|
Thiền học
Hoài Hải Thiền Sư - Bá Trượng Quảng Lục
Thích Duy Lực
18/04/2555 12:01 (GMT+7)
Kích cỡ chữ:
![]()
Mục lục
Ngôn ngữ cần phải
phân biệt trắng đen, cần phải biết là lời nói chung hay lời nói riêng, lời
nói liễu nghĩa hay bất liễu nghĩa.
Giáo liễu nghĩa
phân biệt về thanh (trong), còn bất liễu nghĩa phân biệt về trược (đục). Nói
cấu bên pháp uế là phân biệt về phàm, nói cấu bên pháp tịnh là phân biệt về
Thánh. Từ chín bộ giáo nói thẳng ra chúng sanh không có mắt, cần phải nhờ
người gọt giũa. Nếu nói với người tục tai điếc, cần phải dạy họ xuất gia trì
giới, tu thiền học huệ. Nếu là người tục siêu xuất thì không nên dạy họ như
thế, như trường hợp các ngài Duy Ma Cật, Phó Đại Sĩ… đối với bậc xuất gia đã
thọ giới cụ túc, sức giới, định, huệ đã có mà nói như thế thì gọi là phi thời
ngữ (chẳng ứng cơ) cũng gọi là ỷ ngữ (nói thêu dệt), nếu là bậc xuất gia phải
nói cấu bên pháp tịnh, phải nói lìa các pháp có, không, lìa tất cả tu chứng,
cũng lìa cái lìa nữa. Nếu trong hàng xuất gia tẩy trừ tập nhiễm tham, sân
không được cũng gọi là kẻ tục tai điếc, phải dạy họ tu thiền học huệ. Tăng sĩ
Nhị thừa đã dứt được bệnh tham sân mà còn trụ nơi vô tham, cho đó là đúng là
thuộc về Vô sắc giới, là ngăn trở ánh sáng Phật, là làm thân Phật chảy máu
cũng phải dạy họ tu thiền học huệ.
Cần phải biện
biệt rõ ràng lời nói thanh, trược. Pháp trược là các danh từ tham, sân, ái,
thủ… Pháp thanh là các danh từ Bồ đề, Niết bàn, giải thoát… Cái giác chiếu
soi hiện tại chỉ cần đối với hai dòng thanh trược, các pháp Thánh, phàm, sắc,
thanh, hương, vị, xúc, pháp, các pháp thế gian và xuất thế gian đều chẳng nên
có mảy may ái thủ. Đã chẳng ái thủ mà y trụ vào chẳng ái thủ cho đó là phải,
ấy là Sơ Thiện, là trụ nơi điều phục tâm, là hàng Thanh Văn, là người đã đến
bờ rồi mà còn lưu luyến chiếc bè không chịu bỏ, là đạo Nhị thừa, là quả Thiền
na. Đã chẳng ái thủ cũng chẳng y trụ nơi chẳng ái thủ, là Trung thiện, là bán
tự giáo vẫn còn là Vô sắc giới khỏi sa vào đạo Nhị thừa, khỏi lạc vào lối Ma
Vương, vẫn còn là bệnh Thiền na, là còn bị trói buộc vào Bồ Tát thừa. Đã
không y trụ nơi chẳng ái thủ và cũng không khởi cái tri giải về không y trụ,
ấy là Hậu thiện, là mãn tự giáo, khỏi rơi vào Vô sắc giới, tránh khỏi bệnh
Thiền na, khỏi sa vào Bồ Tát thừa, khỏi bị đoạ vào địa vị Ma vương, là trí
chướng, địa chướng, hạnh chướng nên thấy Phật tánh của mình như ban đêm thấy
hình sắc. Như nói: Ở địa vị Phật dứt hai thứ ngu: Một là vi tế sở tri ngu,
hai là cực vi tế sở tri ngu. Cho nên nói: Có bậc đại trí đập vỡ hạt bụi lấy
ra quyển Kinh. Nếu thấu suốt nghĩa ba câu thì chẳng bị ba đoạn sơ, trung, hậu
thiện khống chế. Giáo môn thí dụ con hươu ba lần nhảy ra khỏi lưới, gọi là
làm Phật ngoại triền, không có vật gì ràng buộc được người này. Đây thuộc về
Phật sau đức Nhiên Đăng, là Tối thượng thừa, là Thượng thượng trí, là đứng trên
Phật đạo; người này là Phật, có Phật tánh, là Đạo sư, là điều khiển được vô
sở ngại phong, là vô ngại huệ, về sau được tự do sai khiến nhân quả phước
trí, là làm xe chuyên chở nhân quả, ở nơi sanh không bị sanh nhốt, ở nơi tử
không bị từ ngại, ở nơi ngũ ấm như cửa đã mở, không bị ngũ ấm ngăn trở, đi ở
tự do, ra vào không khó. Nếu được như thế, không luận thứ bậc hơn kém cho đến
thân con kiến, chỉ cần được như thế thì đều là cõi nước thanh tịnh vi diệu
không thể nghĩ bàn. Đó còn là lời nói mở trói, họ vốn không thương tích thì
đừng làm cho bị thương. Những cái thương tích Phật, thương tích Bồ Tát đều là
thương tích (Có nghĩa là chấp Phật là thương tích Phật, chấp Bồ Tát là thương
tích Bồ Tát). Phàm nói các pháp “có, không” đều là thương tích. “Có, Không” bao
gồm tất cả pháp.
Hàng Thập địa là
chúng ở trong dòng nước đục, tự cho là dòng nước thanh, dựng tướng thanh để
nói lỗi của tướng trược. Trước kia mười vị đại đệ tử như Xá Lợi Phất, Phú Lâu
Na, chánh tín như A Nan, tà tín như Thiện Tinh… mỗi người có một cốt cách
riêng, mỗi người có một phép tắc riêng đều bị Đạo Sư (Phật) nói toạc ra là
chẳng đúng. Tứ thiền, Bát định, A La Hán…. trụ trong định tám muôn kiếp, họ
là người tu hành theo kiến chấp vì bị rượu tịnh pháp làm say nên hàng Thanh
Văn nghe Phật pháp không phát được đạo tâm vô thượng, do đó bị gọi là người
đoạn thiện căn không có Phật tánh. Kinh nói: “Chỗ gọi là hầm sâu giải thoát
đáng sợ, nếu có một niệm tâm lui sụt thì rơi vào địa ngục mau như tên bắn”.
Chẳng được nhất định nói lui sụt, cũng chẳng được nhất định nói không lui
sụt, như các ngài Văn Thù, Quan Âm, Thế Chí… đến thị hiện đồng loại với Tư Đà
Hườn để dẫn dụ, chẳng được nói họ lui sụt, lúc bấy giờ chỉ được gọi là người
Tu Đà Hườn thôi. Hiện tại các giác chiếu soi chỉ cần chẳng bị các pháp “có,
không” khống chế, thấu suốt nghĩa ba câu và tất cả nghịch thuận thì dầu có
nghe trăm nghìn muôn ức đức Phật xuất hiện ở thế gian cũng như không nghe,
cũng không y trụ vào chỗ không nghe, cũng không khởi tri giải về sự không y
trụ, nói họ là người lui sụt chẳng được, vì số lượng không khống chế họ được,
ấy là Phật thường trụ thế gian mà chẳng nhiễm thế gian.
Nói Phật chuyển
pháp luân, lui sụt cũng là phỉ báng Phật, Pháp, Tăng. Nói Phật chẳng chuyển
pháp luân, chẳng lui sụt cũng là phỉ báng Phật, Pháp, Tăng. Ngài Tăng Triệu
nói: “Đạo Bồ Đề không thể suy lường, cao vô thượng, rộng vô cùng, sâu thăm
thẳm”. Rơi vào lời nói là bệnh, nói giác chiếu soi cũng còn là không đúng,
chỉ là từ trược biện thanh (trong cái đục mà biện biệt cái trong) mà thôi.
Nếu cho nói giác chiếu soi hiện nay là đúng, tức là ngoài cái giác chiếu soi
còn có cái khác thì đều là ma thuyết. Nếu chấp lấy cái giác chiếu soi hiện
tại thì cũng đồng ma thuyết, cũng gọi là tự nhiên ngoại đạo. Nói các giác
chiếu soi hiện tại là Phật của chính mình, đó là lời nói thước tấc, là lời
tính toán, giống như con chồn (dã can) kêu, vẫn thuộc về cửa keo sơn (chấp
trước). Từ trước đến nay chẳng nhận cái tự tri, tự giác là Phật của chính
mình mà lại hướng ra ngoài tìm Phật, nhờ thiện tri thức nói ra cái tự tri tự
giác để làm thuốc trị cái bệnh hướng ngoại tìm cầu, bệnh hướng ngoại tìm cầu
đã lành thì thuốc cũng phải bỏ. Nếu chấp lấy cái tự tri tự giác thì đó là
bệnh Thiền na, là định tánh Thanh Văn, như nước đóng băng, toàn băng là nước
khó mong cứu được nạn khát; cũng nói: “Bệnh chắc chắn hết, lương y bó tay”.
Vô thỉ chẳng phải
là Phật, chớ cho là Phật, Phật là thuốc của chúng sanh, không có bệnh chẳng
cần uống thuốc, thuốc và bệnh đều tiêu, thí dụ: như nước trong, Phật là cam
thảo hoà với nước, cũng như mật hoà với nước ấy rất là ngon ngọt, nếu xem đó
là cùng loại nước trong thì chẳng đúng, chẳng phải không,
vốn là sẵn có, nên cũng nói: Lý này mọi người đều vốn sẵn có. Chư Phật, Bồ
Tát được mệnh danh là người chỉ cho biết hạt châu. Từ xưa đến nay nó chẳng
phải là vật, chẳng cần biết nó, hiểu nó, không cần cho nó là phải hay chẳng
phải, chỉ cần cắt đứt câu đầu hai, cắt đứt câu có, câu chẳng có, cắt đứt câu
không, câu chẳng không, dấu vết hai đầu chẳng hiện. Hai đầu kéo ông chằng
được, số lượng chi phối ông chẳng được, chẳng phải thiếu thốn, chẳng phải đầy
đủ, chẳng phải phàm, chẳng phải Thánh, chẳng phải sáng, chẳng phải tối, chẳng
phải hữu tri, chẳng phải vô tri, chẳng phải rang buộc, chẳng phải giải thoát,
phải tất cả danh mục. Tại sao không phải là lời nói thật? Nếu cho rằng đục
đẽo hư không làm được tướng mạo Phật, hoặc cho rằng hư không là do xanh,
vàng, đỏ, trắng làm thành, như nói: Pháp không có so sánh, không thể ví dụ,
nên Pháp thân vô vi bất đoạ chư số; nên nói: Thánh thể vô danh chẳng thể nói
được, lý như thật của không môn khó ghé, thí dụ như con thái mạt trùng (tên
một loại côn trùng đặc biệt rất nhỏ), có thể đậu ở khắp mọi nơi, nhưng không
thể đậu được trên ngọn lửa. Ý thức của chúng sanh cũng vậy, có thể duyên ở
mọi nơi, nhưng không thể duyên trên Bát Nhã.
Tham học nơi
Thiện tri thức để tìm cầu một tri, một giải đó là thiện tri thức ma, vì sanh
ngữ kiến. Nếu phát tứ hoằng thệ nguyện, nguyện độ hết tất cả chúng sanh rồi
sau ta mới thành Phật, đó là Bồ Tát pháp trí ma vì thệ nguyện không buông bỏ;
nếu trì trai giữ giới, tu Thiền học Huệ đều là thiện căn hữu lậu, dẫu cho
ngồi đạo tràng thị hiện thành Đẳng Chánh Giác độ chúng sanh nhiều như số cát
sông Hằng thảy đều chứng quả Bích Chi Phật, đó là thiện căn ma, vì khởi tâm
tham đắm, nếu đối với các pháp không tham nhiễm, thần lý độc tôn trụ trong
Thiền định sâu không còn tiến lên nữa, đó là Tam muội ma, vì đam mê cái vui
Thiền định. Niết Bàn chí thượng, ly dục tịch tịnh, là nghiệp ma. Nếu trí huệ
thoát lưới ma chưa triệt để thì dẫu cho hiểu được trăm bổn kinh Phật thảy đều
là cặn bã địa ngục, tìm sự tương tự như Phật không bao giờ có.
Như nay nghe nói
chẳng chấp trước vào tất cả pháp thiện, ác, có, không vv… liền cho đó là rơi
vào không, mà chẳng biết rằng bỏ gốc theo ngọn mới chính là rơi vào không.
Cầu Phật, cầu Bồ Đề và tất cả pháp có, không… là bỏ gốc theo ngọn, hiện tại
chỉ cần ăn đạm bạc sống, mặc áo vá đỡ lạnh, khát thì bụm lấy nước uống, ngoài
ra đối với tất cả pháp có, không đều không có mảy may hệ niệm (nghĩ tưởng),
người này dần dần sẽ chút phần nhẹ nhàng sáng suốt.
Thiện tri thức
chẳng chấp có, chẳng chấp không, thoát được mười câu ma ngữ, nói ra không
trói buộc người, có lời nói nào ra chẳng tự xưng là Thầy nói, cũng như tiếng
dội trong hang, tiếng nói trùm khắp thiên hạ mà không có khẩu quá (lỗi do từ
miệng mình nói ra), đủ sức làm y chỉ cho người. Nếu nói ta biết thuyết, biết
giải, nói ta là Hoà thượng, người là đệ tử, cái đó đồng như ma thuyết. Vô cớ
nói rằng: Mục kích đạo tồn (mắt thấy đạo còn). Phật hay chẳng phải Phật, Bồ
đề, Niết bàn, giải thoát… Vô cớ nói ra một tri, một giải, giơ một cánh tay,
dựng một ngón tay bảo là Thiền, là Đạo, lời nói này trói buộc người không
biết đến khi nào mới thôi, chỉ là chồng thêm dây trói buộc Tỳ Kheo. Dẫu cho
không nói cũng có cái khẩu quá. Thà làm thầy cho tâm, chẳng cho tâm làm thầy.
Giáo bất liễu
nghĩa có Thiên nhân sư, có Đạo sư. Trong giáo liễu nghĩa chẳng làm Thiên nhân
sự, chẳng cho phép làm thầy, chưa y được huyền giám (tự tánh), tạm y được
giáo liễu nghĩa còn có phần thân cận, nếu là giáo bất liễu nghĩa thì chỉ
thích hợp để nói trước bọn người tục tai điếc. Nay chỉ cần chẳng y trụ tất cả
pháp có, không, cũng không làm cái chẳng y trụ, cũng không khởi cái tri giải
về chẳng y trụ, cũng không khởi cái tri giải về chẳng y trụ, đây gọi là đại
thiện tri thức, cũng nói: Chỉ có một người đại thiện tri thức là Phật, không
có người thứ hai, ngoài ra đều gọi là ngoại đạo, cũng gọi là ma thuyết. Nay
chỉ cần nói phá câu hai đầu, không tham nhiễn tất cả cảnh pháp có, không và
việc mở trói, ngoài ra không có ngữ cú nào khác để dạy người. Nếu nói ra có
ngữ cú khác để dạy người, có pháp khác để cho người, đó gọi là ngoại đạo cũng
gọi là ma thuyết.
Cần phải biết lời
giáo liễu nghĩa hay giáo bất liễu nghĩa, cần phải biết lời nghịch tục hay lời
tuỳ tục, cần phải biết lời nói sống hay lời nói chết, cần phải biết lời thuốc
hay lời bệnh, cần phải biết lời ví dụ thuận hay nghịch, cần phải biết lời nói
chung hay lời nói riêng. Nói do tu hành được thành Phật, có tu có chứng, thị
tâm thị Phật, tức tâm tức Phật, đấy là lời Phật: Là lời nói giáo bất liễu
nghĩa, là lời tuỳ tục, là lời nói chung, là lời nhẹ như mang một lon một lít,
là lời nói về bên pháp uế, là lời ví dụ thuận, là lời nói chết, là lời nói
trước kẻ phàm phu. Chẳng cho do tu hành mà được thành Phật, không tu không
chứng, phi tâm phi Phật cũng là lời của Phật: là lời giáo liễu nghĩa, là lời
nghịch tục, là lời nói riêng, là lời nặng như mang trăm tạ, là lời nói ngoài
giáo tam thừa, là lời ví dụ nghịch, là lời nói về bên pháp tịnh, là lời nói
sống, là lời nói trước ngoài có quả vị.
Từ Tu Đà Hườn trở
lên thẳng đến bậc Thập địa hễ có lời nói đều thuộc về pháp trần cấu, hễ có
lời nói đều thuộc về bên phiền nào, hễ có lời nói đều thuộc về giáo bất liễu
nghĩa. Giáo liễu nghĩa là trì, giáo bất liễu nghĩa là phạm. Phật địa không có
trì, phạm, nên giáo liễu nghĩa và bất liễu nghĩa và bất liễu nghĩa đều chẳng
cho.
Do mạ mà biết
đất, từ trược biện thanh. Cái giác chiếu soi hiện tại nếu theo bên thanh mà
đến thì có giác chiếu soi, cũng chẳng phải thanh, cũng chẳng phải không
thanh, không có giác chiếu soi, cũng chẳng phải thanh cũng chẳng phải không
thanh, chẳng phải Thánh, chẳng phải không Thánh; không phải thấy nước đục rồi
nói lỗi của nước đục, nếu nước trong thì không có lỗi để nói, nói ra là làm
đục nước rồi.
Nếu có cái hỏi
mà không hỏi cũng có cái nói mà không nói, bởi Phật chẳng vì Phật
mà nói pháp. Bình đẳng chân như pháp giới không có Phật nào mà không độ chúng
sanh. Phật không trụ Phật gọi là chân phước điền.
Cần phải biện
biệt lời chủ khách, tham nhiễm tất cả cảnh pháp có, không, bị tất cả cảnh có,
không làm hoặc loạn thì tự tâm là ma vương, chiếu dụng thuộc ma dâm. Cái giác
chiếu soi hiện tại chỉ cần chẳng y trụ vào tất cả pháp có, không, pháp thế
gian, xuất thế gian; cũng không có tri giải về chẳng y trụ; cũng chẳng y trụ
nơi không tri giải thì tự tâm là Phật, chiếu dụng thuộc Bồ Tát. Tâm tâm là
chủ tể, chiếu dụng thuộc khách trần, như thấy sóng nói nước, nước ấy chiếu
vạn tượng mà không cho là công dụng. Nếu được tích chiếu, chẳng tự do huyền
diệu, thì tự nhiên thấu suốt cổ kim, như nói: “Thần vô chiếu công, chí công
thường tồn” (1). Người như thế được ở khắp mọi nơi làm Đạo sư.
(1) Thần dụ cho
tự tánh; chiếu công = công dụng – chí công = công dụng tối cao. (Công dụng
của tự tánh không qua sự tác ý nhưng công dụng ấy đạt đến cực điểm và luôn
luôn được như thế).
Tánh thức chúng sanh là tánh keo sơn (chấp trước) vì chưa từng bước lên thềm bực Phật nên thường dính khắn vào các pháp có, không, nay thình lình uống thuốc huyền chỉ không được, thình lình nghe lời xuất cách họ tin chẳng nổi, cho nên đức Phật ngồi dưới cội Bồ đề bốn mươi chín ngày lặng lẽ tư duy. Trí tuệ mênh mông khó nói, không tỷ dụ được, nói chúng sanh có Phật tánh cũng là phỉ báng Phật, Pháp, Tăng, nói chúng sanh không Phật tánh cũng là phỉ báng Phật, Pháp, Tăng. Nếu nói có Phật tánh là chấp trướng báng. Nếu nói không Phật tánh là hư vong báng. Như bảo: Nói Phật tánh có là tăng ích báng (nói thêm), nói Phật tánh không là tổn giảm báng (nói bớt), nói Phật tánh cũng có cũng không là tương vi báng (trái ngược nhau), nói Phật tánh chẳng có chẳng không là hý luận báng (nói bông đùa); nếu không nói thì chúng sanh không có hy vọng giải thoát; còn nếu nói thì chúng sanh lại theo lời nói mà sai tri giải, lợi ít mà hại nhiều. Do đó Ngài nói: “Ta thà không nói pháp, mau nhập Niết Bàn”. Nhưng sau đó tìm về chư Phật quá khứ, thấy các Ngài đều nói pháp tam thừa. Về sau, Phật mới giả lập kệ thuyết, giả lập danh tự, vốn chẳng phải Phật nói với họ là Phật, vốn chẳng phải Bồ Đề, nói với họ là Bồ Đề, Niết Bàn, giải thoát…. Biết họ gánh trăm tạ chẳng nổi tạm cho họ gánh một lon, một lít, biết họ khó tin giáo liễu nghĩa tạm nói với họ giáo bất liễu nghĩa, tạm được pháp lành lưu hành còn hơn là pháp ác. Thiện quả mãn rồi thì ác quả đến, được Phật thì có chúng sanh đến, được Niết Bàn thì có sanh tử đến, được sáng thì có tối đến, chỉ là nhân quả hữu lậu đối đãi nhau; nếu muốn khỏi thấy sự đối đãi chỉ cần cắn đứt câu hai đầu thì số lượng khống chế không được; không Phật, không chúng sanh, không thân, không sơ, không cao, không thấp, bình thường, không đẳng, không đi, không đến, chỉ cần chẳng chấp trước văn tự, cách xa hai đầu thì nó nắm bắt ông chẳng được, tránh khỏi các sự khổ vui, sáng tối đối đãi nhau. Thật lý chân thật cũng chẳng chân thật, hư vọng cũng chẳng hư vọng, không phải là vật có số lượng, thí dụ như không chẳng thể tu sửa được, nếu tâm có một chút tri giải liền bị số lượng khống chế cũng như keo sơn, năm chỗ (ngũ uẩn) đều bị dính mắc thì bị ma vương nắm bắt được, chẳng được tự do về nhà.
Luận về giáo ngữ
đều có ba câu liền nhau là sơ thiện, trung thiện và hậu thiện. Sơ là dạy họ
phát thiện tâm, trung là phá thiện tâm, hậu mới là thiện tốt. Bồ Tát tức phi
Bồ Tát thị danh Bồ Tát. Pháp, phi pháp, phi phi pháp, tất cả đều phải như
thế. Nếu chỉ nói một câu hoặc hai câu làm cho chúng sanh vào địa ngục là tội
của Pháp sư, nếu đồng thời nói cả ba câu mà họ tự vào địa ngục thì việc ấy
không liên can đến Pháp sư. Nói cái giác chiếu soi hiện tại là Phật của mình,
là sơ thiện, không chấp lấy cái giác chiếu soi này là trung thiện, cũng không
có cái tri giải về sự không chấp lấy là hậu thiện. Những lời trên còn thuộc
về Phật sau đức Nhiên Đăng, chỉ là không phàm cũng không thánh chớ nói lầm
Phật chẳng phải phàm chẳng phải Thánh. Sơ Tổ Trung Hoa nói: “Vô năng, vô
thánh là Phật tánh”. Nếu nói có thần thông biến hoá là Phật thánh thì chín
phẩm tinh linh rồng, súc sanh… cho đến các cõi Trời Thích, Phạm trở lên cũng
có tinh linh thượng phẩm cũng biết được việc xưa nay trăm kiếp đâu được gọi
là Phật ư? Như A Tu La Vương thân gấp đôi núi Tu Di vô cùng to lớn, lúc cùng
với trời Đế Thích giao chiến, tự biết sức không bằng bèn dắt trăm muôn binh
sĩ chui vào cọng sen ẩn núp, thần thông biện tài cũng không ít nhưng chẳng
phải là Phật.
Giáo ngữ có cấp
bậc mau chậm, lên xuống bất đồng. Lúc chưa ngộ, chưa giải thoát gọi là tham,
sân, ngộ rồi gọi là trí huệ Phật, nên nói: “Không khác người thuở trước, mà
chỉ khác cái hành vi thuở trước”.
Hỏi: - Chặt cây
cuốc cỏ, khai mương, đào đất có tướng tội báo không?
Sư đáp: - Không
thể nhất định nói là có tội hay không tội. Việc có tội hay không tội là do
nơi người đó. Nếu tham nhiễm tất cả pháp có, không, có tâm lấy bỏ, không thấu
suốt nghĩa ba câu thì nói người này nhất định có tội. Nếu thấu suốt nghĩa ba
câu tâm như hư không cũng chẳng có cái nghĩ tưởng hư không thì người này nhất
định là không tội, lại nữa, nếu tội đã tạo rồi lại nói là không thấy có tội
thật là vô lý. Nếu không tạo tội mà nói là có tội thì cũng là vô lý. Như
trong luật nói: “Người hôn mê giết người và chuyển tướng giết người còn không
bị tội giết huống là sự truyền thừa củaThiền Tông, chẳng trụ một pháp nào,
tâm như hư không, cũng không có tướng hư không thì đem tội để ở chỗ nào?”
Cũng nói: “Đạo Thiền chẳng cần tu, chỉ cần đừng ô nhiễm”. Cũng nói: “Chỉ cần
tiêu dung hết tâm trong ngoài là được”. Cũng nói: “Về sự chiếu cảnh, đối với
tất cả pháp có không đều không tham đắm cũng đừng chấp trước”. Cũng nói:
“Phải học như vầy, cái học đó giống như giặt áo dơ, áo là cái sẵn có, dơ bẩn
là từ bên ngoài đến”. Nghe nói tất cả pháp có, không, thanh, sắc, như cáu bẩn
đừng đem tâm bám lấy. dưới cội Bồ Đề, ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp
thuộc về sắc, mười hai phần giáo thuộc về thanh. Nay chỉ cần cắt đứt tất cả
dòng nước có, không, thanh, sắc, tâm như hư không, phải học như thế, như cứu
lửa cháy đầu mới được, vậy mà đến lúc lâm chung tìm đường quen thuộc cũ để đi
còn không được triệt để, huống là đến lúc đó mới điều tâm, mới tập học thì có
hy vọng gì!
Lúc lâm chung các
cảnh tốt đẹp hiện ra trước mắt, tuỳ theo tâm ưa thích, chỗ nặng chịu trước.
Như nay không làm việc ác thì đến lúc đó không có cảnh ác, dầu cho có cảnh ác
cũng biến thành tốt đẹp. Nếu e lúc lâm chung kinh sợ điên cuồng, không được
tự do, thì cần hiện tại được tự do mới được. Hiện tại đối với mỗi cảnh pháp
đều không ái nhiễm, cũng chẳng y trụ vào tri giải, mới là người tự do. Hiện
tại là nhân, lúc lâm chung là quả. Nghiệp quả đã hiện thì làm sao lo cho kịp!
