, cũng
không biết có thân tâm thế giới, chỉ riêng niệm nghi hiện tiền không gián đoạn, đó
gọi là nghi tình. Thật tế mà nói, lúc đầu chưa kể là dụng công chỉ đả phá vọng
tưởng, đến khi chân nghi hiện tiền mới là giai đoạn chân chánh dụng công. Giai
đoạn này như qua cửa ải lớn rất dễ vào đường tẽ.
Giai đoạn này rất thanh tịnh và vô hạn khinh an, nếu mất một ít giác chiếu
bèn rơi vào trạng thái mê muội nhẹ nhàng. Nếu khi ấy có bậc sáng suốt ở bên, một
phen nhìn qua liền biết người ấy đang mắc tại cảnh giới này, lấy một hương bản
đập xuống, lập tức đầy trời mây mù tan hết, rất nhiều người nhân đây được ngộ
đạo.
Chính khi rất thanh tịnh rỗng rang ấy, nếu nghi tình không còn bèn rơi vào
vô ký, ngồi như cây như đá, hoặc gọi hòn đá ngâm nước lạnh. Đến khi đó cần phải
đề khởi, đề khởi tức là giác chiếu (giác là không mê, tức là tuệ; chiếu là không loạn, tức là định) chăm chú một niệm ấy, lặng lẽ chiếu soi, như như không động,
sáng sủa không mê, rành rõ thường biết, như lạnh nóng rút hơi, một mạch liên tục
không dứt.
Dụng công đến chỗ này cần có con mắt Kim cang không đề khởi thêm, nếu
đề khởi thì đã đầu lại thêm đầu. Xưa có vị tăng hỏi Triệu Châu Lão nhân rằng:
“Một vật khi không đem đến làm thế nào?”. Châu đáp: “Buông hết đi!”. Tăng thưa:
“Một vật không đem đến, buông hết cái gì?”. Châu bảo: “Buông không xuống thì
gánh lên!”. Chính là nói giai đoạn này vậy. Trong cảnh sáng sủa mát mẻ này như
người uống nước lạnh nóng tự biết, không phải nói năng có thể đến được. Người
đến chỗ này tự nhiên sáng suốt, người chưa đến được có nói cũng vô ích. Nên nói:
“Trên đường gặp kiếm khách nên trình kiếm, không phải nhà thơ chớ tặng thơ”.
d) Chiếu cố thoại đầu cùng phản văn văn tự tánh.- Hoặc có người hỏi:
“Câu phản văn văn tự tánh của Bồ-tát Quán Thế Âm sao được gọi là tham thiền?”
- Tôi mới nói chiếu cố thoại đầu chính là dạy ông luôn luôn chăm chú một niệm
hồi quang phản chiếu cái “không sanh không diệt” (thoại đầu). Phản văn văn tự
tánh cũng là dạy ông luôn luôn chăm chú một niệm phản văn văn tự tánh. Hồi
chính là Phản, không sanh không diệt là Tự tánh. Văn và chiếu, tuy lúc xuôi dòng
theo thinh theo sắc, nghe không ra ngoài tiếng, thấy không vượt khỏi sắc, phân
biệt rõ ràng; nhưng khi ngược dòng trở lại quán tự tánh không chạy theo thinh sắc,
chính là một cái tinh minh, Văn và Chiếu đâu phải hai thứ. Chúng ta cần biết, nói
rằng “Chiếu cố thoại đầu”, “Phản văn tự tánh” tuyệt đối không phải dùng mắt xem,
dùng tai nghe. Nếu dùng mắt xem, hoặc dùng tai nghe, ấy là đã chạy theo thinh sắc,
bị vật chuyển gọi là xuôi dòng. Nếu chăm chú trong một niệm “không sanh không
diệt”, không đuổi theo thinh sắc, gọi là ngược dòng. Ấy là “Chiếu cố thoại đầu”,
cũng là “Phản văn tự tánh”.
e) Tâm thiết tha vì sanh tử cùng phát tâm lâu dài. - Tham thiền rất cần tâm
thiết tha vì sanh tử và phát tâm lâu dài. Nếu đối với sự sanh tử không thiết tha thì
nghi tình không phát, công phu khó đạt. Nếu không phát tâm lâu dài, một nóng
mười lạnh thì công phu cũng không thành phiến. Chỉ cần có tâm thiết tha lâu dài
thì chân nghi mới phát. Khi chân nghi phát thì trần lao phiền não không dứt cũng
tự dứt. Khi thời tiết nhân duyên đến tự nhiên nước tụ thành ngòi.
