Thứ Bảy, 2 tháng 3, 2013

LUẬN TỐI THƯỢNG THỪA


LỜI DỊCH GIẢ
Tập luận này có ba phần : Phần đầu là của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, phần thứ
hai và thứ ba là của Thiền sư Hoàng Bá. Phần đầu hẳn là tên “TỐI THƯỢNG
THỪA LUẬN”, phần thứ hai tên “TRUYỀN TÂM PHÁP YẾU”, phần thứ ba
tên “HOÀNG BÁ ĐOẠN TẾ THIỀN SƯ UYỂN LĂNG LỤC”. Hai phần sau
do Thiền sư Hoàng Bá nói ra, ông cư sĩ Bùi Hưu ghi chép lại. Rốt sau là tiểu sử
Thiền sư Hoàng Bá.
Hoàng Bá là cháu bốn đời của ngũ tổ (Hoàng Bá là đệ tử Bá Trượng, Bá
trượng là đệ tử Mã Tổ, Mã tổ là đệ tử Hoài Nhượng, Hoài Nhượng là đệ tử Lục Tổ
Huệ Năng). Tuy ông cháu cách xa nhưng về truyền tâm ấn vẫn không thay đổi.
Ngũ Tổ dạy “giữ chơn tâm” thì Ngài Hoàng Bá dạy “tin tâm này là Phật”. Ngộ
chơn tâm là chơn Phật, chứng chơn tâm viên mãn là quả Phật. Giữ chơn tâm tức là
tin mình có chơn Phật, hằng sống với chơn tâm, tất cả vọng tưởng đều lắng sạch,
tức là viên mãn quả Phật. Vì thế, dù tên “Tối thượng thừa luận” hay “Truyền tâm
pháp yếu” vẫn dạy người ngộ chơn tâm, sống với chơn tâm. Cho nên, tôi ghép cả
ba phần lại mà chỉ để một tên là “Luận tối thượng thừa”.
Ngũ tổ bảo “Giữ chơn tâm”, chúng ta đừng lầm cố kềm hãm tâm mình đến
tiêu ma trở thành như cây như gỗ. Giữ chơn tâm, nghĩa là khi sáu căn tiếp xúc với
sáu trần mà không để tâm chạy theo phân biệt trần cảnh. Tâm chạy theo phân biệt
trần cảnh là vọng tâm, không khởi tâm chạy theo trần cảnh, chỉ hằng biết cảnh mà
không phân biệt là chơn tâm, vọng tâm và chơn tâm không xa, chỉ một phen hồi
đầu là giác (Hồi đầu thị ngạn), đừng tìm kiếm, đừng cầu cạnh bên ngoài. Nếu vị
nào không ngộ chơn tâm để tu hành, nên đọc kinh Lăng Nghiêm từ quyển một đến
quyển tư thật kỹ, lâu ngày có thể thầm hội.
Tôi thầm nguyện cho quí đọc giả khế hội chơn tâm, để thấy Phật pháp Đại
thừa là viên ngọc vô giá để tu hành đến thành Phật quả.
Pháp Lạc Thất
Đầu hạ năm 2513 PL 1969 TL
THÍCH THANH TỪ
LUẬN TỐI THƯỢNG THỪA
Người muốn tiến đến đạo Thánh hiểu ngộ chơn tâm (Thiền tông) cần phải
luận rõ về “tu tâm”. Nếu không gìn giữ tâm thanh tịnh thì tất cả hạnh không do
đâu nhận thấy. Mong các thiện tri thức có biên chép, dụng tâm đừng để sai lạc, e
làm lầm những người sau.
Phàm người tu cần phải biết bản thể, chính nơi thân tâm này xưa nay thanh
tịnh, không sanh không diệt, không có phân biệt, tâm tự tánh thanh tịnh viên mãn
là Bổn Sư, vượt hơn niệm mười phương Chư Phật.
Hỏi : Làm sao biết tâm mình xưa nay thanh tịnh ?
Đáp : Kinh Thập Địa nói : “Trong thân chúng sanh có Phật tánh Kim Cang”.
Ví như mặt trời tròn đầy sáng suốt rộng lớn không ngằn mé. Chỉ vì bị mây đen
ngũ ấm che đậy, như ngọn đèn để trong bình, ánh sáng không thể chiếu soi. Thí
như thế gian tám hướng mây mù đều dậy, khắp nơi đều tối tăm. Mặt trời đâu có
tàn hoại, tại sao không có ánh sáng ? Ánh sáng nguyên không hoại, vì bị mây mù
che. Tâm thanh tịnh của tất cả chúng sanh cũng như thế. Chỉ vì bị mây đen vin
theo vọng niệm phiền não và các kiến chấp che đậy. Nếu hay giữ tâm lắng lặng,
vọng niệm không sanh thì pháp Niết bàn tự nhiên hiển hiện. Cho nên biết, tâm
mình xưa nay thanh tịnh.
Hỏi : Làm sao biết tâm mình xưa nay không sanh diệt ?
Đáp : Kinh Duy Ma nói : “Như không có sanh, như không có diệt”. Như là
chơn như Phật tánh tự tánh thanh tịnh. Thanh tịnh là nguồn của tâm. Chơn như
vốn không từ duyên sanh. Lại nói : “Tất cả chúng sanh đều Như, các Hiền Thánh
cũng Như”. Tất cả chúng sanh là chúng ta vậy. Các Hiền Thánh tức là Chư Phật
vậy. Danh tướng tuy khác, chơn như pháp tánh trong thân đều đồng. Không sanh
không diệt nên nói đều “Như”. Thế là biết tâm mình xưa nay không sanh không
diệt.
Hỏi : Sao gọi tâm mình là Bổn Sư ?
Đáp : Chơn tâm này tự nhiên mà có, không từ ngoài đến, không ràng buộc
trong ba đời (quá khứ, vị lai, hiện tại), chỗ chí thân không gì hơn tự giữ tâm này.
Nếu người biết giữ tâm, giữ tâm ắt đến bờ kia. Người mê tâm, bỏ tâm thì đọa tam
đồ (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh). Chư Phật ba đời đều lấy tâm làm Bổn Sư. Luận
nói : “Rõ ràng giữ tâm thì vọng niệm không khởi, tức là vô sanh”. Cho nên biết
tâm là Bổn Sư.
Hỏi : Sao nói tâm mình vượt hơn niệm các Đức Phật ?
Đáp : Thường niệm các Đức Phật chẳng khỏi sanh tử, giữ bổn tâm mình thì
đến bờ kia. Kinh Kim Cang nói : “Nếu do sắc thấy ta, do âm thanh cầu ta, người
ấy hành đạo tà, không thể thấy Như Lai”. Cho nên nói “giữ chơn tâm này vượt
hơn niệm các Đức Phật”. Vượt hơn chỉ là lời nói nhằm vào sự tu hành và khuyên
người, kỳ thật quả thế cứu cánh không hai.
Hỏi : Chúng sanh cùng Phật về chơn thể đã đồng, tại sao Chư Phật không
sanh không diệt, thọ vô lượng khoái lạc tự tại không ngại, chúng sanh chúng ta
đọa trong sanh tử chịu các thứ khổ ?
Đáp : Chư Phật mười phương ngộ đạt pháp tánh, đều tự nhiên chiếu sáng
nơi nguồn tâm, vọng tưởng không sanh, chánh niệm không mất, tâm ngã sở diệt,
nên được không thọ sanh tử. Không sanh tử nên rốt ráo vắng lặng, cho nên muôn
cái vui đầy đủ. Tất cả chúng sanh mê chơn tánh, không biết gốc tâm, các thứ vọng
duyên, không tu chánh niệm nên tâm yêu ghét dấy khởi. Do yêu ghét nên hồ tâm
bị bể chảy, hồ tâm bị bể chảy nên có sanh tử, có sanh tử thì các khổ đều hiện. Kinh
Tâm Vương nói : “Chơn như Phật tánh lặn trong biển sáu thức thấy biết, chìm đắm
sanh tử không được giải thoát”. Cố gắng lãnh hội chỗ ấy, giữ chơn tâm thì vọng
niệm không sanh, tâm ngã sở diệt, tự nhiên cùng Phật bình đẳng không hai.
Hỏi : Chơn như Phật tánh đồng một không hai, nếu mê lẽ ra đồng mê, ngộ
lẽ ra đồng ngộ, tại sao Phật giác ngộ bản tánh, chúng sanh thì mờ tối, nhơn đâu
như vậy ?
Đáp : Từ đây về trước là vào phần bất tư nghì (không nghĩ bàn), không phải
chỗ phàm phu đến. Biết tâm nên ngộ, mất tánh nên mê, duyên hiệp liền hiệp, nói
không thể định, chỉ tin quả quyết gìn giữ tâm mình. Kinh Duy Ma nói : “Không tự
tánh, không tha tánh, pháp xưa không sanh, nay cũng không diệt, ngộ pháp này
liền lìa hai bên vào trí vô phân biệt”. Nếu người hiểu được nghĩa này, chỉ khi tu
biết được pháp yếu giữ tâm là bậc nhất. Ở đây nói giữ tâm là cội gốc của Niết bàn,
là yếu môn vào đạo, là tông của mười hai bộ kinh, là Tổ của Chư Phật ba đời.
Hỏi : Sao biết giữ chơn tâm là cội gốc Niết bàn ?
Đáp : Thể của Niết Bàn là vắng lặng vô vi an lạc. Tâm ta đã là chơn như,
vọng tưởng thì đoạn; vì đoạn vọng tưởng nên đủ chánh niệm; vì đủ chánh niệm
nên trí tịch chiếu sanh; vì trí tịch chiếu sanh nên đạt tột pháp tánh; vì đạt tột pháp
tánh nên được Niết bàn. Cho nên biết giữ chơn tâm mình là cội gốc Niết Bàn.
Hỏi : Sao biết giữ chơn tâm là yếu môn vào đạo ?
Đáp : Cho đến đưa một tay lên, lấy móng tay vẽ hình tượng Phật, hoặc tạo
công đức như cát sông Hằng, chỉ là Phật vì giáo hóa chúng sanh không trí huệ, tạo
nghiệp được quả báo thù thắng ở đời sau và gây nhơn thấy Phật. Nếu người mong
sớm thành Phật nên giữ chơn tâm. Trong ba đời, chư Phật nhiều vô lượng vô biên,
nếu có một vị không giữ chơn tâm mà thành Phật, hoàn toàn vô lý. Cho nên kinh
nói : “Cột tâm một chỗ, không việc gì chẳng xong”. Thế nên biết giữ chơn tâm là
yếu môn vào đạo.
Hỏi : Sao biết giữ chơn tâm là tông của mười hai bộ Kinh ?
Đáp : Ở trong tất cả Kinh, Như Lai nói tất cả tội phước, tất cả nhân duyên
quả báo, dẫn tất cả núi sông, quả đất, cỏ cây, v.v... các thứ tạp vật, đề ra thí dụ
nhiều vô lượng vô biên, hoặc hiện thần thông vô lượng các thứ biến hóa, chỉ là
Phật vì giáo hóa chúng sanh không trí huệ các thứ tâm dục, tâm hành muôn vàn sai
khác. Thế nên biết, Như Lai tùy cửa tâm kia dẫn vào Nhất thừa. Chúng ta đã thể
nhận Phật tánh của chúng sanh xưa nay thanh tịnh, như mặt trời bị mây che. Chỉ
cốt rõ ràng giữ chơn tâm, mây vọng niệm hết, mặt trời trí huệ liền hiện. Đâu cần
học nhiều những cái thấy biết bị khổ sanh tử, tất cả nghĩa lý và việc trong ba đời.
Ví như lau gương, bụi hết, ánh sáng tự nhiên hiện. Nay ở trong tâm vô minh mà
học được, trọn không kham. Nếu hay rõ ràng không mất chánh niệm, trong tâm vô
vi học được, ấy là chơn học. Tuy nói chơn học trọn không có chỗ học. Vì cớ sao ?
Vì ta và Niết bàn cả hai đều không. Lại không hai, không một nên không có chỗ
học. Pháp tánh tuy không, cần phải rõ ràng giữ chơn tâm. Vì để vọng niệm không
sanh, tâm ngã sở diệt. Kinh Niết bàn nói : “Người biết Phật không nói pháp, ấy gọi
là đa văn đầy đủ”. Nên biết, giữ chơn tâm là tông của mười hai bộ kinh.
Hỏi : Sao biết giữ chơn tâm là Tổ của chư Phật ba đời ?
Đáp : Chư Phật ba đời đều từ trong tâm tánh sanh. Trước do giữ chơn tâm,
vọng niệm không sanh, tâm ngã sở diệt sau mới được thành Phật. Cho nên biết giữ
chơn tâm là Tổ của chư Phật ba đời.
Từ đây trở lên bốn câu vấn đáp, nếu muốn nói rộng thì vô cùng. Nay tôi
mong ông được tự biết bản tâm là Phật, nên ân cần khuyên ông ngàn kinh muôn
luận không hơn giữ chơn tâm, đó là pháp yếu vậy. Tôi cố gắng đem kinh Pháp
Hoa chỉ cho ông, những vật đại xa, bảo thành, minh châu, diệu dược, ... ông tự
không nhận, không uống thì nghèo khổ, làm sao hội được. Vọng niệm không sanh,
tâm ngã sở diệt thì tất cả công đức tự nhiên viên mãn. không nhờ cầu bên ngoài
mà vào biển khổ sanh tử. Ở tất cả chỗ chánh niệm xét tâm, chớ thích cái vui hiện
tại mà gieo thống khổ đời sau, dối mình dối người không thoát khỏi sanh tử. Cố
gắng ! Cố gắng ! Nay tuy vô thường, chung gieo cái nhân thành Phật ở đời sau.
Chớ để ba thời qua suông luống mất công phu. Kinh nói : “Thường ở trong địa
ngục như dạo hoa viên, tại các đường ác như nhà cửa của mình”. Chúng sanh
chúng ta ngày nay như thế, không biết kinh sợ kẻ giết người (Vô thường), trọn
không có tâm vượt ra. Lạ thay ! Khổ thay !
Nếu có kẻ mới học tọa thiền y kinh quán Vô Lượng Thọ ngồi ngay thắng
chánh niệm, nhắm mắt ngậm miệng, tâm nhìn thẳng đến trước tùy ý xa gần, một
ngày tưởng giữ chơn tâm, niệm niệm chớ trụ. Khéo điều hòa hơi thở, chớ để chợt
thô chợt tế dễ khiến người thành bệnh. Ban đêm giờ ngồi thiền, hoặc thấy tất cả
cảnh giới thiện ác, hoặc nhập các tam muội xanh, vàng, đỏ, trắng, ..., hoặc thấy
thân phát ra hào quang sáng lớn, hoặc thấy thân tướng Phật, hoặc thấy các thứ biến
hóa, chỉ biết nhiếp tâm chớ nên đắm trước, thảy đều là không, do vọng tưởng mà
thấy vậy. Kinh nói : “Cõi nước mười phương đều như hư không, ba cõi hư dối chỉ
là một tâm làm ra”. Nếu không được định, không thấy tất cả cảnh giới, cũng không
nên lấy làm lạ, chỉ nên trong đi đứng ngồi nằm thường rõ ràng giữ chơn tâm. Hội
được thì vọng niệm không sanh, tâm ngã sở diệt, tất cả muôn pháp không ra ngoài
tâm mình. Chư Phật sở dĩ nói rộng như thế, nhiều lời dạy bảo, thí dụ, chỉ vì chúng
sanh hạnh hạnh không đồng nên khiến có giáo môn sai biệt. Kỳ thực tám muôn
bốn ngàn pháp môn, vị thể của hàng Tam thừa vào đạo, hạnh tâm của bảy mươi
hai vị Hiền, chẳng qua tâm mình là gốc. Nếu người hay tự biết bản tâm, niệm niệm
mài luyện chớ trụ, tức tự thấy Phật tánh. Trong mỗi niệm thường cúng dường chư
Phật nhiều như số cát sông Hằng ở khắp mười phương, mỗi niệm thường chuyển
mười hai bộ kinh. Nếu người rõ được nguồn tâm này thì tất cả tâm nghĩa tự hiện,
tất cả nguyện đầy đủ, tất cả hạnh viên mãn, tất cả đều xong, không còn thọ thân
sau. Hội được thì vọng niệm không sanh, tâm ngã sở diệt, bỏ thân này rồi nhất
định được vô sanh không thể nghĩ bàn. Cố gắng ! Không gì lớn bằng. Lời nói chân
thật không dối như thế rất khó được nghe. Trong số chúng nhiều bằng cát sông
Hằng, đâu bằng có một người nghe mà hay thực hành. Trong số kiếp ứcxoa(
Nghĩa là lấy một ức năm làm một kiếp, ý nói thời gian rất dài.) ít có được một người thực hành
đến cứu cánh. Khéo khéo tự an tự tịnh, khéo điều các căn, xem thấu nguồn tâm hằng
khiến soi sáng thanh tịnh, chớ để tâm vô ký sanh.
Hỏi : Sao gọi là tâm vô ký ?
Đáp : Những người nhiếp tâm vì không duyên cảnh bên ngoài nên tâm thô
tạm dừng chút ít; bên trong khi luyện chơn tâm. Tâm chưa được thanh tịnh, trong
đi đứng ngồi nằm thường để ý xem tâm, vẫn chưa có thể rõ ràng thanh tịnh riêng
soi nguồn tâm, ấy gọi là tâm vô ký. Cũng là tâm lậu, vẫn không thoát khỏi bệnh
lớn sanh tử.
Huống là người trọn không giữ tâm, người ấy chìm đắm trong biển khổ
sanh tử, biết ngày nào được ra ? Thật đáng thương ! Cố gắng ! Cố gắng ! Kinh nói :
“Chúng sanh nếu trong không phát lòng thành, nơi ba đời, dù có gặp chư Phật như số
cát sông Hằng cũng không làm được gì”. Kinh nói : “Chúng sanh biết tâm tự độ,
Phật không thể độ chúng sanh”. Nếu Phật hay độ, thời quá khứ chư Phật nhiều như
số cát sông Hằng, cớ sao chúng ta không thành Phật ? Chỉ vì ở trong không tự phát
lòng thành, nên phải đắm chìm trong biển khổ. Cố gắng ! Cố gắng ! Cấp thiết cầu
bản tâm, chớ để vọng lậu.
Quá khứ không biết, đã qua cũng chẳng làm gì kịp. Nay thân hiện tại được
nghe diệu pháp, khuyên nhau rành rẽ hiểu rõ lời này, rõ biết giữ tâm là đạo thứ
nhất, mà không chịu phát tâm chí thành cầu nguyện thành Phật thọ vô lượng tự tại
khoái lạc, cứ mãi chạy theo thế tục, tham cầu danh lợi, đời sau đọa trong địa ngục
lớn chịu các thứ khổ não, đem cái gì thay thế ? Làm sao ? Làm sao ? Cố gắng ! Cố
gắng ! Chỉ hay mặc áo rách, ăn cơm hẩm, rõ ràng giữ chơn tâm, giả vờ người ngu
không hiểu lời nói, ít tổn khí lực mà được hiệu dụng, ấy là người đại tinh tấn.
Người thế gian mê lầm không hiểu lý này, trong tâm vô minh làm nhiều
việc gian khổ tu các tướng lành, mong được giải thoát mà trở lại sanh tử. Nếu
người rõ ràng không mất chánh niệm mà cứu độ chúng sanh, ấy là Bồ Tát hữu lực,
nói tha thiết với các ông : “Giữ tâm là bậc nhất”, nếu không siêng năng giữ tâm,
thật là người quá ngu. Chẳng những một đời hiện tại chịu khổ, mà còn muôn kiếp
sau này mang họa. Không biết lời gì để dặn dò ông, nầy : bát phong(Bát phong :
Lợi, suy, hủy nhục, đề cao, khen, chê, khổ, vui.) thổi chẳng động, thật là núi trân
bảo vậy ... Nếu người biết quả thể, đối với vạn cảnh khởi tác dụng như hằng sa,
biện luận như lưu, hợp bệnh cho thuốc, mà hay vọng niệm không sanh, tâm ngã sở
diệt, thật là bậc đại trượng phu xuất thế, khi Như Lai còn tại thế khen ngợi không
dứt. Tôi nói lời này là chí tâm khuyên ông : “Không sanh vọng niệm, tâm ngã sở
diệt”, ấy là kẻ xuất thế vậy.
Hỏi : Thế nào là tâm ngã sở diệt ?
Đáp : Là có một chút tâm cho ta hơn người, tự nghĩ ta hay như thế, vì tâm
ngã sở ấy là bệnh trong Niết bàn. Kinh Niết bàn nói : “Thí như hư không hay dung
vạn vật, mà hư không này không tự nghĩ ta hay hàm dung như thế”. Thí dụ này để
nói tâm ngã sở diệt tiến vào Kim Cang Tam Muội.
Hỏi : Các người tu cầu chơn thường vắng lặng, chỉ ưa cái thiện thô vô
thường ở thế gian, không ưu cái thiện diệu là nghĩa đế thứ nhất chơn thường, lý
này chưa thấy. Chỉ thấy người muốn phát tâm duyên nghĩa, bèn lo; tâm xét biết
khởi lên là tâm lậu; muốn quên tâm thì trụ nơi mờ mịt vô minh, lại không hợp lý;
muốn không dừng tâm, không duyên nghĩa, tức là ác-thủ-không, tuy thọ thân
người mà làm hạnh súc sanh. Khi ấy, không có phương tiện định huệ, không thể
hiểu rõ thấy được Phật tánh, chính là chỗ người tu chìm đắm. Nếu vì chỉ dạy vượt
đến vô dư Niết bàn, xin chỉ cho chơn tâm ?
Đáp : Hội thì lòng tin đầy đủ, chí nguyện thành tựu, tâm an ổn yên lặng. Lại
một lần nữa dạy ông khéo tự thân tâm yên lặng, tất cả không duyên theo cái gì,
ngồi ngay thẳng chánh niệm, khéo điều hòa hơi thở, xét lại tâm này không ở trong,
không ở ngoài, không ở khoảng giữa, an ổn như như, quán được yên lặng thuần
thục thì thấy rõ dòng tâm thức này trôi chảy như dòng nước, sóng nắng liên tục
chẳng dừng. Khi thấy thức này chỉ là không ở trong, không ở ngoài, an ổn như
như, quán được yên lặng thuần thục thì xoay lại tiêu dung lóng đứng rỗng lặng,