Lo là phải lo từ trước cho đến ngày nay. Xưa nếu có nay thì nay cũng có xưa,
nghĩa là ngày trước có Phật thì ngày nay cũng có Phật. Hiện tại nếu được một
niệm chẳng bị tất cả pháp có không quản nhiếp, thì chẳng đến tận vị lai cũng
được như vậy. Xưa cũng như nay, Phật chỉ là người, người chỉ là Phật, cũng là
Tam muội định, chẳng cần đem định nhập định, chẳng cần đem Thiền tưởng Thiền,
chẳng cần đem Phật tìm Phật. Như nói: “Pháp chẳng cầu pháp, pháp chẳng đắc
pháp, pháp chẳng hành pháp, pháp chẳng thấy pháp, tự nhiên đắc pháp, chẳng
lấy đắc để đắc thêm”. Cho nên Bồ Tát cần phải chánh niệm như vầy: đối với
pháp rỗng không độc tồn, cũng không biết cái pháp độc tồn thì trí tánh tự như
như, chẳng phải do nhân làm ra cũng gọi là thể kết, cũng gọi là thể tập,
chẳng phải là trí biết, chẳng phải là thức biết, bặt chỗ suy lường, tột cái
thể ngưng tịch, sự suy nghĩ dứt hẳn như nước biển cạn sạch, sóng không còn
sanh khởi nữa.
Cũng nói: Như
lượn sóng lăn tăn không gió trên biển cả, cái chợt biết cái lượn sóng lăn tăn
ấy là thô trong tế. Quên cái biết ở nơi biết vẫn còn là tế trong tế, là cảnh
giới Phật. Từ đây cái biết đầu tiên được gọi là cái đảnh của Tam muội,cũng
gọi là vua Tam muội, cũng gọi là nhĩ diệm trí (trí sở tri), nó sanh ra hết
thảy các Tam muội, tưới trên đảnh của tất cả các vị Pháp vương tử, Nơi tất cả
cõi nước sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, cõi nước đều thảnh Đẳng Chánh
Giác, trong ngoài thông đạt đều không có trở ngại thì một sắc một trần, một
Phật một sắc, tất cả Phật tất cả sắc, tất cả trần tất cả Phật, tất cả sắc,
thinh, hương, vị, xúc, pháp, mỗi mỗi cùng khắp tất cả cõi nước cũng đều như vậy.
Đây là thô trong
tế, là cảnh giới thiệu, là tất cả thượng lưu, kiến văn giác tri cũng là tất
cả thượng lưu, xuất sanh nhập tử độ tất cả có, không… là thượng lưu, có nói
ra điều gì cũng là thượng lưu. Niết Bàn là đạo Vô thượng, là Vô đẳng đẳng
chú, là Thuyết đệ nhất, ở trong các thuyết rất là sâu xa, không người nào có
thể đến được, là chư Phật hộ niệm. Như thấy sóng trong trẻo thì được nói tất
cả nước là trong trẻo, từ đó chảy ra cái dụng công rộng lớn mênh mông cũng là
chư Phật hộ niệm. Kinh nói: “Đi, đứng, nằm, ngồi nếu được như vậy, lúc ấy Ta
liền hiện thân thanh tịnh quang minh” Lại nói: “Như ông thân bằng, ngữ bằng,
ta cũng như vậy, một Phật sát thanh (Phật sát thanh: Một tam thiên đại thiên
thế giới), một Phật sát hương, một Phật sát vị, một Phật sát xúc, một Phật
sát sự, thảy đều như vậy. Từ đây lên đến thế giới Liên Hoa Tạng cao rộng thảy
đều như vậy”.
Nếu giữ lấy cái
biết đầu tiên làm tri giải, gọi là đảnh kết, cũng gọi là đoạ cảnh kết, là căn
bản của tất cả trần lao. Tự sanh tri kiến, không dây mà tự trói; vì có sở tri
nên bị ràng buộc vào thế giới thứ hai mươi lăm cõi. Lại nữa cái làm tan tất
cả cửa phiền não trói buộc người cũng là cái biết đầu tiên này mà hàng Nhị
thừa cho là Nhĩ diệm thức (thức sở tri), cũng gọi là vi tế phiền não thì liền
bèn dứt trừ. Đã dứt trừ xong, gọi là đem thần tánh trở về cái hang không,
cũng gọi là bị rượu Tam muội làm say, cũng gọi là bị ma giải thoát buộc. Định
lực Nhị thừa làm ra sự thành hoại trong thế giới còn bị lọt vào quốc độ khác
mà không biết, cũng gọi là chỗ hầm sâu giải thoát đáng sợ. Còn hàng Bồ Tát
thì xa lìa hết thảy.
Người đọc kinh
xem giáo, ngữ ngôn đều phải uyển chuyển quay về tự kỷ, bởi vì tất cả ngôn
giáo chỉ đều nói về cái tánh giác chiếu soi, nếu không bị tất cả cảnh có
không chuyển ấy là Đạo sư của ông. Cái hay chiếu soi tất cả cảnh có không kia
là Kim Cang huệ, tức có phần tự do độc lập. Nếu không hiểu được cái đó thì
dẫu cho có tụng được mười hai bộ kinh Phật cũng chỉ là thành kẻ tăng thượng
mạn, là kẻ khinh Phật, chẳng phải là kẻ tu hành. Chỉ cần lìa tất cả thanh
sắc, cũng không trụ ở lìa, cũng không trụ vào tri giải, đó là người tu hành.
Đọc kinh xem giáo
nói theo thế gian thì đó là việc tốt, nhưng nếu đem so với người thấu lý mà
nói thì đó là người ngu si, bậc Thập địa thoát ra không khỏi, còn bị trôi lặn
vào dòng sanh tử. Song tam thừa giáo đều dùng để trị bệnh tham, sân,… Như nay
niệm niệm đều có cái bệnh tham, sân, … thì trước tiên cần phải điều trị.
Chẳng cần tìm tri giải về nghĩa cú, tri giải thuộc về tham, tham lại biến
thành bệnh. Nay chỉ cần lìa tất cả pháp có, không, cũng lìa cả cái lìa, thấu
suốt nghĩa ba câu, tự nhiên cùng Phật không khác. Đã tự là Phật còn lo chi
Phật không biết nói Pháp. Chỉ sợ chẳng phải Phật, nên bị các pháp có không
trói buộc, chẳng được tự do. Thế nên, lý chưa vững mà
trước tiên đã có phước trí thì sẽ bị phước trí lôi đi như kẻ hèn sai khiến
người sang, chẳng bằng đầu tiên ngộ lý rồi sau hãy có phước trí. Nếu cần
phước trí tức khắc làm ra được. Phước trí xài ra, nắm vàng thành đất, nắm đất
thành vàng, biến nước biển thành tô lạc, đập núi Tu Di làm bụi nhỏ, đem bốn
biển để vào lỗ chân lông, ở nơi một nghĩa làm vô lượng nghĩa, ở nơi vô lượng
nghĩa làm một nghĩa. Cũng nói: “Sẩy chân làm Chuyển Luân Vương, khiến cho
nhân dân trong bốn châu thiên hạ một ngày tu hành Thập thiện, phước trí này
cũng không bằng phước trí trên”. Cái giác chiếu soi của chính mình (Tự tánh)
gọi là Vương (vua). Niệm chấp trước cáp pháp có không, gọi là Chuyển Luân
Vương. Hiện tại chỉ cần trong tạng phủ không dung nạp tất cả pháp có không, lìa
ngoài tứ cú gọi là “KHÔNG”, “KHÔNG” gọi là thuốc bất tử, vì đối với Vương
trước (Tự tánh) mới gọi là thuốc bất tử. Tuy nói là thuốc bất tử với Vương
cùng uống, nhưng cũng chẳng phải là hai vật, cũng chẳng phải là một vật. Nếu
cho là một, là hai, cũng gọi là Chuyển Luân Vương. Như nay có người dùng
phước trí tứ sự cúng dường tứ sinh lục đạo khắp bốn trăm muôn ức a tăng kỳ
thế giới, tuỳ theo sự ưa thích của chúng sanh đến mãn tám mươi tuổi rồi, mới
nghĩ rằng các chúng sanh này đã già yếu, ta nên đem Phật pháp dạy dỗ họ khiến
cho đều đắc quả Tu Đà Hườn cho đến A La Hán. Người bố thí này trước kia bố
thí cho chúng sanh tất cả đồ ưa thích, công đức còn là vô lượng, huống chi
sau này làm cho đắc quả Tu Đà Hườn cho đến A La Hán, công đức càng thêm vô
lượng vô biên mà cũng còn không bằng công đức nghe Kinh tuỳ hỷ của người thứ
năm mươi.
Kinh Báo Ân nói:
“Ma Da phu nhân sanh năm trăm Thái tử đắc quả Bích Chi Phật. Mỗi vị đều được
xây tháp cúng dường lễ bái mà bà than rằng: “Không bằng sanh một đứa con đắc
Vô thượng Bồ Đề, ít phí tâm lực của ta” ”. Nay tìm ở trong chúng trăm nghìn
muôn đời, có một người đắc đạo thì giá trị bằng tam thiên đại địa thế giới.
Do đó ta thường khuyên mọi người phải nên huyền giải tự lý (ngộ), tự lý nếu
huyền thì sai khiến được phước trí như người sang sai khiến kẻ hèn, cũng như
xe vộ trụ (Phật thừa). Nếu chấp trước cái này làm tri giải thì gọi là hạt
châu thường trong búi tóc, cũng gọi là hạt châu có giá, cũng gọi là chở phẩn
vào. Nếu chẳng chấp cái này làm tri giải thì như hạt minh châu trong búi tóc
nhà vua cũng gọi là vô giá đại bảo, cũng gọi là chở phẩn ra.
Phật chính là
người ở ngoài sự trói buộc, lại vào trong vòng trói buộc mà làm Phật. Ngài
chính là người bên kia bờ sanh tử, là người bên kia bờ huyền tuyệt lại trở
qua bờ bên này làm Phật. Người cùng khỉ, vượn đều không thể
làm được, người dụ cho hàng Thập địa, khỉ vượn dụ cho phàm phu.
Đọc kinh xem
giáo, cầu tất cả tri giải chẳng phải là không cho. Dù hiểu được tam thừa giáo
là khéo được đồ anh lạc trang nghiêm, được ba mươi hai tướng, nhưng tìm Phật
thì chẳng phải. Kinh nói: “Người học giả tham chấp tam tạng Tiểu thừa còn
không cho thân cận, huống chi tự cho mình là đúng”. Trong Kinh Niết Bàn, Tỳ
Kheo phá giới và danh tự A La Hán bị liệt vào trong mười sáu ác luật nghi,
đồng với người săn bắn, lưới cá vì lợi dưỡng mà giết hại sinh vật. Loại kinh
Đại Thừa Phương Đẳng cũng như cam lồ mà lại cũng như thuốc độc, tiêu được thì
như cam lồ, tiêu không được thì như thuốc độc, Người học kinh xem giáo nếu
không hiểu được đó là lời nói sống hay lời nói chết (tử ngữ) thì chắc chắn
không thấu nghĩa cú, thà đừng học tốt hơn.
Cũng nói: Cần xem giáo mà cũng cần phải tham học với bậc thiện tri thức, nhất là cần phải tự có mắt để biện biệt lời nói sống hay lời nói chết mới được. Nếu biện tài chẳng được thì chắc chắn thấu qua không nổi, chỉ là chồng thêm dây trói buộc Tỳ Kheo. Vì thế, dạy người học huyền chỉ, không cho học văn tự. Như bảo: Nói thể chẳng nói tướng, nói nghĩa chẳng nói văn, người nói như vậy gọi là chân thuyết. Nếu nói văn tự thì đều là phỉ báng đây gọi là tà thuyết. Bồ Tát nếu nói thì phải nói đúng như Pháp cũng gọi là chân thuyết, phải làm cho chúng sanh trì tâm chẳng trì sự, trì hạnh chẳng trì Pháp, nói người chẳng nói chữ, nói nghĩa chẳng nói văn. Nói Dục giới không có Thiền đó là lời nói của người chột mắt. Đã nói Dục giới không có thiền thì dựa vào đâu để lên Sắc giới? Đầu tiên ở Nhân địa tu tập hai thứ định, về sau mới lên đến Sơn thiền. Hai thứ định ấy là Hữu tưởng định và Vô tưởng Thiền ở Sắc giới. Vô tưởng định sanh vào các cõi Trời Tứ không ở Vô sắc giới. Dục giới hiển nhiên là có Thiền, Thiền chẳng phải chỉ ở Sắc giới mới có.
Hỏi: Hiện tại nói
cõi này có Thiền, là như thế nào?
Sư đáp: Chẳng
động chẳng Thiền là Như lai thiền, lìa cái khởi ý tưởng thiền.
Hỏi: Thế nào là
hữu tình không Phật tánh và vô tình có Phật tánh?
Sư đáp: Từ người
đến Phật là tính chấp Thánh, từ người đến địa ngục là tình chấp phàm. Như nay
đối với hai cảnh phàm, Thánh có tâm ái nhiễm thì gọi là hữu tình không Phật
tánh. Còn như nay đối với hai cảnh phàm, Thánh và tất cả pháp có không đều
không có tâm lấy bỏ, cũng không có luôn cả cái trí giải về không lấy bỏ thì
gọi là vô tình có Phật tánh. Do vì không bị tình chấp ràng buộc nên gọi là vô
tình chứ không đồng với loài vô tình như gỗ, đá, hư không, hoa vàng, trúc biếc
mà cho là có Phật tánh. Nếu nói các loài vô tình ấy có Phật tánh, tại sao
trong kinh không thấy thọ ký cho nó thành Phật? Chỉ như cái giác chiếu soi
hiện tại chẳng bị hữu tình cải biến, dụ như trúc biếc, không lúc nào chẳng
ứng cơ, chẳng bất tri thời, dụ như hoa vàng.
Lại nói “Nếu bước lên bậc thang Phật là vô tình có Phật tánh, còn chưa bước lên nấc thang Phật là hữu tình không Phật tánh”.
Hỏi: - Đại Thông
Trí Thắng Phật (Bích Chi Phật) mười kiếp ngồi đạo tràng, Phật pháp chẳng hiện
tiền, chẳng được thành Phật đạo là như thế nào?
Sư đáp: - Kiếp
nghĩa là mắc kẹt, cũng có nghĩa là trụ. Trụ nơi một điều thiện, mắc kẹt nơi
Thập thiện. Ấn Độ nói Phật, Trung Hoa dịch là Giác, là cái giác chiếu soi của
chính mình. Người mắc kẹt nơi thiện là người có thiện căn mà không có Phật
tánh nên nói Phật chẳng phải hiện tiền, chẳng được thành Phật đạo.
Gặp ác trụ nơi
ác, gọi là chúng sanh giác, gặp thiện trụ nơi thiện gọi là Thanh Văn Giác.
Chẳng trụ hai bên thiện ác và cho sự chẳng y trụ là đúng, đây gọi là Nhị thừa
giác, cũng gọi là Bích Chi Phật giác. Đã chẳng y trụ hai bên thiện ác và cũng
chẳng khởi tri giải về chẳng y trụ gọi đó là Bồ Tát giác. Đã chẳng y trụ cũng
không cái biết chẳng khởi cái tri giải về không y trụ mới được gọi là Phật
giác. Như nói Phật chẳng trụ nơi Phật, gọi là chân phước điền, nếu ở trong
nghìn muôn người chợt có một người được như thế thì gọi là của báu vô giá,
được ở khắp mọi nơi làm Đạo sư. Chỗ không có Phật nói là Phật, chỗ không có
Pháp nói là Pháp, chỗ không có Tăng nói là Tăng, đấy là chuyển đại pháp luân.
Hỏi: - Từ trước
Tổ Tông đều có mật ngữ lần lượt truyền cho nhau là như thế nào?
Sư đáp: - Không
có mật ngữ. Như Lai không có tạng bí mật. Chỉ cái giác chiếu soi hiện tại,
lời nói rõ ràng mà tìm hình tướng không được, đó là mật ngữ. Từ Tu Đà Hườn
lên đến Thập địa hễ có ngữ cú đều thuộc về pháp trần cấu, hễ có ngữ cú đều
thuộc về giáo bất liễu nghĩa, hễ có ngữ cú đều không đúng. Giáo bất liễu
nghĩa đều sai lại còn đòi mật ngữ gì nữa?
Hỏi: - Hư không
sanh trong đại giác như một hòn bọt nổi trong biển cả là như thế nào?
Sư đáp: - Hư không dụ cho bọt, nước biển dụ cho tự tánh. Tự tánh linh giác của chính mình siêu việt hư không, nên nói hư không sanh trong đại giác như một hòn bọt nổi trong biển cả.
Hỏi: - Đốn rừng
chớ chặt cây là thế nào?
Sư đáp: - Rừng dụ
cho tâm, cây dụ cho thân. Nhân vì nói là “đốn rừng” nên sanh ra sợ hãi, do đó
nói đốn rừng chớ chặt cây.
Hỏi: Lời nói như
cái mô đất để chịu tên bắn. Lời nói sanh ra không thể nào chẳng bị hại như
cái mô đất kia (Mô đất dụ như thân, chịu tên bắn dụ như bệnh, thân đã sanh
rồi thì tất nhiên phải có bệnh). Tai hại đã đồng, đúng sai làm sao biện biệt?
Sư đáp: Như hai
người bắn tên nhau, hai đầu mũi tên đụng nhau giữa đường, nếu như sai chệch
một chút ắt sẽ có kẻ bị thương. Trong hang tìm tiếng, nhiều kiếp cũng không
có hình, tiếng ở bên miệng, đúng sai là ở nơi người đến hỏi. Cái hỏi
trở lại thì bị trúng tên, cũng như cái biết huyễn chẳng phải huyễn. Tam
Tổ nói: “Chẳng biết huyền chỉ, uổng công niệm tịnh”. Cũng nói: Nhận vật làm
cái thấy như nắm miếng ngói bể dùng gì được đâu! Nếu nói chẳng thấy thì có
khác gì gỗ đá. Thế nên thấy và chẳng thấy cả hai đều có lỗi. Nay nêu lên một
để làm ví dụ cho tất cả.
Hỏi: - Vốn không
có phiền não thì ba mươi hai tướng là thế nào?
Sư đáp: - Việc
bên Phật vốn không có phiền não, có ba mươi hai tướng chỉ là phàm tình hiện
nay thôi.
Hỏi: - Bồ Tát Vô
Biên Thân chẳng thấy đảnh tướng của Như Lai là thế nào?
Sư đáp: - Do vì
cái thấy hữu biên và vô biên nên chẳng thấy được đảnh tướng của Như Lai. Chỉ
như nay không có tất cả cái thấy có và cũng không có cái thấy không, đó gọi
là đảnh tướng hiện.
Hỏi: - Như hiện
nay các thầy Sa Môn đều nói: Tôi y theo lời Phật dạy học một kinh, một luận,
một thiền, một luật, một tri, một giải, đáng thọ nhận bốn sự cúng dường của
đàn việt như thế có tiêu được không?
Sư đáp: - Theo
như nay chiếu dụng, một thanh, một sắc, một hương, một vị, đối với tất cả
pháp có, không, ở trên mọi cảnh đều không có mảy may đắm nhiễm, cũng chẳng y
trụ vào sự không đắm nhiễm và cũng không khởi tri giải về sự chẳng y trụ,
người được như vậy mỗi ngày ăn muôn lượng vàng ròng cũng tiêu. Như nay chiếu
soi tất cả pháp có, không… nơi cửa lục căn dầu có cạo gọt mà đối với tham ái
có một mảy may trị chẳng hết thì người này dù cho đến xin thí chủ một hạt
cơm, một sợi chỉ, đều phải mang lông đội sừng, kéo cày chở nặng, mỗi mỗi đều
phải trả nợ thí chủ mới được, vì họ chẳng y theo Phật. Phật là người vô
trước, vô cầu, vô y, như nay cứ lăng xăng tham đi tìm Phật đều là trái vậy.
Cho nên nói:
“Nhiều
kiếp gần bên Phật,
Mà
chẳng biết Phật tánh.
Chỉ
thấy người cứu thế (Phật tánh),
Luân
hồi trong lục đạo.
Lâu
mới thấy được Phật,
Lại
nói Phật khó gặp”.
Ngài Văn Thù là
Tổ Sư của bảy Đức Phật cũng gọi vị Bồ Tát đứng đầu thế giới Ta Bà này vô cớ
tác ý tưởng thấy Phật, tưởng nghe pháp, nên bị sức oai thần của Phật đày
xuống hai hòn núi Thiết Vi. Chẳng phải Ngài không
hiểu, nhưng đặc biệt để làm gương cho người học, để kẻ hậu học đừng có thấy
nghe như thế. Chỉ cần không có tất cả pháp, có, không, các kiến chấp có,
không, mỗi mỗi đều thấu suốt ngoài ba câu, đây gọi là ngọc báu như ý, cũng
gọi là đặt chân lên Bửu Liên Hoa. Nếu có tri kiến Phật, tri kiến Pháp, tri
kiến có không gọi là con mắt bệnh, vì cái năng kiến, sở kiến, cũng gọi là
kiến trói buộc, cũng gọi là kiến che lấp, cũng gọi là kiến tác nghiệt. Chỉ
như nay niệm niệm cùng tất cả kiến, văn, giác, tri và hết thảy trần cấu khử
bỏ được hết thì một trần, một sắc đều là một Phật. Dẫu khởi một niệm cũng là
một Phật, niệm niệm của thân ngũ ấm quá khứ, hiện tại, vị lai vô lượng vô
biên, đây gọi là Phật lấp bít hư không, cũng gọi là phân thân Phật, cũng gọi
là Bảo Tháp hiện. Vì thế thường than rằng: “Sinh mạng ngày nay bị tứ đại nắm
chặt, thiếu một ngày không sống, thiếu một ngày không chết, phải nhờ một hột
gạo, một cọng rau, không được ăn thì bị chết đói, không được uống thì bị chết
khát, không được lửa sưởi ấm thì bị chết lạnh, như thế chẳng bằng người đã đạt
đạo vào lửa không bị cháy, xuống nước không chìm, muốn cháy liền cháy, muốn
chìm liền chìm, muốn sống liền sống, muốn chết liền chết, đi ở tự do, người
này có phần tự do vậy”.
Tâm nếu không
loạn thì chẳng cần cầu Phật, cầu Bồ Đề, cầu Niết Bàn. Nếu chấp trước cầu Phật
là tham, tham biến thành bệnh, nên nói: “Bệnh Phật rất khó trị”. Báng Phật,
phỉ Pháp mới được lấy cơm ăn. Người ăn là tánh linh giác của chính mình, cơm
vô lậu, thức ăn giải thoát, những lời trên là trị bệnh cho hàng Bồ Tát Thập
địa.
Như nay hễ có tất
cả tâm mong cầu đều gọi là Tỳ Kheo phá giới, là danh dự A La Hán, đều gọi là
con chồn, hiển nhiên là không tiêu được đồ cúng dường của người.
Chỉ cần hiện tại
nghe tiếng như vang, ngửi hương như gió, lìa hết tất cả pháp có, không, cũng
chẳng trụ nơi lìa, cũng không có tri giải về chẳng trụ. Người này tất cả tội
cấu không thể buộc ràng được.
Vì cầu Vô thượng
Bồ Đề, Niết Bàn nếu gọi là xuất gia, vẫn còn là nguyện tà, huống là sự tranh
luận hơn thua ở thế gian, như nói: “Tôi làm được, tôi hiểu được”. Tham thêm
một môn đồ, thương một đệ tử, lưu luyến một chỗ ở, kết duyên với một đàn
việt, một manh áo, một chén cơm, một danh, một lợi mà lại nói: “Ta được tất
cả đều vô ngại”. Đó chỉ là tự dối mình.
Chỉ cần hiện tại
đối với ngũ ấm của mình chẳng bị nó làm chủ. Bị người chặt đứt thân thể ra
từng khúc vẫn không có tâm oán tiếc, cũng không phiền. Cho đến việc đệ tử của
mình bị người đánh đập từ đầu đến chân, những việc kể trên đều không có một
niệm sanh tâm bỉ ngã. Song, nếu còn y trụ nơi không có một niệm trên cho đó
là đúng đây gọi là sự nhơ bợn của pháp trần. Hàng Thập địa còn thoát chưa
được nên còn bị trôi vào dòng sanh tử. Do đó ta thường khuyên mọi người phải
sợ phiền não của pháp trần như sợ tam đồ thì mới có phần độc lập. Giải sử có
một pháp nào hơn cả Niết Bàn đi nữa, cũng không sanh ra ý tưởng quý trọng thì
người này mỗi bước đi là Phật chẳng cần chân đạp hoa sen, chẳng cần phân thân
trăm ức. Nếu hiện tại đối với các pháp có không, có tâm ái nhiễm bằng mảy
lông thì dẫu cho chân có đạp hoa sen cũng đồng như ma làm.
Nếu chấp vốn
thanh tịnh, vốn giải thoát, tự là Phật, tự là Thiền đạo, có kiến giải này,
thuộc về phái ngoại đạo tự nhiên.
Nếu chấp nhân
duyên tu thành, chứng đắc, tức thuộc về phái ngoại đạo nhân duyên.
Chấp có tức thuộc
về phái ngoại đạo thường kiến.
Chấp không tức
thuộc về phái ngoại đạo đoạn kiến.
Chấp cũng có cũng
không tức thuộc về phái ngoại đạo biên kiến.
Chấp chẳng có
chẳng không tức thuộc về phái ngoại đạo không kiến cũng gọi là ngoại đạo ngu
si.
Hiện nay chó khởi các kiến chấp Phật, Niết Bàn… Không có tất cả kiến chấp có không, cũng không có cả cái không kiến chấp nữa, mới được gọi là chánh kiến.
Không có kiến
chấp nghe và không nghe, cũng không có cái không có kiến chấp nữa mới được
gọi là chánh nghe, ấy gọi là dẹp trừ ngoại đạo.
Không có ma phàm
phu đến là đại thần chú, không có ma Nhị thừa đến là đại minh chú, không có
ma Bồ Tát đến là vô thượng chú, không có ma Phật đến là Vô đẳng đẳng chú.
Một biến chúng
sanh là siểm khúc Tu La (B), hai biến Nhị thừa là siểm khúc Tu La, ba biến Bồ
Tát là siểm khúc tu la. Đó là tam biến Tịnh độ (C). Tất cả pháp có, không,
phàm, thánh… dụ như quặng vàng; tự mình đúng lý dụ như vàng. Vàng với quặng
tách rời nhau thì vàng thật lộ ra. Bỗng người muốn tiền thì liền biến vàng
thành tiền cho người ấy dùng. Cũng như bột mì thiệt, nếu có người đến xin
bánh liền làm thành bánh cho người đó. Cũng như viên quan hầu cận có trí khéo
hiểu được ý nhà vua, vua lúc muốn đi kêu “Tiên đà bà”, liền đem ngựa đến; lúc
muốn ăn kêu “Tiên đà bà”, liền đem muối đến. Những việc trên dụ cho người học
huyền chỉ khéo thông đạt được thì ứng cơ chẳng sai lầm, nên cũng gọi là lục
tuyệt sư tử (tự tánh). Ngài Chí Công nói: “Tuỳ người tạo tác trăm sự biến
hoá”. Hàng Bồ Tát Thập địa chẳng đói chẳng no, vào nước không chìm, vào lửa
không cháy, ví như muốn cháy cũng chẳng được cháy, vì các vị ấy còn bị số
lượng quản định. Phật thì chẳng phải như thế, vào lửa chẳng cháy, còn như
muốn cháy liền cháy, vào nước chẳng chìm, muốn chìm liền chìm. Ngài sử dụng
tứ đại được tự do, tất cả sắc là sắc Phật, tất cả thanh là thanh Phật, cặn bã
nhơ uế của tâm siểm khúc sạch hết, thấu vượt nghĩa ba câu được nói lời này:
Bồ Tát thanh tịnh, đệ tử sáng suốt, có nói ra điều gì chẳng chấp có không,
tất cả chiếu dụng chẳng lạc vào thanh hay trược.