Tôi xin thuật lại một việc cũ chính mắt tôi thấy cho các ông nghe. Lúc
trước, đời Thanh khoảng năm Canh Tý, Liên quân tám nước vào kinh đô, tôi theo
chân vua Quang Tự và Từ Hy Thái hậu chạy giặc. Giữa đường gặp một đoạn phải
chạy bộ về Thiểm Tây, mỗi ngày chạy mấy mươi cây số, luôn mấy ngày không có
cơm. Trên đường gặp một ông già đem dâng vua Quang Tự một miếng khoai rừng,
ăn xong vua hỏi người ấy: “Thứ gì ăn ngon lắm vậy?” Các ông thử tưởng, Hoàng
đế ngày thường rất kiểu cách, rất oai phong, đâu từng đi bộ hơn mấy bước, chưa
từng đói quá nửa bụng, chưa từng ăn hết một miếng khoai rừng. Đến lúc này, kiểu
cách chẳng có, oai phong không còn, lội bộ cũng được, bụng đói cũng chịu, ăn rễ
rau cũng ngon. Vì sao mà ông bỏ hết được? – Vì Liên quân đuổi bắt ông, ông nhất
tâm chạy chết. Đến sau được nghị hòa, ông ngự giá về kinh, kiểu cách lại khởi, oai
phong lại hiện, đi bộ không nổi, bụng đói không được, cái gì không ngon thì nuốt không trôi. Sở dĩ thế, tại khi này ông buông không hết, vì Liên quân không còn
đuổi bắt ông, ông không có tâm chạy chết. Giả sử ông thường đem cái tâm chạy
chết ấy mà tu hành thì thế nào không thành công; đáng tiếc ông không có tâm lâu
dài, gặp thuận cảnh thái độ cũ lại bộc khởi.
Các vị đồng tham thiền! Bọn quỉ vô thường luôn luôn theo đuổi sanh mạng
chúng ta, không bao giờ chúng chịu “nghị hòa”. Chúng ta cần phải phát tâm thiết
tha lâu dài để giải thoát vòng sanh tử. Tổ Cao Phong Diệu nói: “Người tham thiền
cần yếu khắc định ngày thành công, giống như người rơi xuống giếng sâu ngàn
trượng từ sáng đến chiều, từ chiều đến sáng muôn ngàn tư tưởng chỉ chăm chăm
một việc mong ra khỏi giếng, trọn không có niệm thứ hai. Người thực hành được
như vậy, hoặc ba ngày, năm ngày, bảy ngày, nếu không triệt ngộ, Cao Phong ngày
nay phạm tội đại vọng ngữ hằng đọa trong địa ngục Bạt Thiệt”. Cao Phong Lão
nhân vì lòng đại bi thiết tha sợ e chúng ta không phát tâm tha thiết lâu dài, nên
phát lời thề nặng này để bảo chứng cho chúng ta.
g) Dụng công có hai thứ khó và dễ. - Người dụng công có hai thứ khó và dễ:
1.- Sơ dụng tâm khó dễ
2.- Lão dụng tâm khó dễ
1.- Sơ dụng tâm khó dễ.
Sơ dụng tâm khó - Tâm trộm không chết.
Cái thông bệnh của người sơ dụng tâm là vọng tưởng, tập khí buông không
hết, vô minh, cao mạn, tật đố, chướng ngại, tham, sân, si, ái, lười biếng, ăn ngon,
phải quấy, nhân ngã đầy dẫy trong bụng, làm sao tương ưng với đạo? Hoặc có
người là công tử hay ca sĩ xuất gia tập khí không quên, một chút khổ nhọc chịu
không nổi, một miếng không ngon nuốt chẳng vô, làm sao dụng công tu hành?