thức trôi chảy này nhẹ nhàng tự diệt. Diệt được thức này rồi là diệt được cái
chướng hoặc trong chúng Bồ Tát bậc Thập địa. Thức này diệt rồi tâm kia liền lóng
lặng trong sạch sáng sủa an lành, tôi không thể nói hết tình trạng của nó. Ông
muốn biết rõ lấy kinh Niết bàn trong quyển thứ ba, phẩm Kim Cang Thân và Kinh
Duy Ma quyển thứ ba, phẩm Kiến A Súc Phật, tâm chín chắn thong thả xem xét
thật kỹ sẽ thấy. Nếu người này trải lâu thật được thuần thục hay khi đi đứng ngồi
nằm và đối với ngũ dục, bát phong không mất tâm ấy, người đó hạnh thanh bạch
đã lập, việc làm đã xong, cứu cánh không thọ thân sanh tử. (Ngũ dục là sắc, thinh,
hương, vị, xúc). Đây là người tu mài luyện Phật tánh. Chớ lấy làm lạ thân này sao
không được tự tại ? Kinh nói : “Thế gian chỗ không có Phật trụ, Bồ Tát không
được hiệu dụng, cốt thoát khỏi báo thân này. Chúng sanh đời quá khứ căn cơ lợi
độn không thể phán xét. Bậc thượng thì trong khoảng một niệm. Bậc hạ thì vô
lượng kiếp. Nếu khi có lực, tùy tánh chúng sanh khởi thiện căn Bồ Tát, tự lợi lợi
tha, trang nghiêm cõi Phật, cần phải hiểu rõ tứ y(Tứ y : 1. Y pháp bất y nhơn. 2. Y
nghĩa bất y ngữ. 3. Y trí bất y thức. 4. Y liễu nghĩa bất y bất liễu nghĩa.) mới cùng tột tướng thật. Nếu y văn
chấp thì mất chơn tông. Các Tỳ kheo ! Các ông học xuất gia tu hành, xuất gia là ra
khỏi ngục sanh tử, ấy gọi là xuất gia. Chánh niệm đầy đủ tu hành được thành, cho
đến cắt từng mảnh thân này, khi mạng sắp hết cũng không mất chánh niệm, liền
được thành Phật”.
Đệ tử (Luận chủ tự xưng) từ trước đến đây biên tập luận này, thẳng do tín
tâm y văn nhận nghĩa nói như thế, thật không phải rõ ràng chứng biết, nếu có trái
Thánh lý xin sám hối trừ diệt. Nếu hợp với Phật đạo, hồi hướng cho chúng sanh
nguyện đều biết bản tâm nhất thời thành Phật. Người nghe cố gắng sau này sẽ
thành Phật, nguyện hiện tiền độ môn đồ của tôi.
Hỏi : Luận này từ đầu đến cuối đều hiển bày tâm mình là đạo, chưa hiểu
trong hai môn quả, hạnh nhiếp thuộc môn nào ?
Đáp : Luận này hiển bày Nhất thừa làm tông, nhưng chí ý nó là tại đường
mê, hiểu thì tự khỏi sanh tử, mới hay độ người, nói thẳng tự lợi, không nói lợi tha,
nhiếp thuộc về hạnh môn.
Nếu có người y văn tu hành thì hiện đời thành Phật. Nếu tôi nói dối ông thì
đời sau sẽ đọa trong mười tám địa ngục, chỉ trời đất mà thề vậy. Nếu không tin tôi
thì đời đời bị hổ lang ăn.
􀀢
TRUYỀN TÂM PHÁP YẾU TỰA
Có vị Đại Thiền Sư pháp hiệu Hy Vận ở dưới ngọn Thứu Phong, núi Hoàng
Bá huyện Cao An, Hồng Châu. Ngài là đích tôn (cháu lớn) của Tào Khê Lục Tổ,
là pháp điệt (con cháu) của Bách Trượng, Tây Đường. Ngài riêng mang ấn Tối
Thượng Thừa, rời văn tự, chỉ truyền dạy một tâm, không có pháp gì khác, tâm thể
cũng không, muôn duyên đều lặng, như mặt trời lên trên hư không, sáng suốt
chiếu soi không có một mảy bụi. Người chứng đó, không mới cũ, không sâu cạn.
Người nói đó, không lập nghĩa giải, không lập tông chủ, không mở cửa nẽo, thẳng
đó là phải, động niệm liền trái, nhiên hậu mới là bổn Phật. Cho nên, lời nói kia rất
gọn, lý ấy chỉ thẳng, đạo cao vót, hạnh này riêng biệt.
Học giả bốn phương trông núi này đua nhau đến, nhìn thấy tướng là ngộ,
hải chúng (số chúng đông) tới lui thường hơn ngàn người.
Hội Xương năm thứ hai (842 TL), tôi trấn nhậm Chung Lăng (Hồng Châu)
đích thân lên núi rước Ngài đến bổn châu, nghỉ ở chùa Long Hưng, sớm chiều hỏi
đạo. Đại Trung năm thứ hai (848 TL), tôi đổi đến Uyên Lăng (Tuyên Châu) cũng
đi lễ thỉnh Ngài đến sở bộ an cư ở chùa Khai Nguyên. Tôi sớm chiều đến thọ pháp,
trở về ghi lại mười phần được một hai, đeo làm tâm ấn không dám bày ra. Nay sợ
e tinh nghĩa nhập thần đời sau không được nghe, bèn trao nó cho môn hạ (đệ tử)
tăng Đại Châu, Pháp Kiến trở về núi xưa chùa Quảng Đường, hỏi Trưởng lão pháp
chúng những ngày trước gần gũi được nghe, đồng khác thế nào.
Hà Đông
Bùi Hưu
􀀢
PHÁP YẾU TRUYỀN TÂM
THIỀN SƯ ĐOẠN TẾ NÚI HOÀNG BÁ
Sư bảo Hưu rằng :
Chư Phật cùng tất cả chúng sanh chỉ là một tâm, không có pháp riêng. Tâm
này từ vô thủy đến nay không từng sanh không từng diệt, không xanh không vàng,
không hình không tướng, không thuộc có không, không kể mới cũ, chẳng dài
chẳng ngắn, chẳng lớn chẳng nhỏ, vượt qua tất cả hạn lượng danh ngôn dấu vết
đối đãi, chính thẳng đó là phải, động niệm liền trái. Ví như hư không không có
giới hạn, không thể đo lường. Duy một tâm này tức là Phật. Phật cùng chúng sanh
không riêng khác. Chỉ vì chúng sanh chấp tướng cầu bên ngoài, càng cầu càng mất,
khiến Phật đi tìm Phật, đem tâm bắt tâm, mãn đời cùng kiếp trọn không thể được.
Họ chẳng biết, dứt nghĩ quên tính, Phật tự hiện tiền. Tâm này tức là Phật, Phật tức
là chúng sanh. Khi làm chúng sanh tâm này không giảm, khi làm chư Phật tâm này
không thêm, cho đến lục độ vạn hạnh công đức như hà sa tự sẵn đầy đủ, chẳng
nhờ tu mà thêm, gặp duyên liền thi thố, duyên dứt liền vắng lặng. Nếu người
không quyết định tin tâm này là Phật, chấp tướng tu hành để cầu được công dụng
đều vọng tưởng, cùng đạo trái nhau. Tâm này tức là Phật lại không có Phật khác,
cũng không có tâm khác.
Tâm này sáng sạch ví như hư không, không có một điểm tướng mạo, khởi
tâm động niệm liền trái pháp thể, tức là chấp tướng. Từ vô thủy đến nay không có
Phật chấp tướng. Tu lục độ vạn hạnh muốn cầu thành Phật, tức là thứ lớp. Từ vô
thủy đến nay không có Phật thứ lớp. Chỉ ngộ một tâm lại không có một chút pháp
có thể được, đây tức là chơn Phật. Phật cùng chúng sanh một tâm không khác. Ví
như hư không, không xen lẫn, không hư hoại. Như vầng mặt trời soi bốn phương
thiên hạ. Khi mặt trời lên ánh sáng chiếu khắp cả thiên hạ, hư không không từng
sáng; Khi mặt trời lặn, bóng tối che trùm thiên hạ, hư không không từng tối. Cảnh
tối sáng tự đuổi cướp nhau, tánh hư không rỗng lặng chẳng đổi. Phật và chúng
sanh tâm cũng như thế. Nếu xem Phật thấy tướng giải thoát thanh tịnh, sáng suốt,
xem chúng sanh thấy tướng nhơ bẩn, tối tăm, người thấy biết như vậy trải qua số
kiếp hà sa trọn không được Bồ Đề, vì chấp tướng vậy.
Chỉ một tâm này, trọn không có pháp bằng hạt bụi nhỏ có thể được, tức tâm
là Phật. Như nay người học đạo không ngộ tâm thể này bèn ở trên tâm sanh tâm,
hướng ra ngoài cầu Phật, chấp tướng tu hành đều là pháp ác, chẳng phải đạo Bồ đề.
Cúng dường chư Phật mười phương không bằng cúng dường một đạo nhân vô tâm.
tại sao ? Vì người vô tâm là không tất cả tâm, thể như như, trong như cây đá
không động không lay, ngoài như hư không chẳng bít chẳng ngại, không năng sở,
không chỗ nơi, không tướng mạo, không được mất, người thú hướng mà không
dám vào pháp này, sợ lạc vào không, không có chỗ nơi nương tựa, trông thấy mé
rồi thối lui.
So sánh để tìm thấy biết rộng. Sở dĩ người thấy biết như lông, người ngộ
đạo như sừng, Văn Thù xứng lý, Phổ Hiền xứng hạnh. Lý là lý chơn không vô
ngại. Hạnh là hạnh lìa tướng không cùng. Quan Âm xứng đại từ, Thế Chí xứng đại
bi, Duy Ma là Tịnh Danh. Tịnh là tánh, danh là tướng. Tánh tướng không khác nên
hiệu là Tịnh Danh. Các vị Đại Bồ Tát tiêu biểu nơi người đều sẵn có, không rời
một tâm, ngộ đó tức phải. Nay người học đạo không hướng trong tâm mình mà
ngộ, bèn ở ngoài tâm chấp tướng theo cảnh đều trái với đạo. Cát sông Hằng, Phật
nói là cát, chư Phật, Bồ Tát, Thích Phạm, chư Thiên đạp giẫm đi qua, cát cũng
chẳng mừng; trâu, dê, trùng, kiến dày xéo lên trên, cát cũng chẳng giận. Trân bảo
thơm tho, cát cũng chẳng tham; phân uế hôi thối, cát cũng chẳng ghét. Tâm này
tức tâm mà không tâm, lìa tất cả tướng, chúng sanh chư Phật không có sai biệt, chỉ
hay vô tâm liền là cứu cánh. Người học đạo nếu không thể thẳng đó vô tâm thì
nhiều kiếp tu hành trọn không thành đạo, bị công hạnh Tam thừa ràng buộc, không
thể được giải thoát.
Nhưng, chứng tâm này có nhanh chậm. Có người nghe pháp một niệm liền
được vô tâm. Có người đến Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng mới
được vô tâm. Dài hay ngắn được vô tâm mới trụ, lại không có thể tu, không có thể
chứng, thật không sở đắc, chơn thật không dối. Người chỉ một niệm mà được,
cùng người đến Thập địa mới được, công dụng tương đương, không có sâu cạn,
chỉ là nhiều kiếp luống chịu khổ nhọc vậy.
Tạo ác, tạo thiện đều là chấp tướng. Chấp tướng tạo ác luống chịu luân hồi;
chấp tuớng tạo thiện luống chịu nhọc nhằn, thảy đều không bằng một câu nói tự
nhận được bổn pháp. Pháp này tức là tâm, ngoài tâm không có pháp. Tâm này tức
là pháp, ngoài pháp không có tâm. Tâm tự vô tâm, cũng không vô tâm, đem tâm
cầu vô tâm, tâm trở lại thành hữu (có). Thầm khế hội mà thôi. Dứt các nghĩ bàn,
nên nói dứt đường ngôn ngữ, diệt chỗ tâm hành. Tâm này là cội nguồn thanh tịnh.
Phật và người đều có. Các loài bò bay máy cựa cùng chư Phật, Bồ Tát một thể
không khác. Chỉ vì vọng tưởng phân biệt tạo các thứ nghiệp. Trên quả Phật sẳn có,
thật không một vật, rỗng suốt vắng lặng sáng sủa, nhiệm màu an lạc. Phải sâu tự
ngộ nhập, thẳng đó là phải, tròn đầy sẳn đủ không có thiếu sót.
Giả sử người tinh tấn tu hành trải qua ba vô số kiếp, qua các địa vị, cùng
người do một niệm chứng được, chỉ là chứng cái sẵn có. Kỳ thực, trên Phật của
mình không có thêm được một vật gì, xem lại công dụng nhiều kiếp thảy đều là
việc làm trong mộng. Cho nên Như Lai nói : “Ta đối với A-Nậu Bồ-Đề (Vô
Thượng Chánh Giác) thật không có sở đắc, nếu có sở đắc, Đức Phật Nhiên Đăng
ắt không thọ ký cho ta”. Lại nói : “Pháp ấy bình đẳng không có cao thấp, ấy gọi là
Bồ Đề”. Tức tâm bản nguyện thanh tịnh này, chúng sanh, chư Phật, núi sông, thế
giới, có tướng, không tướng, khắp cả mười phương thế giới, tất cả đều bình đẳng
không có tướng ta và kia. Tâm bản nguyên thanh tịnh này thường tự tròn sáng soi
khắp, mà người đời không ngộ, chỉ nhìn thấy cái nghe hiểu biết làm tâm, bị cái
thấy nghe hiểu biết che đậy, sở dĩ không thấy được bản thể tinh minh.
Chỉ nên thẳng đó vô tâm thì bản thể tự hiện. Như vầng mặt trời lên trên hư
không soi sáng khắp mười phương không có chướng ngại. Người học đạo chỉ nhận
cái thấy nghe hiểu biết động tác thi vi; không dẹp cái thấy nghe hiểu biết tức là
con đường tâm bặt dứt không có lối vào. Chỉ nơi cái thấy nghe hiểu biết nhận bản
tâm. Song bản tâm không thuộc cái thấy nghe hiểu biết, cũng không rời cái thấy
nghe hiểu biết. Cốt yếu là chớ ở trên cái thấy nghe hiểu biết khởi phân biệt, cũng
chớ ở trên cái thấy nghe hiểu biết mà động niệm, cũng chớ lìa cái thấy nghe hiểu
biết tìm tâm, cũng chớ bỏ cái thấy nghe hiểu biết mà nhận pháp. Không tức, không
ly, không trụ, không trước, tung hoành tự tại đều là đạo tràng.
Người đời nghe nói “Chư Phật đều truyền tâm pháp”, cho là trên tâm riêng
có một pháp có thể chứng, có thể thủ, bèn đem tâm tìm pháp. Họ không biết tâm
tức là pháp, pháp tức là tâm, không thể đem tâm lại cầu tâm, trải ngàn muôn kiếp
lại không có ngày được. Đâu bằng chính nơi đó vô tâm, tức là bổn pháp. Như
người lực sĩ quên hạt châu trên trán, hướng ra ngoài tìm kiếm, chạy khắp mười
phương trọn không thể được. Người trí chỉ cho, liền đó tự thấy bản châu như cũ.
Người học đạo mê bản tâm mình không nhận là Phật, bèn hướng ra ngoài tìm cầu
khởi công dụng hạnh, y thứ lớp chứng, nhiều kiếp cần cầu hằng không thành đạo.
Không bằng thẳng đó vô tâm, quyết định biết tất cả pháp vốn không sở hữu, cũng
không sở đắc, không y không trụ, không năng không sở, không động vọng niệm,
liền chứng Bồ đề. Đến khi chứng đạo, chỉ là chứng bản tâm, Phật nhiều kiếp dụng
công đều là tu suông, như lực sĩ khi được châu chỉ được hạt châu sẳn trên trán,
không quan hệ gì sức chạy ra ngoài tìm cầu. Cho nên Phật nói : “Ta đối A-Nậu
Bồ-Đề thật không sở đắc”. Sợ e người không tin nên dẫn ngũ nhãn đã thấy, năm
câu đã nói, chơn thật không dối là đệ nhất nghĩa đế.
Người học đạo chớ nghi tứ đại làm thân, tứ đại không ngã (không thường
còn và làm chủ), ngã cũng không chủ, cho nên biết thân này không ngã cũng
không chủ. Chớ nghi năm ấm làm tâm, năm ấm không ngã cũng không chủ, cho
nên tâm này không ngã cũng không chủ. Sáu căn, sáu trần, sáu thức hòa hợp sanh
diệt cũng lại như vậy. Mười tám giới đã không thì tất cả đều không, chỉ có bản tâm
thênh thang trong sạch.
Có thức thực, có trí thực. Thân tứ đại là bệnh ghẻ đói, tùy thuận nuôi dưỡng
không sanh tham đắm, gọi là trí thực. Buông lung ý, chấp mùi vị vọng sanh phân
biệt, chỉ cầu món ngon không sanh nhàm chán, gọi là thức thực.
Thinh văn là nhơn tiếng được ngộ, nên gọi là Thinh văn. Bởi không rõ tự
tâm, nên trên lời dạy sanh hiểu biết, hoặc nhơn thần thông, hoặc nhơn tướng tốt,
ngôn ngữ vận động, nghe có Bồ đề Niết bàn tu hành trải qua ba vô số kiếp mới
thành Phật đạo, đều thuộc đạo Thinh văn, gọi đó là Thinh văn. Phật duy chỉ thẳng
chóng rõ tự tâm xưa nay là Phật, không có một pháp có thể được, không có một
hạnh có thể tu, đây là đạo vô thượng, đây là chơn như Phật. Người học đạo chỉ sợ
một niệm có, tức cùng đạo ngăn cách, niệm niệm không tướng, niệm niệm vô vi,
tức là Phật. Người học đạo nếu muốn thành Phật thì tất cả Phật pháp thảy đều
không dụng học, chỉ học không cầu, không đắm trước. Không cầu tức tâm không
sanh, không đắm trước tức tâm không diệt, không sanh không diệt tức là Phật.
Tám muôn bốn ngàn pháp môn đối trị tám muôn bốn ngàn phiền não, chỉ là môn
giáo hóa tiếp dẫn. Vốn không tất cả pháp, lìa tức là pháp, người biết lìa là Phật.
Chỉ lìa tất cả phiền não là không pháp có thể được.
Người học đạo muốn được biết yếu quyết thì chớ ở trên tâm để một vật nói
là Phật. Chơn pháp thân ví như hư không. Đây là dụ pháp thân tức hư không, hư
không tức pháp thân. Người thường bảo pháp thân đầy khắp hư không, trong hư
không gồm chứa pháp thân. Họ không biết pháp thân tức hư không, hư không tức
pháp thân. Nếu quyết định nói có hư không thì hư không chẳng phải pháp thân.
Nếu quyết định nói có pháp thân thì pháp thân chẳng phải hư không. Chớ khởi
hiểu hư không thì hư không tức pháp thân. Chớ khởi hiểu pháp thân thì pháp thân
tức hư không. Hư không cùng pháp thân không có tướng khác. Phật cùng chúng
sanh không có tướng khác. Sanh tử cùng Niết bàn không có tướng khác. Phiền não
cùng Bồ đề không có tướng khác. Lìa tất cả tướng tức là Phật.
Phàm phu chấp cảnh, Đạo nhơn chấp tâm. Tâm cảnh cả hai đều quên mới là
chơn pháp. Quên cảnh vẫn dễ, quên tâm rất khó. Người không dám quên tâm, sợ
rơi vào chỗ không, không sờ mó đến. Không biết không vốn chẳng không, chỉ một
chơn pháp giới. Tánh linh giác này từ vô thủy đến nay tuổi đồng với hư không,
chưa từng sanh, chưa từng diệt, chưa từng có, chưa từng không, chưa từng uế,
chưa từng tịnh, chưa từng ồn náo, chưa từng vắng lặng, chưa từng bé, chưa từng
già, không chỗ nơi, không trong ngoài, không số lượng, không hình tướng, không
sắc tượng, không âm thinh, không thể tìm, không thể cầu, không thể dùng trí huệ
mà biết, không thể dùng ngôn ngữ mà nhận, không thể dùng cảnh vật mà hội,
không thể dùng dụng công mà đến. Chư Phật, Bồ tát cùng tất cả hàm linh xuẩn
động đồng tánh đại niết bàn này. Tánh tức là tâm, tâm tức là Phật, Phật tức là pháp.
Một niệm lìa chơn đều là vọng tưởng. Không thể đem tâm lại tìm tâm, không thể
đem Phật lại cầu Phật, không thể đem pháp lại cầu pháp. Người học đạo thẳng đó
vô tâm, thầm khế hội mà thôi. Nghĩ tâm tức là sai, lấy tâm truyền tâm đây là chánh
kiến. Dè dặt chớ hướng ra ngoài, chạy theo cảnh, nhận cảnh làm tâm là nhận giặc
làm con. Vì có tham, sân, si nên lập giới, định, huệ. Vốn không có phiền não thì
đâu có bồ đề. Cho nên Tổ sư nói : “Phật nói tất cả pháp vì trừ tất cả tâm, ta không
tất cả tâm đâu dùng tất cả pháp”. Trên bổn nguyên thanh tịnh Phật lại không để
một vật. Ví như hư không, dù lấy trân bảo vô lượng để trang nghiêm, trọn không
thể được. Phật tánh đồng hư không, dù lấy công đức trí huệ vô lượng để trang