Người có bệnh mà
không uống thuốc là người ngu. Người không bệnh mà uống thuốc là hàng Thanh
Văn. Người chấp quyết định vào một pháp gọi là định tánh Thanh Văn. Người
luôn luôn đa văn gọi là Tăng thượng mạn Thanh Văn. Người ham biết các Pháp
ngoài tâm gọi là hữu học Thanh Văn. Người trầm không trệ tịch và tự biết mình
gọi là vô học Thanh Văn.
Tham, sân, si là
độc, mười hai phần giáo là thuốc, độc chưa tiêu hết, thuốc không được bỏ,
không bệnh mà uống thuốc, thuốc trở thành bệnh. Bệnh hết mà thuốc không bỏ
nên nói bất sanh bất diệt là nghĩa vô thường. Kinh Niết Bàn nói: “Có ba điều
ác dục: Một là muốn được tứ chúng vây quanh; hai là muốn mọi người làm môn đồ
mình; bà là muốn cho mọi người biết ta là Thánh nhân, là người có trí huệ
cao”. Kinh Ca Diếp nói: “Một là muốn cầu thấy Phật vị lai; hai là muốn cầu
làm Chuyển Luân Vương; ba là muốn cầu vào dòng Sát Đế Lợi; bốn là muốn được
vào hàng Bà La Môn nhẫn đến chán sanh tử cầu Niết Bàn.” Những điều ác dục như
vậy trước hết phải dứt trừ. Hiện tại hễ có dấy niệm đắm nhiễm đều gọi là ác
dục, đều thuộc về sáu cõi trời dục bị ma Ba tuần cai quản.
Hỏi: - Trong hai
mươi năm thường sai đi trừ phẩn là thế nào?
Đáp: - Chỉ cần
dứt hết thảy các tri kiến có không, chỉ cần dứt tất cả các sự tham cầu, mỗi
mỗi đều thấu suốt nghĩa ba câu thì gọi là trừ phẩn. Còn như nay cầu Phật, cầu
Bồ Đề, cầu tất cả pháp có không,… Thì đó là chở phẩn vào, không gọi là chở
phẩn ra. Nếu hiện tại khởi ra Phật kiến, Phật giải, hễ có sở kiến, sở cầu, sở
trước đều gọi là phẩn hý luận, cũng gọi là thô ngôn, cũng gọ là tử ngữ. Như
nói: “Biển lớn không chứa tử thi”. Bình thường nói chuyện chẳng gọi là hý
luận. Lời nói biện biệt thanh, trược, gọi là hý luận. Văn trong kinh có nói
chung hai mươi mốt thứ “không” là để gạn lọc trần luỵ của chúng sanh.
Bậc Sa môn trì
trai, giữ giới, nhẫn nhục, nhu hoà, từ bi, hỷ xả là phép tắc thông thường của
Tăng sĩ. Đã biết như thế là rõ ràng làm theo lời Phật dạy, song không nên
chấp trước. Nếu hy vọng được Phật, được Bồ Đề và các pháp…. Thì khác nào để
tay chạm vào lửa. Ngài Văn Thù nói: “Nếu khởi Phật kiến, Pháp kiến thì sẽ tự
hại mình”. Vì thế Ngài Văn Thù cầm gươm bên Phật, ông Ương Quật cầm đao bên
Thích thị (Phật). Như nói: “Bồ Tát làm ngũ vô gián mà chẳng bị vào địa ngục
Vô gián, vì các Ngài là người huyền thông Vô gián nên không đồng như chúng
sanh tạo tội ngũ nghịch Vô gián”.
Từ Ba tuần thẳng
đến Phật đều là cáu ghét. Không có mảy may y chấp như thế còn gọi là đạo Nhị
thừa, huống chi tranh luận tìm sự hơn thua, nói “Ta làm được, ta hiểu được”
thì chỉ được gọi là tranh luận Tăng, chẳng được gọi là Vô vi Tăng.
Hiện tại chỉ cần
không tham nhiễm tất cả các pháp có không thì gọi là vô sanh, cũng gọi là
chánh tín. Tin mà còn chấp trước vào tất cả pháp thì gọi là lòng tin chẳng
đủ, cũng gọi là lòng tin không trọn vẹn, cũng gọi là lòng tin lệch lạc. Lòng
tin chẳng đủ cho nên gọi là Nhất xiển đề. Như nay muốn được hoát nhiên ngộ
giải thì chỉ cần nhân pháp đều bặt, nhân pháp đều đứt, nhân pháp đều không,
thấu suốt nghĩa ba câu đây gọi là người bất đoạ chư số (không lọt vào số
lượng), đó là tin pháp, đó là giới thí, văn huệ… Bồ Tát chịu nhịn chẳng thành
Phật, chịu nhịn chẳng làm chúng sanh, chịu nhịn chẳng trì giới, chịu nhịn
chẳng phá giới, cho nên nói là không trì, không phạm.
Trí trược chiếu
thanh, huệ thanh biết trược. Nơi Phật gọi là chiếu huệ, nơi Bồ Tát gọi là
trí, nơi Nhị thừa và chúng sanh gọi là thức, cũng gọi là phiền não. Nơi Phật
gọi là trong quả nói nhân, nơi chúng sanh gọi là trong nhân nói quả. Nơi Phật
gọi là Chuyển pháp luân, nơi chúng sanh gọi là Pháp luân chuyển. Nơi Bồ Tát
gọi là đồ anh lạc trang nghiêm, nơi chúng sanh gọi là ngũ ấm Tòng lâm. Nơi
Phật gọi là bốn địa vô minh, do vì hiểu rõ vô minh nên nói vô minh là đạo
thể, chẳng đồng với ám muội vô minh của chúng sanh.
Kia
là sở, đây là năng,
Kia
là sở văn, đây là năng văn,
Chẳng
một, chẳng khác,
Chẳng
đoạn, chẳng thường,
Chẳng
đến, chẳng đi.
Là lời nói sống,
là lời nói vượt ra ngoài khuôn khổ ngữ cú, chẳng sáng, chẳng tối, chẳng Phật,
chẳng chúng sanh cũng đều như vậy. Đến, đi, đoạn, thường, Phật, chúng sanh
đều là lời nói chết. Khắp hay chẳng khắp, đồng hay dị đoạn hay thường, … đều
là cái nghĩa của ngoại đạo. Bát Nhã Ba La Mật là Phật tánh của chính mình
cũng gọi là Ma Ha Diễn (Đại thừa). Nếu chấp giữ cái tri giác của mình thì
thần ngoại đạo tự nhiên. Không giữ cái giác chiếu soi hiện tại, không cầu
Phật, nếu cầu cái khác thì thuộc về ngoại đạo nhân duyên. Sơ Tổ nói: “Tâm có
chỗ phải, ắt có chỗ quấy”. Nếu quý một vật ắt thì bị một vật làm mê hoặc, nếu
trọng một vật thì bị vật làm mê hoặc. Tin thì bị lòng tin làm mê hoặc, không
tin thì lại thành phỉ báng. Thế nên đừng quý, cũng đừng không quý, đừng tin
cũng đừng không tin.
Phật cũng chẳng
phải là vô vi, tuy chẳng phải là vô vi lại cũng chẳng phải là cái tối tăm yên
lặng như hư không. Phật là chúng sanh thân lớn, giác chiếu soi nhiều nhưng
thanh tịnh, quỷ tham sân bắt không được. Phật là người ở ngoài vòng trói buộc
không có mảy may ái thủ, cũng không có tri giải về không ái thủ, đây gọi là
đầy đủ lục độ vạn hạnh, nếu cần đồ trang nghiêm thì thứ nào cũng có, còn như
không cần không dùng thì cũng chẳng mất nó. Tự do sai khiến được nhân quả,
phước trí là tu hành, chứ chẳng phải nhọc nhằn mang nặng mới gọi là tu hành.
Ba thân một thể, một thể ba thân.
1. PHÁP THÂN THẬT
TƯỚNG PHẬT:
Pháp thân Phật
không sáng, không tối. Sáng tối thuộc về huyễn hoá. Thật tướng là do đối với
hư tướng mà đặt tên, thật ra nó vốn không có tất cả tên gọi, như nói: Pháp
thân vô vi bất đoạ chư số, thành Phật cao quý, … đều là lời nhẹ như gánh một
lon, một lít. Do tên trược mới được đặt tên thanh nên nói thật tướng Pháp
thân Phật, cũng gọi Thanh tịnh Pháp thân Tỳ Lô Giá Na Phật, cũng gọi hư không
Pháp thân Phật, cũng gọi Đại Viên Cảnh Trí, cũng gọi đệ bát thức, cũng gọi là
Tánh Tông, cũng gọi không tông, cũng gọi là Phật ở cõi không tịnh, không uế,
cũng gọi sư tử ở tại hang, cũng gọi Kim cang Hậu đắc trí, cũng gọi Vô cấu
đàn, cũng gọi Đệ nhất nghĩa không, cũng gọi Huyền chỉ. Tam Tổ nói: “Chẳng
biết huyền chỉ, uổng công niệm định”.
2. BÁO THÂN PHẬT:
Báo thân Phật là
Phật dưới cội Bồ Đề, cũng gọi là huyễn hoá Phật, cũng gọi là tướng hảo Phật,
cũng gọi là Ứng thân Phật, cũng gọi là viên mãn Báo thân Lô Xá Na Phật, cũng
gọi là Bình đẳng tánh trí, cũng gọi là đệ Thất thực, cũng gọi là Thù nhân đáp
quả Phật, đồng với số năm mươi hai Thiền na, đồng với A La Hán, Bích Chi
Phật, đồng với tất cả Bồ Tát, đồng chịu các khổ sanh diệt mà không đồng
nghiệp khổ ràng buộc của chúng sanh.
3. HOÁ THÂN PHẬT:
Hiện tại đối với
các pháp có, không đều không tham nhiễm, cũng không cả cái không tham nhiễm,
lìa ngoài tứ cú. Tất cả ngôn thuyết biện tài đều gọi là Hoá thân Phật, cũng
gọi là Thiên bá ức Hoá thân Thích Ca Mâu Ni Phật, cũng đại thần biến, cũng
gọi là Du hí thần thông, cũng gọi là Diệu quan sát trí, cũng gọi là đệ Lục
thức.
Cúng dường nghĩa
là làm thanh tịnh ba nghiệp. Tiền tế (quá khứ) không phiền não để đoạn, trung
tế (hiện tại) không tự tánh để giữ, hậu tế (vị lai) không Phật để thành, đó
là Tam tế (tam thế) đoạn, là ba nghiệp thanh tịnh, là Tam luân không, là tam
đàn không (Tam đàn: người bố thí, người nhận bố thí, tài vật bố thí). Thế nào
là Tỳ Kheo hầu hạ Phật? Đó là người lục căn chẳng lậu, cũng gọi là “Trang
nghiêm vô chư lậu”, “Rừng cây trang nghiêm vô chư nhiễm”, “Hoa quả trang
nghiêm vô Phật nhãn”. Về pháp nhãn của người tu hành biện biệt thanh trược,
cũng không có tri giải về sự biện biệt thanh trược, đây gọi là Ngũ nhãn (nhục
nhãn cho đến Phật nhãn).
Kinh Bảo Tích
nói: Pháp thân không thể dùng kiến, văn, giác, tri để cầu, Nhục nhãn không
thấy được vì nó vô sắc, Thiên nhãn không thấy được vì nó vô vọng, Huệ nhãn
không thấy được vì nói lìa tướng, Pháp nhãn không thấy được vì nói lìa hành,
Phật pháp nhãn không thấy được vì nó lìa thức. Nếu không có những tri kiến
trên thì gọi là Tri kiến Phật. Đồng sắc mà chẳng phải hình sắc nên gọi là
chân sắc. Đồng không mà chẳng phải thái hư nên gọi là chân không. Sắc với
không cũng là lời nói thuốc với bệnh để trị nhau (chấp sắc lấy không trị,
chấp không lấy sắc trị).
Pháp giới quan
nói: “Chớ nói tức sắc, chẳng tức sắc, cũng chớ nói tức không chẳng tức không”.
Nhãn, nhĩ, tỷ,
thiệt, thân, ý không lãnh nạp tất cả pháp có không, gọi là chuyển vào đệ Thất
địa. Bồ Tát Thất địa không lui sụt thất địa. Từ Bồ Tát Bát địa đến Bồ Tát
Thập địa, tâm địa trong sạch để hiện diệu dụng của tự tánh, nói lửa lửa liền
cháy.
Từ Sắc giới trở
lên bố thí là bệnh; bỏn xẻn tham làm là thuốc. Từ Sắc giới trở xuống bỏn xẻn
tham lam là bệnh, bố thí là thuốc.
Hữu tác giới là
cắt dứt pháp thế gian, chẳng phải thân tay làm thì không có lỗi. Vô tác giới,
cũng gọi là Vô biểu giới, cũng gọi là Vô lậu giới. Hễ có dấy tâm động niệm
đều gọi là phá giới. Nay chỉ cần không bị các cảnh có không làm hoặc loạn,
cũng chẳng y trụ nơi không hoặc loạn, cũng không có tri giải về chẳng y trụ,
đây gọi là biến học (phổ biến) cũng gọi là cần tán niệm (cần = siêng, tán =
khen), cũng gọi là Quảng lưu bố.
Lúc chưa ngộ,
chưa hiểu gọi là mẹ, ngộ rồi hiểu rồi gọi là con. Cũng không có cái tri giải
về ngộ hay không ngộ, hiểu hay không hiểu, đây gọi là mẹ con đều chết. Không
có sự ràng buộc của thiện, của ác, của Phật, của chúng sanh; số lượng cũng
vậy, nhẫn đến không có sự ràng buộc của tất cả số lượng. Cho nên nói Phật là
bậc siêu việt số lượng, vượt ra ngoài các sự ràng buộc.
Tham lam, ưa thích tri giải, nghĩa cú cũng như mẹ thương con, chỉ biết cho con ăn nhiều sữa ngon mà con có tiêu hoá được hay không đều không biết. Những lời này dụ cho:
- Hàng Thập địa
thọ sự cúng dường của trời, người là tôn quý phiền não.
- Thiền định sanh
vào Sắc giới, Vô sắc giới, là phước lạc phiền não.
- Được thần
thông tự tại bay đi ẩn hiện khắp tịnh độ mười phương chư Phật, là nghe pháp
phiền não.
- Học từ bi hỷ xả
là nhân duyên phiền não.
- Học lý không,
bình đẳng, là Trung đạo phiền não.
- Học tam minh,
Lục thông là Tứ vô ngại phiền não.
- Học tâm Đại
thừa là phát Tứ hoằng thệ nguyện phiền não.
- Sơ địa, Nhị
địa, Tam địa, Tứ địa là minh giải phiền não. Ngũ địa, Lục địa, Thất địa là
chư tri kiến phiền não. Bát địa, Cửu địa, Thập địa là song chiếu Nhị đế (chân
đế và tục đế) phiền não. Cho đến học Phật quả là bá vạn A tăng kỳ chư hạnh
phiền não. Chỉ biết tham nghĩa cú tri giải chẳng biết đó là trói buộc phiền
não, nên nói: “Dòng sông kiến chấp hay cuốn trôi hương tượng” (loài voi lớn ở
Hy Mã Lạp Sơn dụ cho hàng Bồ Tát).
Hỏi: - Thấy chăng?
Đáp: - Thấy.
Lại hỏi: - Sau
khi thấy thì thế nào?
Đáp: - Cái thấy
không hai.
Đã nói thấy không
hai thì không được lấy “kiến” để “kiến” cái “kiến”. Nếu “kiến” lại thêm
“kiến” thì thành hai câu đầu. Vậy cái “kiến” trước phải hay cái “kiến” sau
phải? Cũng như Kinh Lăng Nghiêm nói: “Kiến kiến chi thời, kiến phi thị kiến.
Kiến do ly kiến, kiến bất năng cập” (Hai chữ “kiến kiến” này là chỉ cho “kiến
tánh”. Khi đã kiến tánh thì kiến (- trước) không phải là năng kiến cho nên
không có tánh để làm sở kiến (- sau). Gọi là kiến còn phải lìa kiến, nếu có
năng kiến thì không thấy được tự tánh, cho nên nói: Kiến bất năng cập).
Vì thế không hành
kiến pháp, không hành văn pháp, không hành giác pháp, không hành tri pháp,
thì chư Phật liền thọ ký cho.
Hỏi: - Kiến pháp
đã chẳng phải là lời thọ ký thì dùng cái gì để thọ ký?
Sư đáp: - Người
đã ngộ Tông thì chẳng bị tất cả pháp có không trói buộc như giặt áo bẩn vậy,
nên nói: Ly tướng gọi là Phật, hư thật đều không còn; trung chỉ độc huyền,
huyền đạt một lối (Trung chỉ = tự tánh, độc huyền = bất khả tư nghì. Tự tánh
huyền diệu bất khả tư nghì, đạt đến cái huyền diệu ấy chỉ có một đường lối là
phải tự ngộ mới được), kẻ đồng đạo hậu tấn (hậu học) khế hợp đến bậc đó, nên
nói thọ ký vậy.
Vô minh là cha,
tham ái là mẹ. Tự kỷ là bệnh, tự kỷ cũng là thuốc. Tự kỷ là dao giết cha vô
minh, mẹ tham ái của chính mình, nên nói giết cha hại mẹ. Đó là một cách nói
để phá hết thảy pháp. Người ăn phi thời thực cũng vậy. Hiện tại đắm nhiễm tất
cả pháp có không đều gọi là ăn phi thời thực cũng gọi là ác thực, là thức ăn
nhơ đựng trong chén báu, là phá giới, là làm nhơ chén, là tạp thực.
Phật là người
không cầu, hiện nay tham cầu tất cả pháp có không, hễ có sở tác đều là quấy
cả, tức là phỉ báng Phật. Hễ có tham nhiễm đều gọi là thọ thủ (trao tay). Còn
như nay không tham nhiễm, cũng chẳng y trụ vào không tham nhiễm, cũng không
có tri giải về chẳng y trụ, đây gọi là lửa Bát Nhã, lửa đốt ngón tay là không
tiếc thân mạng, là cắt thân ra từng mảnh, là xuất thế gian, là cầm thế gian
trong lòng bàn tay ném qua phương khác.
Hiện tại, nếu đối
với mười hai phần giáo và tất cả pháp có, không ở trong tạng phủ còn có một
mảy may lưu giữ là chưa ra khỏi lưới. Hễ có sở cầu, sở đắc, hễ có khởi tâm
động niệm đều là con chồn. Như nay chỉ cần trọng tạng phủ đều vô sở cầu, vô
sở đắc thì người này là đại thí chủ, là sư tử rống. Lại cũng chẳng y trụ vào
Vô sở đắc, cũng không có tri giải về chẳng y trụ, đây gọi là lục tuyệt sư tử.
Nhân ngã chẳng
sanh, các điều ác không khởi, đó là để núi Tu Di vào trong hạt cải, chẳng
khởi tất cả tham sân và bát phong, … Đó là hút được hết tất cả nước bốn biển
lớn vào miệng. Chẳng thọ nhận tất cả ngữ ngôn hư vong, đó là chẳng lọt vào lỗ
tai. Chẳng cho thân tạo các điều ác đối với người, đây là nạp tất cả lửa vào
trong bụng. Hiện tại chỉ cần đối với mọi cảnh chẳng mê lầm, chẳng tán loạn,
chẳng giận, chẳng mừng, nơi của lục căn của mình phải cạo gọt cho sạch sẽ, đó
là người vô sự hơn hẳn tất cả những người tri giải, Đầu đà tinh tấn, gọi là
Thiên nhãn, cũng gọi là Liễu chiếu nhãn, cũng gọi là Pháp giới tánh, cũng gọi
là xe chở nhân quả.
Hỏi: - Phật xuất
thế độ chúng sanh là thế nào?
Đáp: - Niệm trước
không sanh, niệm sau không tiếp nối, nghiệp trong niệm trước đã hết gọi là độ
chúng sanh. Niệm trước nếu giận hờn thì liền đem thuốc hoan hỷ để trị tức gọi
là có Phật độ chúng sanh. Tất cả ngôn giáo chỉ là thuốc trị bệnh, vì bệnh
chẳng đồng nên thuốc có khác, cho nên có lúc nói có Phật, có lúc nói không
Phật. Lời chân thật dùng để trị bệnh, nếu trị lành được bệnh thời mỗi lần đều
là lời chân thật, còn nếu trị bệnh chẳng lành thì mỗi lời đều là lời hư vọng.
Lời chân thật thành lời hư vọng vì sanh kiến chấp; lời hư vọng thành lời chân
thật vì dứt được điên đảo của chúng sanh. Bởi vì bệnh là hư vong, nên dùng
thuốc hư vong để trị.
Phật xuất thế độ
chúng sanh là chính bộ giáo ngữ, là giáo ngữ bất liễu nghĩa. Giận hờn và hoan
hỷ, bệnh tật và thuốc men đều là tự kỷ chứ không có ai khác, thì chỗ nào có
Phật xuất thế, chỗ nào có chúng sanh để độ? Như Kinh Kim Cang nói: “Thật
không có chúng sanh được diệt độ”. Cũng nói: “Không ưa thích Phật, Bồ Đề,
không tham nhiễm các pháp có không gọi là độ tha, cũng chẳng chấp lấy tự kỷ
gọi là tự độ”. Vì bệnh không đồng, thuốc cũng không đồng, cho toa cũng không
đồng, không được cố chấp. Y theo Phật, y theo Bồ Đề và các pháp, … đều là cơ
sở y. Cho nên người trí chẳng được y theo một pháp nào cả. Lời trong kinh dụ
như lá vàng, chẳng biết lý này thì gọi là đồng với vô minh. Như nói: “Bồ Tát
thực hành Bát Nhã chẳng nên chấp lấy lời ta và y theo lời dạy”.
Sân như cục đá,
ái như nước sông. Hiện nay chỉ cần không sân, không ái là thấu được núi sông,
vách đá chỉ là trị bệnh cho kẻ tục tai điếc thôi, còn đa văn biện thuyết là
để trị bệnh đau mắt.
Từ người lên đến Phật là đắc, từ người trở xuống địa ngục là thất. Thị phi cũng vậy, Tam Tổ nói: “Đắc thất thị phi, nhất thời buông bỏ”.
Không chấp trụ
vào tất cả pháp có không thì gọi là bất trụ hữu duyên, chẳng y trụ vào không,
y trụ thì gọi là bất trụ không nhẫn.
Người có kiến
giải chấp tự kỷ là Phật, tự kỷ là Thiền, đạo gọi là nội kiến, chấp nhân duyên
tu chứng mà thành gọi là ngoại kiến, Ngài Chí Công nói: “Nội kiến, ngoại kiến
đều sai”.
Mắt, tai, mũi,
lưỡi mỗi cái không tham nhiễm tất cả pháp có, không gọi là thọ trí bốn câu
kệ, cũng gọi là Tứ quả Lục nhập không dấu tích, cũng gọi là Lục thông. Hiện
tại chỉ cần không bị các pháp có, không làm ngại, cũng chẳng y trụ nơi vô
ngại và cũng không có tri giải về chẳng y trụ, đây gọi là Thần thông. Không
chấp thần thông này là đúng gọi là Không thần thông. Như bảo: Bồ Tát không
thần thông, dấu chân không thể tìm là người hướng lên Phật, là người không
thể nghĩ bàn là tự kỷ.
Trời là trí chiếu
soi. Khen ngợi liền vui mừng, vui mừng thuộc về cảnh. Cảnh là trời, khen ngợi
là người. Trời người giao tiếp cả hai được thấy nhau. Cũng nói: Tịnh trí là
trời, chánh trí là người, vốn chẳng phải là Phật mà nói với họ là Phật, gọi
là thể kết. Nay chỉ cần chớ có tri giải Phật, cũng chẳng y trụ nơi không tri
giải Phật, đây gọi là diệt kết, cũng gọi là chân như, cũng gọi là thể như.
Cầu Phật, cầu Bồ
Đề gọi là hiện thân ý. Hiện tại hễ có tất cả tâm cầu thì gọi là hiện thân ý.
Như nói: Cầu Bồ Đề tuy là sự mong cầu tốt nhưng mà là chồng thêm trần luỵ.
Cầu Phật là Phật chúng, cầu tất cả pháp có không là chúng sanh chúng. Hiện
tại đối với các môn sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp… không yêu thích, đối
với mọi cảnh không tham đắm, hễ không có mười câu trược tâm là liễu chân
thành Phật. Học văn cú, tìm tri giải gọi là duyên nhân thành Phật.
Thấy Phật, biết
Phật thì được, nói Phật có biết, có thấy tức là phỉ báng Phật. Nếu nói Phật
biết, Phật thấy, Phật nghe, Phật nói thì không được, như nói thấy lửa thì
được, mà nói lửa thấy thì không được; như dao cắt vật thì được mà vật cắt dao
thì không được. Người biết Phật, người thấy Phật, người nghe Phật, người nói
Phật thì trong muôn người không có một, còn người nói Phật biết, Phật thấy,
Phật nghe, Phật nói thì nhiều như số cát sông Hẳng, chỉ vì tự mình không có
mắt, mượn mắt người khác làm mắt, trong kinh gọi là Tỷ lượng trí, như nay
tham lam tri giải Phật cũng gọi là Tỷ lượng trí.
Thí dụ của thế
gian là thí dụ thuận, giáo bất liễu nghĩa là thí dụ thuận, giáo liễu nghĩa là
thí dụ nghịch, xả bỏ đầu, mắt, não, tuỷ là thí dụ nghịch, như nay chẳng thích
các pháp Phật, Bồ Đề … là thí dụ nghịch rất khó buông bỏ; cái thí dụ về đầu,
mắt, não, tuỷ có ý nghĩa như sau: chấp trước tất cả các cảnh pháp có không
gọi là đầu, bị tất cả các cảnh pháp có, không làm nhiễm loạn gọi là tay, lúc
chưa chiếu soi tiền cảnh gọi là não tuỷ.