Người này không chịu tưởng nhớ đức Bổn Sư Thích Ca là hạng nào đi xuất gia mà
chịu khó khổ được như vậy? Hoặc có người biết chút ít văn tự bèn tầm chương
trích cú đem những lời nói của cổ nhân ra phân tích, rồi cho mình là hiểu hoàn
toàn sanh đại ngã mạn; nhưng đến khi bệnh nặng thì rên xiết suốt ngày, hoặc đến
lúc sắp lâm chung thì tay co chân rút, bình sanh chỗ hiểu biết không thực hành
được một điểm, đến khi hấp hối ăn năn sao kịp?
Hoặc người có chút đạo tâm lại không hiểu rõ chỗ hạ thủ công phu. Có
người sợ vọng tưởng cố trừ mà trừ không được, trọn ngày buồn rầu bực tức tự hận
nghiệp chướng nặng nề, nhân đó thối thất đạo tâm. Hoặc có người quyết cùng
vọng tưởng chiến đấu, chăm bẳm chống tay xông hơi, ưỡn ngực trừng mắt giống
vẻ mặt hầm hầm của tên giám sát, quyết cùng vọng tưởng một còn một mất, họ
đâu biết như vậy, vọng tưởng đã đuổi không được, trở lại mang bệnh thổ huyết,
phát cuồng. Hoặc có người sợ rơi vào không, đâu ngờ trước đã sanh ra quỉ; không
vẫn là không chẳng động, ngộ lại ngộ chẳng đến. Hoặc có người khởi tâm cầu ngộ,
ngờ đâu cầu ngộ đạo mong thành Phật đều là đại vọng tưởng; cát không phải là
cơm, cầu đến bao nhiêu năm quyết định cũng không ngộ. Hoặc có người chợt
được yên tịnh một vài cây hương bèn sanh vui mừng, ấy chỉ là con rùa đen mù tìm
bọng cây, ngẫu nhiên đụng nhằm chẳng phải là công phu thật, ma vui mừng sớm
đã nhập vào tâm vậy. Hoặc có người trong chỗ yên tịnh biết được thanh tịnh rất thích, trong chỗ động thì mất thanh tịnh, nhân đó tránh chỗ ồn náo tìm chỗ yên
tịnh, ấy là đã sớm làm quyến thuộc của hai thứ ma vương động tịnh. Các người
như vậy thật rất là nhiều. Kẻ sơ dụng tâm không thấu rõ đường lối tu tập thật là
khó. Có giác mà không chiếu thì tán loạn không thể “đến nhà”. Có chiếu mà
không giác lại “ngồi chết chìm trong nước chết”.
b- Sơ dụng tâm dễ - Buông xuống chỉ để một niệm.
Dụng công tuy nói khó, nhưng hiểu rõ đường lối lại rất dễ. Tại sao sơ dụng
tâm là dễ? – Không có gì khéo, buông hết liền được. Buông hết cái gì? – Buông
hết tất cả vô minh phiền não. Làm sao buông hết được? – Chúng ta coi thân này
như chết vậy. Ông thử chửi thây chết bao nhiêu câu, nó cũng không phát giận,
đánh mấy gậy nó cũng không chống cự, lúc sống ưa phá vô minh bây giờ cũng
không phá, lúc sống ưa danh lợi khi này cũng không màng, lúc sống nhiều thứ tập
nhiễm khi này không có, cái gì cũng không phân biệt, cái gì cũng bỏ hết. Chư vị
đồng tham thiền! Chúng ta mang xác thân này một phen hơi thở ra không trở lại
bèn thành thây chết. Chúng ta sở dĩ buông không hết, chỉ do xem thân này là trọng,
sanh nhân ngã phải quấy thương ghét thủ xả. Nếu nhận định thân này như thây
chết, không quý trọng nó, không chấp nó là ngã thì có cái gì buông không hết? Chỉ
cần buông được hết, trong hai mươi bốn giờ đi đứng ngồi nằm, động tịnh rảnh
rang bận rộn, toàn thân trong ngoài chỉ là một niệm nghi, bình thản không dứt
niệm nghi, không chen niệm nào khác. Một câu thoại đầu như nương Ỹ Thiên
trường kiếm, ma đến ma chết, Phật đến Phật chết, không sợ vọng tưởng thì có cái
gì phá hại ta được? Có cái gì phân động phân tịnh, có cái gì chấp hữu chấp không?