nghiêm, trọn không thể được. Chỉ mê bản tánh bèn không thấy vậy. Nói rằng
“Pháp môn tâm địa” là muôn pháp đều y tâm này dựng lập, gặp cảnh tức có,
không cảnh tức không, không thể trên tánh tịnh lại khởi biết cảnh. Nói định huệ là
quán dụng thì rõ ràng vắng lặng tỉnh táo, thấy nghe hiểu biết đều phải. Trên cảnh
khởi hiểu, tạm vì người trung hạ căn nói thì được. Nếu muốn thân chứng đều
không thể khởi thấy hiểu như thế, toàn là cảnh pháp, có chỗ lặn mất thì lặn mất ắt
có nơi. Chỉ đối tất cả pháp không khởi thấy có không, tức là thấy pháp.
Từ Đại Sư Đạt Ma đến Trung Quốc chỉ nói một tâm, chỉ truyền một pháp.
Lấy Phật truyền Phật chẳng nói Phật khác, lấy pháp truyền pháp, chẳng nói pháp
khác. Pháp tức là pháp không thể nói, Phật tức là Phật không thể thủ mới là tâm
bản nguyên thanh tịnh vậy. Chỉ một việc này thật, có hai cái khác thì chẳng phải
chơn. Bát nhã là huệ, huệ này tức là bổn tâm vô tướng. Phàm phu không đến đạo,
chỉ buông lung sáu tình là đi trong sáu đạo. Người học đạo một niệm chấp sanh tử
liền rơi vào ma đạo; một niệm khởi các kiến (các thứ thấy biết khác) liền rơi vào
ngoại đạo, thấy có sanh tiến đến diệt liền rơi vào Thinh Văn đạo; chẳng thấy có
sanh, chỉ thấy có diệt, liền rơi vào Duyên Giác đạo; không khởi cái thấy có hai,
chẳng chán chẳng ưa, tất cả các pháp chỉ là một tâm, nhiên hậu mới là Phật thừa.
Phàm phu đều theo cảnh sanh tâm, tâm bèn ưa chán. Nếu muốn không cảnh
phải quên tâm ấy. Tâm quên tức là cảnh không, cảnh không tức là tâm diệt. Nếu
không quên tâm mà chỉ trừ cảnh thì cảnh không thể trừ, càng thêm lăng xăng. Cho
nên muôn pháp chỉ là tâm, tâm cũng không thể được, lại cầu cái gì ? Người học
bát nhã không thấy một pháp có thể được, dứt ý nơi Tam thừa, chỉ một chơn thật
không thể chứng được. Bảo là ta hay chứng hay đắc đều là người tăng thượng mạn.
Trên hội Pháp Hoa phủi áo ra đi, đều là bọn người này. Phật nói : “Ta đối với Bồ
đề thật không sở đắc”, Thầm khế hội mà thôi.
Phàm nhơn khi sắp mạng chung chỉ quán năm uẩn đều không, bốn đại vô
ngã, chơn tâm không tướng, chẳng đi chẳng đến, khi sanh tánh cũng chẳng đến,
khi tử tánh cũng chẳng đi, yên lặng tròn bặt, tâm cảnh nhất như. Chỉ hay quán như
thế liền đó chóng liễu ngộ. Chẳng bị ba đời ràng buộc bèn là người xuất thế. Dù
người không được ít phần thú hướng, nếu thấy tướng lành, chư Phật đến đón và
các thứ hiện trước cũng không khởi tâm đi theo; nếu thấy tướng dữ và các thứ hiện
trước cũng không sanh tâm kinh sợ; chỉ tự quên tâm đồng với pháp giới liền được
tự tại, đây tức là tiết yếu vậy. Nói Hóa thành đó, Nhị thừa và Thập địa, Đẳng giác,
Diệu giác, đều là giáo quyền lập để tiếp dẫn, thảy là Hóa thành. Nói Bảo sở đó là
bảo chơn tâm, bản Phật, tự tánh, cái bảo này không thuộc về tình lượng, không thể
kiến lập, không Phật, không chúng sanh, không năng không sở, chỗ nào có thành ?
Nếu hỏi : Đây đã là Hóa thành, chỗ nào là Bảo sở ? Bảo sở không thể chỉ, chỉ tức
có chỗ nơi, không phải là chơn Bảo sở. Cho nên nói “Ở gần” mà thôi. Không thể
định lượng nơi đó, chỉ chính đây khế hội là phải.
Nói xiển đề đó, lòng tin không đủ vậy. Tất cả chúng sanh trong sáu đạo cho
đến Nhị thừa không tin có Phật quả, đều gọi là đoạn thiện căn xiển đề. Bồ Tát đó,
tin sâu có Phật pháp không thấy có Đại thừa, Tiểu thừa, Phật cùng chúng sanh
đồng một pháp tánh gọi là thiện căn xiển đề.
Đại để, nhơn nghe giáo mà ngộ gọi là Thinh Văn, quán nhơn duyên mà ngộ
gọi là Duyên Giác. Nếu không hướng trong tâm mình mà ngộ, tuy đến thành Phật
cũng gọi là Phật Thinh Văn. Người học đạo phần nhiều đối trên pháp giáo mà ngộ,
không ở trên tâm pháp mà ngộ, tuy trải nhiều kiếp tu hành trọn không phải là bổn
Phật. Nếu không nơi tâm mà ngộ, chỉ đối trên giáo pháp mà ngộ tức là khinh tâm
trọng giáo, bèn thành theo khối (theo hình tướng) mà quên bản tâm. Cho nên chỉ
khế hội bản tâm, chẳng cần cầu pháp, tâm tức là pháp vậy.
Phàm nhơn phần nhiều bị cảnh ngại tâm, sự ngại lý, thường muốn trốn cảnh
để an tâm, đuổi sự để còn lý, không biết chính là tâm ngại cảnh, lý ngại sự. Chỉ
khiến tâm không, cảnh tự không, chỉ khiến lý lặng sự tự lặng, chớ dụng tâm lộn
ngược. Phàm nhơn phần nhiều không chịu không tâm, sợ rơi vào không, chẳng
biết tâm mình vốn không. Người ngu trừ sự không trừ tâm, người trí trừ tâm
không trừ sự. Bồ Tát tâm như hư không, tất cả đều xả, làm những việc phước đức
đều không tham trước. Nhưng, xả có ba bậc : trong ngoài thân tâm tất cả đều xả, ví
như hư không, không có chỗ thủ trước, nhiên hậu tùy phương tiện làm lợi ích
chúng sanh, năng sở đều quên, ấy là đại xả. Nếu một bên hành đạo bủa đức, một
bên lại xả không có tâm mong cầu. Ấy là trung xả. Nếu rộng tu các việc thiện có
chỗ mong cầu, nghe pháp biết không nên mới không trước, ấy là tiểu xả.
Đại xả như cây đuốc sáng để ở trước, lại không có mê ngộ. Trung xả như
cây đuốc sáng để một bên, hoặc sáng hoặc tối. Tiểu xả như cây đuốc sáng để phía
sau, không thấy hầm hố. Cho nên, Bồ Tát tâm như hư không tất cả đều xả; quá
khứ tâm không thể được là quá khứ xả, hiện tại tâm không thể được là hiện tại xả,
vị lai tâm không thể được là vị lai xả. Nên nói : “Ba thời đều xả”.
Từ đức Như Lai trao pháp cho Tổ Ca Diếp đến nay, lấy tâm ấn tâm, tâm
tâm không khác. Ấn (con dấu) in trong hư không thì in không thành dấu. Ấn in nơi
vật tức ấn không thành pháp. Cho nên lấy tâm ấn tâm, tâm tâm không khác. Năng
ấn và sở ấn đều khó khế hội nên người được ít. Song, tâm tức vô tâm, được tức
không được.
Phật có ba thân : Pháp thân nói pháp tự tánh rỗng suốt, Báo thân nói
pháp tất cả thanh tịnh, Hóa thân nói pháp lục độ vạn hạnh. Pháp thân nói pháp
không thể dùng ngôn ngữ, âm thinh hình tướng văn tự mà cầu, không có nói,
không có chứng, tự tánh rỗng suốt mà thôi. Cho nên nói : “Không pháp có thể
nói, ấy gọi là nói pháp”. Báo thân, Hóa thân này đều tùy cơ cảm mà hiện, có nói
pháp cũng tùy sự hợp cơ để vì nhiếp hóa đều không phải là chơn pháp. Cho nên
nói : “Báo, Hóa không phải chơn Phật, cũng không phải nói pháp”(Hai đoạn
dẫn kinh đều là kinh Kim Cang.).
Nói “đồng là một tinh minh phân làm sáu hòa hợp”(Kinh Lăng Nghiêm.).
Một tinh minh là một tâm. Sáu hòa hợp là sáu căn. Sáu căn này mỗi cái cùng trần
hợp. Mắt cùng sắc hợp, tai cùng tiếng hợp, mũi cùng mùi hợp, lưỡi cùng vị hợp,
thân cùng xúc hợp, ý cùng pháp hợp. Khoảng giữa sanh sáu thức là mười tám giới.
Nếu rõ mười tám giới không thật có, trói sáu hòa hợp làm một tinh minh. Một tinh
minh là tâm vậy. Người học đạo đều biết cái này. Chỉ không thể khỏi cái hiểu
“một tinh minh và sáu hòa hợp”, bèn bị pháp trói không thể khế hội bản tâm. Như
Lai ra đời muốn nói nhất thừa chơn pháp, ắt chúng sanh không tin sanh ra hủy
báng chìm trong biển khổ, nếu hoàn toàn không nói thì mắc lỗi xan tham, chẳng vì
chúng sanh chỉ dạy diệu đạo. Ngài bèn lập phương tiện nói có ba thừa, thừa có Đại
Tiểu, được có cạn sâu đều không phải là bổn pháp. Cho nên nói “chỉ có đạo Nhất
thừa, có hai chẳng phải chơn”(Kinh Pháp Hoa). Nhưng, vẫn chưa có thể hiển bày
một tâm pháp, cho nên triệu Ca Diếp đồng trong pháp tòa riêng trao một tâm pháp
rời nói năng, một nhánh pháp này khiến riêng thực hành. Nếu người hay khế ngộ
liền đến Phật địa.
Hỏi : Thế nào là đạo ? tu hành thế nào ?
Đáp : Đạo là vật gì mà ông muốn tu hành ?
Hỏi : Các nơi Tông sư truyền nhau tham thiền học đạo là thế nào ?
Đáp : Lời tiếp dẫn kẻ độn căn, chưa có thể y cứ.
Hỏi : Đây là lời tiếp dẫn kẻ độn căn, chưa biết tiếp dẫn người thượng căn
lại nói pháp gì ?
Đáp : Nếu là người thượng căn, tại sao lại đến người khác mà tìm, tự mình
còn không thể được huống là riêng có pháp xứng tình. không thấy trong kinh nói :
“pháp pháp hình trạng gì ?”.
Hỏi : Nếu như vậy hoàn toàn không cần tìm kiếm ?
Đáp : Nếu cùng mài thì sức tâm tỉnh giác.
Hỏi : Như thế thì lẫn thành đoạn tuyệt, không thể là không ?
Đáp : Ai dạy kia không ? kia là cái gì ông nghĩ tìm kia ?
Hỏi : Đã không cho tìm, cớ sao lại nói “chớ đoạn kia” ?
Đáp : Nếu không tìm liền thôi, ai dạy ông đoạn ? ông thấy hư không ở
trước mắt, làm thế nào để đoạn nó ?
Hỏi : Pháp này có thể đồng với hư không chăng ?
Đáp : Hư không sớm chiều đến, ông nói có đồng có khác với ta chăng ? Chỉ
tạm nói như thế, ông bèn nhắm vào nó mà sanh hiểu.
Hỏi : Lý ưng cùng người sanh hiểu chăng ?
Đáp : Tôi không từng chướng ông, cốt cái hiểu thuộc về tình, tình sanh thì
trí cách.
Hỏi : Ở trong đó chớ sanh tình phải chăng ?
Đáp : Nếu không sanh tình ai nói là phải ?
Hỏi : Vừa nhằm chỗ Hòa Thượng nói ra, là tại sao lại rơi vào nói năng ?
Đáp : Ông tự là người không hiểu lời nói, có cái gì là rơi vào ?
Hỏi : Từ trên đến đây nói nhiều như thế đều là lời phản lại, hoàn toàn chưa
từng chỉ bày thật pháp cho người ?
Đáp : Thật pháp không điên đảo, nay chỗ hỏi của ông tự sanh điên đảo, tìm
thật pháp chỗ nào ?
Hỏi : Đã là chỗ hỏi tự sanh điên đảo thì chỗ đáp của Hòa Thượng thế nào ?
Đáp : Ông hãy tự lấy gương soi mặt mình, chớ xem sóc người khác. Chỉ
giống như con chó ngu thấy có tiếng động là sủa, không phân biệt gió thổi hay cây
cỏ động.
Về Thiền tông tôi đây từ các bậc tiền bối trao truyền đến nay, không từng
dạy người cầu hiểu cầu biết, chỉ nói “học đạo” là lời để tiếp dẫn. Nhưng, đạo cũng
không thể học, còn nghĩ học hiểu trở thành mê đạo. Đạo không có chỗ nơi gọi tâm
Đại thừa. Tâm này không ở trong, ngoài, chặn giữa, thật không có chỗ nơi, hay
nhất là không được khởi hiểu biết.
Chỉ nói với ông chỗ tình lượng hiện nay, tình lượng nếu hết thì tâm không
chỗ nơi. Đạo thiên chơn này vốn không danh tự. Bởi vì thế gian không biết, mê ở
trong tình, sở dĩ chư Phật ra đời nói để phá việc này, sợ e các ông không rõ, quyền
lập tên “Đạo”. Không thể nhận tên sanh hiểu, nên nói “được cá quên nôm”. Thân
tâm tự nhiên đạt đạo, biết tâm, đạt nguồn cội hiệu là Sa môn. Quả Sa môn là dứt
duyên lự mà thành, không phải từ học mà được. Ông nay đem tâm cầu tâm, bên
cạnh nhà người chỉ toan học lấy, có khi nào được. Người xưa tâm lanh lợi vừa
nghe một câu bèn dứt học, sở dĩ nói là “tuyệt học vô vi nhàn đạo nhơn”. Người
thời nay chỉ muốn được biết nhiều hiểu rộng, rộng cầu văn nghĩa, bảo là tu hành,
không biết biết nhiều hiểu rộng trở thành bít lấp. Chỉ cần biết nhiều sánh với trẻ
con ăn tô ăn sữa, trọn không biết tiêu cùng chẳng tiêu.
Người học đạo Tam thừa đều giống như thế, chung gọi là ăn không tiêu.
Nên nói : “Hiểu biết không tiêu đều là thuốc độc”. Hoàn toàn nhằm trong sanh diệt
mà lấy, trong chơn như trọn không có việc này. Nên nói “trong kho vua của ta
không có đạo như thế”. Từ trước có tất cả chỗ hiểu biết cần phải dẹp sạch, khiến
không lại không phân biệt tức là Không-Như-Lai-Tạng. Như Lai tạng lại không
một mảy bụi có thể có, tức là vị Pháp Vương phá hữu xuất hiện ở thế gian, cũng
nói rằng : “Ta ở chỗ Phật Nhiên Đăng không có một chút pháp có thể được”. Lời
nói này chỉ là không. Tình lượng hiểu biết của ông cần được tiêu dụng, trong
ngoài tình hết, trọn không y chấp là người vô sự. Cương yếu giáo lý Tam thừa chỉ
là thứ thuốc hợp cơ, tùy nghi nói ra, tạm thời lập bày, mỗi mỗi không đồng, chỉ
cần rõ biết thì không bị mê hoặc là hay bậc nhất. Không được bên một cơ, một
giáo chấp văn nhận hiểu. Tại sao như thế ? Thật không có pháp nhất định Như Lai
có thể nói. Tông môn của tôi đây chẳng bàn việc này, chỉ biết dứt tâm liền thôi,
không cần suy trước tính sau.
Hỏi : Từ trước đến nay đều nói “tức tâm là Phật”, chưa biết tức tâm nào là
Phật ?
Đáp : Ông có bao nhiêu thứ tâm ?
Hỏi : Tức tâm phàm là Phật hay tức tâm Thánh là Phật ?
Đáp : Ông chỗ nào có tâm phàm thánh ?
Hỏi : Nay trong Tam thừa nói có phàm thánh, Hòa Thượng đâu được nói
không ?
Đáp : Trong Tam thừa rõ ràng nói với ông “tâm phàm thánh là vọng”, nay
ông không hiểu trở lại chấp là có, đem không làm thật, đâu không phải là vọng,
vọng nên mê tâm. Ông chỉ trừ dẹp tình phàm cảnh thánh, ngoài tâm không có Phật
khác. Tổ Sư từ Ấn Độ đến, chỉ thẳng mọi người toàn thể là Phật. Nay ông không
biết chấp phàm chấp thánh, nhằm ngoài chạy tìm, trở lại mê tâm mình, vì thế nên
đến ông nói “tức tâm là Phật”. Một niệm tình sanh liền sa vào cõi khác, từ vô thủy
đến giờ không khác ngày nay. Không có pháp khác nên gọi thành Đẳng Chánh
Giác.
Hỏi : Hòa Thượng nói “tức” là đạo lý gì ?
Đáp : Tìm đạo lý gì ? Vừa có đạo lý bèn tức tâm khác.
Hỏi : Trên nói “từ vô thủy đến giờ không khác ngày nay”, lý này thế nào ?
Đáp : Chỉ vì tìm nên ông tự khác người, ông nếu không tìm thì chỗ nào có
khác ?
Hỏi : Đã là không khác sao lại phải nói “tức” ?
Đáp : Ông nếu không nhận phàm thánh thì ai đến ông nói “tức”, tức như
không tức, tâm cũng chẳng tâm, nên trong ấy tâm tức đều quên, người nào lại nghĩ,
nhằm chỗ nào tìm ?
Hỏi : Vọng hay chướng tâm mình, chưa biết nay nên lấy cái gì dẹp vọng ?
Đáp : Khởi vọng, dẹp vọng cũng thành vọng. Vọng vốn không gốc, chỉ
nhơn phân biệt mà có, ông chỉ nên đối hai chỗ phàm thánh tình chấp hết, tự nhiên
không vọng. Nếu vì dẹp nó trọn không được có một mảy y chấp, gọi là “ta bỏ hai
cánh tay ắt sẽ được Phật”.
Hỏi : Đã không y chấp thì truyền trao thế nào ?
Đáp : Lấy tâm truyền tâm.
Hỏi : Nếu tâm truyền nhau tại sao nói tâm cũng không ?
Đáp : Không được một pháp gọi là truyền tâm, nếu rõ tâm này tức là không
tâm không pháp.
Hỏi : Thế nào là truyền ?
Đáp : Ông nghe nói truyền tâm bèn cho là có khả đắc. Sở dĩ Tổ Sư nói :
“Khi nhận được tâm tánh nên nói không nghĩ bàn, rõ ràng không sở đắc, khi được
không nói biết”. Việc này nếu đem dạy ông đâu kham lãnh hội.
Hỏi : Như hư không ở trước mắt, thật không phải cảnh, sao không chỉ cảnh
để thấy được tâm ?
Đáp : Tâm gì mà dạy ông nhằm trên cảnh thấy ? Giả sử ông thấy được chỉ
là cái tâm chiếu cảnh. Như người dùng gương soi mặt, tất nhiên thấy được mày
mắt rõ ràng, nguyên lai chỉ là bóng dáng, đâu quan hệ gì việc của ông ?
Hỏi : Nếu không nhơn chiếu khi nào được thấy ?
Đáp : Nếu vậy liên hệ đến nhơn thường phải nhờ vật, có khi nào được liễu
ngộ. Ông không thấy người đến ông nói : “Buông tay tợ người không một vật,
luống công dối nói mấy ngàn điều”.
Hỏi : Nếu người hiểu rồi chiếu cũng không vật sao ?
Đáp : Nếu là không vật thì cần gì phải chiếu, ông nếu mở mắt thì nói hết
ngủ.
Ngài thượng đường bảo :
Biết nhiều trăm thứ, chẳng bằng không cầu, tột bậc nhất vậy. Đạo nhơn là
người vô sự, thật không có những tâm nhiều ấy, cũng sự không có đạo lý gì có thể
nói. Vô sự giải tán đi.
Hỏi : Thế nào là thế đế ?
Đáp : Nói nhánh nhóc ấy làm gì ? Xưa nay thanh tịnh đâu nhờ nói năng vấn
đáp, chỉ không tất cả tâm liền gọi là trí vô lậu. Ông mỗi ngày đi đứng ngồi nằm tất
cả nói năng, chớ đắm pháp hữu vi, nói ra nháy mắt thảy đồng vô lậu. Như nay
nhằm đời mạt pháp, phần nhiều người học thiền học đạo đều đắm tất cả thinh sắc,
sao không cùng ta mỗi tâm đồng hư không đi, như cây khô hòn đá đi, như tro tàn
lửa tắt đi, mới có một ít phần tương ứng. Nếu không như thế, hôm nào sẽ bị Diêm
Vương dẫn ông đi.
Ông chỉ lìa hẳn các pháp hữu vô, tâm như vầng mặt trời trong hư không,
ánh sáng tự nhiên không chiếu mà chiếu, không phải là việc của sức phản tỉnh.
Khi đến đây thì không chỗ nương tựa, tức là làm hạnh của chư Phật, bèn là “nên
không có chỗ trụ mà sanh tâm kia”. Đây là pháp thân thanh tịnh của ông, gọi là ANậu
Bồ-đề (Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác). Nếu không lãnh hội được ý
này, dù ông học được biết nhiều, siêng năng khổ nhọc tu hành, áo cỏ ăn cây,
không biết tâm mình đều gọi là hạnh tà, quyết định sẽ làm quyến thuộc của thiên
ma, tu hành như thế sẽ có ích lợi gì ? Chí Công nói : “Phật vốn tâm mình làm, đâu
được trong văn tự cầu”. Dù ông học được Tam Hiền Tứ Quả, Thập địa mãn tâm,