Bậc Thánh làm
nhân phàm là Phật, vào trong chúng sanh thị hiện đồng loại để dẫn dụ hoá đạo,
đồng bọn với ngạ quỷ chịu lửa đốt từng nóng xương thuyết pháp Bát Nhã Ba La
mật cho chúng nghe, khiến chúng phát tâm. Nếu cứ ở nơi địa vị Thánh thì làm
sao đến chỗ họ để dạy dỗ. Phật vào trong các loài để làm thuyền bè cho chúng
sanh, cả bọn cùng nhau chịu khổ, nhọc nhằn vô hạn; Phật vào chỗ khổ cũng chịu
khổ đồng như chúng sanh, nhưng Phật đi ở tự do chẳng đồng chúng sanh, Phật
chẳng phải hư không thì lúc chịu khổ đâu thể không khổ. Nếu nói không khổ thì
lời này sai trái. Chớ nên nói bậy: Nói Phật được thần thông tự tại hay không
tự tại.
Vả lại, người
biết hổ thẹn thì không dám nói Phật là hữu vi hay vô vi, chẳng dám nói Phật
là tự do hay không tự do, trừ sự khen ngợi phương thuốc ra, chằng muốn để lộ
ra hai điều xấu xí (tương đối). Kinh nói: “Nếu người để Phật Bồ Đề ở bên
đúng, người này mắc tội lớn”. Cũng nói: “Như ở trước người không biết Phật
pháp nói với họ như vậy thì không lỗi”. Như sữa bò vô lậu hay trị bệnh hữu
lậu, loài bò này không ở cao nguyên cũng không ở nơi ẩm thấp, sữa bò này có
thể làm thuốc, cao nguyên dụ cho Phật, ẩm thấp dụ cho chúng sanh. Như nói:
“Pháp thân Phật trí Như Lai không có bệnh này”. Biện tài vô ngại, bay đi tự
tại, bất sanh bất diệt, đây gọi là sanh, già, bệnh, chết đau đớn chập chồng,
là lối ăn canh nấm bị bệnh kiết lỵ cũng là tối. Sáng ẩn thì tối bày. Sáng, tối
đều quét chớ chấp lấy một bên cũng không có cái không, chấp lấy vốn chẳng
sáng chẳng tối. Phật từ cung vua sanh, cưới Da Du Đà La cho đến bát tướng
thành đạo, những thị hiện này, hàng Thanh Văn và ngoại đạo vọng tưởng cho đó
là thật, như nói: “Chẳng phải thân tạp thực”. Ông Thuần Đà nói: “Tôi biết Đức
Như Lai chắc chắn không thọ không ăn”. Nhất là cần phải có đủ hai con mắt soi
thấu cả hai đầu sự việc không nên chỉ dùng một con mắt hướng bên này đi tức
có bên kia đến. Công đức Thiên, Hắc ám Nữ, người chủ có trí thì đối với cả
hai đều không nhận. Hiện tại chỉ cần tâm như hư không thì sự học mới thành.
Cao Tổ (ở Ấn Độ)
nói: “Tâm tâm như gỗ đá”.
Tam Tổ nói:
“Thiện ác đều chớ nghĩ”.
Tiên Sư (Mã Tổ)
nói: “Như người lầm đường chẳng biết phương hướng”.
Ngài Tăng Triệu
nói: “Đóng chặt trí, lấp thông minh, tánh giác làu làu”.
Ngài Văn Thù nói:
“Tâm đồng hư không nên sự kính lễ không có sở quán, kinh điển sâu xa chẳng
nghe, chẳng thọ trì”.
Nay chỉ cần đối
với tất cả pháp có, không đều chẳng thấy, chẳng nghe, lục căn lấp bít, nếu
học được như thế, trì kinh như thế mới có phần tu hành. Lời này nghe qua thật
trái tai, đắng miệng nhưng nếu làm được như thế thì đến đời thứ hai, đời thứ
ba, có thể hướng đến chỗ không có Phật, ngồi đại đạo tràng thị hiện thành
đẳng chánh giác, biến ác thành thiện, biến thiện thành ác. Dùng pháp ác để
giáo hoá hàng Bồ Tát Thập địa, dùng pháp thiện để giáo hoá địa ngục, ngạ quỷ,
được hướng chỗ sáng để cởi mở sự ràng buộc của sáng, được hướng chỗ tối để
cởi mở sự ràng buộc của tối, nắm vàng thành đất, nắm đất thành vàng, trăm thứ
biến hoá tự do. Ở ngoài hằng sa thế giới có người cầu cứu, Phật liền dùng ba
mươi hai tướng hiện ra trước người ấy, dùng tiếng giống họ để thuyết pháp,
ứng cơ tiếp vật, tuỳ hình cảm hóa, biến hiện vào các loài, lìa ngã, ngã sở là
thuộc về việc bên kia còn là tiểu dụng cũng là nằm trong các môn Phật sự. Đại
dụng là thân lớn ẩn nơi vô hình, là tiếng to giấu trong hy thanh (tiếng ngoài
tần số nghe), như lửa trong gỗ, như tiếng ở trong chuông trống; lúc nhân
duyên chưa đến thì không thể nói là có hay không. Báo thân sanh lên cõi trời,
bỏ Báo thân này như bỏ đàm dãi. Lục độ, vạn hạnh của Bồ Tát như cõi thây chết
để qua sông, như ở lao ngục, trong lỗ cầu xí được thoát ra. Phật mang tấm
thân ba mươi hai tướng, tướng ấy bị gọi là áo bẩn nhơ, cũng nói: Nếu nói Phật
luôn luôn không thọ thân ngũ ấm thì thật vô lý, Phật chẳng phải là hư không
thì đâu thể luôn luôn không thọ, Phật chỉ đi ở tự do không đồng với chúng
sanh. Từ một cõi trời đến mội cõi trời, từ một Phật sát đến một Phật sát là
pháp thường của chư Phật.
Lại nói: Nếu căn
cứ vào tam thừa giáo thì thọ người tín thí cúng dường, họ ở trong địa ngục,
Bồ Tát phải thực hành tâm từ bi đồng loại hoá độ để báo ân, chứ chẳng nên
thường ở Niết Bàn.
Lại nói: Như lửa, thấy lửa đừng mó tay vào thì lửa chẳng đốt người. Hiện tại chỉ cần không có mười câu trược tâm: tâm tham, tâm ái, tâm nhiễm, tâm sân, tâm chấp, tâm trụ, tâm y, tâm trước, tâm thủ, tâm luyến. Mỗi câu đều có ba câu, hễ thấu suốt được nghĩa ba câu thì tất cả chiếu dụng mặc tình tung hoành, thì tất cả cử động làm việc, nói, nín, khóc, cười đều là Phật huệ. Phiền các vị đã ứng lâu, trân trọng cám ơn.
Hỏi: - Thế nào là
pháp yếu nhập đạo Đại thừa đốn ngộ?
Sư đáp: - Trước
hết ông phải bặt hết các duyên, dẹp bỏ muôn việc, các pháp thiện hay bất
thiện, thế gian và xuất thế gian thảy đều buông bỏ, đừng ghi đừng nhớ, đừng
duyên đừng niệm, buông bỏ thân tâm, đều cho tự tại, tâm như gỗ đá, miệng
không biện luận, tâm không mống niệm, tâm địa nếu không thì mặt trời trí huệ
tự hiện, như tan lớp mây mù thì mặt trời xuất hiện, chỉ cần dứt tất cả phan
duyên thì các tình chấp tham sân, ái, thủ, sạch, nhơ, đều hết; đối với ngũ
dục, bát phong, tâm chẳng động, chẳng bị cái kiến, văn, giác, tri làm chướng
ngại, chẳng bị các pháp làm mê lầm thì tự nhiên đầy đủ tất cả công đức, đầy
đủ tất cả thần thông, diệu dụng, đó là người giải thoát.
Đối với tất cả
cảnh pháp, tâm không tranh cãi loạn động, không nhiếp, không tan, thấu qua tất
cả thanh sắc, không bị vướng mắc gọi là đạo nhân.
Thiện ác, phải
quấy đều không dùng, cũng không mến một pháp nào, cũng không bỏ một pháp nào
gọi là người Đại thừa.
Chẳng bị tất cả
thiện ác, không hữu, cấu tịnh, hữu vi vô vi, thế gian xuất thế gian, phước
đức trí huệ, ràng buộc gọi là Phật huệ.
Phải quấy, tốt,
xấu, đúng lý, không đúng lý, các thứ tình chấp tri giải đều sạch hết, chẳng
còn ràng buộc được, nơi nơi đều tự tại đây gọi là Bồ Tát mới phát tâm được
lên địa vị Phật.
Hỏi: - đối với
tất cả cảnh làm sao để được tâm như gỗ đá?
Sư đáp: - Tất cả
pháp vốn chẳng nói không, chẳng tự nói sắc, cũng chẳng tự nói phải quấy, nhơ
sạch, chẳng có tâm trói buộc người, chỉ vì con người tự sanh hư vọng trói
buộc, làm ra biết bao thứ tri giải và lãnh hội, khởi ra biết bao loại tri
kiến, sanh ra biết bao sự yêu thương, sợ hãi, chỉ cần rõ biết các pháp chẳng
tự sanh, đều từ một niệm vọng tưởng điên đảo của mình chấp tướng mà có. Biết
tâm và cảnh vốn chẳng đến với nhau, ngay nơi đó chính là giải thoát, mỗi mỗi
các pháp, ngay nơi đó là tịch diệt, ngay nơi đó là đạo tràng.
Lại nữa tánh sẵn
có, không thể đặt lên, vốn chẳng phải phàm chẳng phải Thánh, chẳng phải nhơ
sạch, chẳng phải không hữu, cũng chẳng phải thiện ác, nếu nó cùng với các
pháp nhiễm tương ưng gọi là cõi người, cõi trời, cõi Nhị thừa, nếu tâm nhơ
sạch đều dứt, chẳng trụ nơi ràng buộc, chẳng trụ nơi giải thoát, không có tất
cả tâm lượng hữu vi, vô vi, ràng buộc, giải thoát, thì ở nơi sanh tử mà tâm
vẫn tự tại, cứu cánh chẳng hoà hợp với các pháp hư vong, huyễn hoá trần lao,
sanh tử, ngũ uẩn, lục nhập… xa lìa tất cả, không y trụ một nơi nào. Chẳng bị
pháp nào ràng buộc, đi ở vô ngại, qua lại trong sanh tử tử tương tự như cửa
mở.
Người học đạo nếu
gặp các thứ khổ vui, việc vừa ý hay không vừa ý mà tâm vẫn không lui sụt,
chẳng nghĩ đến tất cả thứ danh tiếng, lợi dưỡng, ăn mặc, chẳng tham tất cả
công đức, lợi ích, chẳng bị các pháp thế gian làm vướng mắc, không thân,
không mến, bình tâm trước mọi sự khổ vui, áo thô ngừa lạnh, cơm hẩm đỡ lòng,
ngây ngây như ngu, như điếc, như câm, thì mới có chút phần tương ưng. Nếu
trong tâm ham học rộng, biết nhiều, cầu phước, cầu trí đều là sanh tử, đối
với lý đạo vô ích lại bị gió tri giải thổi trôi, chìm trong biển sanh tử.
Phật là người
không cầu, nếu cầu tức là trái lý – Lý là lý không cầu, nếu cầu liền mất, nếu
chấp thì đồng với hữu vi. Do đó Kinh Kim Cang nói: “Chẳng chấp lấy pháp,
chẳng chấp lấy phi pháp, chẳng chấp lấy phi phi pháp”. Lại nói: “Pháp mà đức
Như Lai được, pháp này không thực cũng không hư”, chỉ cần suốt đời tâm như gỗ
đá, chẳng bị ấm giới các nhập, ngũ dục, bát phong làm trôi chìm tức là nhân
sanh tử đã được cắt đứt, đi ở tự do, chẳng bị tất cả nhân quả hữu vi trói
buộc, chẳng bị hữu lậu câu thúc, mai kia sẽ trở lại dùng sự không tự trói
buộc làm nhân, đồng sự lợi ích, dùng tâm vô trước ứng tất cả vật, dùng huệ vô
ngại mở tất cả sự trói buộc cũng gọi là tuỳ bệnh cho thuốc
Hỏi: - Như nay
xuất gia thọ giới, thân miệng thanh tịnh, đã đủ các pháp có được giải thoát
không?
Sư đáp: - Được
chút phần giải thoát mà chưa được tâm giải thoát, cũng chưa được tất cả chỗ
giải thoát.
Hỏi: - Thế nào là
tâm giải thoát và tất cả chỗ giải thoát?
Sư đáp: - Chẳng
cầu Phật, chẳng cầu pháp, chẳng cầu Tăng, nhẫn đến chẳng cầu phước trí, tri
giải … Tình chấp nhơ sạch đều dứt hết, cũng chẳng chấp không cầu là phải,
cũng chẳng trụ nơi chỗ dứt hết, cũng chẳng mến thiên đường, sợ địa ngục, trói
buộc và giải thoát đều vô ngại, tức là thân tâm và tất cả chỗ đều được giải
thoát.
Ông chớ cho rằng
có được chút phần giới thân miệng ý thanh tịnh là xong, đâu biết rằng: Môn
giới, định, huệ như số cát sông Hằng mà vô lậu giải thoát đều chưa dính một
mảy lông.
Hãy nỗ lực tiến
lên! Hãy dũng mãnh tham cứu! Đừng đợi tai điếc, mắt mờ, mặt nhăn, đầu bạc,
già khổ đến thân, buồn thương vương vít rơi lệ dầm dề, trong lòng sợ hãi
không có gì để nương tựa và cũng không biết phải đi về đâu. Đến lúc ấy, muốn
tay chân không run rẩy cũng không được. Dẫu cho có phước trí, tiếng tăm, lợi
dưỡng cũng không cứu được, vì tâm huệ chưa mở, chỉ nghĩ đến các cảnh, chẳng
biết phản chiếu, chẳng thấy Phật đạo, nghiệp duyên thiện ác của một đời, tất
cả nghiệp ác trong lục đạo, ngũ ấm, hoặc vui, hoặc sợ, từ tham ái của tự tâm
hiện ra, biến thành những cảnh thù thắng: nhà cửa xe thuyền tốt đẹp chói lọi
hiển hách, chỉ theo chỗ nặng của tham ái, tuỳ nghiệp thọ sanh rồng, súc sinh
tốt xấu chưa định được, chẳng chút tự do.
Hỏi: - Thế nào là
được phần tự do?
Sư đáp: - Như nay được thì được, hoặc đối
với ngũ dục, bát phong, tâm không lấy bỏ, bỏn xẻn, đố kỵ, tham ái, ngã sở đều
sạch, nhơ sạch đều quên, cũng như mặt trời trên hư không, chẳng duyên mà
chiếu, tâm tâm như gỗ đá, niệm niệm (tham thiền) như cứu lửa cháy đều cũng
như voi lớn qua sông cứ băng ngang dòng nước không chút nghi ngờ. Người này
thiên đường, địa ngục không câu thúc được.
|
Thứ Bảy, 9 tháng 3, 2013
BÁ TRƯỢNG QUẢNG LỤC
Chủ Nhật, 3 tháng 3, 2013
ĐỐN NGỘ NHẬP ĐẠO YẾU MÔN
LỜI NÓI ĐẦU
Trước đây chúng tôi đã cho ra tập Thiền Căn Bản, do các Thiền sư y trong
kinh rút ra phương pháp tu thiền theo thứ lớp từ thấp lên cao. Đến tập này để tên là
Thiền Đốn Ngộ, căn cứ vào các tác phẩm của các Thiền sư nằm trong hệ thống
Thiền tông do Tổ Bồ-đề-đạt-ma truyền xuống. Tập sách này do góp năm tác phẩm
nhỏ chung lại.
Tác phẩm đầu là Thiền Tông Vĩnh Gia Tập của Thiền sư Huyền Giác, đệ tử
Lục Tổ Huệ Năng. Ngài thông suốt tam tạng giáo điển, lại rành rẽ về phương pháp
tu Chỉ Quán của Tông Thiên Thai. Do đó, trong tác phẩm này Ngài giải thích cách
tu Chỉ Quán và Thiền rất tinh vi, độc giả có thể nhân đó vào cửa đốn ngộ. Thích
Định Huệ, một Thiền sinh tại Thiền Viện Chân Không phiên dịch, chúng tôi xem
lại và cho đứng vào phần đầu của tập sách.
Tác phẩm thứ hai là Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn của Thiền sư Tuệ Hải,
đệ tử Mã Tổ Đạo Nhất, cháu đời thứ ba của Lục Tổ Huệ Năng. Chúng tôi phiên
dịch và đã xuất bản vào năm 1971, nhưng hiện đã hết, nay cho in vào đây cũng là
một cách tái bản cho độc giả tiện việc nghiên cứu.
Tác phẩm thứ ba là Truyền Gia Bảo Thiền Tông Trực Chỉ của Thạch Thành
Kim hiệu Thiên Cơ đời Minh, Ngài là môn đệ dòng Thiền Lâm Tế. Chúng tôi
phiên dịch, chưa xuất bản.
Tác phẩm thứ tư là Tọa Thiền Dụng Tâm Ký của Thiền sư Thiệu Cẩn hiệu
Oánh Sơn dòng Tào Động ở Nhật Bản. Chúng tôi phiên dịch và đã cho in chung
trong quyển Tham Thiền Yếu Chỉ xuất bản vào năm 1962, hiện đã hết.
Tác phẩm thứ năm là Tham Thiền Yếu Chỉ của Hòa thượng Hư Vân, một
Thiền sư Trung Hoa gần chúng ta nhất. Trong tác phẩm này, Ngài dạy nghiêng về
thoại đầu theo lối tu sau này của dòng Lâm Tế. Chúng tôi phiên dịch và đã cho
xuất bản năm 1962, hiện đã hết. Để góp lại làm một tài liệu chung cho phương
pháp tu đốn ngộ, chúng tôi cho in chung trong tập này.
Năm tác phẩm trên mới chỉ là một phần rất nhỏ trong các tác phẩm của
Thiền tông. Nếu phiên dịch hết các tác phẩm về Thiền Đốn Ngộ có thể đến cả trăm
quyển thế này. Vì phương tiện có hạn, chúng tôi cố gắng làm được bao nhiêu thì
mừng bấy nhiêu. Điều cần yếu là độc giả khéo nghiền ngẫm để lãnh hội. Một câu
mà lãnh hội được thì tất cả đều thông.Nếu đọc cả trăm quyển mà không lãnh hội
được vẫn là người đứng ngoài cửa. Một thông tất cả đều thông thì còn nói gì
nhiều gì ít ? Thế nên quý ở chỗ lãnh hội, chớ không quý ở chỗ đọc nhiều. Tuy thế,
người không lãnh hội được, mà đọc nhiều sách Thiền hoặc đọc nhiều lần, lâu ngày
cơ duyên thuần thục tự nhiên lãnh hội.
Về phần lượng, quyển sách này chưa thấm vào đâu; song phần phẩm, nó
thật đáng kể. Nếu là độc giả nghiền nát được văn tự, có thể con đường đốn ngộ
không xa. Nếu là hành giả thì nương vào đây làm kim chỉ nam tiến bước, bảo sở
không mong cũng sẽ đến.
THÍCH THANH TỪ
TU VIỆN CHÂN KHÔNG
Mùa An Cư 1974
THIỀN SƯ HUYỀN GIÁC
LỜI DỊCH GIẢ
Quyển Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn là một quyển luận nhỏ, nếu căn cứ
phần lượng mà nói thì không thấm vào đâu đối với tam tạng giáo điển, nếu nhìn
vào phẩm mà bàn là một viên ngọc quý vô giá của Thiền tông nói riêng, của Phật
giáo Đại thừa nói chung. Vì thế, sau khi xem nó, Mã Tổ bảo chúng “Việt Châu có
Đại Châu tròn sáng thấu suốt tự tại không ngại”. Đành rằng Mã Tổ nói Đại Châu
là ngầm ý chỉ Thiền sư Tuệ Hải, song sự thâm ngộ của Thiền sư Tuệ Hải được bày
hiện dưới mắt Mã Tổ qua quyển luận nhỏ này.
Tên Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn nghĩa là “Cửa trọng yếu chóng ngộ vào
đạo”. Người tu hành muốn được mau ngộ tất nhiên phải bước vào cửa này, chớ
không còn cửa nào khác. Bởi vì cửa này là cửa tiến thẳng vào thẳng không quanh
co, không mượn nhiều phương tiện. Tiến thẳng vào thẳng cái gì ? – Tiến thẳng đến
vô sanh, vào thẳng Phật tánh. Những pháp tu khác hầu hết đều chỉ dạy từ từ, từ
thấp lên cao, từ cạn vào sâu. Duy pháp Đốn Ngộ này : “Ngay nơi sanh diệt nhận
vô sanh, ngay nơi phàm phu thấy được Phật tánh”. Ta hãy nghe trong đây định
nghĩa Thiền định : “Vọng niệm chẳng sanh là Thiền. Ngồi thấy bản tánh là Định”.
Thiền không có nghĩa là ngồi, mà trong bốn oai nghi tâm đều thanh tịnh sáng suốt
không có một vọng niệm dấy khởi. Định không có nghĩa chú tâm vào một cảnh,
mà thấy được bản tánh của mình. Bản tánh tức là Phật tánh hay chân tâm. Bản
tánh không sanh không diệt, nên tâm không chạy theo cảnh sanh diệt. Định ấy mới
thật chân định.
Pháp tu Đốn Ngộ này thật đơn giản, mà rất siêu việt. Vì lời dạy rất bình dị
nằm gọn trong một vài câu là đủ tu giải thoát. Như một câu trong đây : “Việc đến
chẳng nhận, tất cả chỗ không tâm”. Mới đọc qua chúng ta thấy nó rất tầm thường,
song nhận xét kỹ sẽ thấy nó hiện đầy đủ “Như Lai Thanh Tịnh Thiền” hay “Kim
Cang Tam-muội ”, “Pháp Hoa Tam-muội” v.v… Thật vậy, “Việc đến chẳng nhận”
tức là tám gió thổi chẳng động. Bởi vì việc lợi, việc suy, việc hủy nhục, việc đề
cao, việc khen ngợi, việc chê bai, việc khổ, việc vui đến, tâm đều không chấp nhận.
Do tâm không chấp nhận nên không động, mà luôn luôn an nhiên trước mọi cảnh.
Thế không phải Đại định là cái gì ? “Tất cả chỗ không tâm”, tức là trong mọi
trường hợp, mọi thời gian không khi nào phóng tâm chạy theo ngoại cảnh. Tâm
không theo cảnh là tâm như như hay là Đại Bát-nhã. Thế là đầy đủ Như Lai Thiền
rồi.
Bởi lời dạy cao siêu chắc thật này, nên Thiền sư Tuệ Hải dám đoan quyết
với chúng ta rằng : “Các ông nếu y theo lời dạy đây tu, mà chẳng được giải thoát,
tôi xin trọn đời thay các ông chịu tội trong Đại địa ngục”. Thiền sư đã khéo dùng
lời vấn đáp để chỉ dạy cho chúng ta dễ trực nhận, mà lại còn dám cam đoan y đó tu
hành sẽ được giải thoát, bằng không Ngài sẽ chịu tội địa ngục thế cho chúng ta.
Thật còn gì đại bi bằng. Nếu chúng ta đủ duyên cầm trên tay quyển luận này mà
không chịu y đó tu hành, thật là chúng ta đã cô phụ ơn Ngài !
Khi phiên dịch quyển luận này, chúng tôi mong quý độc giả cùng chúng tôi
đồng nỗ lực tiến thẳng đường chim mà chư Phật chư Tổ nói chung, Thiền sư Tuệ
Hải nói riêng, đã vạch và đã đi. Mong thay !
Kính ghi
Dịch giả : THÍCH THANH TỪ
TU VIỆN CHÂN KHÔNG
Cuối Xuân Tân Hợi (1971)
TIỂU SỬ: THIỀN SƯ TUỆ HẢI (ĐẠI CHÂU)
Sư họ Châu quê ở Kiến Châu, theo Hòa thượng Đạo Trí chùa Đại Vân ở
Việt Châu xuất gia học đạo.
Sơ khởi, Sư đến tham vấn Mã Tổ (Thiền sư Đạo Nhất). Mã Tổ hỏi :
- Từ đâu đi đến ?
Sư thưa :
- Ở Việt Châu chùa Đại Vân đến.
- Đến đây tính cầu việc gì ?
- Đến cầu Phật pháp.
- Kho báu nhà mình chẳng đoái hoài, bỏ nhà chạy đi tìm cái gì ? Ta trong
ấy không có một vật, cầu Phật pháp cái gì ?
Sư lễ bái thưa :
- Cái gì là kho báu nhà mình của Tuệ Hải ?
- Chính nay ngươi hỏi ta là kho báu của ngươi, đầy đủ tất cả không thiếu
thốn, tự do sử dụng, đâu nhờ tìm cầu bên ngoài.
Ngay câu nói này, Sư tự nhận bản tâm không do hiểu biết, vui mừng lễ tạ.
Sư ở lại đây hầu Mã Tổ sáu năm.
Sau vì bổn sư tuổi già, Sư phải về phụng dưỡng. Từ đây, Sư tàng ẩn chỗ
thâm ngộ của mình, hiện bề ngoài như kẻ tầm thường. Sư thầm soạn quyển Đốn
Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn này, bị Huyền Ấn là cháu trong Pháp môn lén lấy đem
trình Mã Tổ.
Mã Tổ xem xong, bảo đại chúng :
- Việt Châu có Đại Châu (hạt châu lớn) tròn sáng thấu suốt, tự tại không
ngại.
Khi ấy, ở trong chúng có người biết Sư họ Châu bèn rủ nhau lần lượt tìm
đến thưa hỏi và nương tựa. Từ đó, người ta gọi Sư là Hòa thượng Đại Châu.
Sư từng từ chối không chịu chỉ dạy, nhưng chúng cứ khư khư theo hầu, bất
đắc dĩ Sư phải dùng biện tài vô ngại để giáo hóa.
ĐỐN NGỘ NHẬP ĐẠO YẾU MÔN
Cúi đầu đảnh lễ chư Phật khắp mười phương, các chúng Bồ-tát lớn. Nay
con soạn luận này, sợ e không hợp tâm Phật, xin cho con sám hối; nếu hợp tâm
Phật, trọn đem bố thí tất cả hữu tình, nguyện đời sau đều được thành Phật.
*
Hỏi : Phải tu pháp gì chóng được giải thoát ?
Đáp : Chỉ có một môn đốn ngộ là chóng được giải thoát.
- Thế nào là đốn ngộ ?
- Đốn là chóng trừ vọng niệm. Ngộ là ngộ không chỗ được.
- Từ cái gì mà tu ?
- Từ căn bản mà tu.
- Thế nào từ căn bản mà tu ?
- Tâm là căn bản.
- Làm sao biết tâm là căn bản ?
- Kinh Lăng-già nói : “Tâm sanh thì các thứ pháp sanh, tâm diệt thì các thứ
pháp diệt”. Kinh Duy-ma nói : “Muốn được tịnh độ, phải tịnh tâm ấy, tùy tâm ấy
tịnh là Phật độ tịnh”. Kinh Di Giáo nói : “Chỉ kềm tâm một chỗ không việc gì
chẳng xong”. Kinh nói : “Thánh nhân cầu tâm chẳng cầu Phật, ngu nhân cầu Phật
chẳng cầu tâm, trí nhân điều tâm chẳng điều thân, ngu nhân điều thân chẳng điều
tâm”. Kinh Phật Danh nói : “Tội từ tâm sanh lại từ tâm diệt”. Thế nên biết, tất cả
thiện ác đều do tâm mình, do đó nói tâm là căn bản.