Như quả thật sợ vọng tưởng, ấy là chồng thêm một lớp vọng tưởng. Biết mình
thanh tịnh, thế là đã không thanh tịnh. Sợ rơi vào không, chính đã rớt trong có.
Tưởng thành Phật, đã vào đường ma. Nên nói: “Bửa củi gánh nước đâu không
phải diệu đạo, cày ruộng cuốc đất đều là thiền cơ”. Không phải trong khi ngồi kiết
già mới gọi là dụng công tu hành.
2.- Lão dụng tâm khó dễ.
Lão dụng tâm khó – Đầu sào trăm thước không thể tiến bước.
Thế nào là lão dụng tâm khó? Lão dụng tâm đến giai đoạn chân nghi hiện
tiền, có giác có chiếu vẫn thuộc sanh tử, không giác không chiếu lại rơi vào không
vong, đến cảnh giới này thật là khó. Đa số người đến chỗ này vượt qua không khỏi,
đứng trên đầu sào trăm thước không có cách nào tiến bước. Có một số người nhân
đến cảnh giới này, trong định phát chút ít tuệ hiểu sơ lược một ít công án của cổ
nhân, liền bỏ hết nghi tình, tự cho là đại triệt đại ngộ, ngâm thi vịnh phú, nhướng
mày chớp mắt, xưng là thiện tri thức, thật không biết mình đã rơi vào bè đảng của
ma. Lại có người hiểu lầm ý nghĩa câu của Đạt-ma Lão nhân nói: “Ngoài dứt các
duyên, trong tâm không xao động, tâm như vách tường có thể vào đạo” và câu của
Lục Tổ nói: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác chính khi ấy cái gì là bản lai diện
mục của Thượng tọa”, bèn cho ngồi như cây như đá là hay tuyệt. Hạng người này
cho Hóa thành là Bảo sở, nhận xứ người cho là quê hương, thật là chỗ Bà tử đốt
am và mắng “Các ngươi là người chết”.
Lão dụng tâm dễ - Cứ miên mật đi !  Thế nào là lão dụng tâm dễ? – Đến lúc này chỉ cần không tự mãn, không
bỏ nửa chừng, thầm thầm kín kín dụng công, trong thầm kín lại thầm kín, trong vi
tế lại vi tế, khi thời tiết đến đáy thùng tự bể (đại ngộ). Nếu không tự bể, nhờ thiện
hữu tri thức nhổ đinh rút chốt cho.
Đại sĩ Hàn Sơn có bài tụng:
Chót vót trên đảnh núi,
Bốn phía không mé bờ.
Ngồi tịnh chả ai biết,
Suối lạnh vầng trăng soi.
Trong suối vốn không trăng,
Trời xanh trăng xa thẳm.
Ngâm một bài ca này,
Trong ca thiền chẳng có.
Hai câu đầu nói cái chân thường bày hiện, không thuộc một cái gì, sáng
chiếu khắp đại địa không một mảy chướng ngại. Bốn câu kế nói chân như diệu thể
phàm phu hẳn không thể biết, ba đời chư Phật cũng tìm không được chỗ nơi của ta,
nên nói: “chả ai biết”. Ba câu “Suối lạnh vầng trăng soi v.v…” là Lão nhân dùng
phương tiện thí dụ cảnh giới ấy. Hai câu rốt sau, sợ người nhận lầm ngón tay là
mặt trăng, nên đặc biệt cảnh giác chúng ta “phàm có nói năng không phải là thiền”.
3. KẾT LUẬN:
Chính tôi mới nói ở trên cũng là gỡ rối chỉ đường mà thôi. Phàm có nói
năng đều không phải thật nghĩa. Cổ đức tiếp độ người, nếu không đánh thì nạt, đâu
có vẽ bày lăng xăng vầy. Chẳng qua người nay không thể sánh với người xưa,
miễn cưỡng dùng tay chỉ mặt trăng. Chư vị đồng tham thiền! Cứu cánh ngón tay là
gì? Mặt trăng là gì? Hãy tham đi!