cũng chỉ là ngồi trong phàm thánh, không thấy đạo. Các hạnh vô thường là pháp
sanh diệt, thế lực hết thì tên lại rơi xuống, chiêu cảm quả đời sau không như ý.
Đâu bằng môn thật tướng vô vi, một phen vượt lên thẳng đến địa vị Như Lai. Vì
ông không thể như người kia nên cần đến hóa môn của cổ nhân, học hiểu cho rộng.
Chí Công nói : “Không gặp minh sư xuất thế, uổng uống pháp dược Đại
thừa”. Ông hiện nay trong tất cả thời đi đứng ngồi nằm chỉ học vô tâm, lâu
ngày sẽ thật đắc. Vì ông lực lượng kém không thể đốn siêu, cần được ba năm,
năm năm hoặc mười năm phải được chỗ vào, tự nhiên hội giải. Nếu ông không
thể như thế, thiết tha đem tâm học thiền học đạo, Phật pháp có gì liên hệ ? Cho
nên nói : “Như Lai nói ra đều vì giáo hóa người, như nắm lá vàng bảo là vàng
để vỗ trẻ con khóc, quyết định không thật”. Nếu có thật đắc thì không phải
người khách trong Tông môn của ta, vã lại cùng bản thể của ông có gì liên hệ ?
Cho nên kinh nói : “Thật không có chút pháp có thể được gọi là A-Nậu Bồ-đề”.
Nếu như hội được ý này mới biết Phật đạo ma đạo đều lầm. Chỗ xưa nay thanh
tịnh trong sáng, không tướng vuông tròn, lớn nhỏ, dài ngắn, v.v... Vô lậu vô vi
không mê không ngộ, rõ ràng thấy không một vật, không người cũng không
Phật, “hạt bọt trong biển đại thiên sa giới, tất cả thánh hiền như điện chớp”. Tất
cả không bằng tâm chơn thật pháp thân, từ xưa đến nay cùng Phật Tổ đồng một
loại, chỗ nào thiếu kém một mảy lông ? Đã hội được ý như thế cần phải cố
gắng trọn một đời này thôi, hơi thở ra không bảo đảm trở vào !
Hỏi : Lục Tổ không hiểu Kinh sách sao được truyền y làm Tổ, Thượng
tọa Tú là thủ tọa của năm trăm người, làm thầy giáo thọ, giảng được ba mươi
hai bổn kinh luận, tại sao không được truyền y ?
Đáp : Vì kia (Tú) có tâm là pháp hữu vi, có tu có chứng cho là phải. Ngũ
Tổ trao cho Lục Tổ, Lục Tổ khi ấy chỉ nhằm khế hội, được thầm trao ý thậm
thâm của Như Lai. Sở dĩ truyền y cho Ngài ông chẳng thấy nói :
Pháp bổn pháp vô pháp
Vô pháp pháp diệc pháp
Kim phó vô pháp thời
Pháp pháp hà tằng pháp
Dịch :
Pháp bổn pháp là không pháp
Pháp không pháp cũng là pháp
Nay trao cái không pháp này
Mỗi pháp đâu từng là pháp
Nếu hội được ý này mới là kẻ xuất gia, mới là tu hành tốt. Nếu không tin
tại sao Thượng tọa Minh chạy đến ngọn Đại Dữu tìm Lục Tổ, Lục Tổ hỏi :
“Ngươi đến cầu việc gì, vì cầu y vì cầu pháp ?”. Thượng tọa Minh nói : “Không
vì y mà đến, chỉ vì pháp mà đến”. Lục Tổ bảo : “Ông hãy tạm thời liễm niệm,
thiện ác đều chớ nghĩ tính”. Thượng tọa Minh nhận lời này. Lục Tổ bảo :
“Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, chính khi ấy hiện lại bộ mặt thật của
Thượng tọa Minh khi cha mẹ chưa sanh”. Thượng tọa Minh ngay câu nói đó
bổng nhiên thầm khế hội, bèn lễ bái thưa : “Như người uống nước, lạnh nóng tự
biết, tôi ở trong hội Ngũ Tổ uổng dùng công phu ba mươi năm, ngày nay mới
biết lỗi trước”.
Lục Tổ bảo : “Khi đến đây mới biết Tổ Sư từ Ấn Độ đến, chỉ thẳng tâm người
thấy tánh thành Phật, không ở nói bàn”. Đâu không thấy Tổ A-Nan hỏi Tổ Ca-Diếp :
“Thế Tôn ngoài truyền kim lan (y xiêm), còn riêng truyền pháp gì ?”, Ca-Diếp gọi :
“A-Nan”. A-Nan đáp : “Dạ !”, Ca-Diếp bảo : “Cột phướn trước chùa ngã lật ngược”.
Đây là chỗ bộc lộ của Tổ Sư vậy. Ngài A-Nan ba mươi năm làm thị giả chỉ vì trí huệ
đa văn bị Phật quở : “Người ngàn ngày học huệ, không bằng một ngày học đạo. Nếu
không học đạo, một nhỏ nước cũng không tiêu”.
Hỏi : Thế nào được không rơi vào giai cấp ?
Đáp : Chỉ hằng ngày ăn cơm mà chưa từng nhai một hạt gạo trắng, trọn
ngày đi mà chưa từng đạp một cân đất, cùng khi ấy không có tướng nhơn, tướng
ngã, ..., trọn ngày không rời tất cả việc mà không bị các cảnh mê hoặc, mới gọi là
người tự tại. Lại, lúc nào mỗi niệm đều không thấy tất cả tướng, chớ nhận ba thời
trước sau, quá khứ không đi, hiện tại không dừng, vị lai không đến, ngồi ngay an
ổn mặc tình không câu chấp, mới gọi là người giải thoát. Cố gắng ! Cố gắng !
Trong môn này ngàn người, muôn người chỉ được ba người, năm người. Nếu
không làm việc này, ắt có ngày thọ ương. Cho nên nói : “Cố gắng đời nay phải
xong xuôi, còn đâu nhiều kiếp mang tai họa”.
􀀢
HOÀNG BÁ ĐOẠN TẾ THIỀN SƯ
UYỂN LĂNG LỤC
Bùi Tướng Công hỏi Ngài :
Trong núi bốn năm trăm người, bao nhiêu người được pháp của Hòa
Thượng ?
Ngài đáp :
Người được không thể tính hết số, vì sao ? Vì đạo do tâm ngộ, không tại lời
nói, nói năng chỉ là để giáo hóa kẻ đồng mông (trẻ thơ).
Hỏi : Thế nào là Phật ?
Đáp : Tức tâm là Phật, không tâm là đạo. Chỉ không có cái tâm khởi tâm động
niệm, có không, ngắn dài, ta người, năng sở, ... Tâm vốn là Phật, Phật vốn là tâm.
Tâm như hư không, sở dĩ nói “chơn pháp thân của Phật ví như hư không”. Không
nên cầu riêng, có cầu đều khổ. Giả sử trải qua số kiếp như cát sông Hằng, tu hành
lục độ vạn hạnh được Phật Bồ đề cũng không phải cứu cánh. Vì cớ sao ? Vì thuộc
về nhơn duyên tạo tác, nhơn duyên nếu hết trở lại vô thường. Sở dĩ nói : “Báo,
Hóa không phải chơn Phật, cũng không phải nói pháp”. Cốt biết tâm mình không
ngã không nhơn, xưa nay là Phật.
Hỏi : Thánh nhơn không tâm tức là Phật, phàm phu không tâm đâu không
chìm nơi không lặng ?
Đáp : Pháp không có phàm thánh, cũng không có chìm lặng. Pháp vốn
chẳng có, chớ khởi thấy không; pháp vốn chẳng không, chớ khởi thấy có. Có cùng
với không đều là tình kiến (thấy biết theo tình chấp), ví như huyễn ế (như huyễn
thuật, như mắt bệnh). Sở dĩ nói : “Thấy nghe như huyễn ế, tri giác là chúng
sanh”. Trong môn này Tổ Sư chỉ nói “dứt cơ quên kiến”, nên nói “quên cơ thì
Phật đạo thạnh, phân biệt thì quân ma lừng”.
Hỏi : Tâm đã xưa nay là Phật, lại cần tu lục độ vạn hạnh chăng ?
Đáp : Ngộ tại tâm không quan hệ gì lục độ vạn hạnh. Lục độ vạn hạnh đều
là cửa hóa đạo, là việc bên tiếp vật độ sanh. Giả sử Bồ đề, chơn như, thực tế, giải
thoát, pháp thân thẳng đến Thập địa, bốn quả vị Thánh đều là cửa hóa độ, không
quan hệ Phật tâm. Tâm tức là Phật nên nói : “Tất cả trong cửa tiếp độ Phật tâm là
bậc nhất”. Chỉ không tâm sanh tử phiền não ... Tức không cần đến pháp Bồ đề ...
Nên nói : “Phật nói tất cả pháp, độ tất cả tâm, ta không tất cả tâm, đâu dùng tất cả
pháp”. Từ Phật đến Tổ không luận việc gì khác, chỉ luận một tâm, cũng nói là
“Nhất thừa”. Nên nói “tìm kỹ mười phương lại không có thừa khác, chúng sanh
này không còn nhánh lá, chỉ có các hạt chắc”. Bởi vì ý này khó tin nên Tổ Đạt Ma
sang xứ này đến hai nước Lương, Ngụy, chỉ có một mình Huệ Khả Đại Sư thầm
tin tâm mình, ngay một câu nói liền lãnh hội “Tức tâm là Phật”. Thân tâm đều
không, ấy là đại đạo. Đại đạo xưa nay bình đẳng, nên nói “tin sâu chúng hàm sanh
đồng một chơn tánh, tâm tánh không khác, tức tánh tức tâm, tâm không khác tánh,
gọi đó là Tổ”. Lại có câu “khi nhận được tâm tánh, nên nói không nghĩ bàn”.
Hỏi : Phật độ chúng sanh chăng ?
Đáp : Thật không chúng sanh Như Lai độ, ngã còn không thể có, phi ngã
làm sao có ? Phật cùng chúng sanh đều không thể có. Phàm có tướng đều là hư
vọng, nếu thấy các tướng phi tướng là thấy Như Lai. Phật cùng chúng sanh đều do
ông khởi vọng kiến, chỉ vì không biết bản tâm, đối khởi thấy biết, vừa khởi thấy
Phật liền bị Phật chướng, vừa khởi thấy chúng sanh, liền bị chúng sanh chướng.
Khởi thấy phàm, thánh, tịnh, uế ... thì cái thấy thành những chướng ấy. Vì chướng
tâm ông trọn thành luân hồi, ví như con khỉ chân này buông, chân kia nắm, không
khi nào dứt. Nhất đẳng là học, cần phải không học, không phàm không thánh,
không sạch không dơ, không nhỏ không lớn, vô lậu vô vi. Như thế trong một tâm,
phương tiện khuyên trang nghiêm. Dù ông học được Ba thừa mười hai phần giáo,
tất cả cái thấy biết thảy nên dẹp bỏ, nên nói “dẹp bỏ sở hữu, chỉ để một giường
nghỉ bệnh mà nằm”(Kinh Duy Ma.). Chỉ là không khởi các kiến chấp, không một
pháp có thể được, không bị pháp chướng, vượt khỏi tam giới và cảnh giới phàm
thánh mới được gọi là Phật xuất thế. Nên nói : “Đảnh lễ như không chẳng chỗ
nương, vượt hơn ngoại đạo, tâm đã chẳng khác, pháp cũng chẳng khác, tâm đã vô
vi, pháp cũng vô vi”.
Muôn pháp trọn do tâm biến nên nói : “Tâm ta không, nên các pháp không,
ngàn phẩm muôn loại thảy đều đồng. Tột không giới mười phương đồng một tâm
thể”. Tâm vốn không khác, pháp cũng không khác. Chỉ vì ông thấy biết chẳng đồng
nên có sai biệt. Ví như chư Thiên đồng bát ăn báu, mà tùy phước đức mỗi vị, cơm có
màu sắc khác. mười phương chư Phật thật không có một chút pháp khá được gọi là
A-Nậu Bồ đề. Chỉ là một tâm, thật không có tướng khác, cũng không ánh sáng, không
có hơn thua. Vì không hơn nên không tướng Phật. Vì không thua nên không tướng
chúng sanh.
Hỏi : Tâm đã không tướng, đâu được hoàn toàn không ba mươi hai tướng
tốt, tám mươi vẻ đẹp hóa độ chúng sanh ?
Đáp : Ba mươi hai tướng thuộc về tướng, phàm có tướng đều hư vọng. Tám
mươi vẻ đẹp thuộc về sắc, nếu do sắc thấy ta, ấy là hành đạo tà, không thể thấy
Như Lai.
Hỏi : Phật tánh cùng chúng sanh tánh là đồng hay khác ?
Đáp : Tánh không đồng khác. Nếu nhằm giáo Ba thừa có nói Phật tánh,
chúng sanh tánh, nên có nhơn quả Ba thừa, tức có đồng khác. Nếu nhằm Phật thừa
và Tổ Sư truyền nhau, không nói việc như thế, chỉ có một tâm, không đồng không
khác, không nhơn không quả. Nên nói “chỉ đạo Nhất thừa này, không hai cũng
không ba, trừ Phật phương tiện nói”.
Hỏi : Bồ Tát thân vô biên, tại sao không thấy đảnh tướng của Như Lai ?
Đáp : Thật không thể thấy. Vì cớ sao ? Vì Bồ Tát thân vô biên chính là Như
Lai, Chẳng lẽ lại thấy ... Chỉ dạy ông không khởi chấp thấy Phật thì không rơi bên
Phật; Không khởi chấp thấy chúng sanh thì không rơi bên chúng sanh; Không khởi
chấp thấy có thì không rơi bên có; không khởi chấp thấy không thì không rơi bên
không; không khởi chấp thấy phàm thì không rơi bên phàm; không khởi chấp thấy
thánh thì không rơi bên thánh; nếu không các kiến chấp tức là thân vô biên. Nếu
có chỗ kiến chấp tức là ngoại đạo. Ngoại đạo ưa các kiến chấp. Bồ Tát đối các
kiến chấp không động. Như Lai tức nghĩa “Như” của các pháp. Nên nói : “Di Lặc
cũng như, các Thánh Hiền cũng như, như tức không sanh, như tức không diệt, như
tức không thấy, như tức không nghe”. Đảnh của Như Lai tức là cái thấy tròn, cũng
không cái thấy tròn, nên không rơi bên thấy tròn. Do đó thân Phật vô vi không rơi
vào các số, tạm lấy hư không làm dụ, tròn đồng thái hư không thiếu không dư,
rảnh rang vô sự, chớ gắng biện cảnh ấy, biện đến bèn thành thức. Nên nói : “Viên
thành chìm biển thức, trôi lăn tợ bồng bay”(Là loại cỏ bồng, bông nhẹ gặp gió thì
bay bổng theo gió.). Chỉ bảo ta biết vậy, học được vậy, khế hội vậy, giải thoát vậy,
có đạo lý vậy. Chỗ mạnh ắt như ý, chỗ yếu ắt không như ý. Cái thấy biết ấy có
dùng vào chỗ gì ? Tôi nói với ông, rảnh rang vô sự chớ dối dụng tâm. Chẳng cần
cầu chơn, chỉ phải dứt kiến chấp. Nên nói : “Thấy trong thấy ngoài đều lầm, Phật
đạo ma đạo đều ác”. Cho nên Ngài Văn Thù vừa khởi thấy hai liền thấy hai ngọn
núi Thiết Vi. Văn Thù tức là thật trí, Phổ Hiền tức là quyền trí. Quyền thật đối trị
nhau, cứu cánh không có quyền thật, chỉ là một tâm. Tâm chẳng phải Phật. Chẳng
phải chúng sanh, không có thấy khác. Vừa có thấy Phật liền thấy chúng sanh, thấy
có thấy không, thấy thường thấy đoạn bèn thành hai ngọn núi Thiết Vi, bị cái thấy
che ngại. Tổ Sư chỉ thẳng tất cả chúng sanh bản tâm, bản thể xưa nay là Phật,
chẳng nhờ tu mà thành, chẳng thuộc thứ lớp dần dần, chẳng phải sáng tối. Chẳng
phải sáng nên vô minh, chẳng phải tối nên vô ám, nên nói : “Không vô minh
cũng không hết vô minh”. Vào Tông môn tôi đây cần yếu tại ý như thế. Thấy
được gọi đó là pháp, thấy pháp nên gọi đó là Phật, Phật pháp đều không, gọi đó là
Tăng. Kêu là Tăng vô vi, cũng gọi là Nhất thể Tam Bảo. Phàm người cầu pháp
không nên chấp nơi Phật mà cầu, chẳng chấp nơi Pháp mà cầu, chẳng chấp nơi
chúng Tăng mà cầu, nên không có chỗ cầu. Không chấp nơi Phật cầu nên không
Phật; không chấp nơi Pháp cầu nên không Pháp; không chấp nơi chúng Tăng cầu
nên không Tăng.
Hỏi : Nay thấy Hòa Thượng nói Pháp thì đâu thể nói không Tăng cũng
không Pháp ?
Đáp : Nếu ông thấy có Pháp nên nói, tức là lấy âm thinh cầu ta, nếu thấy có
ta tức là xứ sở, Pháp cũng không Pháp, Pháp tức là tâm. Tổ Sư nói : “Khi trao tâm
pháp này, pháp pháp đâu từng pháp”. không pháp không bổn tâm mới hiểu tâm
tâm pháp. Thật không một pháp có thể được gọi là ngồi đạo tràng. Đạo tràng chỉ là
không khởi các kiến chấp. Ngộ pháp vốn không, gọi là Không-Như-Lai-Tàng.
Xưa nay không một vật, chỗ nào dính bụi bặm. Nếu được ý trong đây, tiêu diêu
đâu có chỗ bàn.
Hỏi : Xưa nay không một vật, không vật là phải chăng ?
Đáp : Không cũng chẳng phải, Bồ đề không chỗ ấy, cũng không không hiểu
biết.
Hỏi : Sao là Phật ?
Đáp : Tâm ông là Phật, Phật tức là tâm, tâm Phật không khác. Nên nói “tức
tâm là Phật”. Nếu lìa tâm ra không có Phật khác.
Hỏi : Nếu tâm mình là Phật. Tổ Sư từ Ấn Độ sang truyền thọ thế nào ?
Đáp : Tổ Sư từ Ấn Độ sang chỉ truyền tâm Phật, chỉ thẳng tâm các ông xưa
nay là Phật, tâm tâm không khác nên gọi là Tổ. Nếu thẳng đó thấy ý này tức chóng
vượt khỏi Tam thừa tất cả các vị, xưa nay là Phật không nhờ tu hành.
Hỏi : Nếu như vậy, chư Phật mười phương ra đời nói pháp gì ?
Đáp : Chư Phật mười phương ra đời chỉ cùng nói một tâm pháp. Vì thế,
Phật thầm trao cho Đại Ca-Diếp một tâm pháp thể này. Tột hư không khắp pháp
giới gọi là lý luận chư Phật, pháp ấy đâu phải ông ở trên ngôn cú mà hiểu được,
cũng không phải ở trên một cơ một cảnh mà thấy được. Ý này chỉ là thầm khế hội.
Một môn ấy gọi là pháp môn vô vi. Nếu muốn hội được chỉ biết không tâm, chợt
ngộ liền được. Nếu dụng tâm nghĩ học lấy thì càng đi xa. Nếu không tâm chia chẻ,
không tất cả tâm thủ xả, tâm như cây đá, mới có phần học đạo.
Hỏi : Như hiện nay có các thứ vọng niệm làm sao nói không ?
Đáp : Vọng vốn không thể, tức là tâm ông khởi lên. Nếu ông biết tâm ông
là Phật, tâm vốn không vọng, đâu có khởi tâm lại nhận là vọng ? nếu ông không
sanh tâm động niệm, tự nhiên không vọng. Sở dĩ nói “Tâm sanh thì các thứ pháp
sanh, tâm diệt thì các thứ pháp diệt”.
Hỏi : Nay chính khi vọng niệm khởi, Phật ở tại chỗ nào ?
Đáp : Nay khi ông biết vọng khởi, biết ấy chính là Phật. Vì thế, nếu không
vọng niệm thì Phật cũng không. Tại sao như vậy ? Vì ông khởi tâm chấp thấy Phật,
bèn bảo có Phật nên thành. Chấp thấy chúng sanh, bèn bảo có chúng sanh nên độ,
khởi tâm động niệm thảy là chỗ thấy của ông. Nếu không tất cả thấy thì Phật có
chỗ nào ? như Văn Thù vừa khởi thấy Phật liền liếc thấy hai ngọn núi Thiết Vi.
Hỏi : Nay chính khi ngộ Phật ở chỗ nào ?
Đáp : Hỏi từ đâu đến, biết từ đâu khởi, nói nín động tịnh, tất cả thinh sắc,
đều là Phật sự, chỗ nào lại tìm Phật ? không thể trên đầu lại để thêm đầu, trên
mỏ lại để thêm mỏ (mỏ chim). Chỉ chớ sanh kiến chấp khác thì núi là núi, nước
là nước, Tăng là Tăng, tục là tục, núi sông, quả đất, mặt trời, mặt trăng, sao,
thảy đều không ngoài tâm ông. ba ngàn thế giới trọn là tự thể của ông, chỗ nào
có nhiều thứ ? ngoài tâm không pháp, khắp thấy núi xanh, hư không thế giới rõ
ràng mà không có bằng mảy tơ sợi tóc cho ông sanh hiểu biết, nên nói “tất cả
thinh sắc là mắt huệ của Phật”. Pháp không khởi riêng, nương cảnh mới sanh,
vì vật nhiều có trí nhiều. Trọn ngày nói mà đâu từng nói, trọn ngày nghe mà
đâu từng nghe, nên nói “Thích-Ca bốn mươi chín năm nói pháp mà chưa từng
nói một chữ”.
Hỏi : Nếu như vậy, chỗ nào là Bồ đề ?
Đáp : Bồ đề không phải chỗ. Phật cũng không được Bồ đề, chúng sanh
cũng không mất Bồ đề, không thể do thân mà được. Không thể lấy tâm mà cầu.
Tất cả chúng sanh tức là tướng Bồ đề.
Hỏi : Thế nào là phát tâm Bồ đề ?
Đáp : Bồ đề không sở đắc, nay ông chỉ phát tâm không sở đắc, quyết định