Nếu người cầu giải thoát trước phải biết căn bản. Nếu chẳng đạt được lý
này, luống uổng nhọc công, từ nơi tướng bên ngoài mà cầu, thật không thể được.
Kinh Thiền Môn nói : “Từ nơi tướng bên ngoài mà cầu, dù trải qua nhiều kiếp trọn
không thể thành. Từ giác quán (xét soi) bên trong mà tu, bằng khoảng một niệm
liền chứng Bồ-đề”.
- Tu căn bản phải lấy pháp gì để tu ?
- Chỉ tọa thiền, thiền định liền được. Kinh Thiền Môn nói : “Cầu trí Thánh
của Phật, cốt phải thiền định. Nếu không thiền định, thì niệm tưởng xao động, phá
hoại căn lành kia”.
- Thế nào là thiền ? Sao là định ?
- Vọng niệm chẳng sanh là thiền. Ngồi thấy bản tánh là định. Bản tánh là
tâm vô sanh của ông vậy. Định là đối cảnh tâm không sanh, tám gió thổi chẳng
động. Tám gió là: lợi (tài lợi), suy (suy hao), hủy (hủy nhục), dự (đề cao), xưng
(khen ngợi), cơ (chê bai), khổ (đau khổ), lạc (vui vẻ). Nếu người được định như
thế, tuy là phàm phu mà liền vào vị Phật. Vì sao ? Vì kinh Bồ-tát Giới nói :
“Chúng sanh thọ Phật giới, liền vào ngôi vị chư Phật”. Người được như thế gọi là
giải thoát, cũng gọi đến bờ kia, hơn lục độ, vượt khỏi tam giới, là Bồ-tát đại lực, là
bậc Tôn vô lượng lực, là đại trượng phu.
*
- Tâm trụ chỗ nào là trụ ?
- Tâm trụ chỗ không trụ là trụ.
- Thế nào là chỗ không trụ ?
- Chẳng trụ tất cả chỗ, ấy là trụ chỗ không trụ.
- Thế nào là chẳng trụ tất cả chỗ ?
- Chẳng trụ tất cả chỗ là : Chẳng trụ nơi lành dữ, có không, trong ngoài,
chặng giữa, chẳng trụ không, cũng chẳng trụ chẳng không, chẳng trụ định, cũng
chẳng trụ chẳng định, tức là chẳng trụ tất cả chỗ. Chỉ cái chẳng trụ tất cả chỗ, ấy là
chỗ trụ. Người được như thế, gọi là tâm không trụ. Tâm không trụ là tâm Phật.
- Tâm ấy giống vật gì ?
- Tâm ấy chẳng phải xanh vàng đỏ trắng, chẳng phải dài ngắn tới lui, chẳng
nhơ chẳng sạch, chẳng sanh chẳng diệt, yên tịnh thường lặng lẽ. Đó là hình tướng
của bản tâm, cũng là bản thân. Bản thân là thân Phật.
*
- Thân tâm này lấy cái gì để thấy ? Lấy mắt thấy, lấy tai, mũi và thân tâm
v.v… để thấy chăng ?
- Cái thấy này không phải như các thứ thấy đó.
- Đã không như các thứ thấy đó, là lấy cái gì thấy ?
- Là tự tánh thấy. Vì sao ? Vì tự tánh (tánh của mình) xưa nay trong sạch
yên tịnh không lặng, chính trong cái thể không lặng ấy hay sanh cái thấy này.
- Chỉ như thể thanh tịnh còn không thể có, thì cái thấy này từ đâu mà có ?
- Ví như trong gương sáng tuy không có hình tượng, mà có thể thấy tất cả
hình tượng. Vì sao ? Vì gương sáng không tâm. Người học đạo nếu tâm không có
chỗ nhiễm, vọng tâm chẳng sanh, tâm ngã sở (tâm chấp mình và sự vật của mình)
diệt, tự nhiên được thanh tịnh, vì thanh tịnh nên hay sanh cái thấy này.
Kinh Pháp Cú nói : “Trong cứu cánh không, rõ ràng dựng lập, ấy là thiện tri
thức”.
*
- Kinh Niết-bàn trong phẩm Kim Cang Thân nói : “Không thể thấy mà thấy
rõ ràng, không có biết mà không chẳng biết” là thế nào ?
- Không thể thấy, vì cái thể của tự tánh không hình tướng, không thể có,
nên nói : “Không thể thấy”. Song cái thấy không thể được đó, thể nó yên tịnh lặng
lẽ, không có tới lui, chẳng lìa dòng đời, mà dòng đời không lôi cuốn được nó, thản
nhiên tự tại, tức là thấy rõ ràng.
Không có biết, vì tự tánh không hình, vốn không phân biệt, nên nói “không
có biết”. Không chẳng biết, vì trong cái thể không phân biệt ấy đầy đủ hằng sa
diệu dụng. Hay phân biệt tất cả, thì không việc gì chẳng biết, nên nói “không
chẳng biết”. Kệ Bát-nhã nói : “Bát-nhã không biết, không việc gì chẳng biết; Bátnhã
không thấy, không chỗ nào chẳng thấy”.
- Kinh nói : “Chẳng thấy có không là chân giải thoát”. Thế nào là chẳng
thấy có không ?
- Khi chứng được tâm thanh tịnh gọi là có, trong đó chẳng sanh cái tưởng
được tâm thanh tịnh, gọi là chẳng thấy có. Được cái tưởng không sanh không trụ,
mà không khởi tưởng được không sanh không trụ, gọi là chẳng thấy không, nên
nói chẳng thấy có không. Kinh Lăng Nghiêm nói : “Biết thấy lập biết là gốc vô
minh, biết thấy không thấy, đây là Niết-bàn”. Cũng gọi là giải thoát.
*
- Thế nào là không có chỗ thấy ?
- Nếu thấy kẻ nam người nữ và tất cả màu sắc hình tượng, mà ở trong đó
không khởi tâm yêu ghét thì cùng không thấy chẳng khác, ấy là không có chỗ thấy.
- Khi đối tất cả màu sắc hình tượng thì gọi là thấy, khi chẳng đối màu sắc
hình tượng cũng gọi là thấy chăng ?
- Gọi thấy !
- Khi đối vật là có thấy, khi không đối vật làm sao có thấy ?
- Nay nói thấy, không luận đối vật cùng chẳng đối vật. Vì sao ? Vì tánh
thấy thường hằng, khi có vật thì thấy vật, khi không vật thì thấy không. Thế nên
biết, vật tự có đi lại, tánh thấy không có đi lại, các căn (tai, mũi, lưỡi, thân…) cũng
như vậy.
- Ngay khi thấy vật, trong cái thấy có vật chăng ?
- Trong cái thấy chẳng lập vật.
- Ngay khi thấy không vật, trong cái thấy có không vật chăng ?
- Trong cái thấy chẳng lập không vật.
*
- Khi có tiếng là có nghe, khi không tiếng lại được nghe chăng ?
- Cũng nghe.
- Khi có tiếng là từ tiếng có nghe, khi không tiếng làm sao được nghe ?
- Nay nói nghe chẳng luận có tiếng không tiếng. Vì sao ? Vì tánh nghe
thường hằng. Khi có tiếng liền nghe, khi không tiếng cũng nghe.
- Người nghe như thế là ai ?
- Là tánh nghe của mình, cũng gọi là người biết nghe.
*
- Môn đốn ngộ này lấy gì làm Tông (chủ) ? Lấy gì làm Chỉ (chỉ thú) ? Lấy
gì làm Thể ? Lấy gì làm Dụng ?
- Lấy vô niệm (tâm không dấy khởi) làm Tông. Vọng tâm chẳng khởi làm
Chỉ. Lấy thanh tịnh làm Thể. Lấy trí làm Dụng.
- Đã nói vô niệm làm Tông, chưa biết vô niệm là vô niệm nào ?
- Vô niệm là không tà niệm, chớ chẳng phải không chánh niệm.
- Thế nào là tà niệm ? Thế nào là chánh niệm ?
- Niệm có, niệm không là niệm tà, chẳng niệm có không là niệm chánh;
niệm thiện, niệm ác là niệm tà, chẳng niệm thiện ác là niệm chánh; cho đến niệm
khổ vui, sanh diệt, thủ xả, oán thân, yêu ghét thảy đều là niệm tà, chẳng niệm khổ
vui… là niệm chánh.
- Thế nào là chánh niệm ?
- Chánh niệm là chỉ niệm Bồ-đề .
- Bồ-đề có thể được chăng ?
- Bồ-đề không thể được.
- Đã không thể được làm sao chỉ niệm Bồ-đề ?
- Bồ-đề chỉ là danh tự giả lập, thật không thể được. Cũng không có trước
sau được. Vì không thể được nên không có niệm. Chỉ cái không niệm ấy gọi là
chân niệm. Bồ-đề không có chỗ niệm. Không có chỗ niệm tức là tất cả chỗ không
tâm, ấy là không có chỗ niệm.
Những lối giải vô niệm như trên, đều là tùy sự phương tiện giả lập danh tự,
vẫn đồng một thể, không hai không khác. Cốt biết tất cả chỗ không tâm tức là “vô
niệm”. Khi được vô niệm thì tự nhiên giải thoát.
*
- Thế nào là hành hạnh Phật ?
- Chẳng hành tất cả hạnh là hành hạnh Phật, cũng gọi là hạnh chánh, cũng
gọi là hạnh Thánh. Như trước đã nói, chẳng hành có không, yêu ghét v.v… ấy vậy.
Đại luật quyển năm phẩm Bồ-tát nói : “Tất cả Thánh nhân chẳng hành hạnh chúng
sanh, chẳng hành hạnh chúng sanh là hạnh Thánh”.
*
- Thế nào là chánh kiến ?
- Thấy mà không có chỗ thấy là chánh kiến.
- Thế nào thấy mà không có chỗ thấy ?
- Khi thấy tất cả sắc không khởi nhiễm trước. Không nhiễm trước thì không
khởi tâm yêu ghét, ấy là thấy mà không có chỗ thấy. Nếu khi được thấy mà không
có chỗ thấy gọi là con mắt Phật, trọn không có con mắt khác. Nếu khi thấy tất cả
sắc khởi yêu ghét, ấy là có chỗ thấy. Có chỗ thấy là con mắt chúng sanh, trọn
không có con mắt khác làm con mắt chúng sanh, cho đến các căn cũng lại như thế.
*
- Nói lấy Trí làm Dụng, thế nào là Trí ?
- Biết hai tánh không tức là giải thoát. Biết hai tánh chẳng không, thì không
được giải thoát. Ấy gọi là Trí, cũng gọi là rõ tà chánh, cũng gọi hiểu Thể Dụng.
Hai tánh không là Thể, biết hai tánh không là giải thoát. Lại không sanh nghi gọi
là Dụng. Nói hai tánh không là chẳng sanh tâm có không, lành dữ, yêu ghét vậy.
*
- Môn này từ đâu mà vào ?
- Từ bố thí ba-la-mật mà vào.
- Phật nói sáu pháp ba-la-mật (đến bờ kia hay được cứu cánh) là hạnh của
Bồ-tát, tại sao ở đây chỉ nói riêng bố thí ba-la-mật thì đâu thể đầy đủ mà được vào ?
- Người mê không biết năm độ kia (trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định,
trí tuệ) đều nhân bố thí mà sanh. Chỉ tu bố thí thì sáu pháp đều đầy đủ.
- Bố thí vật gì ?
- Bố thí là bỏ hai tánh.
- Thế nào là hai tánh ?
- Bố thí là bỏ tánh thiện ác, bố thí là bỏ tánh có không, tánh yêu ghét, tánh
không chẳng không, tánh định chẳng định, tánh tịnh bất tịnh, tất cả đều cho bỏ hết
thì được hai tánh không. Nếu khi được hai tánh không, cũng chẳng được khởi
tưởng hai tánh không, cũng chẳng được khởi nghĩ tưởng có bố thí, tức là chân thật
hành bố thí ba-la-mật, cũng gọi là muôn duyên đều bặt. Muôn duyên đều bặt, tức
là tất cả pháp tánh không ấy vậy. Pháp tánh không là tất cả chỗ không tâm. Nếu
khi được tất cả chỗ không tâm là không có một tướng có thể được. Vì sao ? Vì tự
tánh không, nên không một tướng có thể được. Không một tướng có thể được là
tướng thật. Tướng thật là tướng Như Lai diệu sắc thân. Kinh Kim Cang nói : “Lìa
tất cả các tướng gọi là chư Phật”.
- Phật nói sáu ba-la-mật, tại sao nay chỉ nói một, cho là đầy đủ, xin nói
nguyên nhân một gồm đủ sáu pháp ?
- Kinh Tư Ích nói : “Ngài Võng Minh gọi Phạm thiên nói : Nếu Bồ-tát bỏ
tất cả phiền não gọi là Bố thí ba-la-mật. Nơi các pháp không có chỗ dính mắc gọi
là Trì giới ba-la-mật. Nơi các pháp không có chỗ xâm phạm gọi là Nhẫn nhục bala-
mật. Nơi các pháp lìa tướng gọi là Tinh tấn ba-la-mật. Nơi các pháp không có
chỗ trụ gọi là Thiền định ba-la-mật. Nơi các pháp không hý luận (nói trò đùa vô
nghĩa) là Trí tuệ ba-la-mật”. Đó gọi là sáu pháp. Nay nói sáu pháp này chẳng khác,
vì tóm lược pháp thứ nhất là bỏ, thứ hai là không khởi, thứ ba là không niệm, thứ
tư là lìa tướng, thứ năm là không trụ, thứ sáu là không hý luận. Sáu pháp như thế,
tùy việc phương tiện tạm đặt tên, chớ đến chỗ diệu lý thì không hai không khác.
Chỉ biết một bỏ thì tất cả đều bỏ, không khởi thì tất cả đều không khởi. Trên
đường mê lầm không khế hội ắt cho có sai khác. Người ngu mắc kẹt trong pháp số,
nên trôi lăn mãi trong sanh tử. Bảo cho các người học đạo, chỉ tu pháp Bố thí là
tròn đầy muôn pháp, huống là năm pháp mà chẳng đủ sao ?
*
- Tam học đẳng dụng, cái gì là tam học ? Thế nào là đẳng dụng ?
- Tam học là giới định tuệ.
- Nghĩa giới định tuệ thế nào ?
- Thanh tịnh không nhiễm là Giới. Biết tâm chẳng động, đối cảnh vắng lặng
là Định. Khi biết tâm chẳng động mà chẳng sanh tưởng chẳng động, khi biết tâm
thanh tịnh mà chẳng sanh tưởng thanh tịnh, cho đến thiện ác đều hay phân biệt, mà
ở trong ấy không nhiễm, được tự tại, ấy gọi là Tuệ.
Nếu khi biết thể của giới định tuệ đều không thể được, thì không phân biệt,
là đồng một thể, ấy gọi là tam học đẳng dụng.
*
- Nếu khi tâm trụ tịnh, chẳng phải chấp tịnh sao ?
- Khi được trụ tịnh, mà chẳng khởi tưởng trụ tịnh, ấy là không chấp tịnh.
- Tâm khi trụ không, chẳng phải chấp không chăng ?
- Nếu khởi tưởng không, gọi là chấp không.
- Nếu khi tâm được trụ chỗ không trụ, chẳng phải chấp chỗ không chỗ trụ
sao ?
- Chỉ cái khởi tưởng không là không có chỗ chấp. Nếu ông muốn thấu rõ,
hiểu được tâm không có chỗ trụ, thì khi ngồi ngay thẳng chỉ biết tâm, chớ suy nghĩ
tất cả vật, tất cả thiện ác đều chớ suy nghĩ, vì việc quá khứ đã đi rồi, chớ suy nghĩ,
thì tâm quá khứ tự bặt, gọi là không việc quá khứ. Việc vị lai chưa đến, chớ mong
chớ cầu, thì tâm vị lai tự bặt, gọi là không việc vị lai. Việc hiện tại đã hiện tại, đối
tất cả việc chỉ biết không chấp, không chấp là chẳng khởi tâm yêu ghét, thì tâm
hiện tại bặt, gọi là không việc hiện tại. Không nhiếp thuộc ba thời, cũng gọi không
ba thời. Nếu khi tâm khởi đi thì chớ theo đi, tâm đi tự bặt. Nếu khi tâm khởi đứng
cũng chớ theo đứng, tâm đứng tự bặt. Ấy là tâm không trụ, là trụ chỗ không trụ
vậy. Nếu tự biết rõ ràng khi trụ nơi trụ, chỉ có vật trụ cũng không có chỗ trụ, cũng
chẳng không chỗ trụ.
Nếu tự biết rõ ràng tâm chẳng trụ tất cả chỗ, gọi là rõ ràng thấy được bản
tâm, cũng gọi là rõ ràng thấy tánh vậy. Chỉ cái tâm chẳng trụ tất cả chỗ ấy, tức là
tâm Phật, cũng gọi là tâm giải thoát, tâm Bồ-đề, tâm vô sanh, sắc tánh không.
Kinh nói : “chứng vô sanh pháp nhẫn” đó vậy.
Nếu ông khi chưa được như thế, phải cố gắng ! Cố gắng ! Cần dụng công
thêm, khi công thành thì tự hội. Nói hội, là tất cả chỗ không tâm, ấy là hội. Nói
không tâm là không cái tâm giả chớ chẳng phải không tâm chân. Tâm giả là tâm
yêu ghét. Tâm chân thật là tâm không yêu ghét. Chỉ không tâm yêu ghét thì hai
tánh không. Hai tánh không thì tự nhiên giải thoát.
*
- Chỉ lúc ngồi thiền dụng công, khi đi có được dụng công chăng ?
- Nay nói dụng công, chẳng riêng khi ngồi, cho đến đi đứng ngồi nằm, làm
công việc, trong tất cả thời đều thường dụng công không gián đoạn ấy gọi là
thường trụ.
*
- Kinh Phương Quảng nói năm thứ pháp thân :
Thật tướng pháp thân
Công đức pháp thân
Pháp tánh pháp thân
Ứng hóa pháp thân
Hư không pháp thân.
Ngay nơi thân mình là thân nào ?
- Biết tâm chẳng hoại là Thật tướng pháp thân. Biết tâm bao gồm vạn tượng
là Công đức pháp thân. Biết tâm không tâm là Pháp tánh pháp thân. Tùy căn cơ
ứng nói là Ứng hóa pháp thân. Biết tâm không hình không thể được là Hư không
pháp thân. Nếu người thấu rõ nghĩa này là biết không chứng. Người không đắc
không chứng là chứng Phật pháp thân. Nếu có chứng có đắc, cho là chứng được ấy
là người tà kiến tăng thượng mạn, gọi là ngoại đạo. Vì cớ sao ? Kinh Duy-ma nói :
“Xá-lợi-phất hỏi Thiên nữ : Ngươi đã được pháp gì, chứng được pháp gì, mà biện
được như thế ? Thiên nữ đáp : Tôi không được không chứng, mới được như thế;
nếu có được có chứng thì ở trong Phật pháp là người tăng thượng mạn”.
*
- Kinh nói Đẳng giác, Diệu giác, thế nào là Đẳng giác ? Thế nào là Diệu
giác ?
- Tức sắc tức không (“Tức sắc tức không”: là thấy sắc mà không tâm; hoặc thấy
tánh sắc tức là không.) gọi là Đẳng giác. Vì hai tánh không, gọi là Diệu giác. Lại
nữa không giác, không không giác, gọi là Diệu giác.
- Đẳng giác cùng Diệu giác là khác hay chẳng khác?
- Vì tùy sự phương tiện giả lập hai tên, chớ bản thể là một không hai không
khác, cho đến tất cả pháp đều như vậy cả.
*
- Kinh Kim Cang nói : “Không pháp có thể thuyết, ấy gọi là thuyết pháp”,
nghĩa đó thế nào ?
- Thể của Bát-nhã cứu cánh thanh tịnh, không có một vật có thể được, ấy
gọi là “không pháp có thể thuyết”. Ngay trong thể không tịch của Bát-nhã, đầy đủ
diệu dụng như hằng sa, tức là không việc gì chẳng biết, “ấy gọi là thuyết pháp”.
Cho nên nói “không pháp có thể thuyết, ấy gọi là thuyết pháp”.
- Kinh nói : “Có người thiện nam thiện nữ thọ trì đọc tụng kinh này, nếu bị
người khinh chê, là người ấy tội nghiệp đời trước lẽ phải sa vào đường ác, do đời
nay bị người khinh chê nên tội nghiệp đời trước liền được tiêu diệt, sẽ được Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác”, nghĩa đó thế nào ?
- Như có người chưa gặp đại thiện tri thức chỉ tạo nghiệp ác, bản tâm thanh
tịnh bị ba độc vô minh che lấp không thể lộ bày, cho nên nói lẽ phải sa vào đường
ác. Do đời nay bị người khinh chê, tức là hôm nay phát tâm cầu Phật đạo, khiến vô
minh diệt hết, ba độc chẳng sanh, thì bản tâm sáng suốt, lại không loạn niệm, các
ác hằng dứt sạch nên đời này bị người khinh chê. Vô minh diệt hết, loạn niệm
chẳng sanh, thì tự nhiên giải thoát, nên nói sẽ được Bồ-đề. Chính khi phát tâm gọi
là đời này, chẳng phải cách đời.
- Kinh lại nói : “Như Lai có ngũ nhãn” thế là sao ?
- Thấy sắc thanh tịnh gọi là Nhục nhãn. Thấy thể thanh tịnh gọi là Thiên
nhãn. Đối các cảnh sắc cho đến thiện ác đều hay phân biệt vi tế, không có nhiễm
trước, ở trong ấy được tự tại, gọi là Tuệ nhãn. Thấy không có chỗ thấy gọi là Pháp
nhãn. Không thấy không không thấy gọi là Phật nhãn.
- Lại, kinh nói Đại thừa Tối thượng thừa, nghĩa ấy thế nào ?
- Đại thừa là Bồ-tát thừa, Tối thượng thừa là Phật thừa.
- Tu thế nào để được thừa này ?
- Người tu Bồ-tát thừa tức là Đại thừa. Chứng Bồ-tát thừa rồi, lại không
khởi quán, đến chỗ không tu, yên tịnh thường lặng lẽ, chẳng thêm chẳng bớt, gọi
là Tối thượng thừa, tức là Phật thừa.
*
- Kinh Niết-bàn nói : “Định nhiều tuệ ít chẳng lìa vô minh, định ít tuệ nhiều
thêm lớn tà kiến, định tuệ đồng nhau gọi là giải thoát”. Nghĩa đó thế nào ?
- Đối tất cả thiện ác đều phân biệt là tuệ; đối với cái bị phân biệt chẳng khởi
yêu ghét, chẳng nhiễm trước nó là định, đây là định tuệ đồng dùng vậy.
- Không bàn không nói gọi là định, chính khi bàn nói được gọi là định
chăng ?
- Nay nói định, chẳng luận nói cùng chẳng nói, vẫn thường định. Vì sao ?
Vì khi dùng tánh định nói năng phân biệt thì nói năng phân biệt cũng là định. Nếu
khi dùng tâm Không để quán sắc, thì lúc quán sắc cũng không. Nếu khi chẳng
quán sắc, chẳng nói chẳng phân biệt cũng không. Cho đến thấy nghe hiểu biết
cũng như thế. Vì cớ sao ? Vì tự tánh không thì đối tất cả chỗ đều không. Không thì
không chấp, không chấp là đồng dùng. Bởi Bồ-tát thường dùng pháp đẳng không
(cả thảy đều không) như thế nên được đến cứu cánh. Cho nên nói “định tuệ đồng
nhau gọi là giải thoát”.
Tôi lại vì ông nói thí dụ để hiển bày, khiến ông tỉnh tỉnh, được hiểu dứt
nghi. Ví như gương sáng khi chiếu soi hình tượng, ánh sáng của gương có động
chăng ? – Chẳng động. Lúc chẳng chiếu cũng động chăng ? – Chẳng động. Tại
sao ? - Vì gương sáng dùng ánh sáng vô tình chiếu, nên khi chiếu chẳng động, khi
chẳng chiếu cũng chẳng động. Vì sao ? Bởi trong vô tình không có động, cũng
không có chẳng động.
Lại như ánh sáng mặt trời khi chiếu thế gian, ánh sáng có động chăng ? –
Chẳng động. Nếu khi chẳng chiếu có động chăng ? – Chẳng động. Vì sao ? - Vì
ánh sáng kia vô tình, dùng ánh sáng vô tình chiếu soi, cho nên chẳng động, chẳng
chiếu cũng chẳng động. Chiếu đó là tuệ, chẳng động là định.
Nếu Bồ-tát dùng pháp định tuệ đồng ấy thì được Vô thượng giác. Cho nên
nói “định tuệ đẳng dụng tức là giải thoát”. Nói vô tình là không phàm tình, chẳng
phải không Thánh tình.
- Thế nào là phàm tình ? Thế nào là Thánh tình ?
- Nếu khởi hai tánh (có không, yêu ghét) tức là phàm tình. Hai tánh không
tức là Thánh tình.
*
- Kinh nói : “Bặt đường nói năng, dứt chỗ tâm nghĩ (ngôn ngữ đạo đoạn,
tâm hành xứ diệt). Nghĩa đó thế nào ?
- Dùng lời nói để hiển bày nghĩa, được nghĩa phải bặt lời. Nghĩa tức là
không, không tức là đạo, đạo thì bặt lời, nên nói “bặt đường nói năng”. Dứt chỗ
tâm nghĩ là được nghĩa thực tế (thực tại) thì chẳng khởi quán, vì chẳng khởi quán
nên vô sanh, vì vô sanh nên tất cả tánh sắc đều không, vì tánh sắc không nên muôn
duyên đều dứt, muôn duyên đều dứt, ấy là “dứt chỗ tâm nghĩ”.
*
- Như như là thế nào ?
- Như như là nghĩa chẳng động. Tâm chân như nên gọi là như như. Thế nên
biết chư Phật quá khứ hành hạnh này được thành đạo; Phật hiện tại hành hạnh này
cũng được thành đạo; Phật vị lai hành hạnh này cũng được thành đạo. Ba đời chư
Phật chỗ tu và chứng đạo không khác, nên nói như như. Kinh Duy-ma nói : “Chư
Phật cũng như, Di Lặc cũng như, cho đến tất cả chúng sanh thảy đều như”. Vì sao?
- Vì Phật tánh chẳng dứt, bởi có tánh vậy.
*
- Tức sắc tức không, tức phàm tức thánh, phải đốn ngộ chăng ?
- Phải.
- Thế nào là tức sắc tức không, tức phàm tức thánh ?