"
III. LỜI NHẮC KHI THAM THIỀN.
Tâm tức là Phật, Phật tức là giác. Một cái giác tánh này chúng sanh và Phật
bình đẳng không sai biệt; rỗng lặng trọn không có một vật, không thọ một pháp,
không thể tu chứng; sáng suốt mà đầy đủ muôn đức, diệu dụng hằng sa không nhờ
tu chứng. Chỉ vì chúng sanh mê muội trầm luân sanh tử trải qua rất nhiều số kiếp,
tham, sân, si, ái, vọng tưởng chấp trước nhiễm ô đã sâu dày, bất đắc dĩ mới nói tu
nói chứng. Thế nên, nói “tu” cổ nhân cho là một việc chẳng lành, không cách nào
hơn mới tạm dùng vậy thôi.
Thứ nói nhập thất. Quý vị nhập thất trải qua hai mươi mốt ngày. Trong hai
mươi mốt ngày xét ra thân tâm có phần thuần thục, dụng công sánh với trước được
dễ dàng. Quý vị cố gắng đừng để nhân duyên qua mất. Cần yếu trong hai mươi
mốt ngày làm sao cho được nước rút đá lộ, phát minh tâm địa mới khỏi cô phụ cái
cơ duyên khó gặp này.
Hơn hai mươi ngày nay, quý vị từ sáng đến tối thức sớm ngủ trễ, nỗ lực
dụng công, kết quả không ngoài bốn thứ cảnh giới: 1.- Có người đường lối không thông, câu thoại đầu khán không đến, mơ mơ
màng màng theo chúng ngủ gật, không bị vọng tưởng lăng xăng thì bị hôn trầm lôi
kéo.
2.- Có người khán đến câu thoại đầu, có chút ít hiểu bèn chấp chặt, chỉ là
nắm chết cứng hòn gạch gõ cửa, niệm chấp câu thoại đầu “Niệm Phật là gì?”,
thành ra niệm thoại đầu, cho như thế là khởi nghi tình được khai ngộ. Đâu biết đó
là dụng tâm tại thoại vĩ. Nó là pháp sanh diệt không thể đến được chỗ một niệm
không sanh, tạm dùng còn khả dĩ, nếu chấp cho là cứu cánh thật pháp thì mong gì
có ngày ngộ đạo? Gần đây trong thiền tông sở dĩ không có người đạt đạo, phần
nhiều do lầm dụng tâm tại thoại vĩ.
3.- Có người hiểu khán thoại đầu, hay chiếu cố đến hiện tiền một niệm
không sanh. Hoặc hiểu niệm Phật là tâm, tức từ chỗ một niệm phát khởi này thẳng
khán đến tâm tướng vô niệm. Theo dõi lần đến chỗ tịch tịnh, những vọng tưởng
thô đã dứt, được khinh an, liền có các cảnh giới phát hiện. Hoặc không biết thân
tâm mình đang ngồi chỗ nào. Hoặc biết thân được nhẹ nhàng có thể bay bổng lên
trên. Hoặc thấy người, vật đẹp đáng yêu nên sanh tâm hoan hỷ. Hoặc thấy cảnh
giới đáng sợ, khởi tâm kinh khủng. Hoặc khởi tâm dâm dục v.v… nhiều thứ không
phải một, cần biết đó đều là ma, chấp nó bèn thành bệnh.
4.- Có người nghiệp chướng nhẹ nhàng, đường lối rành rõ, dụng công đúng
cách, tiến đúng phương pháp, tâm được thanh tịnh sáng suốt, tất cả vọng tưởng
đều dứt, thân tâm tự tại không có cảnh giới nào khác. Đến chỗ này chấn khởi tinh
thần theo đường lối trước dụng công, chỉ phải chú ý “cây khô trước hang nhiều lối
tẽ”. Có khi đến chỗ này, rồi dừng trụ trong hôn trầm. Có khi đến chỗ này được
chút ít tuệ giải, rồi làm thi làm văn, tự cho là đầy đủ, khởi cống cao ngã mạn.