không được một pháp, tức là tâm Bồ đề. Bồ đề không có chỗ trụ, thế nên không có
đắc, nên nói “Ta ở nơi Phật Nhiên Đăng không có một chút pháp có thể được, Phật
liền thọ ký cho Ta”. Biết rõ tất cả chúng sanh vốn là Bồ đề, không lẽ lại được Bồ
đề. Nay ông nghe nói phát tâm Bồ đề, bèn cho là có một tâm học làm Phật. Chỉ
nghĩ làm Phật, dù ông tu ba a-tăng-kỳ kiếp cũng chỉ là Phật báo thân, hóa thân
cùng với Phật chơn tánh bản nguyên của ông có gì liên hệ, nên nói “cầu Phật có
tướng bên ngoài cùng ông không tương tợ”.
Hỏi : Xưa đã là Phật, sao lại có tứ sanh, lục đạo các thứ hình mạo chẳng
đồng ?
Đáp : Chư Phật thể tròn không tăng giảm, trôi vào lục đạo mỗi chỗ đều tròn,
trong muôn loài mỗi mỗi đều là Phật. Ví như có viên thủy ngân, phân tán các chỗ,
mỗi mảnh đều tròn, nếu khi không phân chỉ là một khối. Đây là một tức tất cả, tất
cả tức một. Các thứ hình mạo dụ như nhà cửa, bỏ nhà lừa vào nhà người, bỏ thân
người đến thân trời, cho đến nhà Thinh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật đều là chỗ
lấy bỏ của ông. Do đó có sai khác chớ tánh bản nguyên đâu có sai khác.
Hỏi : Chư Phật thế nào hành đại từ bi vì chúng sanh thuyết pháp ?
Đáp : Phật từ bi là vô duyên nên gọi đại từ. Từ là không thấy có Phật để
thành. Bi là không thấy có chúng sanh để độ. Phật thuyết pháp là không nói không
dạy. Người nghe pháp là không nghe không được, ví như huyễn sĩ vì người huyễn
nói pháp. Pháp ấy nếu vì nói, ta từ thiện tri thức ngay một câu liền nhận được, hội
được, ngộ được, cái ấy là từ bi. Nếu ông khởi tâm động niệm học được hiểu biết
của người, không phải là tự ngộ bản tâm, rốt ráo vô ích.
Hỏi : Thế nào là tinh tấn ?
Đáp : Thân tâm không khởi ấy gọi là đệ nhất dũng mãnh tinh tấn. Vừa khởi
tâm hướng ngoại tìm cầu, gọi là Ca Lợi Vương, Di hầu yêu bọt(Di hầu yêu bọt : Bầy khỉ
ở trên cây cạnh bờ sông, thấy khối bọt nước do ánh nắng mặt trời chiếu lóng lánh bèn đua nhau nhảy xuống vớt. Kết
quả đều chết chìm.). Tâm không chạy ra ngoài là tiên nhơn nhẫn nhục. Thân tâm đều không, tức là
Phật đạo.
Hỏi : Nếu không tâm hành, đạo này được chăng ?
Đáp : Không tâm tức là hành đạo này, lại nói cái gì được cùng chẳng
được ? Vả lại vừa khởi một niệm bèn là cảnh, nếu không một niệm tức là
cảnh mất, tâm cũng tự diệt, không cần lại tìm kiếm.
Hỏi : Thế nào là xuất tam giới ?
Đáp : Thiện ác đều chớ suy nghĩ, ngay chỗ ấy liền xuất tam giới.
Như Lai ra đời vì phá ba cõi, nếu không tất cả tâm, tam giới cũng chẳng có.
Như một hạt bụi đập làm trăm phần, chín mười chín phần là không, một
phần là có, thì pháp Đại thừa không thể xuất hiện, trăm phần đều không thì
pháp Đại thừa mới hay xuất hiện.
Sư thượng đường nói : Tức tâm là Phật, trên đến chư Phật, dưới đến các
loài bò bay máy cựa đều có Phật tánh, đồng một tâm thể. Sở dĩ Tổ Đạt Ma từ Ấn
Độ sang chỉ truyền một tâm pháp, chỉ thẳng tất cả chúng sanh xưa nay là Phật.
Chẳng nhờ tu hành. Chỉ như hiện nay biết nhận tâm mình, thấy bản tánh mình, chớ
cầu cái gì khác. Thế nào biết tâm mình ? Chính hiện nay nói năng đó tức là tâm
ông. Nếu không nói năng cũng không có tác dụng của tâm thể thì giống hệt như hư
không, không có tướng mạo, cũng không chỗ nơi, cũng không một bề là không
hay có, cũng không thể thấy. Tổ Sư nói : “Chơn tánh tâm địa tàng, không đầu
cũng không đuôi, ứng duyên mà hóa vật, phương tiện gọi là trí. Nếu khi chẳng ứng
duyên, không thể nói nó là có không, chính khi ứng duyên cũng không dấu vết”.
Đã biết như thế, hiện nay chỉ nhằm trong không chỗ nương tựa, tức là đi con
đường chư Phật. Kinh nói : “Nên không có chỗ trụ mà sanh tâm kia”.
Tất cả chúng sanh luân hồi sanh tử do ý duyên tâm chạy rong ra ngoài, nơi
sáu đạo không dừng đến phải chịu các thứ khổ. Kinh Tịnh Danh nói : “Người khó
giáo hóa tâm như khỉ vượn, cho nên dùng bao nhiêu thứ pháp chế ngự tâm kia,
nhiên hậu mới điều phục”. Nên nói “Tâm sanh các thứ pháp sanh, tâm diệt các thứ
pháp diệt”. Cho nên biết tất cả pháp đều do tâm tạo, cho đến trời, người, tu la, địa
ngục, ... sáu đạo, trọn do tâm tạo. Hiện nay chỉ học không tâm, chóng dứt các
duyên, chớ sanh vọng tưởng phân biệt, không người không ta, không tham không
sân, không yêu không ghét, không hơn không thua. Trừ hết những thứ vọng tưởng
này tánh tự xưa nay thanh tịnh, tức là tu hành pháp Bồ đề, Phật ... Nếu không hội ý
này, dù ông học rộng, siêng năng khổ hạnh tu hành, ăn cây mặc lá mà không biết
tâm đều gọi là hạnh tà, sau này sẽ thành thiên ma ngoại đạo và các vị thần trong
nước, trên đất, tu hành như thế sẽ có lợi ích gì ? Ngài Chí Công nói : “Bản thể là
tâm mình nhận, đâu thể trong văn tự tìm”. Nay chỉ nhận tâm mình, dừng bặt nghĩ
tính, vọng tưởng trần lao tự nhiên không sanh. Kinh Tịnh Danh nói : “Chỉ để một
giường bệnh mà nằm” tức là tâm không khởi vậy. Nay nằm bệnh, các phan duyên
đều dứt, vọng tưởng diệt sạch tức là Bồ đề. Nếu trong tâm lăng xăng chẳng định,
dù ông học đến các vị Tam thừa, Tứ quả, Thập địa, chỉ là đến trong chỗ phàm
thánh mà ngồi, các hạnh hết trở lại vô thường, thế lực đều có khi hết. Ví như bắn
tên trong không, sức đẩy hết lại rơi xuống đất, trở lại vào trong sanh tử luân hồi.
Người tu hành như thế không hiểu ý Phật luống chịu khổ nhọc, đâu không phải
lầm to ! Ngài Chí Công nói : “Chưa gặp thầy sáng ra đời, uổng uống thuốc pháp
Đại thừa”. Hiện nay chỉ trong tất cả thời đi đứng ngồi nằm chuyên học không tâm,
không phân biệt, không nương tựa, không trụ trước, trọn ngày mặc tình lặng lẽ,
giống hệt người ngu, người đời hoàn toàn không biết ông, ông cũng chẳng cần dạy
cho người biết hay chẳng biết, tâm như hòn đá nhẵn không tì vết, tất cả pháp vượt
qua tâm ông không thủng, cao vót không dính mắc, như thế mới có ít phần tương
ưng.
Vượt qua được cảnh tam giới gọi là Phật ra đời. Tâm tướng không chảy gọi
là trí vô lậu. không tạo nghiệp người, trời, không tạo nghiệp địa ngục, không khởi
tất cả tâm, các duyên hết chẳng sanh, tức thân tâm này là người tự tại. Không phải
một bề không sanh, chỉ là tùy ý mà sanh. Kinh nói : “Bồ Tát có thân ý sanh” ấy
vậy. Nếu như chưa lãnh hội “không tâm”, chấp tướng mà tạo tác đều thuộc về
nghiệp quỷ, cho đến làm Phật sự Tịnh độ thảy đều thành nghiệp, gọi là Phật
chướng. Vì chướng tâm ông nên bị nhơn quả quản thúc, đứng đi đều không có
phần tự do ... Vì thế pháp Bồ đề ... vốn không phải có, Như Lai nói ra đều vì giáo
hóa người, ví như cầm lá vàng nói là vàng để vỗ trẻ con khóc. Cho nên thật không
có pháp gọi là A-Nậu Bồ đề.
Nếu đã lãnh hội được ý này, đâu cần phải ở chỗ riêng rẽ, chỉ tùy duyên tiêu
nghiệp cũ, lại chớ tạo nghiệp mới trong tâm sáng rỡ, nên nói “khi xưa thấy biết
cần phải dẹp sạch”. Kinh Tịnh Danh nói : “Trừ bỏ đã có”. Kinh Pháp Hoa nói :
“Trong mười hai năm thường dạy trừ phẩn”. Chỉ là trừ bỏ chỗ thấy biết trong tâm,
lại nói “dẹp trừ phẩn hý luận”. Vì thế, Như Lai tàng vốn tự không lặng trọn không
dung chứa một pháp, nên kinh nói “cõi nước chư Phật cũng đều không”.
Nếu nói Phật đạo tu học mà được, thấy biết như thế hoàn toàn không liên
hệ. Hoặc tạo một cơ một cảnh, nhướng mày chớp mắt, chỉ vì đối người đương cơ
nói để khế hội. Được chứng ngộ thiền lý, chợt gặp một người không hiểu bèn nói,
trọn không biết đối cơ người kia, nếu họ được đạo lý trong tâm liền hoan hỷ, nếu
bị người khác chiết phục không bằng họ, trong tâm ôm ấp buồn bã. Người học
thiền tâm ý như thế có gì được liên hệ. Dù ông hội được ít phần đạo lý, chỉ là được
cái tâm sở pháp, thiện đạo không liên hệ. Sở dĩ Tổ Đạt Ma mặt xây vô vách, đều
khiến cho người không có chỗ thấy, nên nói : “quên cơ là Phật đạo, phân biệt là
cảnh ma”.
Tánh này dù khi ông mê cũng không mất, khi ngộ cũng không được, tự
tánh thiên chơn vốn không mê ngộ, hư không giới khắp mười phương nguyên lai
là một tâm thể của ta. Dù ông động dụng tạo tác đâu rời hư không, hư không xưa
nay không lớn không nhỏ, vô lậu vô vi, không mê không ngộ, thấy rõ ràng không
một vật, cũng không người không Phật, nếu có lượng bằng mảnh tơ, cũng không
nương tựa, không ràng rịt. Một đạo trong sạch trôi chảy là tự tánh, Pháp nhẫn vô
sanh đâu có nghĩ bàn. Chơn Phật không miệng chẳng biết nói pháp, thật nghe
không tai thì cái gì được nghe ? Trân trọng !
Một hôm, sư thượng đường chỉ dạy đại chúng : Về trước, nếu đập không thấu
triệt, đêm ba mươi tháng chạp (giờ lâm chung) đến rồi, bắt buộc ông bứt rứt rối loạn.
Có một bọn ngoại đạo vừa thấy người nói tập công phu bèn cười lạt bảo : “Vẫn còn
cái đó”. Tôi hỏi ông bổng nhiên giờ mạng chung sắp đến, ông lấy cái gì để chống cự
sanh tử ? Ông hãy suy nghĩ xem, có đạo lý nào được gọi Di Lặc trời sanh, Thích-Ca
tự nhiên ư ? Có một bọn thần lười, quỷ rỗi vừa thấy người có chút bệnh, bèn bảo :
“Ông hãy buông xuôi đi !”. Đến khi bọn ấy mắc bệnh, đem chỗ lý hội áp dụng chẳng
được. Tay chân co rút rối loạn, mặc sức da thịt ông đau nhức như dao cắt, làm chủ
không được. Muôn việc lúc rảnh rỗi cần phải giải quyết cho xong, đến khi mê loạn
mới đắc dụng ! phải có ít nhiều sức tỉnh giác, chớ đợi sắp khát mới đào giếng. Trói
tay khóa chân lại gặp chỗ cọp sói đuổi cắn làm sao chạy tránh, đường trước tối tăm ?
Tín thí cúng cơm trắng thịt tươi, bây giờ bị dùi bị đánh, khổ thay ! khổ thay !
Ngày thường chỉ học tam muội (Chánh định) ở ngoài miệng. Nói thiền nói
đạo, nạt Phật trách Tổ, đến chỗ này rồi hoàn toàn dùng không được. Ngày thường
chỉ nhằm lừa người, đâu biết đến nay là tự dối mình. Trong địa ngục A-tỳ quyết
định không thể thả ông.
Nay sắp chìm trong thời mạt pháp, cốt phải nhờ sức mạnh của mình. Chư
huynh đệ ! Cố gắng gánh vác huệ mạng Phật tiếp nối chớ để đoạn dứt. Thời nay
vừa có một người, nửa người đi hành khước, cốt đi để xem sơn ngoạn cảnh, không
biết tháng ngày đâu có chờ ta, một hơi thở ra không trở lại đã qua đời khác, chưa
biết cái gì là đầu mặt. Than ôi ! Khuyên các huynh đệ khi thân thể còn cường tráng,
phải nhận được cái chỗ thấu hiểu của mình, không bị người lừa là một phần việc
lớn. Cái then chốt này rất là dễ dàng, tại tự ông không chịu nhận thôi.
Người có chí liều chết thực tập công phu, chỉ ngại đạo khó hiểu rõ, khó đạt
được. Đâu thể dạy ông biết được trên cây tự sanh bắp trầm. Ông phải tự khéo
chuyển biến mới được. Nếu là bậc trượng phu khán công án, như có vị Tăng hỏi
Triệu Châu : “Con chó có Phật tánh hay không ?”. Châu đáp : “Không”. Kia đi rồi,
trong mười hai giờ khán một chữ “Không”. Ngày tham, đêm tham, đi đứng ngồi
nằm, chỗ mặc y ăn cơm, chỗ đi tiểu đi đại, tâm tâm xem nhau, chăm bẳm tỉnh sáng,
chỉ giữ một chữ “Không”. Lâu ngày dài tháng đập thành một khối, bỗng nhiên tâm
hoa tự sanh, ngộ được máy màu của Phật, Tổ bèn không bị Lão Hòa Thượng đầu
lưỡi lừa, liền hội mở đại khẩu.
Tổ Đạt Ma từ Ấn Độ sang không gió nổi sóng. Thế Tôn giơ cành hoa cả hội
đều ngơ ngác. Đến được chỗ ấy nói gì lão Diêm La, đến ngàn thánh còn không bì
được ông. không tin đạo, hẳn có nhóm kỳ đặc rất tột như thế, việc chỉ sợ người có
tâm.
Tụng :
Trần lao quýnh thoát sự phi thường
Hệ bã thằng đầu tố nhất trường
Bất thị nhất phiên hàn triệt cốt
Tranh đắc mai hoa phốc tỷ hương.
Dịch :
Vượt khỏi trần lao việc chẳng thường
Đầu dây nắm chặt giữ lập trường
Chẳng phải một phen xương lạnh buốt
Hoa mai đâu dễ ngửi mùi hương.
􀀢
TIỂU SỬ NGÀI HOÀNG BÁ
Ngài hiệu Hy Vận, người tỉnh Mân (tỉnh Phước Kiến), Hồng Châu, thuở
nhỏ xuất gia tại bổn châu trên núi Hoàng Bá. Trên trán Ngài có cục thịt nổi vun
lên như hạt châu, âm thinh trong trẻo, ý chí đạm bạc.
Đi dạo núi Thiên Thai, Ngài gặp một vị Tăng nói chuyện với nhau như đã
quen biết từ xưa, nhìn kỹ là người Mục quang xạ. Hai người cùng đi gặp khe suối,
nước đầy chảy mạnh, Ngài lột mũ chống gậy dừng lại, vị Tăng kia thúc Ngài đồng
qua.
Ngài bảo :
- Huynh cần qua thì tự qua.
Vị Tăng kia liền vén y bước đi trên sóng như đi trên đất bằng. Qua đến bờ
vị Tăng kia xây lại hối :
- Qua đây ! Qua đây !
Ngài bảo :
- Dốt ! Ấy tự rõ. Tôi sớm biết sẽ chặt bắp đùi anh.
Vị Tăng kia khen :
- Thật là pháp khí Đại thừa, tôi không bì kịp.
Nói xong không thấy vị Tăng ấy nữa.
Sau Ngài đến kinh đô nhờ người mách đến tham với Tổ Bá Trượng.
Ngài hỏi Bá Trượng :
- Từ trước Tông thừa chỉ dạy thế nào ?
Bá Trượng lặng thinh. Ngài thưa :
- Không thể dạy người sau dứt hẳn mất.
Bá Trượng bảo :
- Sẽ nói riêng với ông.
Bá Trượng đứng dậy đi vào phương trượng.
Ngài cũng đi theo sau thưa :
- Con đến riêng một mình.
Bá Trượng bảo :
- Nếu vậy ông sau sẽ không cô phụ ta.
Một hôm Bá Trượng hỏi :
- Ở đâu đến đây ?
Ngài đáp :
- Nhổ nấm dưới Đại Hùng đến.
Bá Trượng lại hỏi :
- Lại thấy đại trùng chăng ?
Ngài bèn làm tiếng cọp rống. Bá Trượng cầm búa thủ thế.
Ngài liền vỗ vào chân Bá Trượng một cái. Bá Trượng cười to bỏ đi.
Bá Trượng thượng đường bảo đại chúng :
- Dưới núi Đại Hùng có một đại trùng các ông nên xem. Lão Bá Trượng
này hôm nay đích thân bỗng gặp và bị cắn một cái.
􀁋􀃗􀁊
Lúc Ngài ở chỗ Tổ Nam Tuyền, một hôm toàn chúng đi hái trà. Nam
Tuyền hỏi : “Đi đâu ?”
Ngài thưa :
- Đi hái trà.
Nam Tuyền hỏi :
- Đem cái gì hái ?
Ngài đưa con dao lên.
Nam Tuyền bảo :
- Đại gia hái trà đi.
Một hôm Nam Tuyền bảo Ngài :
- Lão Tăng ngẫu hứng làm bài ca “Chăn trâu”, mời Trưởng Lão hòa.
Ngài thưa :
- Tôi tự có thầy rồi.
Ngài từ giã đi nơi khác, Nam Tuyền tiễn đến cổng, cầm chiếc mũ của Ngài
đưa lên hỏi :
- Trưởng Lão thân to lớn mà chiếc mũ rất nhỏ vậy ?
Ngài thưa :
- Tuy nhiên như thế, đại thiên thế giới đều ở trong ấy.
Nam Tuyền bảo :
Vương lão sư vậy.
Ngài bèn đội mũ ra đi.
􀁋􀃗􀁊
Sau, Ngài ở Hồng Châu chùa Đại An, đồ chúng tìm đến rất đông.
Tướng quốc Bùi Hưu trấn Uyển Lăng lập Đại thiền uyển thỉnh Ngài đến
thuyết pháp. Vì Ngài quá mến núi cũ nên để hiệu Hoàng Bá.
Một hôm, thượng đường đại chúng vân tập, Ngài bảo :
Toàn là bọn ăn hèm, thế mà xưng hành khước để cho người chê cười. Chỉ
cam thấy một ngàn tám trăm người đi chớ không chịu sự ồn náo. Tôi khi đi hành
khước hoặc gặp dưới rễ cỏ có một cái ấy là đem hết tâm tư mà xem nó. Nếu biết
ngứa ngáy khả dĩ lấy đãy đựng gạo cúng dường. Trong lúc đó, nếu dễ dàng như
các ông hiện giờ thì làm gì có việc ngày nay. Trong nước Đại Đường chẳng có
thiền sư sao ?
Có một vị Tăng ra hỏi :
- Bậc Tôn túc ở các nơi họp chúng chỉ dạy, tại sao nói không Thiền sư ?
Ngài bảo :
- Chẳng nói không Thiền, chỉ nói không Sư. Xà lê chẳng thấy sao, dưới Mã
Tổ Đại Sư có tám mươi tám (bốn) người ngồi đạo tràng, song được chánh nhãn
của Mã Tổ chỉ có hai ba người, Hòa Thượng Lô Sơn là một trong số ấy.
Phàm người xuất gia phải biết có sự phần từ trước lại. Vả như, dưới Tứ Tổ,
Đại Sư Ngưu Đầu Pháp Dung nói ngang vẫn chưa biết then chốt hướng thượng, có
con mắt trí này mới biện được tông đảng tà chánh. Người hiện giờ không hay thể
hội, chỉ biết học ngôn ngữ, nghĩ đến những việc trong đãy da xưng là ta hội Thiền.
Nó có thể thay ông việc sanh tử chăng ?
Khinh thường bậc lão túc vào địa ngục nhanh như tên bắn. Tôi vừa thấy
người vào đến cửa liền biết được ông rồi. Lại biết chăng ? Cần kíp cố gắng, chớ có
dung dị. Mặc y ăn uống mà để một đời luống qua, người trí chê cười.
Ông thời gian sau hẳn sẽ bị người tục lôi đi, phải tự xem xa gần cái gì là
việc trên mặt. Nếu hội tức là hội, nếu không hội thì giải tán đi.
Sư Lâm Tế Nghĩa Huyền đến hỏi :
- Thế nào ý Tổ từ Ấn Độ sang ?
Ngài liền đập một gậy. Đến ba phen hỏi đều bị đập một gậy. Sau cùng Sư
Lâm Tế từ giã Ngài đi nơi khác. Ngài dạy qua tham vấn Đại Ngu. Sau này Sư Lâm
Tế đắc ngộ ý chỉ của Ngài. Chỗ chỉ dạy của Ngài đều nhắm vào bậc thượng căn,
người trung và người hạ khó thấy được yếu chỉ.
Đời Đường khoảng niên hiệu Đại Trung (847-860 TL), Ngài tịch ở núi
Hoàng Bá. Nhà vua sắc thụy là Đoạn Tế Thiền Sư, tháp hiệu Quảng Nghiệp.
􀀢