- Tâm có nhiễm tức sắc, tâm không nhiễm tức không, tâm có nhiễm tức
phàm, tâm không nhiễm tức Thánh. Lại, chân không mà diệu hữu là tức sắc, sắc
không có thật là tức không. Nay nói không là tánh sắc tự không, chẳng phải sắc
diệt mới không. Nói sắc là tánh không tự có sắc, không phải sắc hay làm sắc.
*
- Kinh nói : Pháp môn tận (hết) vô tận (không hết) là thế nào ?
- Vì hai tánh Không nên thấy nghe không sanh là tận (hết). Tận là các lậu
(nguyên nhân sanh tử) hết. Vô tận là ở trong thể vô sanh đầy đủ hằng sa diệu dụng,
tùy việc ứng hiện thảy đều đầy đủ, mà trong bản thể cũng không tổn giảm gọi là
vô tận. Ấy là pháp môn tận vô tận vậy.
- Tận cùng vô tận, là một hay khác ?
- Thể là một, nói thì có khác.
- Thể là một tại sao nói có khác ?
- Một là thể của nói, nói là dụng của thể. Vì tùy sự ứng dụng, nên nói thể
đồng mà nói thì khác. Ví như trên trời có một mặt nhật, dưới đất để các thứ chậu
chứa nước đầy, trong mỗi chậu đều thấy có mặt nhật. Các mặt nhật trong chậu
thảy đều tròn đầy cùng mặt nhật trên trời không sai biệt, nên nói thể đồng. Vì tùy
chậu đặt tên nên có sai biệt, do đó có khác. Cho nên bảo thể đồng, nói thì có khác.
Các mặt nhật hiện trong chậu đều tròn đầy, so với mặt nhật chánh trên trời không
có thua kém, nên nói “vô tận”.
- Kinh nói : “Chẳng sanh chẳng diệt”, pháp gì chẳng sanh ? Pháp gì chẳng
diệt ?
- Pháp ác chẳng sanh, pháp thiện chẳng diệt.
- Thế nào là ác ? Thế nào là thiện ?
- Tâm nhiễm lậu (ô nhiễm và trầm luân) là ác. Tâm không nhiễm lậu là
thiện. Chỉ không nhiễm không lậu thì pháp ác chẳng sanh. Khi được không nhiễm
không lậu thì thanh tịnh tròn sáng, lóng yên thường lặng, cứu cánh không dời đổi,
ấy gọi là pháp thiện chẳng diệt. Đây tức là chẳng sanh chẳng diệt vậy.
*
- Trong Bồ-tát Giới nói : “Chúng sanh thọ Phật giới liền vào vị chư Phật, vị
đồng bậc Đại giác rồi, mới thật là con Phật”, nghĩa này thế nào ?
- Phật Giới là tâm thanh tịnh đó vậy. Nếu có người phát tâm tu hành hạnh
thanh tịnh, được tâm không có chỗ thọ, gọi là thọ Phật giới. Chư Phật đời quá khứ
đều tu hạnh không thọ thanh tịnh, được thành Phật đạo. Thời nay có người phát
tâm tu hạnh không thọ thanh tịnh thì cùng chư Phật đồng công đức đẳng dụng
không khác, cho nên nói “vào vị chư Phật”. Như thế, được giác ngộ cùng Phật giác
ngộ đồng. Cho nên nói “vị đồng bậc Đại giác rồi, mới thật là con Phật”. Từ tâm
thanh tịnh sanh trí, trí thanh tịnh gọi là con chư Phật, cũng gọi là thật con Phật.
*
- Nói Phật với Pháp, là Phật có trước hay Pháp có trước ? Nếu Pháp có
trước thì Pháp ấy do Phật nào nói? Nếu Phật có trước thì nương giáo pháp nào
được thành đạo?
- Phật cũng có trước Pháp, cũng có sau Pháp.
- Nhân đâu nói Phật, Pháp có trước sau ?
- Nếu căn cứ Pháp tịch diệt mà nói thì Pháp trước Phật sau. Nếu căn cứ
Pháp văn tự mà nói thì Phật trước Pháp sau. Vì cớ sao ? - Vì tất cả chư Phật đều
nhân nơi Pháp tịch diệt mà được thành Phật, tức là Pháp trước Phật sau.
Kinh nói : “Làm thầy chư Phật, ấy là Pháp vậy”. Sau khi thành đạo rồi, Phật
mới nói rộng mười hai bộ kinh dẫn dắt giáo hóa chúng sanh, chúng sanh nương
nơi pháp Phật giáo hóa tu hành được thành Phật, ấy là Phật trước Pháp sau.
*
- Thế nào là thuyết thông tông chẳng thông ?
- Nói và làm trái nhau, tức là thuyết thông tông chẳng thông.
- Thế nào là tông thông thuyết cũng thông ?
- Nói và làm không sai biệt, tức là thuyết thông tông cũng thông.
- Kinh nói : “Pháp đến chẳng đến, chẳng đến đến” là thế nào ?
- Nói đến mà làm chẳng đến, gọi là đến chẳng đến. Làm đến mà nói chẳng
đến, gọi là chẳng đến đến. Làm nói đều đến, gọi là đến đến.
*
- Phật pháp chẳng hết hữu vi, chẳng trụ vô vi. Thế nào là chẳng hết hữu vi ?
Thế nào là chẳng trụ vô vi ?
- Chẳng hết hữu vi là từ mới phát tâm cho đến ở dưới cội Bồ-đề thành Đẳng
chánh giác, sau đến Song lâm vào Niết-bàn, trong khoảng giữa đó tất cả pháp đều
không bỏ. Ấy là chẳng hết hữu vi.
Chẳng trụ vô vi là tuy tu vô niệm mà chẳng dùng vô niệm làm chỗ chứng.
Tuy tu Không mà chẳng lấy Không làm chỗ chứng. Tuy tu Bồ-đề Niết-bàn vô
tướng vô tác, mà chẳng dùng vô tướng vô tác làm chỗ chứng. Ấy là chẳng trụ vô
vi.
*
- Có địa ngục hay không có địa ngục ?
- Cũng có cũng không.
- Tại sao cũng có cũng không ?
- Vì tùy tâm tạo tất cả nghiệp ác thì có địa ngục. Nếu tâm không nhiễm, vì
tự tánh Không thì không địa ngục.
*
- Chúng sanh chịu tội có Phật tánh chăng ?
- Cũng đồng Phật tánh.
- Đã có Phật tánh thì chính khi vào địa ngục Phật tánh đồng vào chăng ?
- Chẳng đồng vào.
- Vậy chính khi chúng sanh vào địa ngục Phật tánh ở chỗ nào ?
- Cũng đồng vào.
- Đã đồng vào thì khi chúng sanh chịu tội Phật tánh cũng đồng chịu tội
chăng ?
- Phật tánh tuy theo chúng sanh đồng vào, mà chúng sanh chịu tội khổ, Phật
tánh xưa nay vẫn không chịu.
- Đã đồng vào nhân đâu chẳng chịu ?
- Chúng sanh là có tướng, có tướng thì có thành hoại, Phật tánh là không
tướng, không tướng thì tánh Không. Thế nên, tánh chân không không có hoại. Ví
như có người chất củi trong hư không, củi lâu ngày bị mục, hư không chẳng mục.
Hư không dụ Phật tánh, củi dụ chúng sanh. Vì thế, nói đồng vào mà không đồng
chịu.
*
- Chuyển tám thức thành bốn trí, rút bốn trí thành ba thân, vậy mấy thức
chung thành một trí, mấy thức riêng thành một trí ?
- Mắt tai mũi lưỡi thân, năm thức này chung thành Thành sở tác trí. Ý thức
thứ sáu riêng thành Diệu quan sát trí. Tâm thức thứ bảy riêng thành Bình đẳng
tánh trí. Thức hàm tàng thứ tám riêng thành Đại viên cảnh trí.
- Bốn trí này là khác hay đồng ?
- Thể đồng mà tên khác.
- Thể đã đồng tại sao tên khác ?
- Vì tùy sự đặt tên (Câu đáp này trong bản văn thiếu, dịch giả thêm cho đủ
nghĩa.)
- Đã tùy sự đặt tên thì khi một thể, cái gì là Đại viên cảnh trí ?
- Yên tịnh không lặng tròn sáng chẳng động là Đại viên cảnh trí. Đối các
trần không khởi yêu ghét tức là hai tánh Không, hai tánh Không là Bình đẳng tánh
trí. Hay vào cảnh giới các căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) khéo phân biệt mà chẳng
khởi loạn tưởng, được tự tại là Diệu quan sát trí. Hay khiến các căn tùy sự ứng
dụng, thảy vào Chánh định, không có hai tướng là Thành sở tác trí.
- Rút bốn trí làm ba thân, bao nhiêu trí chung làm một thân, bao nhiêu trí
riêng làm một thân ?
- Đại viên cảnh trí riêng thành Pháp thân. Bình đẳng tánh trí riêng làm Báo
thân. Diệu quan sát trí cùng Thành sở tác trí chung làm Hóa thân. Ba thân này
cũng giả lập tên để phân biệt, cốt cho người chưa hiểu xem. Nếu người liễu đạt lý
này cũng không có ba thân ứng dụng. Vì sao ? Vì thể tánh không tướng, từ gốc
không trụ mà lập, cũng không có gốc không trụ.
*
- Thế nào là thấy chân thân Phật ?
- Chẳng thấy có không, là thấy chân thân Phật.
- Thế nào là chẳng thấy có không, là thấy chân thân Phật ?
- Có nương nơi không mà lập, không nương nơi có mà hiển bày, vốn chẳng
lập có thì không đâu còn. Đã chẳng còn không thì có từ đâu mà có. Có với không
làm nhân cho nhau mà có. Đã làm nhân cho nhau mà có thì thảy đều sanh diệt. Chỉ
lìa hai cái thấy này, tức là thấy chân thân Phật.
- Có Không còn không thể được, huống là dựng lập chân thân, thì căn cứ
vào đâu mà lập ?
- Vì có hỏi nên lập. Nếu khi không hỏi thì tên chân thân cũng không thể lập.
Vì sao ? Ví như gương sáng nếu khi đối vật tượng tức hiện hình tượng, nếu khi
chẳng đối vật tượng trọn chẳng thấy hình tượng.
*
- Thế nào là thường chẳng rời Phật ?
- Tâm không khởi diệt, đối cảnh vắng lặng, trong tất cả thời cứu cánh
không tịch, tức là thường chẳng rời Phật.
*
- Thế nào là pháp vô vi ?
- Là hữu vi vậy.
- Nay hỏi pháp vô vi nhân sao đáp hữu vi?
- Hữu nhân vô mà lập, vô nhân hữu mà hiển. Vốn chẳng lập hữu thì vô từ
đâu mà sanh. Nếu luận về chân vô vi là chẳng chấp hữu vi cũng chẳng chấp vô vi,
ấy là pháp chân vô vi. Vì cớ sao ? Kinh nói : “Nếu chấp tướng pháp là chấp ngã
nhân, nếu chấp tướng phi pháp là chấp ngã nhân. Thế nên, chẳng nên chấp pháp,
chẳng nên chấp phi pháp” tức là được chân pháp vậy. Nếu thấu rõ được lý này là
chân giải thoát, là hội được pháp môn bất nhị.
- Thế nào là nghĩa trung đạo ?
- Nghĩa hai bên vậy.
- Nay hỏi nghĩa trung đạo, tại sao đáp nghĩa hai bên ?
- Hai bên nhân giữa mà lập, giữa nhân hai bên mà sanh. Trước nếu không
có hai bên thì giữa từ đâu mà có ? Nay nói giữa là nhân hai bên mà có. Cho nên
biết, giữa cùng hai bên nhân nhau mà lập, thảy đều vô thường, sắc thọ tưởng hành
thức cũng lại như thế.
*
- Thế nào gọi là năm ấm ?
- Đối sắc nhiễm sắc, theo sắc thọ sanh, gọi sắc ấm. Vì lãnh nạp vào trong
tám gió (lợi, suy, hủy, dự, xưng, cơ, khổ, lạc), ưa tập những thứ tin tà, từ trong sự
lãnh thọ mà sanh, gọi là thọ ấm. Mê tâm chấp tưởng, theo tưởng thọ sanh, gọi là
tưởng ấm. Kết nhóm các hành, theo hành thọ sanh, gọi là hành ấm. Nơi thể bình
đẳng vọng khởi phân biệt dính mắc, theo thức thọ sanh, gọi là thức ấm. Thế nên
gọi là năm ấm
*
- Kinh nói : Hai mươi lăm cõi, thế nào là hai mươi lăm cõi ?
- Là thọ thân đời sau vậy. Thân đời sau là thọ sanh trong sáu đường. Vì
chúng sanh hiện đời tâm mê ưa kết các nghiệp, sau ắt theo nghiệp thọ sanh, cho
nên nói đời sau.
- Ở đời nếu có người chí tâm tu hành được cứu cánh giải thoát, chứng vô
sanh pháp nhẫn, hằng lìa tam giới chẳng thọ thân sau. Người không thọ thân sau là
chứng pháp thân. Pháp thân tức là thân Phật.
- Tên hai mươi lăm cõi làm sao phân biệt ?
- Bản thể là một, vì tùy dụng đặt tên nên có rõ ràng hai mươi lăm cõi. Hai
mươi lăm cõi là mười điều ác, mười điều lành và năm ấm.
- Thế nào là mười điều ác, mười điều lành ?
- Mười điều ác là : Sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói thêu dệt, nói hai
lưỡi, nói hung ác và tham, sân, tà kiến. Mười điều lành là ngược lại chẳng làm
mười điều ác trên.
*
- Trước nói vô niệm mà tôi chưa thông tột ?
- Vô niệm là ở tất cả chỗ mà không tâm, không tất cả cảnh, không có những
nghĩ cầu, đối các cảnh sắc hằng không khởi động. Được vô niệm gọi là chân niệm.
Nếu dùng niệm khởi nghĩ làm niệm là tà niệm, chẳng phải chánh niệm. Vì sao ? Vì
Kinh nói : “Nếu dạy người lục niệm (niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm giới,
niệm thí, niệm Thiên) gọi là phi niệm”. Có lục niệm gọi là tà niệm. Không lục
niệm gọi là chân niệm. Kinh nói : “Này thiện nam ! Chúng ta trụ trong pháp vô
niệm được sắc vàng ba mươi hai tướng như thế, phóng hào quang lớn soi khắp các
thế giới, công đức không thể nghĩ bàn, Phật còn nói chẳng hết, huống là các thừa
mà có thể biết”.
Người được vô niệm, sáu căn không nhiễm, tự nhiên được vào tri kiến chư
Phật. Được như thế, gọi là Phật tạng (kho tàng Phật) cũng gọi là Pháp tạng (kho
tàng Pháp) hay bao gồm tất cả Phật, tất cả Pháp. Vì cớ sao ? Vì vô niệm vậy. Kinh
nói : “Tất cả chư Phật đều từ Kinh này xuất sanh”.
- Đã bảo vô niệm thì câu “Vào tri kiến Phật” từ đâu mà lập ?
- Từ vô niệm lập. Vì sao ? Kinh nói : “Từ gốc vô trụ lập tất cả Pháp”. Lại
nói : “Ví như gương sáng, trong gương tuy không hình tượng mà hay hiện muôn
vàn hình tượng. Vì sao ? Vì gương sáng nên hay hiện muôn vàn hình tượng”.
Người học đạo do tâm không nhiễm nên vọng niệm chẳng sanh, tâm ngã nhân diệt,
cứu cánh thanh tịnh, vì thanh tịnh hay sanh tri kiến vô lượng.
*
- Thế nào là đốn ngộ? (Câu này trong văn không có, e bản chữ Hán sót,
dịch giả thêm vào.)
- Đốn ngộ là ngay trong đời này được giải thoát. Làm sao mà biết ? Ví như
sư tử con, khi mới lọt lòng mẹ quả nhiên là sư tử. Người tu đốn ngộ cũng như thế,
ngay khi tu liền vào vị Phật. Như tre mùa xuân sanh măng, cũng ngay trong mùa
xuân măng bằng tre, đồng không có khác. Vì cớ sao ? Vì trong ruột trống. Người
tu đốn ngộ cũng như thế. Vì chóng trừ vọng niệm hằng dứt ngã nhân, cứu cánh
không tịch, cùng Phật bằng nhau, đồng không có khác. Cho nên nói : “Ngay nơi
phàm là thánh”. Người tu đốn ngộ chẳng rời thân này liền vượt tam giới. Kinh nói :
“Chẳng hoại thế gian mà vượt khỏi thế gian, chẳng xả phiền não mà vào Niết-bàn”.
- Người không tu đốn ngộ thì thế nào ?
- Người không tu đốn ngộ, ví như dã can nhập bầy sư tử, trải trăm ngàn
kiếp trọn chẳng được thành sư tử.
*
- Tánh chân như là thật không hay thật chẳng không? Nếu nói chẳng không
tức là có tướng. Nếu nói không tức là đoạn diệt. Tất cả chúng sanh phải nương vào
đâu tu hành để được giải thoát ?
- Tánh chân như cũng không cũng chẳng không. Vì sao? Vì diệu thể chân
như không hình không tướng không thể được, nên nói cũng không. Song trong thể
Không vô tướng đầy đủ diệu dụng hằng sa, không việc gì chẳng ứng hiện, nên nói
cũng chẳng không. Kinh nói : “Hiểu một tức ngàn theo, mê một tức muôn lầm”.
Nếu người giữ một thì muôn việc đều xong, ấy là diệu thuật ngộ đạo. Kinh nói :
“Sum la và vạn tượng đều do một pháp ấn hiện. Thế nào trong một pháp mà sanh
các thứ kiến ? Vì công nghiệp như thế do hành làm gốc”.
*
Nếu người chẳng chịu hàng phục tâm, y cứ văn nghĩa mà cho là chứng ngộ
thì không thể có. Người chấp như thế, là dối mình dối người, mình người đều đọa.
Phải cố gắng ! Cố gắng ! Xét nét kỹ càng. Chỉ việc đến chẳng nhận, tất cả chỗ
không tâm, người được như thế, liền vào Niết-bàn, chứng vô sanh pháp nhẫn, cũng
gọi là pháp môn bất nhị, cũng gọi vô tránh, cũng gọi nhất hạnh Tam-muội. Vì cớ
sao ? Vì cứu cánh thanh tịnh, không ngã không nhân, chẳng khởi thương ghét, là
hai tánh không, là không có chỗ thấy, tức là hoàn tất cái chân như vô đắc.
*
Quyển luận này chẳng truyền cho người không tin, chỉ truyền cho người
đồng kiến đồng hạnh. Phải xem xét người đối trước có tâm thành tín, kham lãnh
thọ không lui sụt, người như thế mới nên vì họ mà nói, chỉ dạy khiến cho họ được
ngộ. Tôi làm quyển luận này là vì người hữu duyên, chẳng phải cầu danh lợi.
Chư Phật nói ra ngàn kinh muôn luận, chỉ vì chúng sanh mê muội, tâm
hạnh chẳng đồng, tùy chỗ tà chấp của họ mà nói pháp đối trị, nên có sai biệt. Nếu
luận về lý giải thoát cứu cánh chỉ là việc đến chẳng nhận, tất cả chỗ không tâm,
hằng lặng lẽ như không, cứu cánh thanh tịnh tự nhiên giải thoát.
Ông chớ cầu hư danh miệng nói chân như, mà tâm tợ khỉ vượn, tức lời nói
việc làm trái nhau, gọi là dối mình, sẽ sa vào đường ác. Chớ cầu cái khoái lạc hư
danh nhất thời, mà chẳng biết nhiều kiếp phải chịu họa ương. Cố gắng! Cố gắng !
Chúng sanh phải tự độ, Phật không thể độ được. Nếu Phật hay độ chúng sanh, thì
chư Phật thời quá khứ số nhiều như cát bụi, lẽ ra tất cả chúng sanh đều được độ
hết. Vì sao chúng ta đến ngày nay vẫn còn trôi lăn trong sanh tử, không được
thành Phật ? Thế nên biết, chúng sanh phải tự độ, Phật không thể độ được. Cố
gắng ! Cố gắng ! Tự mình lo tu hành, chớ ỷ lại vào sức Phật khác. Kinh nói :
“Phàm người cầu pháp chẳng chấp trước Phật mà cầu”.
*
- Ở đời sau, có những nhóm tạp học, làm sao cùng ở chung ?
- Chỉ hòa ánh sáng kia, chẳng đồng nghiệp kia, đồng chỗ mà chẳng đồng ở.
Kinh nói : “Tùy lưu (trôi theo) mà tánh thường vậy”. Người học đạo cần yếu phải
nghĩ “mình vì đại sự nhân duyên là việc giải thoát, thảy đều chẳng dám khinh
người chưa học, kính người mình học như Phật, chẳng đề cao đức của mình, chẳng
đố kỵ điều hay của người, tự xét nét hạnh của mình, chẳng dòm dõ lỗi của người”,
thì ở tất cả chỗ đều không bị chướng ngại, tự nhiên được khoái lạc.
Lặp lại kệ rằng :
Nhẫn nhục đạo thứ nhất,
Trước phải trừ ngã nhân,
Việc đến không thọ nhận,
Là thân chân Bồ-đề .
Kinh Kim Cang nói : “Người thông đạt pháp vô ngã, Như Lai gọi là Bồ-tát
chân thật”. Lại nói : “Chẳng thủ lại chẳng xả, hằng đoạn được sanh tử, tất cả chỗ
không tâm, gọi là con chư Phật”. Kinh Niết-bàn nói : “Như Lai chứng Niết-bàn
hằng đoạn dứt sanh tử”.
Kệ rằng :
Nay ta ý thật rất tốt,
Khi người chê mắng chẳng buồn,
Không lời chẳng nói phải quấy,
Niết-bàn sanh tử đồng đường.
Hiểu thấu bản tông nhà mình,
Vẫn là không có xanh đen,
Tất cả vọng tưởng phân biệt,
Vả biết người đời chẳng rõ.
Gởi lời phàm phu đời sau,
Dẹp hết trong tâm rơm cỏ,
Nay ta ý rất thênh thang,
Chẳng nói, không việc, tâm an.
Thong dong, tự tại, giải thoát,
Đông tây dời đổi dễ dàng,
Trọn ngày không nói lặng yên,
Niệm niệm hướng lý nghĩ xét.
Tự nhiên tiêu dao thấy đạo,
Sanh tử quyết chẳng liên quan,
Nay ta ý thật lạ kỳ,
Chẳng đến trên đời luống dối.
Vinh hoa thảy là giả tạm,
Áo rách cơm hẩm đủ no,
Đi đường gặp người biếng nói,
Người đời đều gọi ta ngu.
Ngoài hiện ngu ngơ ám độn,
Trong tâm sáng tợ lưu ly,
Thầm hợp La-hầu mật hạnh,
Chẳng phải phàm phu kham biết.
Tôi e các ông chẳng hội thấu lý chân giải thoát nên lại chỉ bày các ông.
*
- Kinh Duy-ma nói : “Muốn được tịnh độ phải tịnh tâm ấy”. Thế nào là tịnh
tâm ?
- Dùng cái tịnh cứu cánh làm tịnh.
- Thế nào là dùng cái tịnh cứu cánh làm tịnh ?
- Không tịnh cũng không không tịnh, tức là tịnh cứu cánh.
- Thế nào là không tịnh cũng không không tịnh ?
- Tất cả chỗ không tâm là tịnh, khi được tịnh mà chẳng khởi tưởng tịnh, gọi
là không tịnh. Khi được không tịnh cũng không được khởi tưởng không tịnh, gọi
là không không tịnh.
*
- Người tu hành lấy cái gì làm chứng ?
- Lấy cái chứng cứu cánh làm chứng.
- Thế nào là cái chứng cứu cánh ?
- Không chứng cũng không không chứng, gọi là chứng cứu cánh.
- Thế nào là không chứng và không không chứng ?
- Ở ngoài không nhiễm sắc, thanh v.v… bên trong tâm không khởi vọng
niệm, được như thế gọi là chứng. Khi được chứng mà không khởi tưởng chứng,
gọi là không chứng. Khi được không chứng cũng không khởi tưởng không chứng,
gọi là không không chứng.
*
- Thế nào là tâm giải thoát ?
- Không tâm giải thoát, cũng không không tâm giải thoát, gọi là chân giải
thoát. Kinh nói : “Pháp còn phải xả hà huống phi pháp”. Pháp là có, phi pháp là
không, chỉ chẳng chấp có không là chân giải thoát.
*
- Thế nào đắc đạo ?
- Dùng cái đắc cứu cánh làm đắc.
- Thế nào là cái đắc cứu cánh ?
-Không đắc cũng không không đắc, gọi là đắc cứu cánh.
*
- Thế nào là Không cứu cánh ?
- Chẳng Không cũng chẳng chẳng Không gọi là Không cứu cánh.
*
- Thế nào là chân như định ?
- Không định cũng không không định gọi là chân như định. Kinh nói :
“Không có pháp định gọi là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, cũng không pháp
định Như Lai có thể nói”. Kinh nói : “Tuy tu Không mà chẳng lấy Không làm
chứng, cũng chẳng được khởi tưởng Không. Tuy tu Định mà chẳng lấy Định làm
chứng, cũng chẳng được khởi tưởng Định. Tuy được Tịnh mà chẳng lấy Tịnh làm
chứng, cũng chẳng được khởi tưởng tịnh”.
Nếu khi được định, được tịnh, được tất cả chỗ không tâm, liền khởi tưởng
được như thế, đều là vọng tưởng, liền bị ràng buộc không thể nói là giải thoát. Nếu
khi được như thế, rõ ràng tự biết, được tự tại, mà chẳng được cho thế là chứng,
cũng chẳng được khởi tưởng như thế là được giải thoát. Kinh nói : “Nếu khởi tâm
tinh tấn là vọng không phải tinh tấn. Nếu người hay trong tâm chẳng vọng là tinh
tấn không có bờ mé”.
*
- Thế nào là trung đạo ?
- Không khoảng giữa cũng không hai bên là trung đạo.
- Thế nào là hai bên ?
- Có tâm kia, có tâm này là hai bên.
- Thế nào là tâm kia tâm này ?
- Bên ngoài dính với sắc thanh gọi là tâm kia. Bên trong khởi vọng niệm là
tâm này. Nếu bên ngoài không nhiễm sắc, gọi là không tâm kia. Bên trong không
khởi vọng niệm, gọi là không tâm này. Thế nên không phải hai bên. Tâm đã không
hai bên thì giữa cũng đâu có được. Được như thế gọi là trung đạo. Thật là Như Lai
đạo. Như Lai đạo là tất cả người giác được giải thoát. Kinh nói : “Hư không chẳng
giữa chẳng hai bên, thân chư Phật cũng vậy”. Nhưng tất cả sắc không, là tất cả chỗ
không tâm vậy. Tất cả chỗ không tâm tức tất cả sắc tánh không. Hai nghĩa chẳng
khác, cũng gọi sắc không, cũng gọi pháp sắc không.