Bốn cảnh giới trên đều là bệnh, tôi sẽ chỉ quý vị phương thuốc đối trị.
a) Như người câu thoại đầu khán không đến, nhiều vọng tưởng hôn trầm,
ông nên khán lại chữ gì trong câu “Niệm Phật là gì?”. Khán đến khi nào vọng
tưởng hôn trầm còn ít, chữ gì không quên, liền khán đến chỗ một niệm mới phát
khởi. Ở đó đợi đến lúc một niệm không khởi tức là được không sanh. Hay khán
đến một niệm không sanh, gọi là chân khán thoại đầu.
b) Người chấp chặt câu “Niệm Phật là gì?”, dụng tâm tại thoại vĩ, lấy pháp
sanh diệt cho là phải, cũng nên theo ý tứ tôi đã chỉ ở trên, tức là nhắm chỗ một
niệm phát khởi, khán đến một niệm không sanh.
c) Người quán vô niệm đã được tịch tịnh khinh an mà gặp những cảnh giới
khác lạ, ông nên chiếu cố câu thoại đầu cũ, một niệm không sanh, Phật đến Phật
chết, ma đến ma chết, một bề không để ý đến, tự nhiên vô sự không rơi vào chúng
tà.
d) Người vọng niệm đã dứt, thanh tịnh sáng suốt thân tâm tự tại, nên như cổ
nhân nói: “Muôn pháp về một, một về chỗ nào?”. Do một bề tiến đến chỗ cùng
cực, thẳng tiến lên ngọn núi cao chót vót đứng, xuống tận đáy biển sâu thăm thẳm
đi, lại buông tay ngang dọc.
Trở về trước đã nói, đều là đối với người độn căn trong thời mạt pháp mà
chỉ phương pháp. Kỳ thật tông môn thượng thượng nhất thừa này chỉ thú do đức Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni ở trong hội Linh Sơn đưa cành hoa sen lên biểu thị là
“Giáo ngoại biệt truyền”. Trải qua chư vị Tổ sư chỉ truyền tâm, chỉ thẳng tâm
người thấy tánh thành Phật, không rơi vào giai cấp, không nhờ tu chứng. Trong
một lời nói, hoặc nửa câu liền thấu rõ không một pháp có thể được, không một
pháp có thể tu, liền đó không khởi vọng duyên tức là như như Phật, đâu cần học
nhiều câu ư?
"
IV. ĐÊM TRỪ TỊCH UỐNG PHỔ TRÀ DẠY CHÚNG.
Chư vị Thượng tọa! Đêm nay là ba mươi tháng Chạp rồi, đại chúng đều
nhận đã một năm qua, Thường trụ không có món gì ngon cúng dường, xin thỉnh
chư vị uống một chung trà. Chiếu theo sách lịch một năm có bốn mùa Xuân, Hạ,
Thu, Đông; mười hai tháng và hai mươi bốn tiết. Người đời hầu hết đều căn cứ
theo thời tiết mà làm việc. Như nhà nông thì mùa xuân cày, mùa hạ bừa, mùa thu
gieo, mùa đông gặt. Thợ thầy thì khởi công đình công. Buôn bán thì khai trương
kiết trướng. Trường học thì tựu trường bãi trường. Chúng ta người xuất gia thì kiết
chế giải chế, thỉnh chức thối chức. Không một nghề nào mà chẳng căn cứ thời tiết
làm việc. Một số người cho năm qua là rất quan trọng cần phải thu nhặt những
việc đã làm tổng kết lại, đồng thời cần phải nghỉ mấy ngày.
Chúng ta có duyên lành hãnh diện ngày nay đồng ở tại Vân Môn bình yên
qua một năm. Đó là nhờ Phật Tổ Bồ-tát gia hộ và Long Thiên phù trì, cũng do
chúng ta nhiều kiếp tài bồi công đức mới cảm được quả tốt này. Nhưng, chúng ta
được bình yên qua năm không thể quên được những người đang sống trong thống
khổ. Chúng ta không thể thích thú vui cười, cần phải tỉnh xét ăn năn sám hối, tinh
tấn tu hành tự lợi lợi tha, khuếch trương phước tuệ. Những vị già, cái chết đến
trong chớp mắt cần phải tinh tấn dõng mãnh tu hành. Những người trẻ, cũng
không nên lửng lơ qua ngày, phải biết con đường huỳnh tuyền không lựa già hay
trẻ, mồ hoang biết bao người trẻ tuổi. Tóm lại, tất cả đều sớm nỗ lực cầu thoát
khỏi vòng sanh tử mới là thượng kế.