LUẬN TỌA THIỀN



LUẬN TỌA THIỀN Thiền sư Đại Giác, Hòa thượng Lan Khê
Thích Nhật Quang Việt Dịch

Lời Giới Thiệu
Quyển LUẬN TỌA THIỀN của Thiền sư Đại Giác là món quà vô giá tặng cho những bạn đang khát khao pháp vị Thiền tông.
Trên hình thức một quyển sách rất nhỏ, song nội dung hàm chứa được diệu chỉ bất khả thuyết của Thiền gia. Nếu độc giả chỉ đọc suông để tìm những lý thú thông thường, sẽ khó thấy giá trị của nó.
Quả thật người quyết nương ngón tay để thấy mặt trăng, chịu khó nghiền nát những vỏ cứng ngôn từ, bỗng nhiên diệu chỉ giáo ngoại biệt truyền xuất hiện.
Phật tử Việt Nam chịu ảnh hưởng Thiền tông rất sâu đậm, hầu hết các vị trụ trì ở những đại già lam đều xuất thân từ dòng phái Lâm Tế. Thế mà, hỏi đến phương pháp tu của tông Lâm Tế thế nào, có mấy người hiểu biết. Đó là điều đáng buồn và đáng thẹn của Phật tử Việt Nam.
Thích Nhật Quang, một Thiền sinh trong Tu Viện Chơn Không, xem qua quyển Tọa Thiền Luận thấy sự thiết yếu của nó, phát tâm phiên dịch để góp phần làm sáng tỏ đường lối của Tu viện nói gần, giúp ích cho đại đa số Phật tử Việt Nam hiểu biết phần nào phương pháp tu hành của tông Lâm Tế nói xa.
Để giúp thêm tài liệu nghiên cứu của các Thiền sinh, ngoài những Kinh, Luận trong chương trình tu học. Tu viện cho xuất bản quyển sách này và sẽ xuất bản những quyển khác tương tợ. Để khích lệ sự cố gắng tham khảo của dịch giả, chúng tôi có ít lời giới thiệu cùng độc giả.
THÍCH THANH TỪ 
 