Nếu ông lìa “Tất cả chỗ không tâm”, mà được Bồ-đề giải thoát, Niết-bàn
tịch diệt, thiền định kiến tánh, thì không thể nào có. “Tất cả chỗ không tâm” tức là
được Bồ-đề giải thoát, Niết-bàn tịch diệt, cho đến lục độ đều là chỗ kiến tánh. Vì
cớ sao ? Kinh Kim Cang nói: “Không có một chút pháp có thể được, ấy gọi là Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác”.
*
- Nếu có tu tất cả hạnh đầy đủ thành tựu được thọ ký chăng ?
- Chẳng được.
- Nếu không tu tất cả pháp thành tựu, được thọ ký chăng ?
- Chẳng được.
- Nếu thế ấy, phải do pháp gì được thọ ký?
- Chẳng do có hành, cũng chẳng do không hành, là được thọ ký. Vì cớ sao?
Kinh Duy-ma nói : “Các hạnh tánh tướng đều vô thường”. Kinh Niết-bàn nói :
“Phật bảo Ca Diếp, các hạnh là thường, không có lẽ phải”. Ông chỉ tất cả chỗ
không tâm, là không có hạnh, cũng không không các hạnh, gọi là thọ ký. Nói tất
cả chỗ không tâm, là không tâm yêu ghét vậy. Nói không yêu ghét, là thấy việc tốt
chẳng khởi tâm yêu; thấy việc xấu cũng chẳng sanh tâm ghét .
Không yêu gọi là không tâm nhiễm, chính là sắc tánh không. Sắc tánh
không tức là muôn duyên đều bặt. Muôn duyên đều bặt thì tự nhiên được giải
thoát.
Ông phải xét kỹ đó, nếu khi chưa được tỉnh sáng thấu rõ, thì phải hỏi sớm
chớ có bỏ qua. Các ông nếu y theo lời dạy đây tu, mà chẳng được giải thoát, tôi
xin trọn đời thay các ông chịu tội trong đại địa ngục. Nếu tôi lừa dối các ông, sau
này tôi sanh nơi nào sẽ bị sư tử, cọp, sói ăn thịt. Các ông nếu chẳng y theo lời dạy
đây siêng năng tu hành thì không bảo đảm. Một phen mất thân này muôn kiếp khó
được lại. Phải cố gắng! Cố gắng! Cần phải tự biết .
GHI LỜI SƯ ĐÁP CÁC NGƯỜI ĐẾN HỎI
VÀ DẠY CHÚNG
Sư bảo học chúng :
- Tôi chẳng hội thiền, trọn không có một pháp có thể dạy người, không
phiền các ngươi đứng lâu, hãy tự đi đi!
Tuy vậy mà học chúng dần dần thêm đông, ngày đêm thưa hỏi. Sư bất đắc
dĩ vì hỏi giải đáp, biện tài không ngại.
*
Có vài vị Pháp sư đến hỏi :
- Định hỏi một câu, thầy có vui lòng đáp chăng ?
Sư bảo :
- Bóng trăng dưới đầm sâu, mặc ý mò bắt.(Thiền gia cho ngôn ngữ không
thể nói đến chân lý, chỉ nương ngôn ngữ để thấy chân lý ngoài ngôn ngữ. Vì thế
lời giải đáp như bóng mặt trăng hiện dưới đầm. Người muốn thấy mặt trăng thật,
phải nương bóng mặt trăng ấy, mà nhìn ngược lên trời thì mới thấy. Cố chấp bóng
mặt trăng dưới đầm, thì suốt kiếp không khi nào thấy bóng mặt trăng thật.)
- Thế nào là Phật ?
- Hồ nước trong đối diện, chẳng phải Phật là gì? (Tâm thanh tịnh là Phật.
Nếu đối cảnh mà tâm không sanh, chẳng phải Phật là gì ? Vì thế, Sư bảo “Hồ nước
trong đối diện”, tức là tâm đối cảnh chẳng động như hồ nước trong, khi ấy chẳng
phải Phật là cái gì ? Thiền tông chỉ tâm là Phật, chẳng đi cầu Phật bên ngoài. Nếu
đem tâm đi cầu Phật, ấy là vác Phật đi cầu Phật, không bao giờ thấy Phật.)
Các vị ấy đều ngơ ngác, không biết gì cả. Giây lâu có vị lại hỏi :
- Thầy nói pháp gì độ người ?
- Bần đạo chưa từng có một pháp gì độ người.
- Thiền sư nhà tối như thế ?
- Đại đức nói pháp gì độ người ?
- Giảng Kinh Kim Cang Bát-nhã.
- Giảng được bao nhiêu lần ?
- Hơn hai mươi lần.
- Kinh này ai nói ?
Pháp sư tằng hắng lên giọng gắt :
- Thiền sư khéo nói đùa, há không biết Phật nói sao?
- “Nếu nói Như Lai có nói pháp là chê bai Phật,
người ấy không hiểu nghĩa ta nói” (kinh Kim Cang). Nếu nói kinh này
không phải Phật nói tức là phỉ báng kinh. Thỉnh Đại đức nói xem ?
Pháp sư im lặng không đáp được.
Chốc lát, Sư lại hỏi :
- Kinh nói : “Nếu lấy sắc thấy ta, lấy âm thanh cầu ta, người ấy hành đạo tà,
không thể thấy Như Lai”. Đại đức hãy nói cái gì là Như Lai ?
- Đến chỗ này tôi mê hẳn.
- Từ trước đến giờ chưa từng ngộ nói cái gì là mê ?
- Thỉnh Thiền sư vì tôi nói.
- Đại đức giảng kinh hơn hai mươi lượt, lại chưa biết Như Lai ?
Pháp sư lễ bái cầu xin chỉ dạy.
Sư bảo :
- Như Lai là nghĩa Như của các pháp, đâu thể quên được.
- Phải là nghĩa Như của các pháp.
- Đại đức nói, phải cũng chưa phải.
- Văn kinh rõ ràng đâu thể chưa phải ?
- Đại đức Như chăng ?
- Như.
- Cây đá Như chăng ?
- Như.
- Đại đức Như, đồng cây đá Như chăng ?
- Không hai.
- Đại đức cùng cây đá đâu khác ?
Pháp sư không đáp được. Lại khen : “Đây là thượng nhân khó đối đáp
được”. Giây lâu lại hỏi :
- Thế nào được đại Niết-bàn ?
- Chẳng tạo nghiệp sanh tử.
- Thế nào là nghiệp sanh tử ?
- Cầu đại Niết-bàn là nghiệp sanh tử, bỏ nhơ lấy sạch là nghiệp sanh tử, có
đắc có chứng là nghiệp sanh tử, không vượt khỏi môn đối trị là nghiệp sanh tử.
- Thế nào là được giải thoát ?
- Vốn tự không phược (trói buộc) chẳng cần cầu giải thoát, dùng thẳng,
hành thẳng là Vô đẳng đẳng (Phật không ai so bằng gọi là vô đẳng, chư Phật đồng
nhau gọi là đẳng. Vô đẳng đẳng là chỉ cho Phật).
Pháp sư khen :
- Thiền sư như Hòa thượng thật là ít có.
Khen xong, Pháp sư lễ tạ lui ra.
*
Có vị cư sĩ đến hỏi :
- Tức tâm tức Phật, cái gì là Phật ?
Sư bảo :
- Ông nghi cái gì không phải Phật chỉ ra xem ?
Cư sĩ lặng thinh.
Sư nói tiếp :
- Đạt thì khắp cảnh là Phật, chẳng ngộ thì hằng trái xa.
*
Có Luật sư hiệu Pháp Minh đến nói :
- Các Thiền sư phần nhiều rơi vào không.
Sư bảo :
- Trái lại, các Tọa chủ phần nhiều rơi vào không.
Pháp Minh hoảng sợ hỏi :
- Tại sao rơi vào không ?
- Kinh luận là giấy mực văn tự, giấy mực văn tự đều là không (duyên hợp
không thể), dù là trên tiếng dựng lập danh, cú, văn, thân đâu chẳng phải là không.
Tọa chủ bám chặt vào giáo thể, đâu chẳng rơi vào không.
- Thiền sư rơi vào không chăng ?
- Chẳng rơi vào không.
- Sao lại chẳng rơi vào không ?
- Văn tự v.v… đều từ trí tuệ mà sanh, đại dụng hiện tiền đâu thể rơi vào
không.
- Cho biết một pháp không đạt, chẳng gọi là “Tất- đạt”.
- Luật sư chẳng những rơi vào không, lại còn dùng lầm danh ngôn.
Pháp Minh đổi sắc mặt hỏi :
- Lầm chỗ nào ?
- Luật sư chưa rành âm Trung Hoa và Phạn làm sao giảng thuyết ?
- Thỉnh Thiền sư chỉ ra chỗ lầm của Pháp Minh.
- Đâu chẳng biết “Tất-đạt” là tiếng Phạn sao? (Tất-đạt là tiếng Phạn, nói đủ
là Tất-bà-hạt-thích-tha-tất-đà. Trung Hoa dịch là Nhất thiết nghĩa. Xưa dịch âm
Tất-đạt là sai, không đủ âm.)
Pháp Minh tuy nhận thấy lỗi, mà tâm vẫn còn giận, lại hỏi :
- Phàm Kinh, Luật, Luận là lời Phật, đọc tụng, y giáo phụng hành, sao
chẳng thấy tánh ?
- Như chó điên đuổi bóng, sư tử cắn người. Kinh Luật Luận là tự tánh dụng,
người đọc tụng là tánh pháp.
- Phật A Di Đà có cha mẹ và họ chăng ?
- Phật A Di Đà họ Kiều Thi Ca, cha tên Nguyệt Thượng, mẹ tên Thù Thắng
Diệu Nhan.
- Xuất phát từ kinh điển nào ?
- Xuất phát từ tập Đà-la-ni.
Pháp Minh lễ tạ khen ngợi lui ra.
*
Có vị Pháp sư thông Tam tạng đến hỏi :
- Chân như có biến đổi chăng ?
Sư đáp :
- Có biến đổi.
- Thiền sư lầm.
- Đại đức có chân như chăng ?
- Có.
- Nếu không biến đổi quyết định là phàm tăng. Đâu chẳng nghe “Thiện tri
thức hay chuyển ba độc thành ba nhóm tịnh giới, chuyển sáu thức thành sáu thần
thông, chuyển phiền não thành Bồ-đề, chuyển vô minh thành đại trí”. Chân như
nếu không biến đổi, Đại đức thật là ngoại đạo, chủ trương tự nhiên vậy.
- Nếu vậy chân như tức có biến đổi ?
- Nếu chấp chân như có biến đổi cũng là ngoại đạo.
- Thiền sư vừa nói chân như có biến đổi, giờ lại nói không biến đổi, vậy thế
nào thật đúng ?
- Nếu người thấy tánh rõ ràng như hạt minh châu ma-ni hiện sắc, nói biến
đổi cũng được, nói không biến đổi cũng được. Nếu người không thấy tánh nghe
nói chân như biến đổi bèn hiểu biến đổi, nghe nói không biến đổi bèn hiểu không
biến đổi.
Pháp sư khen :
- Nên biết Nam tông (thiền đốn ngộ miền Nam) không thể lường.
*
Đồ đệ đạo Lão đến hỏi :
- Thế gian có pháp nào vượt hơn tự nhiên chăng ?
Sư đáp :
- Có.
- Pháp gì hơn được ?
- Hay biết tự nhiên vậy.
- Nguyên khí là Đạo chăng ?
- Nguyên khí tự nguyên khí, đạo tự đạo.
- Nếu như thế ắt phải có hai ?
- Biết, không hai người.
- Thế nào là tà, thế nào là chánh ?
- Tâm theo vật là tà, vật theo tâm là chánh.
*
Luật sư Nguyên đến hỏi :
- Hòa thượng tu có dụng công chăng ?
Sư đáp :
- Dụng công.
- Dụng công thế nào ?
- Khi đói thì ăn, khi mệt thì ngủ.
- Tất cả người đều như vậy, đồng chỗ dụng công của thầy chăng ?
- Chẳng đồng.
- Tại sao chẳng đồng ?
- Họ khi ăn chẳng chịu ăn, đòi trăm thứ cần dùng; khi ngủ chẳng chịu ngủ,
tính toán ngàn chuyện, do đó chẳng đồng.
Nguyên im lặng.
*
Đại đức Uẩn Quang đến hỏi :
- Thiền sư tự biết chỗ sanh chăng ?
Sư đáp :
- Chưa từng tử đâu cần luận sanh. Biết sanh tức là pháp không sanh, chẳng
lìa pháp sanh nói pháp không sanh. Tổ sư nói : “Chính cái sanh tức không sanh”.
- Người không thấy tánh cũng được như vậy chăng ?
- Tự chẳng thấy tánh chẳng phải không tánh. Vì sao? Vì thấy tức là tánh,
không tánh thì không thể thấy. Thức tức là tánh, nên gọi thức tánh. Liễu tức là
tánh, nên gọi liễu tánh. Hay sanh muôn pháp gọi là Pháp tánh, cũng gọi là Pháp
thân. Tổ sư Mã Minh nói : “Nói là pháp tức tâm chúng sanh. Nếu tâm sanh nên tất
cả pháp sanh, nếu tâm không sanh thì pháp không nương đâu sanh, cũng không
danh tự ”. Người mê chẳng biết Pháp thân không hình tượng, hay ứng vật hiện
hình, bèn nói : “Trúc biếc xanh xanh đều là Pháp thân, hoa vàng mịt mịt thảy đều
Bát-nhã” (thanh thanh thúy trúc tổng thị Pháp thân, uất uất hoàng hoa vô phi Bátnhã).
Hoa vàng nếu là Bát-nhã, Bát-nhã tức đồng vô tình. Trúc biếc nếu là Pháp
thân, Pháp thân tức đồng cây cỏ. Như người ăn măng tức ăn Pháp thân. Những lối
nói như thế đâu thể kể chép hết. Đối diện mê Phật nhiều kiếp mong cầu, trong
pháp thể mà mê lầm chạy tìm kiếm bên ngoài. Thế nên, người hiểu đạo đi đứng
ngồi nằm đều là đạo, người ngộ pháp tung hoành tự tại đều là pháp.
- Hư không hay sanh linh tri chăng ? Chân tâm duyên thiện ác chăng ?
Người tham dục là đạo chăng ? Người chấp phải quấy về sau tâm thông chăng ?
Người xúc cảnh sanh tâm có định chăng ? Người trụ chỗ yên lặng có tuệ chăng ?
Người ôm lòng khinh người có ngã chăng ? Người chấp không chấp hữu có trí
chăng ? Người tầm văn thủ chứng, người khổ hạnh cầu Phật, người lìa tâm cầu
Phật, người chấp tâm là Phật. Những người này hợp đạo chăng ? Thỉnh Thiền sư
mỗi mỗi vì đáp.
- Hư không chẳng sanh linh tri, chân tâm chẳng duyên thiện ác, người chìm
sâu trong tham dục căn cơ cạn, người phải quấy lăng xăng chưa thông, người xúc
cảnh sanh tâm ít định, người yên lặng quên hết là tuệ chìm, người khinh người cao
mạn là ngã mạn, người chấp không chấp có đều ngu, người tầm văn thủ chứng
thêm kẹt, người khổ hạnh cầu Phật là mê, lìa tâm cầu Phật là ngoại đạo, chấp tâm
là Phật là ma.
- Nếu như thế thì rốt ráo không thể có ?
- Rốt ráo là Đại đức, chẳng phải rốt ráo không thể có.
Uẩn Quang vui mừng lễ tạ lui ra
*
Sư thượng đường dạy chúng :
- Các ngươi may mắn tự khéo giữ cái vô sự. Kẻ nhọc nhằn tạo tác là mang
cùm sa ngục chớ gì ? Mỗi ngày từ sáng đến tối bôn ba nói : “Ta tham thiền học
đạo, hiểu thấu Phật pháp”, như thế càng không dính dáng gì. Chỉ chạy theo thinh
sắc biết bao giờ dứt. Bần đạo xưa đến tham vấn Hòa thượng ở Giang Tây (Mã Tổ),
Hòa thượng dạy : “Kho báu nhà của ngươi đầy đủ tất cả, sử dụng tự tại chẳng nhờ
cầu bên ngoài”. Bần đạo từ đây thảy thôi, của báu của mình tùy thân thọ dụng, có
thể nói sống thích thú, không một pháp có thể thủ, không một pháp có thể xả,
chẳng thấy một pháp có tướng sanh diệt, chẳng thấy một pháp có tướng qua lại,
khắp mười phương thế giới không một hạt bụi nào mà chẳng phải của báu nhà
mình. Chỉ quan sát kỹ càng tâm mình một thể Tam bảo thường tự hiện trước,
không thể nghi ngờ. Chớ suy xét, chớ tìm kiếm, tâm tánh xưa nay thanh tịnh. Kinh
Hoa Nghiêm nói : “Tất cả pháp chẳng sanh, tất cả pháp chẳng diệt, nếu hay hiểu
biết như thế, chư Phật thường hiện tiền”. Kinh Tịnh Danh nói : “Quán thân thật
tướng, quán Phật cũng vậy”. Nếu chẳng theo thanh sắc mà động niệm, chẳng theo
tướng mạo mà sanh hiểu, tự nhiên vô sự. Đi ! Chớ đứng lâu. Trân trọng !
Hôm nay đại chúng nhóm họp mãi không giải tán.
Sư hỏi :
- Các ngươi vì cớ sao ở đây mãi không đi ? Bần đạo đã đối diện trình nhau,
lại chịu thôi chăng ? Có việc gì khả nghi, chớ lầm dụng tâm uổng phí khí lực. Nếu
có nghi ngờ, các ngươi tùy ý thưa hỏi.
Có vị hiệu Pháp Uyên hỏi :
- Thế nào là Phật, thế nào là Pháp, thế nào là Tăng, thế nào là một thể Tam
bảo ? Xin Thầy từ bi chỉ dạy.
Sư đáp :
- Tâm là Phật chẳng cần đem Phật cầu Phật, tâm là Pháp chẳng cần đem
pháp cầu pháp. Phật, Pháp hòa hợp không hai là Tăng, tức là một thể Tam bảo.
Kinh nói: “Tâm, Phật, chúng sanh cả ba không khác”. Thân khẩu ý thanh tịnh gọi
là Phật ra đời, ba nghiệp không thanh tịnh gọi là Phật diệt độ. Ví như khi giận thì
không vui, khi vui thì không giận, chỉ một tâm thật không hai thể. Bản trí sẵn vậy,
vô lậu hiện tiền, như rắn hóa thành rồng không đổi vảy, chúng sanh hồi tâm thành
Phật chẳng đổi mặt. Tánh vốn thanh tịnh chẳng đợi tu thành, có chứng có tu tức
đồng người tăng thượng mạn. Chân không chẳng kẹt, ứng dụng không cùng,
không thủy không chung. Người lợi căn đốn ngộ dụng vô đẳng đẳng tức là A-nậubồ-
đề (Vô thượng Chánh giác). Tâm không hình tướng tức là sắc thân vi diệu.
Không tướng tức là thật tướng Pháp thân, thể tánh tướng đều không tức là thân hư
không vô biên. Muôn hạnh trang nghiêm, tức là công đức Pháp thân. Pháp thân
này là gốc của muôn hóa, tùy chỗ đặt tên : Trí dụng không hết gọi là Vô tận tạng
(kho vô tận), hay sanh muôn pháp gọi là Bản pháp tạng (kho gốc các pháp), đủ tất
cả trí gọi là Trí tuệ tạng (kho trí tuệ), muôn pháp về Như gọi là Như Lai tạng (kho
Như Lai). Kinh nói : “Như Lai đó, tức nghĩa Như của các pháp”. Lại nói : “Tất cả
pháp sanh diệt thế gian không có một pháp chẳng về Như ”.
*
Có vị khách hỏi :
- Đệ tử chưa biết Luật sư, Pháp sư, Thiền sư vị nào hơn cả, cúi xin Hòa
thượng từ bi chỉ dạy ?
Sư đáp :
- Luật sư là người mở pháp tạng Tỳ-ni (luật), truyền nề nếp làm mạng sống,
thấu suốt Trì Phạm thông đạt Khai Giá, giữ oai nghi để làm mô phạm, phổ cáo ba
phen yết-ma để làm nhân sơ khởi cho bốn quả (Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-nahàm,
A-la-hán). Nếu chẳng phải là hàng trưởng lão đức dày thì đâu kham đảm
trách.
- Pháp sư là người ngồi tòa sư tử, biện luận thông như nước chảy, đối với
nhiều người đông chúng soi thấu cổng huyền, mở cửa Bát-nhã nhiệm mầu, bình
đẳng bố thí tam luân không tịch. Nếu chẳng phải là hàng long tượng làm sao dám
đảm đương.
- Thiền sư là người nắm được then chốt của đạo, thấu suốt nguồn tâm, ra
vào co duỗi, tung hoành tùy vật ứng hiện; sự lý thảy đồng, chóng thấy Như Lai,
nhổ gốc sâu sanh tử, được Tam-muội hiện tiền. Nếu chẳng phải người an thiền
tịnh lự đến chỗ ấy thảy đều mờ mịt.
Tùy căn cơ thọ lãnh pháp tu, ba môn học tuy khác mà được ý quên lời thì
đồng Nhất thừa đâu sai biệt. Cho nên kinh nói : “Trong cõi Phật ở mười phương,
chỉ có pháp Nhất thừa, không hai cũng không ba, trừ Phật phương tiện nói, chỉ tạm
mượn danh tự, để dẫn đường cho chúng sanh” (Kinh Pháp Hoa).
Khách thưa :
- Hòa thượng thâm đạt ý chỉ của Phật, được biện tài vô ngại.
Lại hỏi thêm :
- Tam giáo Nho, Đạo, Thích là đồng hay khác ?
Sư đáp :
- Người đại lượng dùng đó thì đồng. Kẻ tiểu cơ cố chấp thì khác. Thảy đều
từ trên một tánh khởi dụng, tùy căn cơ thấy sai biệt thành ba, mê ngộ do người,
chẳng phải tại giáo đồng hay khác.
*
Pháp sư Đạo Quang chuyên giảng Duy Thức đến hỏi:
- Thiền sư dùng tâm nào tu đạo ?
Sư đáp :
- Lão tăng không tâm có thể dùng, không đạo có thể tu.
- Đã không tâm có thể dùng, không đạo có thể tu, tại sao mỗi ngày họp
chúng khuyên người học thiền tu đạo?
- Lão tăng còn không có chút đất cắm dùi thì chỗ nào họp chúng lại. Lão
tăng còn không có lưỡi thì đâu từng khuyên dạy người.
- Thiền sư đối diện mà nói dối.
- Lão tăng còn không có lưỡi khuyên người thì đâu biết nói dối.
- Thật tôi không hiểu lời luận nghị của Thiền sư.
- Lão tăng tự cũng chẳng hội.
*
Pháp sư Chí chuyên giảng kinh Hoa Nghiêm đến hỏi:
- Tại sao chẳng nhận “Trúc biếc xanh xanh đồng là Pháp thân, hoa vàng mịt
mịt thảy đều Bát-nhã” ?
Sư đáp :
- Pháp thân không tướng, ứng hiện trong trúc biếc thành hình, Bát-nhã vô
tri đối với hoa vàng mà hiển tướng, chẳng phải trúc biếc hoa vàng kia có Pháp
thân Bát-nhã. Kinh nói : “Chân Pháp thân của Phật giống như hư không, ứng vật
hiện hình như trăng trong nước”. Hoa vàng nếu là Bát-nhã, Bát-nhã tức đồng vô
tình. Trúc biếc nếu là Pháp thân, trúc biếc lại hay ứng dụng. Tọa chủ hội chăng ?
- Chẳng rõ ý này.
- Nếu người thấy tánh nói phải cũng được, nói chẳng phải cũng được, tùy
dụng mà nói, chẳng kẹt phải quấy. Nếu người chẳng thấy tánh nói trúc biếc thì
chấp trúc biếc, nói hoa vàng thì chấp hoa vàng, nói Pháp thân thì kẹt Pháp thân,
nói Bát-nhã mà chẳng biết Bát-nhã. Do đó mà trở thành tranh luận.
Pháp sư Chí lễ tạ lui ra.
*
Có người hỏi :
- Đem tâm tu hành bao lâu được giải thoát ?
Sư đáp :
- Đem tâm tu hành ví như lấy bùn lỏng rửa nhơ. Bát-nhã huyền diệu vốn tự
không sanh, đại dụng hiện tiền chẳng luận thời tiết.
- Phàm phu cũng được như thế chăng ?
- Người thấy tánh thì chẳng phải phàm phu, đốn ngộ thượng thừa thì đã siêu
phàm vượt thánh. Người mê luận phàm bàn thánh, người ngộ siêu vượt sanh tử
Niết-bàn, người mê nói sự nói lý, người ngộ đại dụng cùng khắp. Người mê cầu
đắc cầu chứng, người ngộ không đắc không cầu. Người mê hẹn kiếp xa sẽ chứng,
người ngộ chóng thấy liền.
*
Pháp sư giảng kinh Duy-ma đến hỏi :
- Kinh nói : “Lục sư ngoại đạo kia v.v… là thầy của ngươi, nhân kia xuất
gia, thầy kia bị đọa ngươi cũng theo đó mà đọa. Người thí cho ngươi chẳng gọi
phước điền, cúng dường cho ngươi đọa trong ba đường ác. Chê Phật, hủy pháp,
chẳng vào số chúng, trọn chẳng được diệt độ. Ngươi nếu như thế mới nên nhận
thức ăn” (Kinh Duy-ma). Thỉnh Thiền sư vì giải thích.
Sư đáp :
- Người mê chạy theo sáu căn gọi là Lục sư, ngoài tâm cầu Phật gọi là
ngoại đạo, thấy có vật để thí chẳng gọi phước điền, sanh tâm nhận cúng dường đọa
ba đường ác. Ngươi nếu hay chê bai Phật là chẳng đắm cầu Phật, hủy báng Pháp là
chẳng đắm cầu Pháp, chẳng vào số chúng là chẳng đắm cầu Tăng, trọn chẳng được
diệt độ là trí dụng hiện tiền. Nếu có người hay hiểu được như thế liền được thức ăn
thiền duyệt pháp hỷ.
*
Có vị cư sĩ đến hỏi :
- Có người hỏi Phật đáp Phật, hỏi Pháp đáp Pháp, bảo là pháp môn một chữ,
chẳng biết phải chăng ?
Sư đáp :
- Như chim Anh Võ học nói tiếng người, tự nói chẳng đặng, vì không trí tuệ.
Ví như đem nước rửa nước, đem lửa đốt lửa, trọn không có nghĩa lý gì.
*
Có người hỏi :
- Ngôn với ngữ là đồng hay khác ?