Chúng ta lâu nay mỗi ngày thường uống trà, tại sao hôm nay gọi “uống
“Phổ trà”? Ấy là do lòng nhân từ của tiền bối mượn uống trà để kỉnh tỉnh môn đồ.
Xưa Triệu Châu Lão nhân đạo đức cao siêu, học giả mười phương đến tham học
rất đông. Một hôm, có hai vị tăng mới đến, Triệu Châu chỉ một vị hỏi: “Thượng
tọa từng đến đây chưa?”. Vị tăng thưa: “Chưa từng đến”. Triệu Châu bảo: “Uống
trà đi!”. Lại hỏi vị tăng khác: “Từng đến đây chưa?”. Vị tăng ấy thưa: “Đã từng
đến đây”. Triệu Châu bảo: “Uống trà đi!”. Viện chủ bạch: “Người chưa từng đến
dạy uống trà còn có thể được, người đã từng đến vì sao cũng dạy uống trà đi?”.
Triệu Châu gọi “Viện chủ!”. Viện chủ đáp: “Dạ!”. Triệu Châu bảo: “Uống trà đi!”.
Như thế, cả ba người đều được lợi ích. Sau này truyền khắp thiên hạ “Trà Triệu
Châu”. Lại như Tổ Vân Môn ở đây, có một học giả đến yết kiến, Ngài bèn cầm cái
bánh đưa lên, học giả liền lãnh hội. Sở dĩ thiên hạ lưu truyền “Bánh Vân Môn”,
“Trà Triệu Châu”. Hiện giờ chư vị uống trà, ăn bánh đã ngộ chưa? Nếu như chưa ngộ, phải dùng cách hỏi: “Uống trà là gì?”, “Ăn bánh là gì?”. Đại để người xưa
mỗi niệm hợp đạo, mỗi bước đều vô sanh, nên trải qua một câu kỉnh tỉnh liền được
ngộ đạo. Người nay phạm hạnh chưa trong sạch thường ở trong động, mỗi niệm
sanh diệt che lấp sâu dày, làm sao chỉ dạy pháp, cũng không giáo hóa người khác.
Cho nên chư vị phải buông hết tất cả, không cho phàm tình vọng niệm làm nhiễm
ô cái chân tâm sáng suốt của mình. Cổ nhân nói: “Chỉ dứt hết phàm tình, không
riêng có Thánh giải”. Các ông nay uống trà nếu không biết hương vị của trà, thì
đồng cây đá, nếu biết hương vị của trà, ấy là phàm phu. Làm sao bỏ được hai bên
có và không này, đó là bổn phận của tăng sĩ vậy. Tuy nhiên, siêu thoát hai cái hiểu
biết này vẫn còn sanh hoạt trong hang quỉ. Các ông phải kỹ càng “Buông hết thân
tâm, chớ theo các cơ quan mà chuyển động”, ngay đó tham đi!
"
V. TU CÙNG KHÔNG TU.
Giảng tu hành, giảng không tu hành đều là câu nói suông. Chúng ta thấu
triệt tâm quang của mình rồi, liền đó không có một việc thì còn cái gì mà nói tu
không tu. Thử xem chỗ hiển bày của Đức Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni, xuất gia, hỏi
đạo, sau sáu năm khổ hạnh chứng đạo, khi sao mai mọc, Ngài than: “Lạ thay! Lạ
thay! Tất cả chúng sanh đều có đức tướng, trí tuệ Như Lai, chỉ vì vọng tưởng chấp
trước không thể chứng được. Nếu lìa vọng tưởng là thanh tịnh trí, tự nhiên trí, vô
sư trí tự nhiên hiện tiền”. Về sau nói pháp bốn mươi chín năm, mà Ngài tuyên bố:
“Ta chưa từng nói đến một chữ ”. Sau này, trải qua chư vị Tổ sư một mạch truyền
nối đều nhận định “Tâm, Phật, chúng sanh ba cái không khác”, “Chỉ thẳng tâm
người thấy tánh thành Phật”. Nói ngang, nói dọc, hoặc đánh, hoặc nạt đều vì đoạn
trừ phân biệt vọng tưởng của học giả; cốt cho học giả thẳng đó “biết được bản tâm,
thấy được bản tánh của mình”. Không nương vào một chút phương tiện nói tu nói
chứng. Ý chỉ của Phật Tổ, chúng ta đã thấy rõ ràng lắm vậy .