 
LUẬN TỌA THIỀN Thiền sư Đại Giác.
Xét thấy, Tọa Thiền là pháp môn đại giải thoát. Các pháp từ đó mà lưu xuất, muôn hạnh từ đó mà thông đạt, thần thông, trí huệ, phước đức, đều từ trong cửa này mà khởi lên, cho đến con đường tánh mạng của trời, người cũng đều từ cửa ngõ này mà mở ra.
Chư Phật đã từ cửa ngõ này mà ra vào. Người thực hành hạnh Bồ-tát chính phải vào cửa này, hàng Nhị thừa thì còn ở giữa đường, bọn ngoại đạo tuy có đi mà chẳng vào được con đường chính. Phàm các tông Hiển, Mật chẳng thực hành pháp môn này, thì chẳng còn con đường nào khác để thành Phật.
1. HỎI: Nói rằng Tọa Thiền là cội nguồn của các pháp, ý chỉ đó thế nào?
ĐÁP: Thiền là Phật trong tâm, Luật là Phật tướng ngoài, Kinh Giáo là lời Phật nói ra, niệm Phật tức là niệm danh hiệu Phật, tất cả đều từ trong Phật tâm lưu xuất, thế nên nói cội nguồn là vậy.
2. HỎI: Pháp Thiền vô tướng, vô niệm, linh đức chẳng lộ bày, kiến tánh cũng chẳng có chứng cứ, do đâu mà có thể tin được?
ĐÁP: Tâm ta cùng tâm Phật một vị, há chẳng phải là linh đức ư? Tâm ta ta chẳng biết, bảo cái nào làm chứng cứ? Tức tâm tức Phật, cầu chứng cứ gì bên ngoài?
3. HỎI: Có thể tu pháp nhất tâm, cũng tu muôn hạnh, muôn thiện, công đức có gì so sánh  được?
ĐÁP: “Chóng giác xong Như Lai Thiền, sáu độ muôn hạnh thể tự tròn đầy”. Thế thì, một pháp thiền gồm đủ tất cả pháp. Há chẳng thấy nói: “Ba cõi chỉ một tâm, ngoài tâm không pháp khác”. Dù tu muôn hạnh mà không nhận pháp tâm này, thì không thể đắc ngộ. Nếu chẳng đắc ngộ mà thành Phật, lẽ ấy làm gì có?
4. HỎI: Pháp tâm này đâu thể tu hành, dù có dụng công tu hành, cũng chẳng được khai ngộ, kết quả thành Phật chẳng nhất định, thì dù cho nhọc nhằn tu hành, nào có lợi ích gì?
ĐÁP: Tông này là pháp môn sâu mầu kín nhiệm, nếu tai ta được một lần nghe, liền thành thắng nhân Bồ-đề. Người xưa nói:
“Người nghe tông này mà không tin, phước còn vượt hơn trời, người; kẻ học mà không thông hiểu thì trọn đến quả Phật”. Nên biết, pháp này là tâm tông của Phật. Phật tâm tự nó vốn chẳng có mê, ngộ, đây chính là diệu thuật của Như Lai. Dù rằng chưa được tỏ ngộ, nhưng một phen ngồi thiền, tức là ngồi tòa Phật, một ngày ngồi thiền, một ngày làm Phật, trọn đời ngồi thiền là trọn đời làm Phật, kiếp tương lai cũng như thế, người chỉ tin thế ấy, là người đại căn cơ.
5. HỎI: Nếu đã như thế, thì tôi cũng có thể tu hành. Vậy làm thế nào an tâm? Phải dụng tâm thế nào?
ĐÁP: Phật tâm tất cả đều không trước tướng. Lấy lìa tướng làm thật tướng. Đi, đứng, ngồi, nằm trong bốn oai nghi, lấy ngồi làm nghĩa an ổn. Do ngồi ngay thẳng mà tư duy thật tướng. 
6. HỎI: Nghĩa ngồi ngay thẳng, tư duy thật tướng này, xin nói rõ hơn?
ĐÁP: Ngồi ngay thẳng, chính là đức Như-Lai kiết-già-phu-tọa. Tư duy thật tướng, cũng gọi là ngồi thiền.
Kết pháp giới định ấn, thân tâm chẳng động, mắt mở chừng phân nửa, giữ mũi thật ngay thẳng, sẽ thấy các pháp hữu vi in tuồng giấc mộng, như làn bọt nước, cũng chẳng khác bong bóng nổi. Chớ buộc niệm !
7. HỎI: Chân ngồi kiết-già, tay bắt ấn là oai nghi của Như-Lai, còn mắt mở phân nửa, giữ mũi ngay thẳng là việc gì?
ĐÁP: Mắt mở lớn sẽ thấy xa, bị cảnh lăng xăng trước mắt bức bách, tâm dễ tán loạn. Nhắm mắt thì sa vào cảnh hôn trầm, trong tâm không được sáng suốt. Mắt mở phân nửa, thì niệm chẳng vội vàng, thân tâm nhất như… Xét rõ, thì sanh tử, phiền não chẳng có thể gần gũi. Đó gọi là lập địa thành Phật, là đại dụng đại cơ.
8. HỎI: Dù được nghe các việc như thế rồi, nhưng lòng tin vẫn chưa vững. Đọc tụng kinh chú chứa công ấy, trì trai giữ giới xướng danh hiệu Phật, nhóm đức ấy, việc đó có chỗ tựa nương. Riêng chẳng làm việc gì khác, yên ngồi trong thiền định, hay có những kỳ đặc sao?
ĐÁP: Nghi như thế là nghiệp sanh tử, nghi như thế là phiền não chướng. Thực hành tất cả pháp tâm không sở đắc, gọi là thậm thâm Bát nhã, là trí huệ Bát nhã. Trí huệ này, là kiếm báu có thể chặt đứt cội nguồn sinh tử. Tu các căn lành, mong được quả báo, đó là phàm phu mê muội. Hàng Bồ-tát khi tu các căn lành, chẳng cầu quả báo ấy, chỉ hướng đến đại từ đại bi mà tu thiện căn, cho nên thành chất liệu Bồ-đề.
Vì mong cầu quả báo mà tu các căn lành, chỉ thành đạt quả phúc nhỏ hẹp trời người, hạn định trong nghiệp sinh tử hữu lậu thôi.
9. HỎI: Chẳng nhờ chứa nhóm các căn lành, công đức thì đâu có thể thành tựu muôn đức, tròn đầy Phật quả được?
ĐÁP: Nếu đợi nhóm hợp đủ các căn lành, công đức thì phải trải qua ba đại a-tăng-kỳ kiếp mới thành Phật được. Ngược lại, người thực hành nhân quả bất nhị pháp môn là thành Phật ngay trong đời này. Nghĩa là, minh tự tâm, ngộ tự tánh, nhận thấy tự mình vốn sẵn là Phật, chẳng đợi đến nay mới thành.
10. HỎI: Người kiến tánh thành Phật, chẳng y cứ nhân quả. Vậy thì, không thể tu các căn lành sao?
ĐÁP: Người kiến tánh thành Phật, dù có tu các căn lành, chỉ vì lợi ích, chẳng vì quả báo. Bởi giáo hóa chúng sanh, nên dạy nhân quả, do vì thân mình không sở đắc, nên chẳng trông vào các công đức; vô tâm với tất cả.
11. HỎI: Người vô tâm như thế nào? Nếu đã vô tâm, thì ai kiến tánh, ai ngộ đạo? Cái gì lại hay vì chúng sanh mà thuyết pháp giáo hóa?
ĐÁP: Vô tâm là nói người không tất cả tâm ngu si, chẳng phải nói người không tâm biện biệt cặn kẽ tà chánh. Ta chẳng nghĩ tưởng chúng sanh, cũng chẳng vọng cầu Phật đạo, lại chẳng nghĩ mê, chẳng cầu ngộ, chẳng chạy theo sự tôn kính của người, cũng chẳng thích nghe danh hư lợi dưỡng, chẳng nhàm chán độc hại oán thù, mặc cho tất cả việc lành dữ, chẳng khởi niệm sai biệt, đó gọi là Đạo Nhơn Vô Tâm.
Thế nên nói: Đạo vô tâm hợp với người, người vô tâm hợp với đạo.
12. HỎI: Trì trai giữ giới, đọc tụng kinh chú, xướng danh hiệu Phật, công đức đó có hơn kém nhau chăng?
ĐÁP: Người trì trai là lìa ăn tham dục, kiếp tương lai sẽ được phước đức lớn. Giữ giới, là vì ngưng tâm ác, sinh tâm lành. Người có tâm lành, nếu sinh trong cõi trời, người thì địa vị rất là tôn quý. Còn người đọc tụng kinh chú, là gìn giữ pháp Phật, nên đời sau sẽ được trí huệ lớn. Do xướng danh hiệu Phật, đời sau quyết chắc sanh đất Phật. Lại vô tâm này là Phật tâm. Công đức Phật tâm này lời lẽ không diễn tả xiết, nghĩ lường không thể cùng tột, thật là chẳng thể nghĩ nghị.
13. HỎI: Giờ đây, công đức của căn lành đã rõ ràng rồi, chẳng còn nghi ngờ nữa. Nhưng đối với công đức của vô tâm còn có chỗ chưa hiểu?
ĐÁP: Học đòi oai nghi Phật, truyền đạt lời nói Phật và xướng danh hiệu Phật, đều có công đức. Lại đạo nhơn vô tâm cũng hay có các công đức. Nếu bảo vô tâm không công đức, thì các hạnh khác không thể có công đức. Vì tất cả căn lành là nhân duyên công đức của trời, người, còn vô tâm là con đường chóng chứng đạo Bồ-đề. Công đức đó không thể dùng lời lẽ mà kể xiết, thực là một đại sự nhân duyên, phiền não, sinh tử tự tiêu diệt, thân tâm nhất như, tức tâm thành Phật, còn nghi gì nữa ư?
Người xưa nói: “Cúng dường ba đời các đức Phật, chẳng bằng cúng dường một đạo nhơn vô tâm” Thực là, cảnh giới chỉ có Phật với Phật biết nhau, hạng phàm phu cùng Nhị thừa chẳng có thể lường nổi.
14. HỎI: Các kinh chẳng nói vô tâm, cũng chẳng khen ngợi. Cớ sao tông này lại quý trọng lẽ ấy đến thế?
ĐÁP: Trong các kinh nói đến lẽ này rất nhiều. Như nói: “Ngôn ngữ đạo đoạn”. Hoặc nói: “Bất khả thuyết”. Hay là: “Cứu cánh không”. Cũng nói: “Một đại sự nhân duyên”. Hoặc lại nói: “Các pháp vốn tịch diệt”. Đức Thích Ca đóng cửa thất, Ngài Tịnh Danh ngậm miệng. Đây há chẳng phải chỉ bày cảnh giới vô tâm là gì ư? Vì ảnh hưởng đến bậc Bồ-tát đã chứng trí, nên đức Thế Tôn không nói đó thôi. Lại hàng Nhị thừa còn kém cỏi nên Phật cũng chẳng nói. Do đó, kinh Pháp Hoa dạy: “Đối với hạng người không trí, chớ nói kinh này”. Ấy chẳng ngoài ý dẫn trên.
Các kinh có đến tám muôn bốn ngàn pháp môn, nhưng chẳng ngoài hai pháp sắc, không. Tất cả loài có hình tướng đều thuộc sắc là thân, còn loài chẳng lộ bày tướng ra, đều thuộc Không. Thân có hình tướng, nên nói là sắc, tâm không hình, nên bảo rằng không. Các kinh điển của Phật nói, đều chẳng rời ngoài hai pháp sắc, không này. Đó là nói cảnh giới vô tâm bất khả thuyết. Sở dĩ, chẳng khen ngợi lẽ này, là vì ngôn ngữ chẳng đến được, nên chỉ nói “Ngoài giáo truyền riêng”.
15. HỎI: Thế thì, sắc thân này có thể là mê ư? Cũng có thể là ngộ ư? Tâm là vật gì? Căn bản của mê và ngộ không thể không biết đó. Lại tâm ở trong thân, hay ở ngoài thân, nó từ chỗ nào dấy lên như thế?
ĐÁP: Sắc thân bốn đại, năm uẩn đầy khắp mười phương, là căn bản của tất cả chúng sanh. Nhân duyên hòa hợp, thì thân thể kiến lập, gọi đó là sinh. Quả báo đổi dời, thì bốn đại phân tán, gọi đó là chết. Sắc tướng, thì có phàm thánh, tâm thể vốn chẳng ngộ, mê. Tuy nhiên, giả có mê, nên gọi chúng sanh, ngộ gọi là chư Phật. Mê ngộ chỉ nhân vọng tâm, chân tâm thì không mê ngộ, chúng sanh hay Phật vốn nhân nơi một tâm mê ngộ này. Rõ được bản tánh, thì hoàn toàn không có phàm, thánh sai biệt. Nên kinh Thủ Lăng Nghiêm nói:
“Bản tánh nhiệm mầu tròn sáng, rời ngoài các danh tướng, xưa nay chẳng có thế giới chúng sanh”
16. HỎI: Tâm tánh vốn chẳng mê. Nếu vậy, mê tình khởi từ chỗ nào?
ĐÁP: Nếu khởi vọng niệm, mê liền theo đó mà đến. Mê đến, nên phiền não sanh. Vọng niệm nếu dứt thì mê cũng từ đó mà đi. Mê đã đi, nên phiền não diệt. Nên biết, pháp phiền não là pháp sinh, đó là hạt giống sanh tử, Bồ-đề là pháp diệt, thì là vui tịch diệt. Khi mê, các pháp đều là phiền não. Lúc ngộ, các pháp đều là Bồ-đề. Người đời chẳng biết cội gốc mê ngộ này, nên nhàm sanh tử, buộc niệm chẳng khởi, cho đó là một niệm không sanh, là vô tâm. Đó vẫn là niệm sanh tử, chẳng phải vô tâm, chẳng phải tịch diệt. Dùng niệm dứt niệm, là sanh tử nối tiếp.
17. HỎI: Tiểu thừa thì rơi vào lý Không, chẳng biết vô tâm. Đại thừa Bồ-tát có thể được vô tâm chăng?
ĐÁP: Hàng Bồ-tát đến Thập địa vẫn còn lầm trí nhị chướng, chẳng được vô tâm. Một hoặc chướng này, vào đệ Thất địa, tâm tìm pháp vẫn còn, nên bị chướng. Đến đệ Thập địa, có tâm giác chiếu, nên cũng bị chướng, cho đến lúc thành Đẳng Chánh Giác, mới hợp với vô tâm này.
18. HỎI: Đã là hạng Bồ-tát đến Thập địa còn chẳng biết, huống nữa bọn phàm phu sơ tâm học đạo, thì làm sao có thể hợp với vô tâm?
ĐÁP: Đại thừa thì không thể nghĩ bàn. Có trường hợp thẳng tiệt (chặt đứt) một niệm, chóng ngộ cội nguồn.
Các nhà bên giáo lập Tam hiền, Thập thánh là vì hạng người căn cơ chậm lụt. Hạng lợi căn, ngay khi mới phát tâm liền thành Chánh giác. Cũng có trường hợp thẳng đến thành Phật một cách nhanh chóng không thể nghĩ lường.
Bậc Thập Địa, Đẳng Giác hợp với vô tâm, thì ngang với hạng người hiện nay kiến tánh thành Phật. Nên biết, trong lý vô tâm không có sai khác.
19. HỎI: Thấy tánh thành Phật, việc đó thế nào? Tánh là gì? Thấy là thấy cái gì? Dùng trí có thể biết chăng? Con mắt có thể thấy chăng? Nghĩa đó ra sao?
ĐÁP: Học kinh luận được trí, tức là trí phân biệt bằng thấy nghe hiểu biết. Ở đây, người tu hành chẳng dùng trí ấy mà thấy biết bằng hồi quang phản chiếu, bằng tự tánh sẵn có, cũng gọi là huệ nhãn. Tuy nhiên, sau khi thấy tánh rồi, vẫn thụ dụng bằng thấy nghe hiểu biết như thường.
20. HỎI: Thấy biết tự tánh sẵn có, cái thấy biết có thể biết được, còn tự tánh sẵn có là thế nào? 
ĐÁP: Vì tất cả chúng sanh xưa nay vẫn có tánh, nên trợ giúp khởi lên tự thể. Tánh này từ vô thủy đến nay chẳng sinh, chẳng diệt, không sắc, không hình, thường trụ chẳng biến đổi, gọi đó là tự tánh sẵn có. Tự tánh này cùng với chư Phật, một vị bình đẳng, nên cũng gọi là Phật tánh. Tất cả ngôi Tam Bảo, chúng sanh trong sáu nẻo, do tánh này làm cội gốc mà thành tựu tất cả pháp.
21. HỎI: Hồi quang phản chiếu là thế nào?
ĐÁP: Chiếu là soi rõ các pháp bên ngoài, tự mình có cái sáng suốt chiếu lại bên trong.
Tâm sáng suốt, như ánh sáng không lường, không ngằn của mặt trời, mặt trăng hay chiếu soi trong ngoài tất cả cõi nước. Ánh sáng đó, chẳng đến chỗ u ám gọi là núi đen hang quỷ, các loài quỷ thần đều ẩn nấp trong đó. Hạng quỷ thần này, hay nhiễu hại chúng sanh. Tâm pháp cũng như thế, trí sáng không lường không ngằn của tâm tánh hay chiếu suốt các cảnh giới. Ánh sáng đó, chẳng đến chỗ ngăn khuất, gọi là vô minh, ấm giới, tất cả phiền não đều trụ trong đó. Phiền não, thì hay nhiễu hại chúng sanh. Trí tâm là ánh sáng. Vọng niệm là những cái bóng. Soi sáng sự vật nói là chiếu. Cảnh giới tâm niệm chẳng đổi dời hướng vào bản tánh, nên nói rằng hồi quang phản chiếu.
Lại nói chiếu khắp, chính là chiếu khắp đương thể (thể hiện hữu) chỗ mê, ngộ chưa hiện bày. Thế mà thời nay người dùng vọng niệm để suy tìm bản tâm, lấy phiền não làm thú vui, thì bao giờ mới cởi bỏ sanh tử?
22. HỎI: Ngồi thiền lấy “một niệm không sanh” làm tỉnh yếu (chỗ quan yếu để tỉnh giác). Lấy niệm dừng niệm, đây thời chẳng khác lấy máu rửa máu. Việc đó thế nào?
ĐÁP: Một niệm không sanh, chính là tâm pháp bản thể, chẳng phải dừng niệm, cũng chẳng phải chẳng dừng niệm, chỉ là một niệm không sanh. Nếu hợp với bản thể này, thì đó là pháp tánh Như Lai. Bấy giờ, việc ngồi thiền cũng bằng vô dụng. Không mê, không ngộ, há lại còn có một niệm ư? Nếu chẳng nhận được bản thể này, thì đâu gọi là được không sanh. Dù đè niệm chẳng cho khởi, cũng đều là vô minh. Chẳng khác lấy đá đè cỏ, chẳng bao lâu cỏ ấy lại sanh. Phải công phu miên mật lắm, không thể dung dị mà được.
23. HỎI: Hoặc có người hỏi, lúc đến chỗ một niệm không sanh, thì thế nào?
ĐÁP: Một niệm không sanh là hoàn toàn không tướng sanh diệt, đi lại, có thể nói năng chỉ bày. Sự sanh tử theo niệm mà khởi, nếu chẳng biết chỗ niệm khởi thì, chẳng rõ được cội gốc sanh tử. Các chúng sanh trong suốt 12 giờ bị giặc phiền não sai sử trái với tánh bản hữu. Nếu mây vọng niệm tan, tâm tánh như ánh sáng mặt trăng. Những niệm xấu từ trước nay đều trở thành trí huệ, dùng niệm này có thể thuyết pháp giáo hóa chúng sanh. Người xưa bảo:
“Các ngươi bị 12 giờ sai sử, ta sai sử được 12 giờ”
24. HỎI: Khi ngồi thiền, niệm khởi là lỗi, ngừng lại có lỗi chăng? Việc đó thế nào?
ĐÁP: Lúc chưa thấy tánh, khởi hay ngừng đều có lỗi. Trong kinh Phật dạy: “Chẳng khởi vọng niệm”, hoặc nói: “Cũng chẳng diệt hẳn”. Đó là lối nói khiến cho ta nhận bản tánh. Người thấy tánh thì việc tu hành là vô dụng. Bệnh mê vọng đã trừ, khoa trị liệu nào có ích gì. Tuy nhiên, bệnh mê tình dấy khởi, thì dùng tu hành để trị liệu, bệnh niệm chẳng còn khởi nữa, thì chẳng dùng thuốc tiếp tục.
25. HỎI: Dù có niệm khởi, nhưng niệm vốn không tự tánh, thì có lỗi gì?
ĐÁP: Tuy không tự tánh, nhưng dấy khởi đều có lỗi. Cũng như việc trong mộng, sau khi thức giấc, biết nó hư vọng, há bảo không lỗi sao? Khởi lên tức thành lỗi, còn mộng là do chúng sanh vọng thấy, một khi được nghe Phật pháp, phát khởi lòng tin, việc đó thù thắng hơn. Thế nhưng, chẳng phải người có đạo tâm chân thực, dụng công một cách hời hợt, chẳng biết lỗi của tâm, bất chợt đè ép các niệm nhỏ mà chẳng biết các niệm lớn. Nếu chẳng đoạn tiệt từ cội nguồn của nó, thì dù có kết được duyên phần, cũng khó thoát khỏi sanh tử.
26. HỎI: Tất cả việc lành, dữ đều chớ nghĩ lường v.v… Mặc kệ nó, việc xấu tốt không nên nghĩ lường, như thế mới thực là người dụng tâm tọa thiền. Nếu vậy, đối với các niệm lớn, nhỏ phải làm sao đây?
ĐÁP: Tất cả việc lành, dữ đều chớ nghĩ lường, đó là lời nói chặt thẳng vậy. Còn tính thời gian ngồi thiền, chẳng nên dùng nó. Nếu đến ruộng đất này, thì đi, đứng, ngồi, nằm đều là thiền hẳn chẳng nên cố chấp tướng ngồi. Tổ sư bảo: “Đi cũng thiền, ngồi cũng thiền, nói, nín, động, tịnh thể an nhiên”.
Trong Kinh Phật có dạy:
“Thường sống trong đó, kinh hành hoặc ngồi nằm…”. Những niệm nhỏ lăng xăng theo cảnh trước mắt. Những niệm lớn khởi lên, là tham dục, sân khuể, ngu si, tà kiến, kiêu mạn, tật đố, danh văn, lợi dưỡng… Người chí mỏng, lúc ngồi thiền, chỉ thu nhiếp các niệm nhỏ. Còn những ác niệm này chẳng biết chúng ngủ ngầm trong tâm ta, gọi là những niệm lớn. Ném bỏ các ác niệm này, gọi là chặt thẳng cội nguồn. Chặt thẳng cội nguồn thì phiền não là Bồ-đề, ngu si thành trí tuệ, ba độc thành ba tụ tịnh giới, vô minh thành pháp tánh đại trí. Đã vậy còn nói gì là các niệm nhỏ ư? Đức Phật dạy:
“Nếu hay chuyển vật, tức đồng Như Lai”. Là ý này vậy. Chỉ hay có thể chuyển vật, chớ để bị vật chuyển!
27. HỎI: Nếu hay chuyển vật tức đồng Như Lai. Vật là vật nào? Chuyển là việc gì?
ĐÁP: Vật tức là vạn vật, chuyển tức là thoát thể. Chuyển vật tức là gặp tất cả cảnh giới mà tâm chẳng đổi, đều hướng đến bản tánh. Cảnh chẳng ngại tâm, thiên ma ngoại đạo, phiền não sanh tử, chẳng có cơ hội thuận tiện. Đấy gọi là chuyển vật, nơi vật chẳng đổi tâm mà dụng tâm. Thấy Phật, thấy pháp, còn phải đoạn tuyệt, hà huống là vọng niệm ư? Tâm đoạn tuyệt này, dù giống như tà niệm, kỳ thực nó là chánh niệm. Chánh niệm thì gọi là huệ niệm, cũng chính là trực nhập trí huệ chánh kiến.
28. HỎI: Phiền não, Bồ-đề, đều từ một tâm này khởi lên đã phân minh, nhưng đầu mối của nó khởi lên từ chỗ nào?
ĐÁP: Nghe tiếng, thấy sắc, ngửi mùi, nếm vị, biết xúc chạm, nhận rõ các pháp đều là đức dụng của sáu căn. Gá cảnh giới này, rồi phân chia thành lành, dữ, biện biệt chánh tà, cho là trí huệ. Nơi đó lập nhân ngã, khởi tắng ái đều là vọng kiến. Theo vọng kiến ấy, thành trước tướng gọi là mê. Từ đây khởi mê năm uẩn sắc, thọ, tưởng, hành, thức, gọi là phiền não. Do phiền não, kiến lập thân thể. Lại chúng sanh, phần nhiều ưa giết hại, trộm cướp, tà dâm, nói vọng v.v… hoàn toàn bị rơi vào ba đường dữ, đều từ vọng niệm mà khởi lên.
Những vọng niệm này lúc chúng mới phát khởi, liền chuyển thẳng tất cả hướng đến bản tánh, tức thành vô tâm. Đã an trụ nơi vô tâm, thì thân năm uẩn này liền thành năm phần pháp thân của Như Lai. Đấy gọi là: “Nên không chỗ trụ, mà sanh tâm kia”. 
Dụng tâm như thế là người đại dụng tu hành.
29. HỎI: Người dụng công ngồi thiền tích lũy công phu lâu ngày đã thuần thục, thì không thể có tâm phiền não tà mê. Kẻ mới tu hành, làm sao có thể sạch hết phiền não?
ĐÁP: Chẳng chán sợ phiền não, chỉ nên tịnh tâm mình. Người xưa nói: “Học đạo cần phải sắt đá, nắm được đầu tâm liền xét thẳng   đến Vô thượng Bồ-đề, tất cả việc thị phi cũng chớ quản. Nắm chặt đầu tâm là phê phán tâm tà chánh”.
Nên biết người nhận được cái lầm của tâm mình gọi là người trí. Nếu đã có trí huệ, thì không còn mê. Ví như từ xưa ở trong hang tối, chưa từng gặp ánh sáng mặt trời, mặt trăng, chợt có ánh đèn sáng, thì bóng tối kia chẳng cần đuổi mà chốc lát tự nó biến thành sáng.
Bóng tối vô minh phiền não, khi có ánh sáng trí huệ chiếu đến, thì không đợi phải đuổi mà tự đi. Đêm xuống khắp hư không tối, nhưng ánh sáng mặt trời xuất hiện thì hư không tối tăm kia, liền thành sáng khắp.
Tâm pháp cũng như thế. Mê thì tối, ngộ là sáng. Ánh sáng trí huệ chiếu soi, thì bóng tối phiền não tan diệt liền thành sáng suốt. Thế nên, Bồ-đề không riêng có hai pháp.
30. HỎI: Chiếu phiền não tối, là nương sức trí huệ, không trí huệ, thì không thể có Bồ-đề. Thế thì làm thế nào được trí huệ này?
ĐÁP: Trí quang của mình, tự nó sáng suốt. Tuy nhiên khi bị vọng trần che khuất,  tạm thời nó mất đi, nên nói mê mới nổi dậy, chẳng khác người trong lúc thấy chiêm bao, mỗi việc mỗi việc đều là tướng chân thật, sau khi thức giấc, lại không một việc.
Cũng thế, mộng vọng tưởng sau khi tỉnh, biết nó từ nơi bản không. Do chúng sanh mê muội, nên nhận vọng làm thực.
31. HỎI: Người ngộ là hằng ngày so sánh việc chẳng biết mà chợt biết được, vậy có thể biết được việc của quá khứ, vị lai chăng?
ĐÁP: Hết sạch vọng kiến, mộng lớn chốc lát tỉnh biết, thấy Phật tánh, gọi là đại ngộ, đại triệt. Chỗ này so sánh nghĩ lường không thấu nổi.
Biết được việc quá khứ, vị lai, là do sức thần thông, và do công lực tu hành, chẳng nên gọi là đại ngộ. Bọn thiên ma, quỷ thần, ngoại đạo, tiên nhơn đều có thần thông này, xưa kia họ từng tu hành các khổ hạnh. Đức đó tuy có, nhưng chẳng rời tà kiến, nên chẳng vào được trong hàng Phật đạo.
32. HỎI: Người ngộ đạo, đắc pháp, mà chẳng đầy đủ thần thông, thì có đức dụng gì?
ĐÁP: Thân này bởi do quá khứ ngu mê mà kiến lập, dù là người kiến tánh thành Phật, nhưng thần thông chưa lộ bày. Thế nhưng, ngộ thì thấu thoát sáu trần, đoạn tuyệt sinh tử, nên từ đó mà đầy đủ thần thông diệu dụng. Đây chẳng phải là sức thần thông hữu lậu của bọn thiên ma, ngoại đạo… 
Người hoát nhiên đại ngộ, chẳng cần phải trải qua ba đại a-tăng-kỳ kiếp, liền thành Phật đạo, đâu riêng luận thần thông diệu dụng ư!
33. HỎI: Kiến tánh thành Phật, cùng tức tâm tức Phật, có khác nhau chăng?
ĐÁP: Tức tâm tức Phật, là lời nói chỉ thẳng ngoài tâm không có Phật. Nếu nhận nơi ý chỉ này, là người lanh lợi. Hoặc cũng chỉ bày phi tâm phi Phật…
Kiến tánh thành Phật, là thấy biết tự tánh, đoạn tuyệt mạng căn chúng sanh, nhận ra bản tánh nhiệm mầu tròn sáng. Thế thì, không còn sinh tử, chẳng có phiền não, chỉ giả danh mà gọi là thành Phật. Phật là giác. Giác, thì rõ ràng xưa nay chẳng từng mê. Tuy không đồng, dị mà vào cửa in tuồng có sự sai khác. Do đó, liền thành lời nói có hai chiều.
34. HỎI: Tánh thì thường trụ bất biến, chư Phật cùng chúng sanh một vị bình đẳng. Tuy nhiên, mê là chúng sanh có khổ sanh tử. Như vậy, đâu có thể bảo một vị bình đẳng được?
ĐÁP: Một vị bình đẳng là chỗ trí huệ chiếu đến, chẳng phải hạng ngu si thấy được. 
Tổ sư dạy: “Phải dùng hòn gạch đi gõ cửa thiện tri thức”. Khi chưa vào cửa, lời nói kiến tánh thành Phật là tột cùng. Vào được cửa này, vì lìa các tướng, nên thành Phật lại vô đắc.
35. HỎI: Các tông Hiển, Mật, đều có tám pháp: Giáo, Lý, Trí, Đoạn, Hạnh, Vị, Nhân, Quả. Hàng Nhị thừa Thanh văn, tu tứ thiền, bát định, khỏi được ba tai nạn, nước, lửa, gió. Không, sắc, thọ, tưởng, hành, thức, vào vô dư Niết Bàn. Bậc Bồ-tát, gìn giữ ba tụ tịnh giới, tu từ bi vạn hạnh, trải qua ba ngôi Hiền, mười bậc Thánh, dứt được các phiền não trong và ngoài. Nếu bảo, phiền não không có nơi chỗ thì cảnh giới Phật nương đâu mà có ba đời chư Phật, ra khỏi pháp giới chân như, thị hiện trong cõi dục sinh tử này ư?
ĐÁP: Chư Phật, Bồ-tát, lấy việc lợi sinh làm sự nghiệp, nếu chẳng làm lợi ích chúng sanh thì chẳng phải là Phật, Bồ-tát. Hàng Tam thừa, chẳng vì lợi ích chúng sanh, nên Đại thừa cho họ đã rơi vào hầm sâu giải thoát. Hàng Bồ-tát Tam hiền, Thập thánh chuộng vào cửa huyền, vì độ chúng sanh mà ra khỏi cõi an lạc tịch quang, hiện thân vào đời ác năm trược, thành đạo dưới cội Bồ-đề.
Ví như chỗ cao nguyên đất bằng, không thể mọc hoa sen, nơi ẩm thấp, bùn lầy hoa sen thường sinh trưởng tươi đẹp. Lại như việc cấy hái của nhà nông, chỗ đất trắng khô, không thể gieo giống lúa mạ được, gặp nơi bùn ướt có nhiều phân tốt, giống lúa mạ mới phát triển mạnh mẽ. Nhân duyên đến mùa, dương khí sinh động, mưa gió thấm nhuần, mầm non lớn dần, thân cây, nhánh lá xinh tươi, rậm rạp, lúa mạch, lúa mì… bắt đầu rộ chín. Bấy giờ công việc của nhà nông hoàn tất, có thể ca khúc thanh bình.
Chư Phật ra đời cũng thế. Cõi giải thoát tịch quang chẳng hay kiến lập Phật pháp, mà trong đời ác năm trược, các Ngài hay mặc y xấu rách, đúng thời cơ nói pháp, gieo hạt giống chân chính, khuyến dẫn chúng sanh đang bị phiền não ác nghiệp lôi cuốn. Nhân duyên đến mùa, mặt trời tuệ chiếu soi, gió lành thổi mát, mưa pháp đượm nhuần, vị cam lồ chan rưới, mầm non, nhánh lá, gốc giác đạo sum sê. Cây Bồ-đề sống mạnh, liền nở hoa Đẳng giác kết trái Diệu giác. Thế là công việc hoá đạo lợi sanh được hoàn thành viên mãn, khi này các Ngài có thể xướng khúc Diệu pháp Niết Bàn thường lạc.
Hàng đạo nhơn xem nhục thân này như một gốc cây, gặp đất thối lục trần, sanh hạt giống giải thoát. Đã gieo mộng sắc thân, mầm chồi tánh trí cũng nhân đây nẩy nở. Cội cây tâm niệm lớn dần, cọng ý tưởng phát triển, nhánh thần thức rậm tươi, lá tình dục sum sê, thành cội rễ vô ưu, trổ hoa tri kiến, kết trái giác ngộ. Như thế sự nghiệp của đạo hoàn thành, có thể vui hát khúc Vô tâm.
Phàm phu cũng có một gốc cây, gặp đất khô cằn ngu si, vun quén bằng phân tham ái, gieo hạt giống vô minh. Gieo mộng năm uẩn, mầm chồi nghiệp thức sống dậy, cây chấp trước lớn dần, cộng nhân ngã, nhánh siểm khúc, lá tật đố xanh rậm, thành gốc cây phiền não, đơm hoa đẹp mê say, kết nên trái tam độc, và đó là việc danh lợi đã xong, có thể ca bài vui ngũ dục.
Hãy nói từ nơi ba gốc cây này có sự hơn kém nhau chăng? Nếu có người một tay nắm cả ba gốc cây này, cùng một lúc nhổ sạch, vun trồng nơi đất không âm dương, liền thành cây vô ảnh, đương sự là hạng người có lực lượng lớn.
Trời đất cùng ta đồng một cội nguồn, muôn vật với ta chẳng khác thể tánh. Thử hỏi, ta là gì? Nếu nói rằng, thành Phật, thì trời đất còn cách xa ta lắm!