Sư đáp :
- Là một. Bởi vì lời nói (ngôn) thành câu gọi là ngữ. Vả như biện luận thao
thao, ví tợ như nước chảy trong sông lớn, lời hay chồng chập, như hạt châu
nghiêng để trong đồ tròn, mở rộng tên vạn tượng như nước chảy, chia chẻ nghĩa
nhiều như biển cả, đó là ngữ vậy. Ngôn là một chữ hiện bày của tâm. Ở trong chứa
huyền vi, bên ngoài hiện diệu tướng, muôn việc khuấy rối mà chẳng loạn, trong
đục lẫn lộn mà thường phân biệt. Vua Tề vẫn còn hổ thẹn lời của Đại phu, Bồ-tát
Văn Thù còn khen ngợi câu nói của Tịnh Danh, thì người thường làm sao hiểu nổi.
*
Luật sư Nguyên đến hỏi :
- Thiền sư thường nói : “Tức tâm là Phật”, không hợp lý. Vả lại, Bồ-tát
Nhất Địa phân thân ở trăm thế giới chư Phật, Nhị Địa tăng lên gấp mười. Thiền sư
thử hiện thần thông xem ?
Sư đáp :
- Chính mình Xà-lê là phàm hay Thánh ?
- Là phàm.
- Đã là phàm tăng sao lại hỏi cảnh giới như thế ? Kinh nói : “Nhân giả tâm
có cao thấp, chẳng y nơi trí tuệ Phật”, đây là thế.
- Thiền sư mỗi ngày bảo : Nếu ngộ đạo thì thân hiện tiền liền được giải
thoát, cũng không hợp lý.
- Có người trọn đời làm lành, bỗng nhiên ăn cắp đồ người cầm trong tay,
ngay khi ấy thân này phải thân kẻ cắp chăng ?
- Phải.
- Hiện nay thấy tánh rõ ràng, tại sao không được giải thoát ?
- Đời nay hẳn không được, phải trải qua ba đại A-tăng-kỳ kiếp (ba vô số
kiếp) mới được.
- A-tăng-kỳ kiếp lại có số chăng ?
Nguyên lên giọng bảo :
- Đem kẻ cắp so với giải thoát, được thông đạo lý chăng ?
Sư đáp :
- Xà-lê tự chẳng hiểu đạo, không thể chướng tất cả người hiểu, con mắt
mình chẳng mở, không thể chướng tất cả người thấy vật.
Nguyên đổi sắc vừa đi vừa nói :
- Lão già hỗn tạp vô đạo.
Sư bảo :
- Chính đường đi đó là đạo của ông.
*
Pháp sư Tuệ chuyên giảng Chỉ Quán đến hỏi :
- Thiền sư biện biệt được ma chăng ?
Sư bảo :
- Khởi tâm là thiên ma, chẳng khởi tâm là ấm ma, hoặc khởi chẳng khởi là
phiền não ma. Trong chánh pháp ta không có việc như thế.
- Nhất tâm tam quán, nghĩa thế nào ?
- Tâm quá khứ thì đã qua, tâm vị lai thì chưa đến, tâm hiện tại thì không trụ,
ở trong đó lại dùng tâm nào để quán?
- Thiền sư chẳng hiểu Chỉ Quán.
- Tọa chủ hiểu chăng ?
- Hiểu.
- Như Trí Giả Đại sư nói Chỉ để phá Chỉ, nói Quán để phá quán, trụ Chỉ thì
chìm trong sanh tử, trụ Quán thì tâm thần loạn. Thế là, phải đem tâm Chỉ tâm, hay
khởi tâm Quán để quán ? Nếu có tâm quán là pháp thường kiến, nếu không tâm
quán là pháp đoạn kiến, cũng có cũng không là pháp nhị kiến. Thỉnh Tọa chủ xét
kỹ nói xem ?
- Nếu hỏi như thế đều không thể nói được.
- Vậy thì đâu từng Chỉ Quán.
*
Có người hỏi :
- Bát-nhã lớn chăng ?
Sư đáp :
- Lớn.
- Lớn bằng chừng nào ?
- Không có ngằn mé.
- Bát-nhã nhỏ chăng ?
- Nhỏ.
- Nhỏ bằng chừng nào ?
- Xem chẳng thấy.
- Chỗ nào là Bát-nhã ?
- Chỗ nào chẳng phải Bát-nhã ?
*
Pháp sư giảng kinh Duy-ma hỏi :
- Chư Bồ-tát mỗi vị nhập pháp môn Bất nhị, ngài Duy-ma lặng thinh là cứu
cánh chăng ?
Sư đáp :
- Chưa phải cứu cánh. Thánh ý nếu tột thì đến quyển ba lại nói việc gì ?
Pháp sư im lặng giây lát, thưa :
- Thỉnh Thiền sư vì tôi nói ý chưa cứu cánh.
Sư bảo :
- Căn cứ trong kinh thì quyển nhất là “dẫn chúng gọi mười vị đại đệ tử trụ
tâm”. Quyển hai là “chư Bồ-tát mỗi vị nói nhập pháp môn Bất nhị, dùng lời nói để
hiển bày không lời; ngài Văn Thù dùng không lời để hiển bày không lời; ngài
Duy-ma chẳng dùng lời chẳng dùng không lời, cho nên lặng thinh để thâu ngôn
ngữ ở trước”. Quyển ba là “từ chỗ lặng thinh khởi nói, lại hiển thần thông tác
dụng”. Tọa chủ hội chăng ?
- Thật là kỳ quái, đúng thế !
- Cũng chưa đúng thế.
- Tại sao chưa đúng thế ?
- Vả lại, vì để phá tình chấp của người nên nói như thế. Nếu y cứ ý kinh thì
chỉ nói sắc tâm không tịch khiến người thấy bản tánh, dạy bỏ hạnh giả vào hạnh
thật, chớ nhằm trên ngôn ngữ giấy mực mà thảo luận suy tính, cốt hội được hai
chữ Tịnh Danh là đủ. Tịnh là bản thể. Danh là tích dụng. Từ bản thể khởi tích
dụng, từ tích dụng trở về bản thể. Thể và dụng không hai. Bản (xưa) và tích (nay)
không khác. Do đó, cổ nhân nói : “Bản (xưa) tích (nay) tuy khác, chẳng nghĩ bàn
là một vậy. Một cũng chẳng phải một”. Nếu hiểu hai chữ Tịnh Danh là giả hiệu,
lại nói cái gì cứu cánh cùng chẳng cứu cánh ? Không trước không sau, chẳng phải
gốc chẳng phải ngọn, chẳng phải Tịnh chẳng phải Danh, vì chỉ bày cho chúng
sanh bản tánh bất tư nghì giải thoát. Nếu người không thấy tánh, trọn đời chẳng
thấy được lý này.
*
Có vị tăng hỏi :
- Muôn pháp trọn không, thức tánh cũng vậy. Ví như bong bóng nước một
khi tan thì không hợp lại. Thân này chết chẳng sanh trở lại tức là rỗng không thì
chỗ nào mà có thức tánh ?
Sư đáp :
- Bong bóng nhân nước mà có, bong bóng tan đâu thể không nước. Thân
nhân tánh mà có, thân chết đâu thể nói tánh diệt.
- Đã nói có tánh, thử đem ra xem ?
- Ông tin có ngày hôm qua chăng ?
- Tin.
- Ông đem ngày hôm qua đến xem ?
- Ngày hôm qua thật là có, nhưng mà hiện giờ không thể đem đến được.
- Ngày hôm qua không thể đem đến được, chẳng phải không ngày hôm qua,
ông tự không thấy tánh, chẳng phải không có tánh. Nay thấy mặc y, ăn cơm, đi,
đứng, ngồi, nằm đối diện mà chẳng biết, đáng gọi là ngu mê. Ông muốn thấy ngày
hôm qua thì cùng ngày nay chẳng khác. Đem tánh đi tìm tánh muôn kiếp trọn
chẳng thấy, cũng như có người chẳng thấy mặt trời, chẳng phải mặt trời không có.
*
Pháp sư chuyên giảng Thanh Long sớ đến hỏi :
- Kinh nói : “Không pháp có thể nói, ấy gọi là nói pháp”. Thiền sư thể hội
như thế nào ?
Sư đáp :
- Vì thể Bát-nhã cứu cánh thanh tịnh, không có một vật có thể được, ấy gọi
là “không pháp”. Ở trong thể không tịch của Bát-nhã đủ diệu dụng như hà sa, là
không việc gì chẳng biết, ấy gọi là “nói pháp”. Cho nên nói : “Không pháp có thể
nói, ấy gọi là nói pháp”.
*
Pháp sư giảng kinh Hoa Nghiêm hỏi :
- Thiền sư tin vô tình là Phật chăng ?
Sư đáp :
Chẳng tin. Nếu vô tình là Phật thì người sống chẳng bằng người chết, lừa
chết chó chết lẽ ra hơn người sống. Kinh nói : “Phật thân tức là Pháp thân, từ giới
định tuệ mà sanh, từ tam minh lục thông mà sanh, từ tất cả pháp lành mà sanh”.
Nếu nói vô tình là Phật, Đại đức hiện giờ chợt chết liền thành Phật rồi.
*
Có Pháp sư hỏi :
- Trì kinh Bát-nhã công đức rất nhiều, Thầy có tin chăng ?
Sư đáp :
- Chẳng tin.
- Nếu vậy sự linh nghiệm truyền lại hơn mười quyển đều không thể tin sao ?
- Người sống giữ hiếu tự có cảm ứng, không phải xương trắng hay có cảm
ứng. Kinh là chữ giấy mực, chữ giấy mực tánh nó không, thì chỗ nào có linh
nghiệm ? Sự linh nghiệm tại người trì kinh dụng tâm nên thần thông cảm vật. Thử
đem một quyển kinh để trên bàn không có người thọ trì, tự nó có linh nghiệm
chăng ?
*
Có vị tăng hỏi :
- Chưa biết tất cả danh tướng và pháp tướng, nói cùng với nín, thế nào
thông hội liền không có trước sau ?
Sư đáp :
- Khi một niệm khởi xưa nay không tướng không danh, làm sao được nói
có trước sau ? Chẳng rõ danh tướng vốn tịnh, vọng chấp có trước sau. Cổng danh
tướng khóa, chẳng phải chìa khóa trí thì không thể mở. Hễ nói Trung đạo thì bệnh
tại Trung đạo, nói hai bên thì bệnh tại hai bên. Chẳng biết hiện dụng là Pháp thân
Vô đẳng đẳng (Phật). Mê ngộ được mất là pháp của người thường, tự khởi sanh
diệt, chôn vùi chánh trí. Hoặc đoạn phiền não, hoặc cầu Bồ-đề đều là chối bỏ Bátnhã.
*
Có người hỏi :
- Luật sư cớ sao chẳng tin thiền ?
Sư đáp :
- Vì lý sâu kín khó hiển bày, danh tướng dễ giữ. Người không thấy tánh nên
chẳng tin thiền. Nếu người thấy tánh gọi đó là Phật, người biết Phật mới hay tin
vào, Phật chẳng xa người mà người xa Phật. Phật là tâm tạo, mà người mê căn cứ
trong văn tự để tìm. Người ngộ nhằm nơi tâm mà giác, người mê tu nhân đợi quả.
Người ngộ thấu rõ tâm không tướng, người mê chấp vật giữ cái ngã làm mình.
Người ngộ Bát-nhã ứng dụng hiện tiền, người ngu chấp không chấp có sanh kẹt.
Người trí thấy tánh liễu tướng linh thông. Hàng càn tuệ (tuệ khô) biện luận mỏi
miệng, bậc đại trí thấu suốt bản thể tâm an vui. Bồ-tát chạm vật soi tỏ, Thanh văn
sợ cảnh làm mờ tâm. Người ngộ hằng ngày được vô sanh, người mê hiện tiền cách
xa Phật.
*
Có người hỏi :
- Thế nào được thần thông ?
Sư đáp :
- Thần tánh linh thông khắp giáp thế giới như cát bụi núi sông đá vách qua
lại không ngại, trong sát-na đi muôn dặm, qua lại không dấu vết, lửa không thể đốt,
nước không thể chìm. Người ngu tự không tâm trí muốn thân tứ đại này được bay
trong hư không. Kinh nói : “Phàm phu chấp tướng tùy nghi vì họ nói : Tâm không
hình tướng tức là sắc thân vi diệu; không tướng tức là tướng thật, tướng thật thì thể
nó không, gọi là thân hư không vô biên, muôn hạnh trang nghiêm nên gọi là Pháp
thân công đức”. Chính Pháp thân này là gốc của muôn hạnh, tùy công dụng đặt tên,
nói thật chỉ có Pháp thân thanh tịnh.
*
Có người hỏi :
- Kẻ nhất tâm tu hành thì nghiệp chướng đời quá khứ được tiêu diệt chăng ?
Sư đáp :
- Người không thấy tánh chưa được tiêu diệt. Nếu người thấy tánh như mặt
trời giọi sương tuyết. Lại người thấy tánh, ví như gom cỏ bằng ngọn núi Tu Di chỉ
dùng một đóm lửa là cháy rụi. Nghiệp chướng như cỏ, trí tuệ như lửa.
- Thế nào biết được nghiệp chướng hết ?
- Hiện tiền tâm thông thì việc sanh trước sau đều thông. Ví như nhìn thấy
Phật trước Phật sau, muôn pháp đồng thời. Kinh nói : “Một niệm biết tất cả pháp
là đạo tràng vì thành tựu Nhất thiết trí”.
*
Có vị cư sĩ hỏi :
- Thế nào được trụ chánh pháp ?
Sư đáp :
- Cầu trụ chánh pháp là tà. Vì cớ sao ? Vì pháp không có tà chánh.
- Làm sao được thành Phật ?
- Chẳng cần bỏ tâm chúng sanh, cốt đừng ô nhiễm tánh mình. Kinh nói :
“Tâm, Phật và chúng sanh cả ba đều không sai biệt”.
- Nếu hiểu như thế được giải thoát chăng ?
- Vốn tự không phược (trói buộc) chẳng cần cầu giải. Pháp vượt ngoài ngôn
ngữ văn tự, chẳng dùng trong câu số mà cầu; pháp chẳng phải quá khứ hiện tại vị
lai, không thể do trong nhân quả mà khế hội; pháp vượt tất cả, không thể so sánh;
pháp thân không hình tượng, ứng vật hiện hình, chẳng rời thế gian mà cầu giải
thoát.
*
Có vị tăng hỏi :
- Cái gì là Bát-nhã ?
Sư bảo :
- Ngươi nghi cái gì không phải Bát-nhã, thử nói xem ?
- Thế nào được thấy tánh ?
- Thấy tức là tánh, không tánh thì không thể thấy.
- Thế nào là tu hành ?
- Cốt đừng ô nhiễm tự tánh tức là tu hành, chớ tự lừa dối là tu hành, đại
dụng hiện tiền tức là Pháp thân Vô đẳng đẳng (Phật).
- Trong tánh có ác chăng ?
- Trong đây thiện còn chẳng lập.
- Thiện ác đều chẳng lập, đem tâm dùng vào chỗ nào ?
- Đem tâm dùng tâm là đại điên đảo.
- Làm thế nào mới phải ?
- Không làm thế nào, cũng không phải.
*
Có người hỏi :
- Có người chèo thuyền, lườn thuyền cọ chết con ốc con hến, là người chịu
tội hay thuyền chịu tội ?
Sư đáp :
- Người thuyền cả hai đều không tâm, tội chính tại ông. Ví như cuồng
phong thổi gãy cây hại mạng, mà không có người làm, không có người chịu,
nhưng trong thế giới đâu không phải là chỗ chúng sanh chịu khổ.
*
Có vị tăng hỏi :
- Chưa biết “thế thác tình” (gởi tình), “thế chỉ cảnh”, “thế nói nín”, cho đến
“thế nhướng mày chớp mắt” v.v…, làm sao được thông hội ở trong khoảng một
niệm ?
Sư đáp :
- Không có việc ngoài tánh. Người dụng diệu thì động yên đều diệu. Người
tâm chân thì nói nín thảy chân. Người hội đạo thì đi đứng ngồi nằm đều là đạo. Vì
mê tự tánh nên muôn lầm phát sanh.
- Thế nào là pháp có tông chỉ ?
- Tùy chỗ kia lập liền có các nghĩa. Ngài Văn Thù nơi gốc vô trụ lập tất cả
pháp.
- Chẳng đồng thái hư chăng ?
- Ngươi sợ đồng thái hư chăng ?
- Sợ.
- Cái biết sợ là chẳng đồng thái hư.
- Chỗ nói không thể đến, làm sao được hiểu ?
- Nay chính khi ngươi nói, nghi chỗ nào chẳng đến.
*
Có hơn mười vị Túc đức đồng đến hỏi :
- Kinh nói : “Phá diệt Phật pháp”, chưa biết Phật pháp có thể phá diệt
chăng ?
Sư đáp :
- Phàm phu ngoại đạo bảo Phật pháp có thể phá diệt, người Nhị thừa bảo
Phật pháp không thể phá diệt, trong chánh pháp của tôi không có hai cái thấy này.
Nếu luận về chánh pháp chẳng những phàm phu ngoại đạo, cho đến hàng Nhị thừa
chưa đến vị Phật cũng là người ác.
- Pháp chân, pháp huyễn, pháp không, pháp chẳng không mỗi thứ có chủng
tánh chăng ?
- Pháp tuy không có chủng tánh, ứng vật đều hiện. Tâm huyễn nên tất cả
pháp đều huyễn, nếu có một pháp chẳng huyễn thì huyễn ắt có định. Tâm không,
nên tất cả đều không, nếu có một pháp chẳng không thì nghĩa không chẳng lập.
Khi mê thì người theo pháp, lúc ngộ thì pháp do người. Như sum la vạn tượng đến
không là tột, trăm sông các dòng đến biển là tột. Tất cả Hiền Thánh đến Phật là tột.
Mười hai phần kinh, năm bộ Tỳ-ni (luật), năm Vi-đà luận (luận) đến tâm là tột.
Tâm là gốc diệu của tổng trì, là nguồn lớn của muôn pháp, cũng gọi là kho đại trí
tuệ, vô trụ Niết-bàn, trăm ngàn muôn tên thảy là tên khác của tâm mà thôi.
- Thế nào là huyễn ?
- Huyễn không có tướng nhất định, như vòng lửa quay, như thành Càn-thátbà,
như người gỗ bằng máy, như sóng nắng, như hoa giữa hư không, đều không có
pháp thật.
- Sao gọi là thầy đại huyễn ?
- Tâm gọi là thầy đại huyễn. Thân là thành đại huyễn. Danh tướng là đồ ăn
mặc của đại huyễn. Thế giới nhiều như cát bụi không có việc gì ngoài huyễn.
Phàm phu chẳng biết huyễn, nơi nơi mê nghiệp huyễn. Thanh văn sợ cảnh huyễn,
mờ tâm vào tịch diệt. Bồ-tát biết pháp huyễn, đạt thể huyễn, chẳng câu nệ tất cả
danh tướng. Phật là thầy đại huyễn, xoay bánh xe pháp đại huyễn, thành Niết-bàn
đại huyễn, chuyển sanh diệt huyễn, được chẳng sanh chẳng diệt, chuyển cõi ô uế
như cát bụi thành pháp giới thanh tịnh.
*
Có vị tăng hỏi :
- Tại sao chẳng chịu tụng kinh, mà gọi là “khách ngữ” (kẻ học nói) ?
Sư đáp :
- Như chim Anh Võ chỉ học tiếng người mà không hiểu ý người. Kinh là
truyền ý Phật, chẳng nhận được ý Phật mà chỉ tụng, ấy là người học ngữ. Do đó
nên chẳng chịu tụng kinh.
- Không thể lìa văn tự ngôn ngữ mà riêng có ý ?
- Ngươi nói như thế cũng là học ngữ.
- Đồng là ngôn ngữ sao Thầy chẳng nhận lời tôi ?
- Ngươi hãy lắng nghe, trong kinh có đoạn văn rất rõ ràng “Ta nói ra là
nghĩa ngữ mà chẳng phải văn, chúng sanh nói ra là văn ngữ mà chẳng phải nghĩa,
người được ý vượt ngoài lời, người ngộ lý vượt ngoài văn tự, pháp vượt ngôn ngữ
văn tự, đâu thể nhằm trên câu văn mà cầu”. Thế nên, người phát Bồ-đề thì được ý
quên lời, ngộ lý mà lờ kinh, cũng như được cá quên nôm, được thỏ bỏ bẫy.
*
Có Pháp sư hỏi :
- Niệm Phật là “hữu tướng Đại thừa”, ý Thiền sư thế nào ?
Sư đáp :
- Vô tướng vẫn chẳng phải Đại thừa, huống là hữu tướng. Kinh nói : “Phàm
phu chấp tướng” tùy nghi vì họ nói.
- Nguyện sanh Tịnh độ, chưa biết thật có Tịnh độ chăng ?
- Kinh nói : “Muốn được Tịnh độ phải tịnh tâm kia, tùy tâm kia tịnh tức
Phật độ tịnh”. Nếu tâm thanh tịnh thì chính chỗ ở hiện giờ là Tịnh độ. Ví như sanh
trong nhà Quốc vương, nhất định nối nghiệp Quốc vương. Phát tâm hướng Phật
đạo là sanh nơi cõi Phật tịnh. Tâm kia nếu chẳng tịnh thì chính chỗ ở hiện giờ là
uế độ. Tịnh và uế độ là tại tâm chẳng phải tại cõi nước.
- Mỗi ngày nghe nói đạo, chưa biết người nào hay thấy ?
- Người có tuệ nhãn hay thấy.
- Rất thích Đại thừa làm sao học được ?
- Ngộ là được, chẳng ngộ là chẳng được.
- Làm sao được ngộ ?
- Phải quán kỹ.
- Giống vật gì ?
- Giống không vật.
- Thế nào là rốt ráo Không ?
- Không chẳng rốt ráo.
- Thế nào là Hữu ?
- Hữu mà không tướng.
- Chẳng ngộ làm sao ?
- Đại đức tự chẳng ngộ, chẳng phải tại người làm chướng ngại.
- Phật pháp ở nơi ba mé (trong ngoài giữa) chăng ?
- Thấy tại vô tướng chẳng ở ngoài nơi ấy, ứng dụng không cùng, chẳng ở
tại trong, chặng giữa không có chỗ trụ, ba mé không thể được.
- Câu đáp này rất hỗn tạp.
- Chính khi Thầy nói hai chữ “hỗn tạp” là ở trong ở ngoài chăng ?
- Đệ tử xét nghiệm trong ngoài không dấu vết.
- Nếu không dấu vết thì biết rõ lời nói từ trước đến giờ không có hỗn tạp.
- Thế nào được làm Phật ?
- Tâm ấy là Phật, tâm ấy làm Phật.
- Chúng sanh vào địa ngục, Phật tánh có vào chăng ?
- Như hiện nay chính khi làm ác lại có lành chăng ?
- Không.
- Chúng sanh vào địa ngục, Phật tánh cũng như thế.
- Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh là thế nào ?
- Tạo dụng Phật là tánh Phật, tạo dụng kẻ cướp là tánh cướp, tạo dụng
chúng sanh là tánh chúng sanh. Tánh không hình tướng, tùy dụng đặt tên. Kinh
nói : “Tất cả Hiền Thánh đều do pháp vô vi mà có sai biệt” (kinh Kim Cang).
*
Có vị tăng hỏi :
- Thế nào là Phật ?
Sư đáp :
- Rời ngoài tâm thì không có Phật.
- Thế nào là Pháp thân ?
- Tâm là Pháp thân, nghĩa là hay sanh muôn pháp nên gọi là Pháp giới thân.
Luận Khởi Tín nói : “Nói là pháp đó, nghĩa là tâm chúng sanh, tức y tâm này hiển
bày nghĩa Đại thừa”.
- Thế nào là nói có quyển kinh lớn trong hạt bụi nhỏ?
- Trí tuệ là quyển kinh lớn. Kinh nói : “Có quyển kinh lớn lượng bằng thế
giới tam thiên đại thiên, ở trong một hạt bụi nhỏ”. Một hạt bụi là một niệm tâm
trần vậy. Cho nên nói “trong một niệm trần nói ra hà sa bài kệ, người đời tự chẳng
biết”.
- Sao gọi là thành đại nghĩa ? Sao gọi là vua đại nghĩa?
- Thân là thành đại nghĩa. Tâm là vua đại nghĩa. Kinh nói : “Người đa văn
giỏi về nghĩa, mà chẳng giỏi về nói năng, nói năng là sanh diệt, nghĩa chẳng sanh
diệt, nghĩa không hình tướng, ngoài lời nói năng. Tâm là quyển kinh lớn, tâm là
vua nghĩa lớn. Nếu người chẳng biết tâm rành rõ thì không gọi là giỏi nghĩa, chỉ là
người học ngữ.
- Kinh Bát-nhã nói : “Độ chín loài chúng sanh đều vào Vô dư Niết-bàn”, lại
nói “thật không chúng sanh được diệt độ”, hai đoạn văn kinh này làm sao thông
hội ? Người xưa và người nay đều nói “thật độ chúng sanh mà không chấp tướng
chúng sanh”. Tôi vẫn còn nghi, thỉnh thầy vì tôi giải nghi.
- Chín loài chúng sanh trong một thân đầy đủ, tùy tạo nghiệp tùy thành quả.
Vô minh là noãn sanh (sanh bằng trứng), phiền não bao bọc ở trong là thai sanh
(sanh bằng bào thai), nước ái đượm nhuần là thấp sanh (sanh chỗ ẩm ướt), chợt
khởi phiền não là hóa sanh (từ loài này hóa sanh loài khác). Ngộ liền là Phật, mê
gọi là chúng sanh. Bồ-tát chỉ dùng tâm niệm niệm làm chúng sanh. Nếu thấu rõ
niệm niệm nơi tâm, thể nó đều không, gọi là độ chúng sanh. Người trí căn cứ trên
bản tế (tâm) của mình mà độ. Lúc chưa thành hình, chưa thành hình đã không, thì
biết thật không chúng sanh được diệt độ.
Có vị tăng hỏi :
- Ngôn ngữ là tâm chăng ?
Sư đáp :
- Ngôn ngữ là duyên chẳng phải tâm.
- Lìa duyên cái gì là tâm ?
- Lìa ngôn ngữ không tâm.
- Lìa ngôn ngữ đã không tâm, vậy cái gì là tâm ?
- Tâm không hình tướng, chẳng lìa ngôn ngữ, chẳng phải chẳng lìa ngôn
ngữ, tâm thường lặng lẽ, ứng dụng tự tại. Tổ sư nói : “Nếu thấu rõ tâm phi tâm,
mới hiểu tâm tâm pháp”.
*
Có vị tăng hỏi :
- Thế nào là định tuệ đồng học ?
Sư đáp :
- Định là thể, tuệ là dụng, từ định khởi tuệ, từ tuệ về định, như nước với
sóng, một thể lại không có trước sau, gọi là định tuệ đồng học. Phàm kẻ xuất gia
chớ tìm lời theo câu, đi đứng ngồi nằm đều là tánh dụng của ngươi, thì có chỗ nào
cùng đạo không tương ưng? Hãy tự nhất thời thôi dứt đi, nếu chẳng theo gió ngoại
cảnh thì nước tánh thường tự lặng lẽ.
Vô sự, trân trọng !
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)