Một niệm tâm hiện tiền của chúng ta xưa nay vẫn thanh tịnh, vẫn tự đầy đủ,
bủa trùm khắp giáp, diệu dụng hằng sa cùng với chư Phật ba đời không khác. Chỉ
cần không nghĩ thiện, không nghĩ ác, không nghĩ gì cả, liền đó có thể thành Phật,
ngồi một chỗ mà thiên hạ thái bình. Như thế, còn có hạnh nào đáng tu, giảng tu
hành đâu không phải là câu nói suông. Nhưng một niệm tâm hiện tiền của chúng ta
đang hướng ngoại tìm cầu, vọng tưởng chấp trước không thể rời được, từ vô thỉ
đến nay lưu chuyển trong sanh tử, vô minh phiền não nhiễm quá sâu dày, ban đầu
không biết tự tâm là Phật, biết rồi cũng chẳng chịu thừa đương, không thể làm chủ
được, không có cái dũng khí của người tráng sĩ chặt tay, hằng ngày ở trong vọng
tưởng chấp trước. Người bậc thượng, trọn ngày làm thế này thế nọ, cầu thiền cầu
đạo, mà không thể rời được hữu tâm. Người bậc hạ, tham sân si ái bền chặt không
thể phá, chạy ngược với đạo. Hai hạng người này trầm luân trong sanh tử không
biết chừng nào dứt; nếu giảng không tu hành đâu không phải lời nói suông?
Các bậc đại trượng phu nhận định đã thấu triệt, biết rõ muôn sự muôn vật
xưa nay đều là giấc mơ, huyễn hóa, hòn bọt, cái bóng không có tự tánh, nhân và
pháp liền không, muôn duyên đều dứt, một niệm là muôn năm, thẳng đến chỗ vô sanh. Người bàng quan nhìn vào thấy bậc ấy cũng mặc áo, ăn cơm, đi đứng ngồi
nằm như người thường. Đâu biết bậc ấy đang ngồi yên trong nhà thái bình thanh
tịnh của mình, hưởng thọ kho báu vô tận, không khởi tâm không tạo tác, tự do tự
tại, động tịnh đều là như như, lạnh hay nóng chỉ vị ấy tự biết mà thôi. Không
những người, trời, quỷ thần trong tam giới lục đạo nhìn vị ấy không thấu, chính là
chư Phật Bồ-tát cũng chẳng làm gì được người ấy. Đối với bậc này, còn nói cái gì
là tu hành hay không tu hành?
Hạng kế đó, cần phải phát khởi chí hướng, thống thiết nhớ việc chết sống,
phát tâm hổ thẹn, khởi hạnh tinh tấn, hỏi đạo và cố gắng tham thiền; thường cầu
thỉnh các bậc thiện tri thức chỉ dạy lối tắt, phân biệt thế nào là chánh, là tà; tha
thiết giũa mài, lấy nước sông Hán mà rửa, đem ra mặt trời Thu mà phơi, dần dần
càng được tinh thuần trắng sạch. Với hạng người này không thể không nói tu
hành .
Đã nói từ trước đến đây chẳng qua dời trên đổi dưới đều thuộc phương tiện
tạm thời, người mắt sáng xem qua cốt nhận “vạch bùn lấy nước”. Song Tổ đình đã
cuối thu, cách Phật ngày càng xa thẳm, vì ứng hợp căn cơ chúng sanh, bất đắc dĩ
mới giảng giải thế này. Xét thật, giảng tu hành, giảng không tu hành đều là lời nói
suông. Thẳng đó là vô sự, vốn không có một vật, đâu phiền mở miệng. Các Bồ-tát
hội chăng?
D