TIỂU SỬ TÁC GIẢ

Luận Tọa Thiền này của Thiền sư Đại Giác, Hòa thượng Lan Khê, hiệu Đạo Long biên soạn. Ngài cũng chính là người khai sơn chùa Kiến Trường ở Liêm Thương, được ban thụy hiệu là Đại Giác Thiền sư.
Thiền sư người nhà Tống sang Nhật Bản, vì người tham thiền học đạo đem cả mục đích, phương pháp cùng chỗ dụng tâm trong khi tọa thiền ra đinh ninh dạy bảo. Phần phụ có bài Tỉnh Hành Văn và Văn Phát Nguyện của Thiền sư Đại Huệ, Tọa Thiền Luận của Hòa thượng Trung Phong. Chính tập luận này, người khai bản, mang tâm trạng thiết tha của lão bà, đem đối chiếu phần sau của trong Tăng lục, điểm sở đắc ấy, cũng chẳng có thể so sánh. Luận Tọa Thiền từ xưa đã có rất nhiều bản như:
- Tọa Thiền Nghi của Tông Trường Lộ.
- Tọa Thiền Nghi của Phật Tâm Tài.
- Tọa Thiền Châm của ngài Hoằng Trí.
- Tọa Thiền Châm và Phổ Khuyến Tọa Thiền Châm của ngài Đạo Nguyên.
- Tọa Thiền Dụng Tâm Ký của Oánh Sơn v.v… nhưng chỉ có tập Luận Tọa Thiền của Lan Khê là luận về lối Tọa Thiền của Tông Lâm Tế. Dùng thể văn vấn đáp, những điều trình bày trong đó rất chu đáo, khẩn thiết, tiện cho kẻ sơ cơ tham khảo về cách tham thiền.
 
Sư tên húy là Đạo Long, hiệu Lan Khê, họ Nhiễm, người ở Phù Giang đất Tây Thục. Sanh vào năm Gia Định thứ 6 T.L. 1215, thời Nam Tống vua Ninh Tông, Trung Hoa.
Sư thiên tánh rất siêu việt. Năm 13 tuổi, Sư đến chùa Đại Từ Thành đô và được độ. Sau, Sư đi du lịch khắp nơi để tham cầu bậc thiện tri thức. Sư lại đáp thuyền vào Triết Giang, tham kiến ngài Vô Chuẩn Sư Phạm, Si Tuyệt, Đạo Xung, Bắc Giang, Cự Giản… ngày ngày tham luận, nhưng đều chưa khế ngộ.
Sư lại chống tích tìm đến Dương Sơn (Hồ Nam) y chỉ Thiền sư Vô Minh-Huệ Tánh. Một hôm, Thiền sư Huệ Tánh đưa câu:
“Đông Sơn ngưu quá song linh”. Sư bỗng nhiên khai ngộ. Từ giã thầy, Sư đến ngụ dưới núi Thiên Đồng thuộc Châu Minh.
Chợt có vị tăng Nhật Bản đến nói: “ Nước tôi giáo pháp tuy được long thịnh, song rất tiếc là Thiền tông chưa có người xiển phát”.
Nhân câu nói này, Sư ôm chí vượt bể đông, sang Nhật Bản giáo hóa.
Năm Thuần Hựu thứ sáu T.L. 1246, thương thuyền người Nhật cập bến Viễn Đình, Sư tới nơi và thu xếp mọi việc. Chí du phương đã quyết, Sư tự đem theo một vài môn đệ thân tín như: Nghĩa Ông, Long Giang… cùng đến Bác Đa. Bấy giờ, theo niên lịch của Nhật Bản là thời hậu Thiên Hoàng Tha Nga, năm Khoan Nguyên thứ 4, T.L. 1247. Năm ấy, Sư được 33 tuổi.
Lúc đầu, phái đoàn của Sư lưu lại chùa Viên Giác, Bác Đa. Sau đến kinh đô, ngụ trong khách viện của chùa Tuyền Dũng.
Nghe danh chùa Thọ Phước ở Liêm Thương Đại Hiệt Liễu Tâm, Sư đến nơi, dựng tích khai pháp tòa.
Lúc này, nhà cầm quyền tại đây là Bắc Điều Thời Lai, nghe Sư đến giáo hóa phương này rất vui mừng, rước Sư về trụ trì chùa Thường Lạc.
Việc hành chánh được rảnh rỗi, ông thường vào thất Sư thưa hỏi pháp yếu. Đồng thời, ông kiến tạo trong núi Địa Doanh một ngôi đại già lam, đến năm Kiến Trường thứ 5 mới hoàn thành, lấy hiệu là Cự Phước Sơn Kiến Trường Hưng Quốc Thiền Tự, thỉnh Sư về làm thủy tổ khai sơn. 
Sư ở chùa Thường Lạc bảy năm, rồi vào chùa Kiến Trường ở bảy năm nữa, để tiếp đãi đại chúng bốn phương. Khi đó, họ Thời Lai có quyên góp của một ngàn người, cùng chung đúc một quả chuông to, thỉnh Sư làm bài Minh.
Niên hiệu Chính Nguyên thứ I, Sư đã 46 tuổi. Năm ấy, Sư nhận lời mời trở về chùa Kiến Nhơn ở kinh đô. Để cử hành ngày úy kỵ Thiền sư Khai Sơn Minh Am, tại đây họ Thời Thánh tặng Sư hiệu “Đệ nhất Quốc Sư”.
Trong thời gian trụ trì chùa Đông Phước, sư đã một phen làm cho ngọn gió thiền chấn động chốn kinh thành nước Nhật. Hậu Thiên Hoàng Tha Nga quá mộ danh Sư, Ngài triệu Sư vào cung sớm hôm ân cần thưa hỏi pháp yếu. Sư có dâng một bài kệ: 





Âm: 
Túc duyên thâm hậu đáo Phù Tang,
Thiểm chủ tinh lam, thập ngũ sương.
Đại quốc bát tông kim đỉnh thạnh,
Kiến thiền môn phế, ngưỡng hiền vương.
Dịch:
Duyên trước sâu dày đến Phù Tang,
Kẻ hèn nương ở mười lăm năm.
Đại quốc tám tông nay thịnh đạt,
Cửa thiền dựng lại đợi vua hiền.
Thấy Sư dốc chí hộ trì tông môn, Thượng Hoàng lấy làm sung sướng và cảm động.
Sư ở chùa Kiến Nhơn được ba năm, thì nhường lại cho Nghĩa Ông. Sư trở lại Thương Dịch ở chùa Kiến Trường. Ở đây một nhóm người phản nghịch, chúng sàm tấu lên Mạc Phủ, liền đày Sư ra Giáp Châu ở chùa Đông Quang. Phương này, tất cả quân dân đều tranh nhau hướng về Sư. Sư nói: 
“Ta vì pháp vượt bể đến đây, mà chỉ được giáo hóa chung quanh kinh vua, chưa có dịp rảnh rang để hướng dẫn những kẻ ở xa xôi hẻo lánh. Nay, nhân vừa đến phương này, âu long thiên cũng sắp đặt cho ta vậy”.
Sư thản nhiên sống tại đây ba năm, rồi trở lại chùa Kiến Trường. Nhưng việc nghi hiềm chưa hết, Sư lại bị dời ra Giáp Châu nữa. Lần này chẳng bao lâu, việc Sư được sáng tỏ, họ Thời Lại cho sứ rước Sư về chùa Thọ Phước ở Thương Dịch.
Niên hiệu Hoằng An thứ I T.L. 1270, tháng 5, Sư trở về chùa Kiến Trường. 
Mùa thu, khoảng thượng tuần tháng bảy, Sư cho hay có chút bệnh. Đến ngày 24, Sư tắm gội sạch sẽ, mặc áo xong, để lại bài kệ:
 

Ỵ

ỉ

 
Âm:
Dụng ế tình thuật
Tam thập dư niên
Đả phiên cân đẩu
Địa chuyển thiên toàn.
Dịch:
Dùng thuật bệnh mắt
Hơn ba mươi năm
Đấu gân đảo ngược 
Đất lở trời nghiêng.
Viết xong, đặt bút xuống, sư từ giả đại chúng rồi thị tịch, thọ 66 tuổi. Môn đồ làm lễ trà tỳ, thu linh cốt, xây tháp gỗ bên đông nam chùa Kiến Trường thừa sự cúng dường.
Năm sau, họ Bắc Điều Thời Tông tâu về triều phong thụy hiệu cho Sư là: “Đại Giác Thiền sư”, là vị Thiền sư đầu tiên ở đất Nhật được Thiên Hoàng phong thụy hiệu.
Môn nhân nối pháp Sư gồm: Nghĩa Ông, Vi Hàng, Vô Cập, Hoằng Biện, Ước Ông, Lâm Tẩu, Nguyệt Phong, Tang Điền v.v… gồm có 24 vị.
Phần trước tác của Sư ngoài tập luận này, còn có ba quyển ngữ lục và một quyển góp nhặt những lời di chúc của Sư đều được lưu hành ở đời.
TỈNH HÀNH VĂN

Phàm huyễn duyên hòa hợp, nhân huyễn mà thành sắc thân này. Sự nghiệp tu trì, từ sự hiển bày chánh lý ấy. Lý đã hiển thì không việc gì chẳng đạt. Sắc thân được thành, do huyễn mà lập. Thế nên các Thánh trước, đối với lẽ này đã rỗng suốt. Ứng cơ không trệ ngại, vượt lên trên và thông suốt, ra ngoài các phẩm loại. Chỉ có đức rúng động trời đất, không xa nào mà chẳng đến.
Các ông vào đến cửa này, phải nên tự xét. Hạnh lành chẳng chứa, danh đâu thơm nức. Một pháp chóng sáng, muôn duyên đều tỏ.
Lại, có kẻ cạo bỏ râu tóc, mặc ca-sa Phật, hình tuy in tuồng hình tăng, mà chí chưa bỏ được chí tục. Đông tây rong ruổi, thực giả khó phân. Chỉ biết tùy thuận duyên trần, bèn thành mê tối. Luống hao của tín thí, uổng ở trong cửa không. Bỗng nhiên đầu bạc đến rồi, trở lại bị hậu sanh chế giễu.
Nhớ xưa, thời thượng cổ xuất gia hình hài nhọc nhằn, thân thể đói khát, cùng thân tột mạng, chỉ vì tham cứu việc này. Sở dĩ “một ngày không làm, một ngày không ăn”, đâu giống như ngày nay, ngồi yên không hổ thẹn. Đàn na tứ sự cúng dường cho ông, ý ở chỗ nào? Mong ông cứu bạt. Song, đời này chẳng thông huyền diệu, đời sau lắm nỗi buộc ràng, thêm lụy thân thuộc, đồng rơi vào địa ngục.
Người như thế, một giọt nước cũng khó tiêu, huống nữa là lầu cao nhà lớn, ngồi nằm đâu an. Đã không một đức, tội có muôn bề, cõi vui chưa thành, ngục A-tỳ tới trước.
Kính khuyên các thượng nhơn, cao sĩ học pháp chốn Tòng lâm, mỗi người nên tự suy xét trong tâm não của mình. Xét nét cho thực kỹ, mọi lẽ được mất. Chớ theo lũ hèn ngu, buông tuồng không biết. Mạnh mẽ gắng sức tu hành, lấy ngộ làm chừng mực. Thường thưa hỏi bạn lành để mở rộng kiến văn, càng được mài giũa thì đạo nghiệp dễ thành. Quả được như đây, dù cho ngày tiêu muôn lạng vàng ròng, ở trong lâu đài ngọc báu, cũng chẳng phải phần ngoài. Nếu chẳng như thế, lẫn lộn trong hàng tăng, chính nhân Phật pháp trông cậy vào đâu mà nối thịnh?
Thăm thân thuộc, hỏi bệnh hoạn, đối với đạo rất là ngại. Chỉ học Động Sơn chẳng về quê, thật có ích. Há chẳng thấy dây thanh la nương thế cây tòng, cao vút ngàn tầm. Cá đuôi hồng tranh sóng Vũ-môn giành vượt tam cấp. Vật vô tình còn tự vin nơi cao rộng, huống lại là người đã dốc một lòng tin, đâu không thức thời vụ ư?
Chỉ tâm này vững, lo gì chẳng đạt. Đạo chẳng phải từ bên ngoài mà được, ngay nơi chính mình mà tìm. Thầm xét cho thực tinh vi, thông suốt đến chỗ uyên áo.
Ôi! Thời gian có hạn, mạng người khó bảo tồn. Chuyển một hơi thở tóc bạc đầy đầu, chẳng nên dần dà để luống qua. Nguồn tâm, nếu đục, đường trước lại mờ, cơn bệnh chợt đến, vô phương chống đỡ. Khi ấy lo lắng ăn năn thì đã chậm mất. Hận mình, sớm chẳng lo tu, đến sông không thuyền. Phật pháp mai một, nhân ngã lộng hành, không lúc nào thịnh bằng hiện giờ, mỗi người hãy tự nỗ lực.
Kẻ ngu này vượt bể, vượt sa mạc, duyên hợp triều này. Nêu xưa để rõ nay, há chẳng biết hổ thẹn! Cốt khuyên người hậu học, đồng suy cứu tâm này, để báo ân sâu che chở của Phật Tổ, đáp lại công đức cúng dường của thí chủ đàn na. Nói không được văn hoa, gắng dùng lời chỉ thẳng. Như đây tu hành, mình người đều lợi.
 
Văn Phát Nguyện Thiền sư Đại Huệ

Nguyện cho đệ tử….
Tâm đạo vững bền
Đường dài không nản
Bốn thể khinh an.
Thân tâm dũng mạnh
Dứt hết các bệnh
Hôn, tán sớm tiêu
Không nạn, không tai.
Không ma, không chướng
Chẳng hướng đường tà
Thẳng vào chánh đạo
Phiền não tiêu diệt.
Trí huệ lớn dần
Mau ngộ đại sự
Nối huệ mạng Phật
Độ khắp chúng sinh.
Báo ân Phật Tổ
Lại nguyện chúng con
Đến khi mạng chung
Ít bệnh ít não.
Trước đó bảy ngày
Biết rõ lúc chết
An trú chánh niệm
Rốt sau tự tại.
Xả báo thân này
Mau sinh cõi Phật
Được gặp chư Phật.
Thọ chánh giác ký
Phân thân pháp giới
Độ khắp chúng sanh.
Lời Bạt
Tất cả công đức đều từ Phật tâm lưu xuất. Phật tâm không một vật. Không Phật, không chúng sinh, không cả cái không. 
Lặng lẽ như như chăng?
- Không biết!
Ai hay hiểu được lẽ này, mới kham gánh vác sứ mạng Như Lai.
- Hiểu cái gì?
- Chính như thế mà hiểu.
- Như thế nghĩa là sao?
- Xin đừng hành đạo tà.
- Phải đối xử cách nào?
- Như như bất động.
- Lịch sử truyền thừa mấy ngàn năm, những ai nói được một câu xuất cách?
- À cột phướn trước chùa đổ. 
- Tiếng mảnh sành vang chạm cành trúc 
- Một tiếng hét đinh tai…
- Trong vòng lưu chuyển không dừng, có cái gì hay dừng chăng?
- Làm sao bảo được cái ấy?
- Tháng ngày qua Vô Sự Tăng.
Mặt trời, mây xanh vẫn là đôi tri kỷ quấn quít nhau giữa khoảng bao la.
Rừng già thăm thẳm, vách đá chơi vơi, vết chân chàng dũng sĩ chặt tay thuở nào hãy còn in rõ trên nền tuyết trắng Tung Sơn.
Một tiếng nổ, vỡ đất long trời,
Một vầng đông, vàng chói xuất hiện,
Một bài pháp an tâm bay vút,
Một kình ngư, vẫy sóng bể khơi.
Vang ra loang khắp, giọng nói ma trơi của lão Hồ  [1] mắt biếc.
Truyền đi rào rạt, bài pháp an tâm của con cháu Như Lai.
Miền Nam này, vùng lên một gã tiều phu miệng còn lẩm nhẩm…
- Những gì?
- Bồ-đề bổn vô thọ!
A hay, lật ngược cả thiền sàn, dép cỏ.
Phải đấy, lũ hậu duệ Tung Sơn làm rạng rỡ cha ông.
Tràn dâng lên, chảy khắp non sông,
Vượt lấp mây ngàn cùng vũ trụ.
Chỉ một dòng sữa an tâm, thấm dịu nơi nơi…
Quát cho dứt bặt, vỡ óc ra,
Cười vang lên, mãi tận thôn xa,
Mới thấy lão già, không phỉnh gạt.
- Cái gì?
- Những con người, hằng xướng khúc an tâm.
Ô kìa, miền hải đảo!
Lớp lớp người, xông xáo hỏi tổ tông,
Bước họ đi, quyện tỏa cuồng phong,
Tay áo phất, chân hư đổ ngược.
Ai biết thế nào, những con người ấy?
- Thốt nửa lời ba gậy vào hông.
Từ bình nguyên, chí dãy non xanh,
Có gì, trong dáng người lam lũ?
A đây rồi, rắn quẫy, rồng bay,
Trăng, sao rơi rụng tháng ngày say.
Say cái gì?
Say cái không say, ấy thực say,
Thực say, mới say cái không say
Say không say, cả hai ấy say.
Chính đấy thức dậy, cái không say.
Lảm nhảm gì?
- Trời xanh!                                 ¯
Có câu chuyện như thế này nhá!
Một hảo hán kia, nhân khi nhàn rỗi, đến hỏi Hồ tăng pháp an tâm.
Ông già chỉ bảo:
“Đem tâm đến”
Rồi. Trời sập!
Hảo hán cười, thưa:
- Thế, mới nhổ tận gốc lão già bị chôn cứng chín, mười năm…
Nhật Quang.


---o0o---
Nguồn: Thư Viện Hoa Sen
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 2-2007